1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Nhập môn sức khỏe môi trường pdf

17 347 4

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 303,17 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Theo Luật bảo vệ môi trường Việt Nam 1993: môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống,

Trang 1

BàI 1

NHậP MÔN SứC KHOẻ MÔI TRƯờNG

MụC TIÊU

1 Trình bày được các thành phần chính của môi trường

2 Nêu được các khía cạnh lịch sử của sức khoẻ môi trường

3 Trình bày được mối quan hệ giữa sức khoẻ và môi trường, các chính sách về sức khoẻ môi trường và quản lý môi trường

4 Giải thích được những vấn đề sức khoẻ môi trường mang tính cấp bách ở địa phương và trên thế giới

Sức khoẻ môi trường là nền tảng của y tế công cộng, cung cấp rất nhiều lý luận cơ bản nền tảng cho một xã hội hiện đại Quá trình cải thiện tình trạng vệ sinh, chất lượng nước uống, vệ sinh và an toàn thực phẩm, kiểm soát bệnh tật và cải thiện điều kiện nhà ở là nhiệm vụ trung tâm của quá trình thực hiện việc nâng cao chất lượng cuộc sống và tiếp tục những kinh nghiệm quý báu của cả thế kỷ qua Tuy nhiên, hiện nay cuộc sống của người dân trong thời kỳ đổi mới có nhiều thay đổi: việc đô thị hoá, tăng dân số, thay đổi lối sống, nạn phá rừng, tăng sử dụng hoá chất bảo vệ thực vật trong nông nghiệp, dùng các hormon tăng trưởng trong chăn nuôi, sự phát triển công nghiệp và không kiểm soát được những chất thải công nghiệp, làm cho môi trường

đang bị suy thoái Trong những năm qua, thảm họa thiên nhiên đã gây nên nhiều thiệt hại lớn như lũ quét ở Lai Châu, Sơn La; úng lụt ở Đồng bằng Sông Cửu Long; hạn hán

ở nhiều nơi như Tây Nguyên Hiện nay, những trường hợp bị nhiễm độc hoá chất, ngộ

độc các hoá chất bảo vệ thực vật và ngộ độc thực phẩm vẫn xảy ra thường xuyên Có nhiều chỉ thị và nghị quyết bàn về phương hướng phát triển bền vững, nghĩa là bảo

đảm cho môi trường và môi sinh trong sạch, giảm thiểu ô nhiễm, nhằm nâng cao sức khoẻ con người như Luật bảo vệ môi trường Việt Nam đã nêu Bên cạnh đó còn phải

kể đến môi trường xã hội, môi trường làm việc cũng có nhiều ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Do vậy, việc nghiên cứu, xử lý, phòng chống ô nhiễm môi trường và cải thiện môi trường xã hội là một việc hết sức cần thiết Muốn làm được điều đó mọi người, mọi tổ chức trong xã hội mà trước hết là học sinh, sinh viên - những người làm chủ tương lai đất nước phải cùng nhau tham gia giải quyết thì mới đạt được kết quả

Đó là những vấn đề môi trường ảnh hưởng đến đời sống xã hội, đến kinh tế đất nước Còn môi trường ảnh hưởng đến sức khoẻ con người cụ thể như thế nào? Thế nào gọi là sức khoẻ môi trường? Chúng tôi sẽ trình bày những khái niệm này ở phần sau

Trang 2

1 CáC THàNH PHầN CƠ BảN CủA MÔI TRƯờNG

1.1 Môi trường là gì?

Theo Luật bảo vệ môi trường Việt Nam (1993): môi trường bao gồm các yếu tố

tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên

1.2 Các thành phần của môi trường

Các yếu tố kể trên còn gọi là các thành phần của môi trường bao gồm: không khí, đất, nước, khí hậu, âm thanh, ánh sáng, sức nóng, bức xạ, động thực vật thuộc các

hệ sinh thái, khu dân cư, khu sản xuất, cảnh quan thiên nhiên, danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, khu vui chơi giải trí, v.v Tóm lại, các thành phần của môi trường bao gồm môi trường vật lý, môi trường sinh học và môi trường xã hội

