Với mức độ nguy hiểm rất cao về khả năng gây hại trực tiếp và gián tiếpnhư vậy, nhưng nghiên cứu về rầy lưng trắng ở nước ta cho đến nay còn chưa đầy đủ và cập nhật, các nghiên cứu mới t
Trang 1Xin chân thành cảm ơn tới ban lãnh đạo xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực,tỉnh Nam Định nơi tôi thực hiện đề tài đã tận tình giúp đỡ và tạo điều kiện chotôi làm thí nghiệm.
Tôi xin gủi lời cảm ơn sâu sắc tới gia đình và người thân, bạn bè đã độngviên giúp đỡ tôi trong suốt quá trình học tập
Một lần nữa tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc, lòng biết ơn chân thành tới cácthầy cô giáo và các cơ quan đoàn thể và người thân, bạn bè
Hà nội, ngày tháng năm 2010
Sinh viên
Hà Thị Kim Thoa.
Trang 2MỤC LỤC
Phần 1: Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2.Mục đích và yêu cầu của đề tài 3
Phần 2: Tổng quan tài liệu 4
2.1 Một số kết quả nghiên cứu về rầy lưng trắng ở ngoài nước 4
2.1.1 Vị trí phân loại, ký chủ, phân bố và triệu chứng gây hại của rầy lưng trắng 4
2.1.2 Đặc điểm sinh học 9
2.1.3 Đặc điểm sinh thái của rầy lưng trắng 10
2.1.4 Biện pháp phòng trừ 13
2.2 Một số kết quả nghiên cứu về rầy lưng trắng ở trong nước 15
2.2.1 Phân bố, ký chủ và tác hại của rầy lưng trắng 15
2.2.2 Đặc điểm sinh học 16
2.2.3 Đặc điểm sinh thái 17
2.2.4 Những nghiên cứu về phòng chống rầy lưng trắng 18
Phần 3: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 20
3.1.Thời gian và địa điểm nghiên cứu 20
3.2 Đối tượng 20
3.3 Vật liệu nghiên cứu 20
3.4 Nội dung 20
3.5 Phương pháp nghiên cứu 21
3.5.1 Điều tra tra thành phần nhóm rầy hại thân và thiên địch trên lúa vụ xuân 2010 21
3.5.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng hại lúa 22
3.5.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của rầy lưng trắng hại lúa 22
3.5.4 Ảnh hưởng của thời gian xử lý thuốc tới quần thể rầy lưng trắng 23
3.5.5 Đánh giá hiệu quả của thuốc xử lý hạt giống Cruiser Plus 312.25 FS 24
3.6 Phương pháp tính toán 25
Phần 4: Kết quả nghiên cứu và thảo luận 26
Trang 34.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch phổ biến của chúng vụ xuân
2010 tại Nam Trực- Nam Định 26
4.1.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa 26
4.1.2 Thành phần thiên địch phổ biến của nhóm rầy hại thân lúa vụ xuân 2010 tại Nam Trực - Nam Định 27
4.2 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa vụ xuân 2010 tại Nam Trực- Nam Định 29
4.2.1 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên giống Bắc Thơm số 7 ở các mức độ thâm canh khác nhau vụ xuân 2010 tại Nam Trực- Nam Định 30
4.2.3 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên giống Tạp Giao ở các mật độ cấy khác nhau 32
4.2.4 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên một số giống lúa trồng phổ biến 33
4.3 Ảnh hưởng của thời gian xử lý thuốc tới quần thể rầy lưng trắng và thiên địch trên lúa Vụ Xuân 2010 tại Nam Trực- Nam Định 33
4.3.1.Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên các công thức xử lý rầy lứa 1 vụ Xuân 2010 33
4.3.2.Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên các công thức xử lý rầy lứa 2 vụ Xuân 2010 33
4.3.3 Diến biến số lượng bọ xít mù xanh và nhện tổng số ở các công thức thí nghiệm 33
4.4 Đánh giá hiệu lực của thuốc xử lý hạt giống Cruiser Plus 312.5 FS với rầy lưng trắng trong nhà lưới tại Viện Bảo Vệ Thực Vật 33
4.5 Một số đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng tại phòng thí nghiệm viện bảo vệ thực vật 33
4.5.1 Thời gian phát dục pha sâu non và vòng đời rầy lưng trắng 33
4.5.2.Sức sinh sản của rầy lưng trắng 33
Phần 5: Kết luận và đề nghị 33
5.1 Kết luận 33
5.2 Đề nghị 33
DANH MỤC BẢNG
Trang 4Bảng 4.1 Thành phần nhóm rầy hại thân lúa vụ xuân năm 2010 tại Nam Trực-
Nam Định 26
Bảng 4.2 Thành phần thiên địch phổ biến của nhóm rầy hại thân lúa vụ xuân 2010 tại Nam Trực Nam Định 28
Bảng 4.3 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa trên giống Bắc Thơm số 7 .29 vụ xuân 2010 tại Nam Trực- Nam Định 29
Bảng 4.4.Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên giống Bắc Thơm số 7 ở các mức độ thâm canh khác nhau vụ xuân 2010 tại Nam Trực Nam Định 31
Bảng 4.5.Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên giống Tạp Giao ở các mật độ cấy các khác nhau vụ xuân 2010 tại Nam Trực Nam Định 33
Bảng 4.6.Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên một số giống phổ biến 33
vụ Xuân 2010 tại Nam Trực Nam Định 33
Bảng 4.7 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên các công thức xử lý rầy lứa 1 vụ Xuân 2010 tại Nam Trực Nam Định (con/m2) 33
Bảng 4.8 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên các công thức xử lý rầy lứa 2 vụ Xuân 2010 33
Bảng 4.9 Diễn biến số lượng bọ xít mù xanh trên các công thức thí nghiệm (con/m2 ) 33
Bảng 4.10 Diễn biến số lượng Nhện tổng số trên các công thức thí nghiệm(con/ m2) 33
Bảng 4.11 Bảng Hiệu lực trừ rầy trưởng thành lưng trắng của Cruiser Plus 312.5 FS sau 7 ngày và14 ngày gieo với các nồng độ khác nhau 33
Bảng 4.12: Thời gian phát dục các pha và vòng đời của rầy lưng trắng 33
Bảng 4.13 Sức sinh sản của rầy lưng trắng trong điều kiện nhà lưới 33
tại Viện Bảo Vệ Thực Vật năm 2010 33
DANH MỤC HÌNH