1.2.1 Môi trường vật lý

Môi trường vật lý bao gồm các yếu tố vật lý như: khí hậu, tiếng ồn, ánh sáng, bức xạ, gánh nặng lao động Bên cạnh các yếu tố vật lý còn có những yếu tố hoá học như bụi, hoá chất, thuốc men, chất kích thích da, thực phẩm, v.v

1.2.2 Môi trường sinh học

Môi trường sinh học bao gồm: động vật, thực vật, ký sinh trùng, vi khuẩn, virus, các yếu tố di truyền, v.v

1.2.3 Môi trường xã hội

Môi trường xã hội bao gồm: stress, mối quan hệ giữa con người với con người, môi trường làm việc, trả lương, làm ca, v.v

2 CáC KHíA CạNH LịCH Sử CủA SứC KHOẻ MÔI TRƯờNG

2.1 Khái niệm về sức khoẻ môi trường

Sức khoẻ môi trường là gì? Theo quan điểm của nhiều người sức khoẻ môi

trường chính là sức khoẻ của môi trường Đây là các ý niệm về đời sống hoang dã, về

rừng, sông, biển, v.v và theo họ thì sức khoẻ môi trường đồng nghĩa với việc bảo vệ môi trường Những người khác thì cho rằng sức khoẻ môi trường là các vấn đề về sức khoẻ của con người có liên quan đến điều kiện sống, sự nghèo nàn, lạc hậu, không đủ nước sạch, lũ lụt, sự phá hoại của côn trùng và súc vật có hại - tất cả các thách thức đó chúng ta đã trải qua, đã chống trả trong suốt quá trình hình thành và phát triển của con người và cuộc sống (nhất là những năm gần đây) và chúng ta đã chiến thắng

Trang 3

Cả hai quan điểm này đều chưa đúng, chưa chính xác, sức khoẻ môi trường không đồng nghĩa với sức khoẻ của môi trường và bảo vệ môi trường và cũng không

bó hẹp trong việc kiểm soát các loại dịch bệnh của thế kỷ qua Cho đến hiện nay nhiều tác giả đưa ra khái niệm về sức khoẻ môi trường như sau:“Sức khoẻ môi trường là tạo

ra và duy trì một môi trường trong lành, bền vững để nâng cao sức khoẻ cộng đồng

2.2 Lịch sử phát triển của thực hành sức khoẻ môi trường

Mỗi sinh vật trên trái đất đều có môi trường sống của riêng mình, nếu thoát ra khỏi môi trường tự nhiên đó hoặc sự biến đổi quá mức cho phép của môi trường mà chúng đang sống thì chúng sẽ bị chết và bị huỷ diệt Do đó, đảm bảo sự ổn định môi trường sống là điều kiện cơ bản để duy trì sự sống của mọi loài sinh vật trên trái đất Những ví dụ rất giản đơn mà mọi người đều biết là ngộ độc oxyd carbon (CO) ở những người đi kiểm tra các lò gạch thủ công đốt bằng than hoặc cá chết do nước bị ô nhiễm hoá chất của nhà máy phân lân Văn Điển, v.v Điều đó có nghĩa là môi trường, con người và sức khoẻ con người có mối liên quan mật thiết với nhau và có thể cái nọ là nhân quả của cái kia Không phải đến bây giờ con người mới biết tới mối quan hệ này, mà từ hàng ngàn năm trước người Trung Quốc, ấn Độ, Ba Tư, Ai Cập cổ

đại đã biết áp dụng các biện pháp thanh khiết môi trường để ngăn ngừa và phòng chống dịch cho cộng đồng và quân đội Các tư liệu lịch sử cho thấy từ những năm trước công nguyên, ở thành Aten (Hy Lạp) con người đã xây dựng hệ thống cống ngầm để thải nước bẩn, đã biết dùng các chất thơm, diêm sinh để tẩy uế không khí trong và ngoài nhà để phòng các bệnh truyền nhiễm

Người La Mã còn tiến bộ hơn: khi xây dựng thành La Mã, người ta đã xây dựng một hệ thống cống ngầm dẫn tới mọi điểm trong thành phố để thu gom nước thải, nước mưa dẫn ra sông Tibre, đồng thời xây dựng một hệ thống cung cấp nước sạch cho dân chúng trong thành phố Vào thời kỳ này, độ cao của nhà ở, bề rộng các đường