Trang 5Hình 2.1 Tương quan giữa diện tích trồng lúa lai và mức độ gây hại của rầy lưng trắng tại Wan - mu , Trung Quốc 1975- 1995 9Hình 4.1 Diễn biến mật độ nhóm rầy hại thân lúa vụ xuân 2010 29tại Nam Trực- Nam Định 29Hình 4.2 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng hại thân lúa trên các nền thâm canh khác nhau vụ xuân 2010 tại Nam Trực Nam Định 31Hình 4.3 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên giống Tạp Giao ở các mật độ cấykhác nhau 33Hình 4.4 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên một số giống phổ biến vụ 33Xuân 2010 tại Nam Trực Nam Định 33Hình 4.5 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên các công thức xử lý rầy lứa 1 vụ Xuân 2010 tại Nam Trực Nam Định (con/m2) 33Hình 4.6 Diễn biến mật độ rầy lưng trắng trên các công thức xử lý rầy lứa 2 vụ Xuân 2010 33Hình 4.7 Diễn biễn số lượng bọ xít mù xanh tại các công thức thí nghiệm tại Nam Trực Nam Định vụ xuân 2010 33Hình 4.8 Diễn biễn số lượng nhện tổng số tại các công thức thí nghiệm tại Nam Trực Nam Định vụ xuân 2010 33
Trang 6cơ ảnh hưởng đến an ninh lương thực của Việt Nam
Từ trước thập niên 70 của thế kỷ 20, nhóm rầy hại thân (bao gồm rầy nâu,rầy lưng trắng ) chỉ là những sâu hại thứ yếu trên cây lúa thuộc vùng ĐôngNam Á trong đó có Việt Nam, sau thập niên 70 của thế kỷ trước rầy nâu vànhóm rầy hại thân đã trở thành những loài sâu hại nguy hiểm số một của ngànhtrồng lúa của châu Á Có rất nhiều cách giải thích nhằm lý giải nguyên nhân củahiện tượng này, nhưng tuyệt đại đa số các nhà khoa học đều thống nhất nhữngthay đổi rất to lớn về cơ sở vật chất và kỹ thuật của ngành trồng lúa là nguyênnhân chính gây ra hiện tượng bùng phát số lượng và rút ngắn tần suất giữa các
Trang 7đợt bùng phát của nhóm rầy hại thân, đó là việc cung cấp nước, phân khoángđược sử dụng phổ biến với số lượng lớn và sử dụng giống mới Ba yếu tố cơ bảntrong sản xuất lúa: nước, phân, giống của ngành trồng lúa nước đã có sự thayđổi cơ bản và từ đó đồng thời tác động lên toàn bộ hệ thống trồng lúa của nước
ta và các nước trồng lúa khác ở châu Á Những thay đổi này đã dẫn đến sự thayđổi về kỹ thuật canh tác, tăng hệ số canh tác Trước đây chúng ta chỉ cấy 1vụ/năm nhưng từ những năm cuối thập niên 60 thế kỷ trước với việc đưa giốngIR8 vào trồng rộng rãi và cùng với việc chủ động tưới tiêu nên tăng lên 2vụ/năm, đặc biệt từ những thập niên 90 sự ra đời và phát triển mạnh mẽ của cácgiống lúa lai Việc sử dụng các giống mới năng suất cao đã dẫn đến việc sử dụngnhiều phân khoáng trong đó đặc biệt là phân đạm và sử dụng rộng rãi thuốc trừsâu thì sự phá hại của các loài sâu hại nói chung và rầy lưng trắng nói riêng là tấtyếu
Đặc biệt trong thời gian từ đầu thập niên 90 thế kỷ 20 trở lại đây, khi các
giống lúa lai xuất hiện và phát triển rộng rãi thì rầy lưng trắng (Sogatella furcifera
Horvath) đã trở thành đối tượng gây hại cực kỳ nguy hiểm ở các tỉnh phía Bắc vàmiền Trung Việt Nam (Đ.V Thành và nnk, 2008) [10] Rầy non và trưởng thànhđều chích hút nhựa cây và gây ra hiện tượng lá vàng, cây còi cọc giảm tỷ lệ trỗ,hạt lép và làm giảm năng suất với mật độ cao chúng còn gây ra hiện tượng
“cháy rầy” dẫn đến thất thu hoàn toàn Ngoài tác hại trực tiếp làm ảnh hưởng đếnsinh trưởng, phát triển và năng suất lúa, rầy lưng trắng còn là môi giới truyềnbệnh virus lùn sọc đen phương nam hại lúa, đây là một bệnh mới xuất hiện và gâyhại rất nặng ở một số tỉnh phía Nam Trung Quốc như đảo Hải Nam, Quảng Tây,Quảng Đông… từ năm 2001 đến nay (G.H Zhou và ctv, 2008) [23] Từ vụ mùa
2009 bệnh lùn sọc đen phương Nam đã phát sinh và gây hại nghiêm trọng trên lúa
và ngô ở hầu hết các tỉnh phía Bắc và Bắc Trung bộ nước ta (Ngô Vĩnh Viễn vànnk, 2009) [12] và môi giới truyền bệnh chính là rầy lưng trắng (N V.Viễn vànnk, 2009; N N Cường và nnk, 2009) [4]
Trang 8Tương tự như rầy nâu, rầy lưng trắng có khả năng phát tán, di chuyển rất
xa nhờ gió, chúng có khả năng di chuyển từ phía Bắc Việt Nam tới phía NamTrung Quốc và từ đó chúng di cư tới Nhật Bản và Hàn Quốc và ngược lại (ZhaiBao Ping, 2009; M Matsumura, 2001)[20]
Với mức độ nguy hiểm rất cao về khả năng gây hại (trực tiếp và gián tiếp)như vậy, nhưng nghiên cứu về rầy lưng trắng ở nước ta cho đến nay còn chưa đầy
đủ và cập nhật, các nghiên cứu mới tập trung nghiên cứu một số đặc điểm sinh học
cơ bản như vòng đời, thời gian phát dục các pha cũng như xu thế phát sinh pháttriển quần thể của chúng tại khu vực Hà Nội từ những năm 90 của thế kỷ trước củamột số tác giả Nguyễn Đức Khiêm (1995) [7], Đinh Văn Thành (1998)[9]
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn của sản xuất chúng tôi tiến hành thực hiện đề
tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học, sinh thái của rầy lưng trắng
(Sogatella furcifera Horvath) hại lúa và biện pháp phòng trừ vụ xuân 2010 tại
Nam Trực – Nam Định”
1.2.Mục đích và yêu cầu của đề tài
Mục đích :
Có được thành phần nhóm rầy hại thân lúa và thiên địch của chúng, một
số đặc điểm sinh học, sinh thái của rầy lưng trắng hại lúa Đề xuất một số biệnpháp phòng trừ rầy lưng trắng có hiệu quả theo hướng phòng trừ tổng hợp phụcvụ sản xuất
Yêu cầu:
-Xác định được thành phần nhóm rầy hại thân và thiên địch của chúng trênlúa tại Nam Trực- Nam Định trong vụ mùa 2010
- Diễn biến mật độ của rầy lưng trắng(Sogatella furcifera (Horvath) với một
số điều kiện canh tác (giống, phân bón, mật độ cấy)
- Đánh giá hiệu lực một số loại thuốc hóa học (thuốc xử lý hạt giống, thuốcphun) và thuốc sinh học trừ rầy lưng trắng
- Đề xuất một số biện pháp phòng trừ phòng trừ rầy lưng trắng
Trang 9Phần 2 Tổng quan tài liệu.