đi lại trong thành đều được quy định và tiêu chuẩn hoá, những người đem bán loại thực phẩm giả mạo, thức ăn ôi thiu đều phải chịu tội

Theo thời gian, cùng với sự phát triển của xã hội, dân số, ô nhiễm môi trường và phòng chống ô nhiễm môi trường càng được tăng cường và phát triển Như chúng ta

đã biết, các nhân tố sinh học, các hoá chất tồn tại một cách tự nhiên và các nguy cơ vật lý đã tồn tại trong suốt quá trình phát triển của lịch sử loài người Đồng thời các chất ô nhiễm môi trường do hoạt động của con người sinh ra cũng có quá trình phát triển từ từ và lâu dài

Cuộc khủng hoảng môi trường lần thứ nhất xuất hiện ở Châu Âu lần đầu tiên vào thế kỷ 19, nguyên nhân là do thực phẩm kém chất lượng, nước bị ô nhiễm ảnh hưởng

đến sức khoẻ cộng đồng Cuộc cách mạng công nghiệp ở Anh đã làm cho nước Anh trở thành xứ sở sương mù do ô nhiễm không khí, thời gian này vấn đề ô nhiễm công nghiệp là một vấn đề hết sức nghiêm trọng nhưng bị chính phủ lờ đi vì còn nhiều vấn

đề xã hội khác quan trọng hơn, mặc dù năm 1848 Quốc hội Anh đã thông qua Luật Y

tế công cộng đầu tiên trên thế giới Trong quá trình phát triển công nghiệp, ô nhiễm kéo dài cho đến giữa thế kỷ 20 và hàng loạt những ô nhiễm mới song song với ô

Trang 4

nhiễm công nghiệp là ô nhiễm hoá học, hoá chất tổng hợp, nhất là trước và sau chiến tranh thế giới lần thứ 2 Những tiến bộ của kỹ thuật, lĩnh vực hoá học, đặc biệt là ngành công nghiệp hoá chất đã tạo ra các hoá chất tổng hợp như cao su tổng hợp, nhựa, các dung môi, thuốc trừ sâu v.v đã tạo ra rất nhiều chất khó phân huỷ và tồn dư lâu dài trong môi trường như DDT, 666, dioxin v.v gây ra ô nhiễm môi trường nặng nề, dẫn tới sự phản đối kịch liệt của cộng đồng nhiều nước trên thế giới trong suốt thời kỳ những năm 60 và 70 của thế kỷ 20 (xem hộp 1.1)

Hộp 1.1 Các ví dụ về những sự kiện sức khỏe môi trường quan trọng

1798 - Thomas Malthus xây dựng lý thuyết về phân bố tài nguyên và dân số

1848 - Quốc hội Anh thông qua Luật Y tế công cộng

1895 - Svante Arrhenius mô tả hiện tượng hiệu ứng nhà kính

1899 - Hiệp định Quốc tế đầu tiên về cấm vũ khí hoá học

1956 - Anh thông qua Luật Không khí sạch

1962 - Việc xuất bản cuốn sách Mùa xuân lặng lẽ (silent spring) của Rachel Carson đã thu hút được sự chú ý tới vấn đề thuốc trừ sâu và môi trường

1969 - Hiệp định quốc tế đầu tiên về hợp tác trong trường hợp ô nhiễm biển (vùng biển phía Bắc)

1972 - Hội nghị của Liên hiệp quốc về Môi trường và Con người, Stockholm; DDT đã bị cấm

sử dụng ở Mỹ

1982 - Hội nghị đa phương về sự acid hoá môi trường đã khởi đầu quá trình dẫn tới chính thức thừa nhận vấn đề ô nhiễm xuyên biên giới và nhu cầu về sự kiểm soát quốc tế

1986 - Hội nghị quốc tế đầu tiên về nâng cao sức khoẻ (health promotion) thông qua Hiến chương Ottawa, trong đó định nghĩa nâng cao sức khoẻ là tạo điều kiện cho con người kiểm soát những yếu tố quyết định tới sức khoẻ của họ

1987 - Báo cáo của Uỷ ban Brundtland "Tương lai chung của chúng ta" (Our Common Future) đã kêu gọi hướng tới "phát triển bền vững"; Nghị định thư Montreal về hạn chế phát thải clorofluorocarbon (CFC) vào không khí để giảm tốc độ suy giảm tầng ozon ở tầng bình lưu