2.1 Một số kết quả nghiên cứu về rầy lưng trắng ở ngoài nước.
2.1.1 Vị trí phân loại, ký chủ, phân bố và triệu chứng gây hại của rầy lưng trắng.
Rầy lưng trắng lần đầu tiên được Horvath mô tả và đặt tên là Delphax
furcifera vào năm 1899 trên cơ sở mẫu thu thập tại Nhật Bản, và sau đó được đổi là Sogatella furcifera Ngoài ra rầy lưng trắng còn có các tên khác đồng danh đã được
sử dụng như:
- Năm 1899: Delphax furcifera Horvath
- Năm 1899: Liburnia furcifera Horvath
- Năm 1899: Calligypona furcifera Horvath
- Năm 1912: Sogata distincta Distant
- Năm 1912: Sogata furcifera Distancta
- Năm 1912: Sogata pallescens Distant
- Năm 1917: Megamelus furcifera Muir
- Năm 1917: Sogata kyusyunensis Masumura & Ishihara
- Năm 1917: Sogata tandojamensis Qadri & Mirz
- Năm 1924: Sogata furcifera Muir & Giffard
- Năm 1924: Megamelus furcifer
- Năm 1924: Megamelus furciferus
- Năm 1931: Delphacodes furcifera Esaki & Ishihara
- Năm 1956: Chloriona furcifera Fennah
Vị trí phân loại của rầy lưng trắng
Lớp (Class): Insecta
Trang 10Asche và Wilson (1990) cho biết rằng rầy lưng trắng phân bố rộng rãi ởvùng cận Đông, Đông và Tây Thái Bình Dương và Úc Các nước được ghi nhận córầy phân bố là:
Châu Á: Rầy lưng trắng có mặt nhiều nước như Afganistan (Dale, 1994),Bangladesh (Alam, 1995; Dale, 1994; EPPO,1996), Trung Quốc (Matsumura,1910; EPPO, 1996), Indonesia( EPPO, 1996), Nhật Bản ( EPPO,1996), Lào (Grist
& Lever, 1969; Asche & Wilson,1990; EPPO,1996), Malaysia (Waterhouse,1993;EPPO,1996), Nepal ( Dale,1994; Asche & Wilson 1990; EPPO,1996), New Guinea(EPPO,1994), Pakistan ( EPPO,1996), Philipines ( EPPO,1996), Iran (EPPO,1994),Srilanca ( EPPO,1996), Thailand ( EPPO,1996), Việt Nam ( EPPO,1996)
Châu Âu: có mặt ở các nước Liên Bang Nga và các nước vùng Liên Xô cũ.Ngoài ra rầy lưng trắng còn có mặt ở Siberi và các vùng nước Nga cách xa về phíađông (EPPO, 1994)
Tây bán cầu: các nước Cuba, Guana và Suriname (EPPO,1996)
Thái Bình Dương gồm có: Australia (Grist & Lever,1969; Asche &Wilson,1990; EPPO,1996), Belaw ( Asche & Wilson,1990, EPPO,1996), Đảo
Trang 11Caroline (Gressitt,1954; Fennah,1956), Fiji (Fennah, 1950), Đảo Marshall,Micronesia, Solomon và Vanuatu ( EPPO,1996).
Ký chủ
Ký chủ chính của rầy lưng trắng là lúa qua thí nghiệm cho thấy rầy có thể đẻtrên 37 loại cây khác nhau Catindig (1993) thấy ngoài cây lúa rầy lưng trắng còn
có thể hoàn thành pha phát dục của mình trên ngô (Zea mays), cỏ lồng vực cạn
(Echinochloa cololum), lồng vực nước (Echinochloa glabrescens), cỏ đuôi phượng(Leptochloa chinensis) Misral (1980) còn phát hiện rầy lưng trắng có trên
lúa mỳ, mía, và lúa mạch nhưng chưa xác định rầy lưng trắng có khả năng hoànthành chu kỳ phát dục trên các ký chủ này
Ở Nhật Bản cũng đã tiến hành điều tra và thấy rằng có 39 loài thuộc 2 họ là
ký chủ hoặc ký chủ phụ của rầy lưng trắng trong đó Zizania latifolia, leersiajaponica, mía có thể là các cây ký chủ qua đông (Kisimoto R, 1971)
Triệu chứng gây hại
Rầy lưng trắng có thể gây hại trong toàn bộ giai đoạn phát triển của cây lúa.Chúng phát triển và gây hại chủ yếu ở giai đoạn mạ và giai đoạn lúa đẻ nhánh(Dale, 1994)
Cả rầy non và trưởng thành đều chích hút nhựa cây, giai đoạn mạ nếu bị hạithì cây sẽ kém phát triển, nếu bị hại nặng gây nên hiện tượng cây mạ bị vàng dẫnđến héo và chết, ở các giai đoạn sau khi bị hại gây ra hiện tượng lá vàng, cây còicoc giảm tỷ lệ trỗ, hạt lép và dẫn đến giảm năng suất (Khus, 1981) Trên đồngruông, với mật độ rầy từ 400 đến 500 con/m2 gây ảnh hưởng đến năng suất, khi mật
độ cao hơn có thể gây cháy rầy và mất năng suất đến 100%
Reissig H et al., (1993), khi mật độ rầy lưng trắng cao sẽ gây hiện tượng
“cháy rầy” cây lúa bị vàng đỏ và héo khô Rầy lưng trắng có thể bùng phát thànhdịch như tại vùng Assam Ấn Độ, tháng 5 – 6 năm 1985 có hơn 8.000 ha lúa IR8 đã
bị cháy rầy lưng trắng
Trang 12Theo Atwal et al (1967), Dale (1994) rầy non và rầy trưởng thành đều trựctiếp hút dịch tế bào làm cho cây lúa bị biến vàng, xuất hiện màu rỉ sắt lan từ ngọn láđến các phần còn lại của cây.
Rầy cái mang trứng còn gây thiệt hại bằng cách chọc thủng mô bẹ lá lúa để
đẻ trứng Dịch ngọt do rầy thải ra còn giúp cho sự phát triển của nấm (Dale, 1994)đây chính là nguyên nhân gián tiếp chính của bệnh muội đen trên lúa
Trung Quốc đã ghi nhận rầy lưng trắng phát sinh và gây hại nặng từ nhữngnăm giữa thế kỷ 20, trong đó từ những năm 1970 trở lại đây cùng với sự mở rộng
và phát triển của các giống lúa lai thì rầy lưng trắng đã trở thành đại dịch Trong đóvào các năm 1978-1979, 1982-1983 và 1987-1988 thiệt hại do rầy lưng trắng lêntới 1 triệu tấn lúa/năm, đặc biệt vào năm 1991 diện tích bị rầy nâu và rầy lưng trắnggây hại năng lên tới 25 triệu ha (J A Cheng 2009)
Ngoài tác hại trực tiếp là chích hút nhựa cây làm ảnh hưởng đến sinh trưởng
và năng suất lúa, rầy lưng trắng còn là môi giới bệnh lùn sọc đen phương nam(G.H Zhou và ctv, 2008), đây là một bệnh mới xuất hiện và gây hại rất nặng ở một
số tỉnh phía Nam Trung Quốc như đảo Hải Nam, Quảng Tây, Quảng Đông… từnăm 2001 đến nay, bệnh này ngoài gây hại trên lúa chúng còn gây hại trên Ngô, lúaMạch, Kê