1992 - Hội nghị thượng đỉnh trái đất (Hội nghị của Liên hiệp quốc về Môi trường và phát triển), Rio de Janeiro

1994 - Hội nghị quốc tế về Dân số và Phát triển, Cairo

1995 - Hội nghị Thượng đỉnh của Liên hiệp quốc về Phát triển xã hội, Copenhagen

1996 - Hội nghị của Liên hiệp quốc về vấn đề định cư (HABITAT II), Istanbul

1997 - Hiệp định khung của Liên hiệp quốc về thay đổi khí hậu, Kyoto

Nguồn: Yassi và cộng sự, 2001

Làn sóng lần thứ hai về các vấn đề môi trường xảy ra vào những năm giữa của thế kỷ 20 với hai phong trào lớn là môi trường và sinh thái Phong trào môi trường là việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, nhất là những tài nguyên không tái tạo Kết quả là

Trang 5

động vật trên đất liền ở nhiều vùng thiên nhiên hoang dã, các vùng đất, biển quý hiếm khác, cảnh quan thiên nhiên được bảo tồn và tôn tạo Về phong trào sinh thái tập trung vào các chất có thể gây độc cho con người hoặc có khả năng gây huỷ hoại môi trường Kết quả của những phong trào này cùng với Hội nghị của Liên hợp quốc về môi trường và con người đã được tổ chức vào năm 1972 đã thuyết phục được nhiều chính phủ các nước thông qua luật lệ nhằm hạn chế ô nhiễm công nghiệp và phát thải rác, phòng chống ô nhiễm hoá học, đảm bảo chất lượng và vệ sinh an toàn thực phẩm, thuốc, v.v

Làn sóng lần thứ ba về các vấn đề sức khoẻ môi trường là từ những năm 80, 90

đến nay, ngoài những vấn đề ô nhiễm công nghiệp, hoá chất còn có các vấn đề về dioxyd carbon, clorofluorocarbon gây thủng tầng ozon, vấn đề cân bằng môi trường, phát triển bền vững, môi trường toàn cầu thay đổi, khí hậu toàn cầu nóng lên, v.v sẽ

còn phải giải quyết trong nhiều thập kỷ tới

3 NộI DUNG MÔN SứC KHOẻ MÔI TRƯờNG

Tất cả các khía cạnh của sức khoẻ môi trường là xác định, giám sát, kiểm soát các yếu tố vật lý, hoá học, sinh học và xã hội có ảnh hưởng đến sức khoẻ con người Thực hành sức khoẻ môi trường bao gồm: đánh giá, kiểm soát và phòng ngừa các yếu tố trong môi trường ảnh hưởng tiêu cực đến sức khoẻ con người, đồng thời phát huy các yếu tố môi trường có lợi cho sức khoẻ Việc này bao gồm tất cả các biện pháp cần thiết để đối mặt với các vấn đề: như suy thoái môi trường, thay đổi khí hậu, các nguy cơ môi trường (như: ô nhiễm đất, nước, không khí, ô nhiễm thực phẩm), tiếp xúc với hoá chất và vấn đề rác thải hiện nay Thực hành sức khoẻ môi trường còn tạo

điều kiện, cơ hội để nâng cao sức khoẻ bằng cách lập kế hoạch nâng cao sức khoẻ và tiến tới xây dựng một môi trường có lợi cho sức khoẻ Các hoạt động sức khoẻ môi trường được thực hiện ở tất cả các cấp, bao gồm:

ư Xây dựng, phát triển các chiến lược và tiêu chuẩn, gồm:

+ An toàn dân số

+ Tư vấn cộng đồng, bảo vệ sức khoẻ trong các trường hợp khẩn cấp

+ Theo dõi, quan trắc và xây dựng các tiêu chuẩn như tiêu chuẩn về nhà ở v.v + Nâng cao phát triển sức khoẻ

ư Phát triển và đưa ra các khuyến cáo về sức khoẻ môi trường:

+ Cung cấp thông tin cho cộng đồng về sức khoẻ môi trường

+ Nghiên cứu sức khoẻ môi trường

+ Giáo dục sức khoẻ môi trường

ư Cần phải có kế hoạch xây dựng luật sức khoẻ môi trường

Trang 6

ư Quản lý môi trường vật lý:

+ An toàn nước, nhất là an toàn nước ở khu giải trí

+ An toàn thực phẩm

+ Quản lý chất thải rắn

+ An toàn và sức khoẻ nghề nghiệp

+ Phòng chống chấn thương

+ Kiểm soát tiếng ồn

+ Sức khoẻ và chất phóng xạ

ư Quản lý nguy cơ sinh học:

+ Kiểm soát côn trùng và các động vật có hại

+ Quản lý bệnh truyền nhiễm qua vật chủ trung gian truyền bệnh

+ Kiểm soát vi sinh vật

ư Quản lý nguy cơ hoá học:

+ Xây dựng các tiêu chuẩn an toàn hoá học cho không khí, đất, nước sinh hoạt, nước thải và thực phẩm

+ Sử dụng thuốc bảo vệ thực vật an toàn

+ Đánh giá và quản lý các nguy cơ sức khoẻ ở các vùng bị ô nhiễm ví dụ như dioxin, v.v

+ Kiểm soát thuốc, chất độc, các sản phẩm y dược khác

+ Chất độc học

+ Kiểm soát thuốc lá

Bên cạnh đó còn nhiều các yếu tố khác cần phải kiểm soát như: cung cấp đủ thức ăn dinh dưỡng, cung cấp nước sạch, điều kiện vệ sinh và xử lý rác thải nhất là ở nông thôn hiện nay, cung cấp nhà ở và bảo đảm mật độ dân số v.v

Ngoài ra, còn một số các yếu tố khác nhất là khả năng tiềm tàng của các nguy cơ môi trường và suy thoái môi trường tác động lên sức khoẻ do các đặc điểm sau:

ư Thường xảy ra sau một thời gian dài tiếp xúc

ư Các bệnh liên quan đến môi trường thường do hoặc liên quan đến nhiều nguyên nhân khác nhau, ví dụ như viêm phế quản mạn tính có thể là do môi trường bị ô nhiễm, do vi khuẩn, thể lực v.v

Thực hành sức khoẻ môi trường sử dụng kiến thức và kỹ năng của nhiều lĩnh vực khác nhau để tập trung giải quyết các vấn đề sức khoẻ tiềm tàng

Trang 7

“Loài người là trung tâm của phát triển bền vững Họ có quyền sống một cuộc sống khoẻ mạnh và hoà hợp với tự nhiên”

(Tuyên bố Rio de Janero về Môi trường và Phát triển)

4 QUAN Hệ GIữA SứC KHOẻ Và MÔI TRƯờNG

Khi con người đầu tiên xuất hiện trên trái đất, tuổi thọ trung bình của họ chỉ khoảng từ 30 đến 40 tuổi Do sống trong môi trường khắc nghiệt, tuổi thọ của họ thấp hơn nhiều so với tuổi thọ của con người trong xã hội hiện nay Tuy vậy, 30 - 40 năm cũng đủ để cho họ có thể sinh con đẻ cái, tự thiết lập cho mình cuộc sống với tư cách

là một loài có khả năng cao nhất trong việc làm thay đổi môi trường theo hướng tốt lên hay xấu đi

Để có thể sống sót, những người tiền sử phải đối mặt với những vấn đề sau đây: Luôn phải tìm kiếm nguồn thức ăn và nước uống trong khi tránh ăn phải những thực vật có chứa chất độc tự nhiên (ví dụ nấm độc) hoặc các loại thịt đã bị ôi thiu, nhiễm độc

Bệnh nhiễm trùng và các ký sinh trùng được truyền từ người này sang người khác hoặc từ động vật sang con người thông qua thực phẩm, nước uống hoặc các côn trùng truyền bệnh

Chấn thương do ngã, hoả hoạn hoặc động vật tấn công

Nhiệt độ quá nóng hoặc quá lạnh, mưa, tuyết, thảm hoạ thiên nhiên (như bão lụt, hạn hán, cháy rừng v.v.) và những điều kiện khắc nghiệt khác