J A, Cheng (2009) đã tổng hợp về các nguyên nhân thành dịch của rầy vàvirut hại lúa ở Trung Quốc từ thập kỷ 60 trở lại đây như sau: Trung Quốc trong 40năm qua có thể phân ra làm 3 giai đoạn về sự phát sinh, phát triển và gây hại củanhóm rầy hại lúa; trong đó có sự thay đổi vai trò quan trọng về thành phần loài,mức độ cũng như tần suất xuất hiện của dịch, xu hướng nêu trên sẽ có nhiều khảnăng nguy hiểm hơn rất nhiều trong tương lai nếu không có các giải pháp quản lýphù hợp về mặt sinh thái học
Giai đoạn từ thập kỷ 60 -70 của thế kỷ 20: Đây là giai đoạn diễn ra cuộc
cách mạng xanh (GR) ở nhiều nước Châu Á như ở Philippine (Masagana 99),
Trang 13Indonesia (BIMAS), Bangladesh, Ấn Độ, Malaysia và Miến Điện Giai đoạn này có
sự hiện diện của cả 3 loài rầy hại lúa quan trọng là; Rầy nâu nhỏ (Laodelphax
striatellus) loài này là loài dịch hại quan trọng của giai đoạn này ngoài gây hại trực
tiếp chúng còn là véc tơ truyền bệnh virút lúa sọc (The Rice Stripe Virus) và virút
lúa lùn sọc đen (The Rice Black-Streaked Dwarf Virus) hại lúa; Rầy nâu
(Nilaparvata lugens) là loài dịch hại xẩy ra thường xuyên và rất nguy hiểm trong
nhiều thập kỷ qua tại Trung Quốc, trước khi chúng thành dịch gây hại trên lúa ở các
nước Đông Nam Châu Á Rầy lưng trắng (Sogatella furcifera) trở thành dịch hại
nguy hiểm tại Trung Quốc vào cuối thập kỷ 70, Chúng bùng phát thường xuyên vàocác năm 1968, 1973 và 1976 khi mật độ quần thế đạt tới trên 100 con/khóm lúa
Giai đoạn từ những năm của thập kỷ 70 đến cuối 90 thế kỷ 20 Ở giai đoạn
này, để đạt được mục tiêu có đủ lương thực, chính phủ Trung Quốc đã thúc đẩyphát triển và mở rộng diện tích gieo trồng lúa lai, nông dân với mục đích bảo vệ lúa
đã phun mang tính định kỳ các loại thuốc trừ sâu phổ rộng và có độc tính cao nhưmethyl parathion, BHC, methamidophios and BPMC Hầu hết các giống lúa gieotrồng trong giai đoạn này đều nhiễm rầy lưng trắng, và sự gây hại của chúng ngàycàng gia tăng đặc biệt là ở các khu vực cấy nhiều lúa lai (Hình 1) Mặt khác, sựbùng phát của rầy xảy ra thường xuyên như các năm 1978-1979, 1982-1983 và1987-1988 Rầy đã làm thiệt hại hàng triệu tấn lúa mỗi năm Năm bị thiệt hại caonhất do rầy nâu và rầy lưng trắng là vào năm 1991 với diện tích mất khoảng 25triệu ha lúa
Trang 14Hình 2.1 Tương quan giữa diện tích trồng lúa lai và mức độ gây hại của rầy
lưng trắng tại Wan - mu , Trung Quốc 1975- 1995.
Những năm đầu của thập kỷ 21: Giai đoạn này bị thiệt hại rất lớn do sự xuất
hiện và gây hại của cả 3 loài rầy, mật độ quần thể rầy cao hơn hẳn so với các giai
đoạn trước Trong đó, rầy lưng trắng không những chỉ gây hại trực tiếp mà còn làmôi giới truyền bệnh lùn sọc đen phương Nam, hơn thế nữa rầy nâu nhỏ không chỉ
là đối tượng gây hại với vai trò môi giới truyền vi rút như trước đây mà còn là một
trong những nguyên nhân gây hại trực tiếp, do mật độ quần thể rất cao Dịch rầy
hại lúa xẩy ra liên tiếp trong 4 năm (năm 2005 -2008), trong đó chỉ tính riêng năm
2005, sự gây hại của chúng đã làm mất khoảng 2,8 triệu tấn lúa với mật độ rầy lên
đến 200 con/khóm lúa Tính kháng thuốc của các loài rầy hại thân lúa cũng tăng lên
nhanh chóng với một số thuốc thuộc các nhóm được dùng phổ biến như nhómimidacloprid, nhóm Fipronil
2.1.2 Đặc điểm sinh học.
Trứng:
Theo Hill S Dennish (1983) rầy lưng trắng đẻ trứng ở phần mô bẹ lá, gânchính lá, trứng được đẻ thành từng ổ; trứng có màu vàng nhạt trong suốt Mỗi cá
Trang 15thể cái có thể đẻ 300 – 500 trứng, thời gian đẻ tập trung trong 3 – 6 ngày thậm chíkéo dài tới 10 – 15 ngày.
Thời gian trứng tùy thuộc vào nhiệt độ ẩm độ trong điều kiện nhiệt độ từ 25.30 Cđến 32,7 0C và ẩm độ từ 83- 85 % trứng có thời gian phát dục từ 4,5 -6 ngày(Suennega H., 1963), hoặc từ 5 đến 8 ngày Catindig (1993)
Rầy non:
Thời gian phát dục pha ấu trùng rầy lưng trắng khoảng 14 -16 ngày và trải qua 5tuổi, ở tuổi 1 chúng đã bắt đầu gây hại cây lúa bằng cách chích hút nhựa cây, dichuyển, song từ tuổi 3 chúng có khả năng di chuyển, phát tán sang những cây lúaxung quanh (Singh, 1989; Catindig, 1993)
Khi mới nở chúng có màu trắng sữa, sau chuyển dần sang màu xám sẫmhoặc màu đen và trắng xen kẽ , kích thước của chúng từ 0,8 mm – 2,1mm tùy tuổi(Suennaga H., 1963)
Trưởng thành: Trưởng thành rầy lưng trắng có hai dạng cánh ngắn và cánh
dài, chiều dài cơ thể của trưởng thành cánh ngắn từ 2,6 đến 2,9mm, cánh dài 3,5 4mm (IRRI, )
-Theo tác giả Vaidya & Kalode, (1981), ở Ấn Độ, một cá thể rầy lưng trắng đẻtrung bình 164 trứng, trong khi đó ở Nhật Bản rầy lưng trắng đẻ trung bình từ 300-
350 trứng (Suenaga, 1963) và ở Philipines là khoảng 247 trứng ( Liu et al, 1982).
Rầy cái cánh ngắn thường có khả năng sống lâu và đẻ nhiều hơn so với trưởng thànhcánh dài ở cùng điều kiện, số lượng trứng phụ thuộc vào thời gian sống của trưởngthành, các thể nào có thời gian sống càng kéo dài thì số lượng trứng đẻ càng lớn,chúng có thể sống trên 30 ngày và đẻ tới hơn 600 trứng ( Denno R.F, 1994)
2.1.3 Đặc điểm sinh thái của rầy lưng trắng
Quy luật phát sinh và phát triển của rầy lưng trắng:
Rầy lưng trắng thường phát sinh và phát triển quần thể ở giai đoạn đầu vụ,quần thể rầy đạt cao nhất vào cuối thời kỳ lúa đẻ nhánh, tương ứng với thời gian
Trang 16xung quanh tám tuần sau cấy Nhiệt độ vừa phải trong suốt mùa mưa là điều kiệnthuận lợi cho sự phát triển quần thể rầy lưng trắng (Samsul A, 1971) Theo Zhu X.
W (1985), ở Yiang Trung Quốc rầy lưng trắng ưu thích thời kỳ cây lúa còn non và
có 5 thế hệ trong một năm, đỉnh cao mật độ quần thể vào giữa đến cuối tháng 7 Ở
Ấn Độ (bang Andra Prades) quần thể rầy lưng trắng trong mùa mưa cao hơn mùakhô và có ít nhất 3 lứa/vụ trong đó vụ mùa rầy lưng trắng có số lượng cao trongsuốt thời kỳ đầu vụ chúng đạt đỉnh cao vào cuối tháng 10; giữa số lượng quần thểvới thời gian chiếu sáng có sự tương quan khá chặt (Ram P., 1986)
Tại Đài Loan rầy lưng trắng có 7 đến 8 lứa/năm, trong đó vụ lúa thứ nhất,trưởng thành bắt đầu xâm nhập vào ruộng lúa từ cuối tháng 3 đầu tháng 4, trongmột vụ có từ 3 đến 4 lứa; mật độ quần thể giảm nhanh chóng ở lứa thứ 8 vào cuốitháng 10 cho đến đầu tháng 11 Kết quả theo dõi một số năm cho thấy rầy lưngtrắng qua đông ở dạng cánh dài trên lúa chét từ tháng 12 năm trước đến tháng 1năm sau (Cheng , 2005)
Chế độ canh tác ảnh hưởng đến phát sinh gây hại của rầy lưng trắng:
Ảnh hưởng của thời vụ, phân bón, tưới nước và sử dụng thuốc hóa học
Theo Kushawaha (1988) trên các trà lúa muộn thường có mật độ rầy lưngtrắng cao hơn so với các trà sớm và chính vụ; sự phát sinh và gây hại của rầy lưngtrắng có tương quan thuận với các mức độ bón đạm Sử dụng quá nhiều phân đạm,cấy dầy, đầy đủ nước tưới và lạm dụng quá mức thuốc hóa học là những yếu tố làmbùng phát số lượng quần thể rầy trên đồng ruộng (Bhathas & Dhaliwal, 1991)
Việc điều tiết nước hợp lý cũng có khả năng hạn chế số lượng quần thểrầy lưng trắng trên đồng ruộng theo Zhang (1991) trên các ruộng lúa tạiZhejiang (Trung Quốc) được rút cạn nước vào tháng 7 với vụ 1 và cuối tháng 8đầu tháng 9 với lúa vụ 2 thì ngoài tác dụng tốt đến sinh trưởng và phát triển câylúa thì còn có tác dụng hạn chế đáng kể đến sự phát triển và gây hại của quầnthể rầy lưng trắng., 1991)
Trang 17Ảnh hưởng của giống :
Trồng các giống lúa kháng rầy đã làm giảm mật độ rầy trên đồng ruộng, nhưngmức độ ảnh hưởng của giống tới quá trình phát sinh phát triển và gây hại của nhómrầy thân nói chung và rầy lưng trắng nói riêng tùy thuộc vào mức dộ kháng củatừng giống được gieo trồng (Henrichs et al., 1985)
Theo Lui và nnk (1989), sự không hấp dẫn với rầy lưng trắng của giốngkháng có thể do sự có mặt của các chất ức chế tới quá trình phát triển của rầy hoặccác chất gây sự gán ăn, xua đuổi trong cây lúa, hoặc do cấu tạo tế bào có hàmlượng các chất silic cao hơn các giống nhiễm
Các giống kháng có hàm lượng silic cao hơn giống nhiễm, số lượng tế bàosilic dioxit dạng bọc ở một số giống kháng cao hơn gấp đôi ở giống nhiễm TN1(Mishra, 1992) Xử lý GA3 có tác dụng tăng tính kháng ở các giống nhiễm (Shin etal., 1992)
Trong thập niên 90 của thế kỷ trước Ấn Độ đã đánh giá hàng ngàn giống baogồm các giống địa phương, giống nhập nội và đã ghi nhận có 48 giống kháng rầylưng trắng bao gồm có 5 giống kháng cao, 24 giống kháng vừa nhận xét về ảnhhưởng của giống tới sự phát sinh và phát triển của rầy lưng trắng Ramaraju (1990)thấy rằng tỷ lệ sống sót của rầy non và tốc độ phát triển của quần thể trên giốngkháng và giống nhiễm khác nhau
Ở Trung Quốc có 41 giống kháng rầy lưng trắng ở các mức độ khác nhautrong 218 giống được đánh, theo dõi 2 quần thể rầy được nuôi trên thức ăn là giốngkháng và giống nhiễm cho thấy rầy được nuôi trên các giống kháng đẻ ít hơn, cơthể nhỏ hơn và tỷ lệ sống sót của rầy non thấp, thời gian phát dục của rầy non kéodài, tốc độ quần thể phát triển chậm hơn so với rầy được nuôi trên các giống nhiễm(Jiang J.Y và CS, 1989)
Trang 18Sự di trú:
Khả năng di chuyển là một đặc điểm rất quan trọng của rầy lưng trắng trên
đồng ruộng, cường độ, màu sắc ánh sáng đèn và nhiệt độ, ẩm độ và áp suất khíquyển quyết định việc phát tán của rầy lưng trắng, quá trình xâm nhập của rầy di cư
có tính chất định hướng vào đồng lúa Khoảng cách di chuyển, hướng di chuyểncủa chúng phụ thuộc vào tốc độ, hướng gió (Kisimoto, 1994)
Nhóm rầy trong đó có rầy lưng trắng có khả năng di chuyển với khoảng cáchrất xa, chúng có khả năng di chuyển từ phía Bắc Việt Nam tới phía Nam TrungQuốc và từ đó chúng di cư tới Nhật Bản và Hàn Quốc (Zhai Bao Ping, 2009; M.Matsumura, 2001),
Bằng việc sử dụng hệ thống bẫy đèn trên đất liền, ven biển và trên biển và sửdụng phương pháp đánh dấu, các tác giả đã xác định được quá trình di chuyển quabiển với số lượng lớn của rầy lưng trắng và rầy nâu vào bán đảo Triều Tiên từ cuốitháng 6 đến đầu tháng 7 ở đảo Jeju (Nam Jeju), giữa tháng 7 ở phía Nam và cuốitháng 7 ở các đảo miền Trung (Sogawa, 1994)
Theo Kisimoto (1971), Trung Quốc có 5 đợt rầy di chuyển từ giữa tháng 4đến đầu tháng 5 nhờ gió nam và tây nam và 3 đợt di cư theo hướng tây nam vàogiữa và cuối tháng 8, cuối tháng 10 Ở bán đảo Triều Tiên quá trình du nhập củarầy lưng trắng qua biển đông diễn ra từ cuối tháng 6 đến đầu tháng 7
Ngoài ra, còn có sự phát tán và du nhập giữa các vùng , các vụ lúa vớikhoảng cách từ 6- 30 km, quá trình này thường diễn ra vào buổi chiều mát và chập
tối ở các vùng nhiệt đới (Shingh Phaliwal et al.,1986).