Những mối nguy hiểm đối với sức khoẻ con người luôn luôn xảy ra trong môi trường tự nhiên Trong một số xã hội, những mối nguy hiểm truyền thống trên đây vẫn

là những vấn đề sức khoẻ môi trường được quan tâm nhiều Tuy nhiên, khi con người

đã kiểm soát được những mối nguy hiểm này ở một số vùng, thì những mối nguy hiểm hiện đại do sự phát triển kỹ thuật, công nghiệp tạo ra cũng đã trở thành những mối đe dọa đầu tiên đối với sức khoẻ và sự sống của con người Một số ví dụ về các mối nguy hiểm môi trường hiện đại là:

Môi trường đất, nước ở nông thôn bị ô nhiễm nghiêm trọng do sử dụng hóa chất bảo vệ thực vật không đúng chủng loại, liều lượng và không đúng cách

Các sự cố rò rỉ các lò phản ứng hạt nhân/nhà máy điện nguyên tử, v.v

Sự thay đổi khí hậu toàn cầu, hiệu ứng nhà kính, v.v

Trong một vài thập kỷ vừa qua, tuổi thọ của con người đã tăng lên đáng kể ở hầu hết các quốc gia Các nhà điều tra cho rằng có 3 lý do cơ bản dẫn tới việc tăng tuổi thọ của con người:

+ Những tiến bộ trong môi trường sống của con người

+ Những cải thiện về vấn đề dinh dưỡng

+ Những tiến bộ trong chẩn đoán và điều trị y học đối với các loại bệnh tật

Trang 8

Những tiến bộ trong y tế luôn đi cùng với với những cải thiện về chất lượng môi trường, dinh dưỡng và chăm sóc y tế Ngày nay, những người ốm yếu có cơ hội sống sót cao hơn nhiều do hệ thống chăm sóc y tế được cải thiện Rất nhiều người luôn sống khoẻ mạnh, do có nguồn dinh dưỡng tốt và kiểm soát tốt các mối nguy hiểm về sức khoẻ môi trường

Khoa học môi trường là một môn học rất cần thiết và quan trọng dựa trên hai lý

do căn bản sau đây:

+ Nghiên cứu những mối nguy hiểm trong môi trường và những ảnh hưởng của chúng lên sức khoẻ

+ ứng dụng những phương pháp hiệu quả để bảo vệ con người khỏi những mối nguy hại từ môi trường

Muốn vậy chúng ta hãy xem xét thế nào là sức khoẻ và thế nào là môi trường? Trước hết chúng ta hãy điểm qua vài nét về hệ sinh thái:

Ra đời từ những năm 1930, thuật ngữ hệ sinh thái có thể được định nghĩa như là một hệ thống gồm những mối quan hệ tương tác qua lại giữa các sinh vật sống và môi trường tự nhiên của chúng Đó là một thực thể đóng đã đạt được các cơ chế tự ổn định

và nội cân bằng, đã tiến hoá qua hàng thế kỷ Trong một hệ sinh thái ổn định, một loài này không loại trừ một loài khác, nếu không thì nguồn cung cấp thức ăn cho những loài ăn thịt sẽ không tồn tại Các hệ sinh thái ổn định và cân bằng sẽ có tuổi thọ cao nhất Một hệ sinh thái sẽ không thể duy trì được một số lượng lớn vật chất và năng lượng được tiêu thụ bởi một loài mà lại không loại trừ một loài khác và thậm chí còn gây nguy hiểm cho khả năng tồn tại của toàn bộ hệ sinh thái Tương tự như vậy, khả năng của một hệ sinh thái trong việc chứa đựng chất thải và tái tạo đất, nước ngọt không phải là vô hạn Tại một thời điểm nào đó, những tác động từ bên ngoài sẽ phá

vỡ cân bằng của hệ sinh thái, dẫn đến sự thay đổi nhanh chóng hoặc làm huỷ diệt hệ sinh thái đó

Định nghĩa sức khoẻ và môi trường:

Theo định nghĩa của Tổ chức Y tế Thế giới (1946) thì sức khoẻ là trạng thái thoải mái về cả tinh thần, thể chất và xã hội chứ không chỉ đơn thuần là vô bệnh, tật Khái niệm bệnh, tàn tật và tử vong dường như được các nhân viên y tế đề cập tới nhiều hơn so với khái niệm lý tưởng này về sức khoẻ Do vậy khoa học sức khoẻ hầu như đã trở thành khoa học bệnh tật, vì nó tập trung chủ yếu vào việc điều trị các loại bệnh và chấn thương chứ không phải là nâng cao sức khoẻ

Tương tự như vậy, nhiều định nghĩa về môi trường trong bối cảnh sức khoẻ đã

được đề cập Theo định nghĩa mới nhất (1995), môi trường là tất cả những gì ở bên ngoài cơ thể con người Nó có thể được phân chia thành môi trường vật lý, sinh học, xã hội, văn hoá Bất kỳ môi trường nào hay tất cả các môi trường trên đều có thể ảnh hưởng tới tình trạng sức khoẻ của quần thể Định nghĩa này được dựa trên quan điểm

Trang 9

là sức khoẻ của con người chủ yếu được xác định do yếu tố di truyền và môi trường Yếu tố di truyền (gen) do cha mẹ truyền lại, bao gồm ADN trong mỗi tế bào cơ thể Các gen này tồn tại khi phôi được hình thành và không có sự thay đổi nào về di truyền trong suốt quá trình phát triển của con người Nếu như có sự thay đổi gen (như trong trường hợp đột biến), nó có thể dẫn tới sự mất chức năng, chết tế bào và ung thư (ở một số trường hợp đột biến cụ thể) Cơ sở vật chất di truyền của một cá thể là một trong những yếu tố chính xác định việc cá thể đó bị ảnh hưởng như thế nào bởi các yếu tố môi trường Một số cá thể sẽ bị ảnh hưởng khi tiếp xúc với các chất độc hại, các nguy hiểm môi trường với hàm lượng lớn Một số cá thể khác lại bị ảnh hưởng ở mức độ thấp hơn, bởi vì họ có các yếu tố nguy cơ / điều kiện kép hoặc nguy cơ / điều kiện đã có từ trước Một số người bị ảnh hưởng ở một mức độ rất thấp do tính nhạy cảm di truyền Điều đó minh chứng cho những ảnh hưởng của môi trường đối với sức khoẻ Tuy nhiên, đã một thời chính con người đã làm huỷ hoại và suy thoái môi trường Vì suy thoái môi trường nên có ảnh hưởng tới sức khoẻ cộng đồng như ung thư

da tăng lên ở Australia khi tầng ozon bị suy giảm

Con người đã phá rừng trong quá trình phát triển của mình và hậu quả là con người phải chịu những hậu quả của lũ quét, của thay đổi khí hậu toàn cầu, của ô nhiễm các chất thải công nghiệp

Khi con người huỷ hoại môi trường thì theo quy luật nhân quả học, con người cũng phải chịu những mối đe dọa từ môi trường, đó là những mối nguy hiểm hiện đại

và truyền thống

Khái niệm về sức khoẻ môi trường:

Hiện nay trên thế giới, vẫn còn nhiều tranh cãi về các định nghĩa như môi trường

là gì? Sức khỏe môi trường là gì Đặc biệt việc phân biệt sự khác nhau giữa hai phạm trù môi trường và sức khỏe môi trường là rất khó khăn Sức khỏe môi trường là một thuật ngữ không dễ định nghĩa Nếu chúng ta cho đó là Sức khỏe của môi trường thì dường như chúng ta không quan tâm tới một loài nào cụ thể, ví dụ loài người Nhưng nếu một ai đó lại muốn định nghĩa thuật ngữ này ám chỉ tới sức khỏe con người thì

điều này lại còn quá nhiều chỗ để tranh cãi Hai định nghĩa dưới đây, định nghĩa đầu tiên quan tâm tới những ảnh hưởng của môi trường lên sức khỏe trong khi định nghĩa thứ hai quan tâm tới những dịch vụ sức khỏe môi trường

Định nghĩa 1: Sức khỏe môi trường bao gồm những khía cạnh về sức khỏe con

người (bao gồm cả chất lượng cuộc sống), được xác định bởi các yếu tố vật lý, hóa học, sinh học, xã hội và các yếu tố tâm lý trong môi trường (theo định nghĩa trong Chiến lược Sức khỏe Môi trường Quốc gia của Australia - 1999) Định nghĩa này cũng