2.1.4 Biện pháp phòng trừ.
Thuốc hóa học
Theo Matsumura (2008), rầy lưng trắng tại các nước Đông Nam Á đang có
xu hướng kháng với hoạt chất fipronil, nguyên nhân của hiện tượng trên được giảithích là do fipronil đã được sử dụng để phòng trừ sâu cuốn lá nhỏ vào giai đoạn cây
Trang 19lúa làm đòng Đây cũng là thời điểm phát triển của rầy lưng trắng chính vì vậy dùviệc sử dụng các thuốc hoá học thuộc nhóm này để phòng trừ rầy lưng trắng khôngphổ biến nhưng tính kháng thuốc fipronil vẫn phát triển
Rầy non tuổi nhỏ của rầy nâu, rầy lưng trắng, rầy xanh đuôi đen sẽ chết dokhông lột được xác khi được phun 0,075% Buprofezin dẫn đến hạn chế số lượngquần thể (Valencia et al, 1980)
Ở Pakistan (1995), các loại thuốc Chlopyriphos và carbosulphal có hiệu lựccao và kéo dài trong vòng 5 ngày đối với rầy lưng trắng, ngoài ra dầu xoan, dầuluyn cũng có tác dụng trừ rầy lưng trắng, chỉ có Phosphamilon 0.05% có khả năngdiệt trứng, ngoài ra Phosphamilon 0.05% và Fenvalirate 0.045% còn có tác dụnglàm giảm sinh sản của rầy cái
Trong nhóm các loại thuốc có nguồn gốc lân hưu cơ và thuốc có nguồn gốcthảo mộc ở Pakistan thì thuốc lân hữu cơ cho hiệu lực cao nhất (93,15%) sau đó làMethidathion (89,16%), Nicotin (61,63%) và cuối cùng là dầu Neem( 33,39%)(Haq et al, 1991)
Ở Nhật Bản, tính mẫn cảm với các thuốc thuộc nhóm lân hữu cơ, Carbamate
và DDT của rầy lưng trắng đã giảm theo thời gian ( năm 1987 so với năm 1980)nhưng độ mẫn cảm với Lidan không đổi
Muốn phòng trừ rầy có hiệu quả cần phải phối hợp tiến hành kết hợp cácbiện pháp khác nhau ( biện pháp tổng hợp) như sử dụng giống kháng, gieo trồngkhông quá 2 vụ trong một năm, phòng trừ sinh học
Thiên Địch: Trong điều kiện tự nhiên của ruộng lúa, các loài thiên địch là
yếu tố quan trọng hạn chế số lượng quần thể rầy lưng trắng, Khan và Saxena(1985) đã tập hợp và hiệu đính lại toàn bộ các thiên địch đã được công bố tronggiai đoạn 1900-1984, Reisig et al (1986) đã công bố danh sách các loài thiên địch
tự nhiên phân bố ở các nước trồng lúa thuộc vùng Á Nhiệt Đới bao gồm có 8 loài
ký sinh trong đó 4 loài ký sinh trứng, 4 loài ký sinh rầy non và trưởng thành chúng
Trang 20phân bố ở Nhật Bản, Ấn Độ, Srilanka, Tây Malaysia, Thái Lan, New Guinea,Philipines, Trung Quốc, Triều Tiên, Đài Loan, Pakistan, quần đảo Solomon, Úc vàIndonexia và 9 loài thiên địch ,1 loài là tác nhân gây bệnh.
Trong số các loài bọ rùa thì Coccinella arcuta là quan trọng nhất vàphổ biến
nhất trong những loài thiên địch của rầy lưng trắng ở Ấn Độ, Úc và New Guinea
Trong các loài ong ký sinh trứng thì Anagrus flaveolus được ghi nhận là loài ký
sinh quan trọng ở Nhật Bản (Benrey et al, 1994)
Theo Lin và nnk (1976) các loài bọ xít và nhện là loài có ý nghĩa nhất trongloài bắt mồi, đặc biệt nhóm nhện có vai trò to lớn trong việc kìm hãm mật độ quầnthể rầy, ở Fuji bọ xít mù xanh đã hạn chế được số lượng rầy lưng trắng có hiệu quả(Hinekley A.D ,1963; Shamsul A., 1970)
Yang (1982) đã nhận xét tỷ lệ nhiễm tuyến trùng của rầy lưng trắng ở TrungQuốc là 23,1- 28,8%, trong đó rầy cánh ngắn có tỷ lệ nhiễm cao hơn rầy cánh dài,chế độ nước và tập quán canh tác có ảnh hưởng lớn đến số lượng tuyến trùng
Ở tỉnh Zhejiang Trung Quốc, những ruộng có nuôi cá, quần thể rầy lưngtrắng ở thế hệ thứ 3 (vụ sớm) đã giảm 34,48- 74,31% so với những ruộng khôngnuôi cá (Shuiyan et al, 1989)
2.2 Một số kết quả nghiên cứu về rầy lưng trắng ở trong nước.
2.2.1 Phân bố, ký chủ và tác hại của rầy lưng trắng.
Ở nước ta rầy lưng trắng phân bố rộng khắp từ Bắc vào Nam với các ký chủ
là lúa, cỏ môi, cỏ chân vịt , trên ruộng lúa rầy lưng trắng có xu hướng xuất hiện vàphát triển sớm so với rầy, tỷ lệ rầy lưng trắng thường cao hơn rầy nâu khi lúa ở giaiđoạn mới cấy và sau đó giảm dần vào giai đoạn lúa đứng cái Rầy nâu, rầy lưngtrắng có xu hướng tăng lên về mật độ và diện phân bố, riêng năm 2006 cả nước códiện tích rầy nâu và rầy lưng trắng là 605.593 ha (tăng 3.2 lần so với năm 2005),trong đó diện tích bị nhiễm nặng là 48.876 ha (tăng 4.6 lần so với năm 2005, ở cáctỉnh miền Bắc có 141.190 ha bị nhiễm rầy nâu, rầy lưng trắng tăng 28.6% so với
Trang 212005, trong đó diện tích bị nhiễm nặng khoảng 20.000ha tăng 1.8 lần so với năm
2005 (Cục BVTV, 2006)
Tỉ lệ rầy nâu chiếm 70% vào năm 1981 đã giảm xuống còn 30% vào năm
2007 Ngược lại, rầy lưng trắng tăng từ 35% lên 70% Đặc biệt nguy hiểm, rầy nâunhỏ đã tái xuất hiện ở miền Bắc từ giữa năm 2008 và đang có xu hướng phát triểnmạnh Như vậy, cả 2 loại rầy có khả năng truyền virus LSĐ (lùn sọc đen) rất caođang “đổ bộ” ra miền Bắc khiến nguy cơ bùng phát bệnh LSĐ trong thời gian tới làhết sức nguy hiểm (Báo nông nghiệp, 2009)
Bệnh lùn sọc đen do virus RBSDS thuộc nhóm Fijivirus-2, họ Reoviride gây
ra, và rầy lưng trắng, rầy nâu nhỏ là môi giới lần đầu tiên xuất hiện tại Trung Quốcnăm 2001, gây hại nặng vào năm 2007, 2008, 2009 tại đảo Hải Nam và một số tỉnhphía nam Trung Quốc Việt Nam là nước thứ hai trên thế giới virus này xuất hiện,
và môi giới chính là do rầy lưng trắng, chúng đã gây hại nặng ở vụ mùa năm 2009tại miền Bắc với tổng diện tích bị hại lên tới trên 40 000 ha và trên 17 000 ha bịmất trắng Rầy lưng trắng là môi giới truyền bệnh (N.V.Viễn và nnk., 2009; N.N.Cường và nnk., 2009)
2.2.2 Đặc điểm sinh học.
Trứng của rầy lưng trắng có hình quả chuối, mới đẻ trong suốt không màu,
kích thước trung bình 0.96mm x 0.20 mm, 3 ngày sau khi đẻ đầu trứng xuất hiệnđiểm màu đỏ, cuối trứng có một đốm màu vàng đục Trứng được đẻ thành từng ổ
từ 2- 7 quả, thường đẻ trong mô bẹ hoặc gân chính của lá Thời gian phát dục củatrứng thay đổi theo nhiệt độ và ẩm độ Nhiệt độ 28,8 -29,80C và ẩm độ từ 93- 94%thời gian phát dục trứng là 6,4 - 6,7 ngày, nhiệt độ 24.9- 26.4 và ẩm độ 93-94% tỷ
lệ nở trứng của rầy lưng trắng là 47,8% (N.Đ Khiêm, 1995)
Theo Đ.V.Thành (1998), trong điều kiện phòng thí nghiệm của Viện Bảo VệThực Vật thấy rằng ở điều kiện nhiệt độ tháng 7 bình quân la 30.20C, ẩm độ 85.5%thời gian phát dục của trứng là 5.46 0.77 ngày, trong tháng 9 đầu tháng 10 nhiệt
Trang 22độ bình quân 26.50C, ẩm độ 78.3% thời gian trứng 6.8 0.91 ngày Khi nhiệt độbình quân là 20.30C, ẩm độ 72.8% thời gian trứng là 8.6 1.4 ngày.
non có 5 tuổi,thời gian phát dục là 12,5 - 12,9 ngày, rầy lưng trắng có 5 tuổi, tuổi 1
có màu trắng sữa cho đến khi xuất hiện nền trắng và xám ở tuổi 3 Tuổi 5 mảnhlưng và bụng đồng vàng, có các vết vằn trắng, xám trên nền trắng mịn, chiều dàithân thay đổi từ 0.8- 2.1 mm (N.Đ Khiêm (1995); Đ.V Thành (1998)
Trưởng thành: Rầy lưng trắng có dải trắng dễ nhận thấy ở mảnh lưng giữa,
mình màu nâu vàng, cánh trước có mặt cánh đen hoặc nâu xám Rầy đực dài2,6mm, rất ít gần như không xuất hiện rầy cánh ngắn Rầy cái dài 2,9mm, mảnhlưng uốn cong không sâu phía dưới Rầy trưởng thành di chuyển nhiều hơn so vớirầy nâu Vòng đời của rầy lưng trắng là 22 ngày khi nuôi trong điểu kiện nhiệt độ
25 - 26,6 oC và ẩm độ 92 - 93,8% ( N.Đ Khiêm (1995); Đ.V Thành (1998)
2.2.3 Đặc điểm sinh thái.
Rầy lưng trắng xuất hiện trên mạ ngay cả khi nhiệt độ thấp, tỷ lệ rầy non tuổilớn chiếm ưu thế hơn Mật độ rầy tăng dần từ lúc lúa hồi xanh đến làm đòng sau đógiảm dần Nhiệt độ thấp kéo dài thời gian phát dục, lượng mưa và chế độ nước cóliên quan trực tiếp đến sự phát triển của quần thể rầy lưng trắng (N.Đ Khiêm, 1995)
Số Lứa: trên đồng ruộng, một năm rầy lưng trắng phát sinh 6-7 đợt rầy non
trong đó đợt rầy cuối tháng 4 (vụ Đông xuân) và cuối tháng 8 (vụ mùa) là 2 đợt cómật độ cao khả năng gây hại lớn Theo Đ.V.Thành (1998) trong 2 năm 1996-1997tại Hải Bối- Đông Anh- Hà Nội trong năm rầy lưng trắng phát sinh thành 7 đợttrong đó có 3 đợt đầu ở vụ chiêm xuân và 4 đợt sau trên vụ mùa, đợt rầy thứ 4thường phát sinh trên mạ mùa Xu thế phát triển của quần thể rầy lưng trắng trênruộng lúa ở 2 vụ có khác nhau Ở vụ chiêm xuân mật độ quần thể có xu hướng tăngdần từ đầu đến cuối vụ mùa và mật độ quần thể thường đạt đỉnh cao vào tháng 8sau đó giảm dần về cuối vụ Các đỉnh cao đợt rầy thường cách nhau 25- 30 ngày và
Trang 23rầy lưng trắng chỉ có mật độ cao, khả năng gây hại nặng trong vụ mùa, đối với vụchiêm xuân mật độ quần thể thường ở mức thấp do vậy ít có khả năng gây hại.
Hệ số tích lũy: Ở vụ chiêm xuân nếu mật độ quần thể ở thế hệ thứ nhất là 1
thì hệ số tích lũy ở thế hệ thứ 2 là 2,6- 3.14 còn ở thế hệ thứ ba hệ số tích lũy chỉtăng lên từ 4- 6.2 lần so với thế hệ thứ nhất Còn ở vụ mùa thì ngược lại mật độquần thể ở thế hệ thứ nhất là 1 thì thế hệ thứ 2 chỉ còn 0.36-0.89 và thế hệ thứ bachỉ còn 0.045- 0.30 ( Đ V Thành, 1994)
Ảnh hưởng của giống đến quá trình phát triển quần thể
Thí nghiệm nhân tạo thả rầy trên các giống lúa thuần và lai cho thấy nhữnggiống lúa lai, giống lúa nhiễm rầy lưng trắng có mật độ tập trung nhiều hơn, đặcbiệt ở giai đoạn đẻ nhánh sau 72h Trên các giống lúa thuần thì số rầy lưng trắngphát triển từ một cặp trưởng thành chỉ bằng 25-50% so với số rầy lưng trắng trêngiống lúa lai Vòng đời phát triển của rầy lưng trắng trên lúa lai cũng có xu hướngngắn hơn Điều tra đồng ruộng cũng cho thấy Nếp nhung là giống có mật độ rầycao nhất, lúa lai có diễn biến mật độ gây hại cao hơn lúa thuần Do vậy, nhữngvùng có cơ cấu giống lúa lai nhiều hơn thi khả năng phát triển thành dịch cao hơn(Đ.V Thành, 1994)
2.2.4 Những nghiên cứu về phòng chống rầy lưng trắng
Giống: Nhìn chung các giống phổ biến trong sản xuất đều nhiễm rầy
lưng trăng ở các mức độ khác nhau trong 6 giống thuộc tập đoàn giống lúa của
Bộ môn Giống, Khoa Trồng Trọt, Trường ĐHNNI được điều tra ngoài đồng vụmùa 1989 có mức độ nhiễm rầy từ cao đến thấp: Nếp 415, Mộc Tuyền,U17,CH, KV, CR203 Trong đó giống nếp lai là giống nhiễm rầy lưng trằngnhiều nhất, giống CR203 kháng rầy nâu, rầy nâu nhỏ, rầy lưng trắng ( N.Đ.Khiêm, 1995) Kết quả đánh giá 17 giống trồng phổ biến trong sản xuất chothấy có 6 giống nhiễm nặng với rầy lưng trắng lá X1, NN8, NN2, 1548, XS2,RD9, 4 giống nhiễm vừa là CR203, 81- 10, 81- 10/11 và 1094 và có 7 giống
Trang 24kháng vừa là 215-3/4, 215-3/3-2, 215-3/4-3, 215-3/3-5, Z131, Z126 và RD9 (Đ.V Thành, 1994)
IR9846-Thuốc hóa học: Các loại thuốc có hiệu quả đối với rầy nâu thì đều có
hiệu lực đối với rầy lưng trắng như Bassa 50 EC, Mippxin Tuy nhiên, nhữngloại thuốc này đều gây tỷ lệ chết cao đối với thiên địch của nhóm rầy (T.Đ.Chiến, 1994)
Thiên địch: Cũng như các loài sâu hại khác trong tự nhiên rầy lưng trắng
cũng có nhiều thiên địch Vùng Hà Nội đã ghi nhận có 18 loại thiên địch của rầylưng trắng trong đó nhóm bắt mồi gồm 5 loại nhện, 3 bọ rùa, 2 loại bọ xít, 1 loại bọ
3 khoang và 1 bọ cánh ngắn, nhóm ký sinh gồm 4 loài kí sinh trứng và 1 loài kýsinh rầy non, 1 loại bọ cánh cuốn (P.V.Lầm, 199)
Trang 25Phần 3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
3.1.Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
- Thời gian: từ tháng 1 đến tháng 6 năm 2010
- Địa điểm: Xã Đồng Sơn, huyện Nam Trực - Nam Định và nhà lưới ViệnBảo Vệ Thực Vật
3.2 Đối tượng
- Rây lưng trắng: các pha phát dục
- Thiên địch của rầy lưng trắng
3.3 Vật liệu nghiên cứu
- Giống lúa: các giống lúa chính được trồng trong sản xuất tại vùng nghiêncứu: Bắc thơm số 7, tạp giao 838…
- Thuốc bảo vệ thực vật ( hóa học và sinh học)
- Một số dụng cụ phục vụ thí nghiệm: Túi ni lông, chổi lông, lọ thủy tinh,hộp nhựa, ống nghiệm (dài 17.7cm x rộng 1.8cm), khay gieo mạ, kim mũi nhọn,panh Xô nhựa trồng cây, lồng lưới nuôi rầy Tủ sấy, kính lúp, kính lúp soi nổi, cácloại hóa chất giữ ẩm, cồn 90o, foocmon 5%, K0H, axit axetic
- Dụng cụ thử thuốc: ống Pipet, ống đong, xi lanh, bình bơm tay chậu nhựakích thước ( 20 x 16,5 x 16 cm ), ống hút côn trùng, ống chụp kích thước ( 17 x 60
cm ), kính lúp cầm tay, bút lông, bình xịt 1,5 lít, ống đong
3.4 Nội dung.
- Điều tra tra thành phần nhóm rầy hại thân và thiên địch phổ biến trên lúavụ xuân 2010
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng hại lúa
+ Thời gian phát dục các pha
Trang 26+ Khả năng đẻ, tỷ lệ nở của trứng.
+ Vòng đời
- Ảnh hưởng của thời gian xử lý thuốc tới quần thể rầy lưng trắng
+Diễn biến quần thể rầy lưng trắng trên ruộng phun trừ rầy lưng trắng lứa 1 +Diễn biến quần thể rầy lưng trắng trên ruộng phun trừ rầy lưng trắng lứa 2
- Đánh giá hiệu quả của thuốc xử lý hạt giống Cruiser Plus 312.25 FS
3.5 Phương pháp nghiên cứu.
3.5.1 Điều tra tra thành phần nhóm rầy hại thân và thiên địch trên lúa vụ xuân 2010.
(Kết hợp điều tra khi điều tra diễn biến mật độ rầy lưng trắng)
- Phương pháp điều tra
+ Thời gian bắt đầu điều tra: 7 ngày sau cấy
+ Dùng bẫy dính vàng điều tra định kỳ 7 ngày/lần
+ Điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 30 khóm (tương đương 1 m²)
+ Tần suất xuất hiện nhóm rầy hại thân và thiên địch chính
Số điểm có rầy/ thiên địchTần suất bắt gặp (%)= x100%
Tổng số điểm điều tra
- : Rất ít (< 10% số lần bắt gặp )
+ : Ít ( 11 - 20% số lần bắt gặp)
++ : Trung bình (21-50% số lần bắt gặp)
+++ : Nhiều (> 50% số lần bắt gặp)
Trang 273.5.2 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của rầy lưng trắng hại lúa.
- Nguồn rầy ban đầu dùng cho các thí nghiệm nuôi sinh học: rầy được bắtngoài ruộng đưa về cho đẻ trứng vào các cây lúa trồng trong các khay có trồnglúa, khi trứng nở, tách rầy tuổi 1, tiến hành nuôi cá thể ở các cốc nhựa (7x15cm)
có trồng 1 cây lúa TN1 15 ngày tuổi được chụp bằng ống bằng Mica cứng (5x30cm) và đầu trên được bịt bằng vải màn, 5 ngày thay thức ăn 1 lần
- Khả năng đẻ trứng: rầy nâu được ghép đôi và nuôi trong các côc chụp giấybóng cứng như mô tả ở trên, mỗi cốc thả 1 cặp, theo từng dạng cánh dài hoặcngắn Hàng ngày thay cây lúa 1 lần, và cây lúa đó được kiểm tra số trứng đẻtrong ngày
- Chỉ tiêu theo dõi:
+ Thời gian trứng
+ Thời gian các tuổi rầy non
+ Thời gian tiền đẻ trứng
+ Thời gian trưởng thành
- Số cá thể/ công thức theo dõi: 50 rầy
Tổng số trứng= tổng số rầy nở + tổng số trứng chưa nở
Tổng số trứng nở
Tỷ lệ trứng nở= x 100
Tổng số trứng
3.5.3 Nghiên cứu một số đặc điểm sinh thái của rầy lưng trắng hại lúa.
Theo dõi diến biến quần thể rầy lưng trắng dưới ảnh hưởng của một số yếu
tố sinh thái :
Giống : Bắc thơm số 7, Tạp giao, khang dân 18
Mật độ cấy: Mật độ cấy thưa và mật độ cấy phổ biến
Trang 28Chế độ thâm canh: Thâm canh cao, thâm canh trung bình( TB), thâm canhthấp.
Mối giống điều tra 1 ruộng diện tích từ 1000 đến 2000m2 Mỗi ruộng điềutra tại 5 điểm chéo góc Sử dụng bẫy dính vàng (chiều rộng 20cm, chiều dài 25cm)
để thu rầy lưng trắng và thiên địch Mỗi điểm đập 30 khóm lúa để rầy và thiên địchrơi và dính vào bẫy Rầy lưng trắng và thiên đich thu dược mang về phòng thínghiệm và đếm số lượng rầy thu được Thí nghiệm theo dõi diến biến quần thể rầytrên đồng ruộng ở mức độ thâm canh và mật độ cấy được làm tương tự như trên ở 2giống khác nhau
3.5.4 Ảnh hưởng của thời gian xử lý thuốc tới quần thể rầy lưng trắng
- Thí nghiệm ô lớn không nhắc lại
- Công thức thí nghiệm
CT Thí
nghiệm
Loại thuốcdùng
Lượng dùng(l,kg/ha)
Diện tích ô thínghiệm (ha)
Thời điểm phun
1
Rầy lưng trắng lứa
1 xuất hiện2
Rầy lưng trắng lứa
2 xuất hiện3
Trang 29Giống thí nghiệm: Bắc thơm số 7
Phân bón: 90N: 70 P205: 80 K20
Phương pháp điều tra
+ Thời gian bắt đầu điều tra: 7 ngày sau cấy
+ Dùng bẫy dính vàng điều tra định kỳ 7 ngày/lần
+ Mỗi công thức điều tra 5 điểm chéo góc, mỗi điểm 30 khóm (tương đương
1 m²)
+ Vỗ 2 lần/khóm
+ Bẫy được đem về đếm rầy các tuổi và KSTĐ
-Chỉ tiêu theo dõi: mật độ quần thể rầy lưng trắng (con/m²) tại các công thức quacác lần điều tra
3.5.5 Đánh giá hiệu quả của thuốc xử lý hạt giống Cruiser Plus 312.25 FS
Thí nghiệm được bố trí trong điều kiện nhà lưới
- Công thức thí nghiệm: 5 công thức
Chậu có kích thước đường kính 25 cm x cao 30 cm
+ CT1: liều lượng 50 ml/4 lít nước
+ CT2: liều lượng 100 ml/4 lít nước
+ CT3: liều lượng 150 ml/4 lít nước
+ CT4: liều lượng 200 ml/4 lít nước
+ CT5( Đối chứng): Không phun thuốc
- Số lần nhắc lại: 3
- Giống lúa thí nghiệm: Bắc thơm số 7
- Số cây /lần nhắc lại: 20 (số cây này được gieo trong chậu với kích thuốc 25 cm x
30 cm )