ám chỉ tới cả lý thuyết và thực tiễn của việc quyết định, kiểm soát và phòng ngừa đối với những yếu tố trên trong môi trường, những yếu tố có thể có ảnh hưởng tiềm tàng bất lợi đối với sức khỏe của các thế hệ hiện tại cũng như các thế hệ tương lai

Trang 10

Định nghĩa 2: Các dịch vụ sức khỏe môi trường là những dịch vụ nhằm cải thiện

các chính sách về sức khỏe môi trường qua các hoạt động giám sát, kiểm soát Chúng cũng thực hiện vai trò tăng cường sự cải thiện những giới hạn của môi trường và khuyến khích việc sử dụng các công nghệ sạch và khuyến khích những thái độ cũng như những cách cư xử tốt đối với môi trường và sức khỏe Những dịch vụ này cũng có vai trò quan trọng trong việc phát triển và đề xuất những chính sách mới về sức khoẻ môi trường

5 TáC ĐộNG CủA DÂN Số, ĐÔ THị HOá LÊN SứC KHOẻ CộNG ĐồNG Và MÔI TRƯờNG

Những thách thức về dân số Việt Nam là rất nghiêm trọng đối với tất cả các vấn

đề môi trường và tài nguyên thiên nhiên Tăng dân số vẫn ở mức cao 1,7% (1999) và

di dân nội bộ từ các khu vực nghèo tài nguyên và kinh tế kém phát triển vẫn đang tăng lên và không kiểm soát được Theo dự báo đến năm 2020, dân số nước ta xấp xỉ 100 triệu người, trong khi đó các nguồn tài nguyên đất, nước và các dạng tài nguyên khác

có xu thế suy giảm, vấn đề nghèo đói ở các vùng sâu, vùng xa chưa được giải quyết triệt để (hiện cả nước có 1750 xã ở diện đói nghèo) Quá trình đô thị hoá và phát triển kinh tế bằng con đường công nghiệp hoá đòi hỏi nhu cầu về năng lượng, nguyên liệu ngày càng to lớn, kéo theo chất lượng môi trường sống ngày càng xấu đi nếu không có các biện pháp hữu hiệu ngay từ đầu Mặt khác, quá trình đô thị hoá và công nghiệp hoá ở nhiều khu vực, vùng lãnh thổ lại không được quán triệt đầy đủ theo quan điểm phát triển bền vững, nghĩa là chưa tính toán đầy đủ các yếu tố môi trường trong phát triển kinh tế xã hội Theo dự kiến, tốc độ tăng trưởng GDP phải đạt xấp xỉ 7%/năm và

được duy trì liên tục đến năm 2010 Theo tính toán của các chuyên gia nước ngoài, nếu GDP tăng gấp đôi thì nguy cơ chất thải tăng gấp 3 - 5 lần Và nếu như trình độ công nghệ sản xuất, cơ cấu sản xuất, trình độ quản lý sản xuất, trình độ quản lý môi trường không được cải tiến thì sự tăng trưởng sẽ kéo theo tăng khai thác, tiêu thụ tài nguyên và năng lượng Điều này dẫn đến khai thác cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, tạo ra

sự gia tăng các loại chất thải và ô nhiễm môi trường gây nên sức ép cho môi trường Trong khi đó môi trường đô thị, công nghiệp và nông thôn tiếp tục bị ô nhiễm Đến năm 1999, dân đô thị là 23% so với dân số cả nước, dự kiến năm 2010 là 33% và 2020 là 45% Môi trường đô thị ở nước ta bị ô nhiễm bởi các chất thải rắn, nước thải chưa

được thu gom và xử lý theo đúng quy định Khí thải, bụi, tiếng ồn v.v từ các phương tiện giao thông nội thị và mạng lưới sản xuất quy mô vừa và nhỏ cùng với cơ sở hạ tầng yếu kém càng làm cho điều kiện vệ sinh môi trường ở nhiều đô thị đang thực sự lâm vào tình trạng đáng báo động Hệ thống cấp và thoát nước lạc hậu, xuống cấp, không đáp ứng được nhu cầu Mức ô nhiễm không khí về bụi, các khí thải độc hại nhiều nơi vượt tiêu chuẩn cho phép nhiều lần, nhất là tại các thành phố lớn như Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh vượt tiêu chuẩn cho phép 2 - 3 lần

Ngày đăng: 06/08/2014, 18:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN