1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Sự can thiệp của các nước TBCN đối với báo chí.

87 452 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Sự can thiệp của các nước TBCN đối với báo chí
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Xã Hội Và Nhân Văn
Chuyên ngành Báo chí
Thể loại tiểu luận
Định dạng
Số trang 87
Dung lượng 597 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự can thiệp của các nước TBCN đối với báo chí.

Trang 1

ĐỊNH HƯỚNG KHAI THÁC ĐỀ TÀI

Hiện nay, rất nhiều quan niệm cho rằng chỉ có báo chí ở các nước TBCN mới có tự do Còn báo chí ở các nước XHCN hoàn toàn nằm trong sự bó buộc, giám sát của chính quyền Cũng không ít luận điệu của phe phản động cho rằng Việt Nam cần phải thay đổi thể chế chính trị thì mới có thể có nền báo chí tự do Trên đài BBC tiếng Việt, có rất nhiều người Việt Nam phản đối những luận điệu không đúng thực tế này Tuy nhiên, họ mới chỉ đưa ra lời phản đối mà không đưa ra được minh chứng và cũng không làm được điều ngược lại đó là đưa ra các dẫn chứng về sự “không tự do” của báo chí TBCN

Lấy một ví dụ về những luận điệu không đúng thực tế:

“Dưới thể chế độc tài, tại sao chính quyền lại luôn chủ trương kiểm soát gần như tuyệt đối các phương tiện truyền thông? Tại sao không có đến thậm chí một phương tiện truyền thông đại chúng nào được hoạt động độc lập dưới các nhà nước cộng sản như Trung Quốc, Cu Ba, Việt Nam và Bắc Hàn?

Dưới thể chế dân chủ phóng khoáng (liberal democracy), tại sao các hệ thống chính trị thường phải dồn tối đa nỗ lực, trí tuệ để khai dụng, bằng một phương cách khôn ngoan, khéo léo nhưng không kém phần gay gắt, các phương tiện truyền thông tự do, để thuyết phục và gây ảnh hưởng lên dân chúng về chính sách của họ?

Hay phải chăng mọi thể chế chính trị đều nỗ lực tác động lên tư tưởng, bằng cách thuyết phục và quảng cáo trong thể chế dân chủ, hay bằng cách kiểm soát và tuyên truyền trong thể chế độc tài, với mục tiêu tối hậu là giành lấy sự ủng hộ ngắn hạn và sự hậu thuẫn lâu dài của dân chúng? Nói cách khác, trong thể chế độc tài, quan hệ giữa chính trị và truyền thông, ngoại trừ truyền thông mật (ngoài luồng), phần lớn mang tính một chiều, mà chủ yếu là chính trị điều khiển truyền thông Ngược lại, trong thể chế dân chủ phóng khoáng, tự do thông tin ngôn luận, đặc biệt từ khi xuất hiện tràn ngập các phương tiện truyền thông đại chúng, không những là quan hệ hai chiều giữa chính trị và truyền thông, mà nhiều khi truyền thông đã chủ động, cả tích cực lẫn tiêu cực, uốn nắn cung cách

Trang 2

hoạt động của giới chính trị” (Trích từ “Truyền thông và chính trị” của Phạm Phú Đức, ngày 17/1/2007)

Thế nào là tự do báo chí? Ở các nước TBCN, tự do báo chí đạt tới ngưỡng nào? Có phải báo chí ở các nước TBCN muốn viết gì, nói gì cũng được, chỉ cần

là sự sám hối công khai của nhân dân trước bản thân mình, mà lời thú nhận thật tâm như mọi người đều biết thì có cơ cứu rỗi Báo chí tự do – đó là tấm gương tinh thần trong đó nhân dân nhìn thấy bản thân mình mà sự tự nhận thức là điều kiện đầu tiên của sự sáng suốt "

"Báo chí nói chung là sự thực hiện tự do của con người Do đó ở đâu có báo chí ở đó có tự do báo chí"

"Bản chất" của báo chí tự do – đó là bản chất dũng cảm, có lý tính, có đạo đức của tự do"

"Báo chí tự do là toàn diện, nơi nào cũng có mặt, cái gì cũng biết Báo chí

tự do là cái thế giới ý tưởng không ngừng trào ra từ thực tế hiện thực và lại chảy trở về hiện thực như một dòng thác đầy sinh khí dưới hình thức của cái tinh thần ngày càng dồi dào"

"Báo chí quan hệ với điều kiện sinh sống của nhân dân với tư cách là lý tính, nhưng cũng không kém phần với tư cách là tình cảm Vì vậy báo chí không chỉ nói bằng tiếng nói lý tính của sự phê phán đang nhìn những mối quan hệ hiện tồn từ đỉnh cao của mình, mà còn nói bằng tiếng nói đầy nhiệt tình của bản thân cuộc sống"

Trang 3

"Báo chí tự do đem tình trạng (bần cùng) của nhân dân dưới hình thái trực tiếp của nó, không bị khúc xạ qua bất kỳ giới quan liêu nào tới ngưỡng cửa của quyền uy (nhà vua), đưa nó tới trước quyền lực của nhà nước Báo chí chẳng qua chỉ là và phải là "biểu hiện" vang dội của những tư tưởng và tình cảm hàng ngày của nhân dân đang suy nghĩ thật sự theo cách của nhân dân – biểu hiện thật

ra đôi khi nồng nhiệt, phóng đại và sai lầm"

"Trong hy vọng và lo lắng có điều gì báo chí nghe được ở cuộc sống, báo chí sẽ lớn tiếng loan tin, báo chí tuyên bố sự phán xét của mình đối với những tin tức đó một cách gay gắt, hăng say, phiến diện như những tư tưởng và tình cảm bị xúc động thầm bảo nó vào lúc đó"

Chúng tôi sẽ giải quyết vấn đề này bằng phương pháp chứng minh phản chứng, với vấn đề “sự can thiệp của nhà nước TBCN đối với báo chí”, để từ đó thấy rằng, báo chí ở các nước TBCN không phải lúc nào cũng tự do, thậm chí còn bị xâm hại về quyền lợi

Bài tiểu luận gồm có 4 chương:

- Chương I: Khái quát chung về báo chí TBCN Qua đó thấy rõ bức tranh tổng thể của báo chí TBCN

Mô hình xã hội phương Tây

Trang 4

- Chương II: Tìm hiểu nguyên nhân sâu xa của sự can thiệp của các nước TBCN đối với báo chí.

- Chương III: Đưa ra các hình thức can thiệp của nhà nước TBCN đối với báo chí

- Chương IV: Hệ quả của quá trình có bàn tay can thiệp của nhà nước TBCN đối với báo chí

Hy vọng rằng, cuốn tiểu luận này sẽ củng cố thêm cho người đọc lòng tin vào tự do báo chí ở Việt Nam trong giai đoạn có nhiều biến động này Tiểu luận còn nhiều thiếu sót về dẫn chứng và nhiều chỗ phân tích, bình luận còn chưa chặt chẽ Vì vậy rất mong sự góp ý của Thầy và các bạn Xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

CHƯƠNG I: KHÁI QUÁT VỀ BÁO CHÍ TBCNBáo chí ở các nước TBCN có gì khác so với báo chí ở các nước khác? Báo chí TBCN hình thành, phát triển như thế nào? Và trong suốt quá trình đó,

có thực sự báo chí TBCN luôn mang trên mình “cây quyền trượng tự do ngôn luận”? Trong chương này, chúng tôi sẽ giải quyết những vấn đề đó

1 Đôi nét về CNTB

Nền văn hóa, quan điểm văn minh ảnh hưởng rất lớn tới phong cách, đường lối của báo chí Đặc biệt dưới hình thái xã hội tư bản, báo chí có những nét riêng biệt nhất định Tìm hiểu về cơ sở xã hội để thấy rõ hơn về bản chất của báo chí tại đây

Chủ nghĩa tư bản là một hình thái kinh tế – xã hội phát triển cao của xã hội loài người, xuất hiện đầu tiên tại châu Âu phôi thai và phát triển từ trong lòng xã hội phong kiến châu Âu và chính thức được xác lập như một hình thái

xã hội tại Anh và Hà Lan ở thế kỷ thứ 18 Sau cách mạng Pháp cuối thế kỷ 18 hình thái chính trị của nhà nước tư bản chủ nghĩa dần dần chiếm ưu thế hoàn toàn tại châu Âu và loại bỏ dần hình thái nhà nước của chế độ phong kiến, quý tộc Và sau này hình thái chính trị – kinh tế – xã hội tư bản chủ nghĩa lan ra khắp châu Âu và thế giới

Đặc điểm đặc trưng nhất của chủ nghĩa tư bản là quyền sở hữu tư nhân đối với phương tiện sản xuất và quyền tự do kinh doanh được xã hội bảo vệ về mặt luật pháp và được coi như một quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của con người Trong nền kinh tế tư bản chủ nghĩa không loại trừ hình thức sở hữu nhà nước và sở hữu toàn dân và đôi khi ở một số nước tại một số thời điểm tỷ trọng của các hình thức sở hữu này chiếm không nhỏ, nhưng điều cơ bản phân biệt xã hội của chủ nghĩa tư bản với xã hội đối lập với nó là xã hội cộng sản là trong xã hội tư bản chủ nghĩa quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất là thiêng liêng được xã hội và pháp luật bảo vệ, sự chuyển đổi quyền sở hữu phải

Trang 6

thông qua giao dịch dân sự được pháp luật và xã hội quy định Còn chủ nghĩa cộng sản loại trừ quyền tư hữu đối với phương tiện sản xuất.

Trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa các cá nhân dùng sở hữu tư nhân

để tự do kinh doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông qua cạnh tranh trong các điều kiện của thị trường tự do: mọi sự phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế Các công ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế chủ yếu của nền kinh tế tư bản chủ nghĩa Có thể nói các yếu tố quyền tư hữu, thành phần kinh tế tư nhân, kinh doanh tự do, cạnh tranh, động lực lợi nhuận, tính tự định hướng tự tổ chức, thị trường lao động, định hướng thị trường, bất bình đẳng trong phân phối của cải là các khái niệm gắn liền với nền kinh tế tư bản chủ nghĩa

2 Các thời kì truyền thông chính trị

Chúng tôi tạm chia truyền thông trong chính trị ra làm 4 thời kì, đánh dấu những bước phát triển quan trọng sứ mệnh chính trị của truyền thông Từ đó thấy rằng, ở nhà nước TBCN, truyền thông không thể tách rời chính trị và không thể chối bỏ nhiệm vụ là công cụ của chính quyền

số tờ báo bắt đầu được xuất bản tại tiểu bang NSW mà không có sự đỡ đầu nào

từ chính quyền, từ đó khai mào cho sự hoạt động độc lập sau này Tuy nhiên, cả

Trang 7

một thế kỷ tiếp theo đó, quan hệ giữa truyền thông và chính trị là một sự chồng chéo phức tạp giữa kinh tế cũng như quyền lực và ảnh hưởng Ngay cả đến cuối thập niên 1930, truyền thông vẫn chủ yếu thiên đảng (tức nghiên về một đảng nào đó), chứ vẫn chưa đứng khách quan, độc lập Ông Keith Murdoch, bố của Rupert Murdoch (là một trong những chủ nhân sở hữu nhiều phương tiện truyền thông đại chúng nhất trong nhiều thập niên qua), lúc đó chỉ sở hữu vài tờ báo trên nước Úc, nhưng từng tuyên bố về cựu Thủ Tướng Úc, Joseph Lyons (1932-1939), rằng "Tôi đã đưa ông ấy vào ghế đó và tôi sẽ đưa ông ra khỏi ghế đó" (ông Murdoch đã thực sự làm được việc đó) Cho nên, nói tóm lại, quan hệ giữa truyền thông và chính trị là một mối phức tạp, luôn thay đổi nhưng vẫn luôn chặt chẽ không thể tách rời, dù trên lý thuyết (như hiến pháp) nó phải được tách rời hẳn hoi

và ổn định Vào lúc này, các nhà lãnh đạo chính trị thường nói về những vấn đề

họ quan tâm, đặc biệt là những thay đổi họ muốn thấy từ chính quyền cũng như các chính sách và nguyên tắc mà phân biệt họ với các phiá đối lập Nói chung, vào lúc này, các thông điệp chính trị đúng đắn thường dễ được các phương tiện truyền thông loan tải, phổ biến

2.3 Thời kỳ 2

Đó là thời điểm mà truyền hình xuất hiện, với một số đài giới hạn phát hình toàn quốc, và sau đó trở thành phương tiện truyền thông chính trị chính Sự xuất hiện của truyền hình, thể hiện rõ nhất qua cuộc tranh cử tổng thống Hoa Kỳ năm 1960 giữa John Kennedy và Richard Nixon, đã thay đổi bộ mặt truyền

Trang 8

thông chính trị Lúc này, phần lớn các cơ quan truyền thông bắt đầu đứng độc lập, không nghiêng hẳn về đảng nào, đề cao tính cách công bằng, không thiên vị, khách quan và trung lập Các giá trị này dần dần được xem là tiêu chuẩn mẫu mực để đánh giá sản phẩm truyền thông Do các yếu tố nêu trên, các đảng chính trị không còn nhiều ảnh hưởng như trước đối với truyền thông, và ngay cả các

cơ quan truyền thông do các đảng chính trị nuôi dưỡng cũng không thể hoạt động hiệu quả trong thời kỳ cạnh tranh này, bởi cảm nhận của đa số người dân

là không còn xem nó là khách quan và trung thực nữa Do đó, các đảng chính trị phải đưa ra những sáng kiến và chiến thuật mới để thu hút giới truyền thông, để được truyền thông loan tải tin tức theo chiều hướng có lợi cho mình, và để ảnh hưởng lên chương trình nghị sự của giới truyền thông, ví dụ như họp báo là hình thức có thể chủ động để đưa ra các quan điểm đã chuẩn bị sẵn Cũng vào lúc này, các chủ đề vận động tranh cử phải được thử nghiệm trước, và các chính trị gia không được khuyến khích nói ra những gì mình suy nghĩ như trước kia mà thường phải tham khảo ý kiến của giới chuyên gia để lượng định kết quả (tích cực hay tiêu cực) trước khi sự việc xảy ra, để rồi đi đến kết luận và lấy quyết định nên hay không nên nói những gì qua truyền thông

2.4 Thời kỳ 3 (đã, đang và vẫn còn tiếp diễn)

Giai đoạn này được đánh dấu bởi sự tràn ngập của các phương tiện truyền thông đại chúng, từ báo chí, truyền thanh, truyền hình, đến truyền thông mới (Internet) Hai giáo sư của lĩnh vực truyền thông Blumler và Kavanagh cho rằng

có 5 chiều hướng bao gồm các đặc điểm truyền thông chính trị như sau:

1- Sự gia tăng chuyên nghiệp trong cung cách vận động chính trị

2- Sự gia tăng áp lực cạnh tranh

3- Đại chúng hoá và chủ nghĩa quần chúng phản trí thức (hay phản ưu tú, tức Anti-elitist)

4- Sự đa dạng hoá ly tâm (Centrifugal diversification)

5- Sự tiếp nhận của khán - thính - độc giả về chính trị

Để dễ phân tích và nhận định, xin tóm tắt 5 đặc điểm lại như sau:

Trang 9

Gia tăng sự cạnh tranh và vận động chính trị: Trong thời đại này, các nguồn gây ra áp lực trên chính trị và truyền thông là nhiều hơn bội phần so với hai thời kỳ trước Trong môi trường mới như thế, để thông tin, thuyết phục hay đặt để vấn đề gì, chính trị phải có khả năng thu hút các nhà báo, chủ báo và khán

- thính - độc giả Sự tràn ngập thông tin đã làm cho khán thính độc giả tự nhiên thấy cần phải chọn cái gì thích hợp với mình nhất, từ đó văn hoá “lựa và chọn” nảy sinh, cho nên truyền thông không còn mang nặng tính thiên đảng nữa Những chương trình chính trị hoàn toàn nghiêm chỉnh không còn được xem là thu hút đối với đại đa số quần chúng hỗn hợp (thay vào đó là phương cách nửa thông tin nửa giải trí - infotainment) Giới chính trị (đảng phái và chính trị gia)

đã phải tìm phương cách mới để ảnh hưởng lên truyền thông, và do đó phải lệ thuộc khá nhiều vào sự giúp đỡ của giới chuyên môn trong lãnh vực truyền thông để trau dồi, gia tăng khả năng thuyết phục Kể từ đó, đại đa số các chính quyền và đảng phái ở Hoa Kỳ, Anh, Úc đều bắt đầu hình thành các bộ phận truyền thông (tuy trước đây đã có nhưng không mang tầm quan trọng, chuyên môn và chiến lược như lúc này) để quản lý thông tin và quan hệ quần chúng

Đại chúng hoá, chủ nghĩa quần chúng và đa dạng hoá theo chiều hướng phản trí thức: Đầu thập niên 1990 xuất hiện các làn sóng đại chúng hoá và chủ nghĩa quần chúng mang tính cách phản trí thức trong lĩnh vực chính trị và truyền thông Trong các thời kỳ trước, thí dụ như thời kỳ 2, khán thính độc giả nói chung rất giống nhau, và nội dung các chương trình của truyền thông đại chúng thật ra không khác nhau nhiều lắm Phần lớn, truyền thông chính trị là từ trên đi xuống, và đa số các vấn đề (chính sách, chiến lược v.v ) được hoạch định và thảo luận trong đảng, nhưng cũng chủ yếu do giới ưu tú/ trí thức cầm đầu Những thông điệp chính trị thì nhắm vào đại đa số cử tri Tuy nhiên, trong thời

kỳ 3, khi có quá nhiều chọn lựa thì số lượng khán thính độc giả cho bất cứ một chương trình nào đó đều bị giảm đi, và họ có thể chọn nghe hoặc không nghe,

do đó các chương trình tin tức mang tính cách nặng nề và áp đặt rất khó được chấp nhận như trước Các chương trình truyền thông về chính trị phải được thực hiện một cách hấp dẫn và lôi cuốn hơn Giới chính trị phải nói theo ngôn ngữ

Trang 10

bình dân hơn, và phải tỏ ra quan tâm đến phúc lợi của người dân thường, điển hình qua các chương trình hội luận (talk-shows, hay talk-back radios) Sự xuất hiện của phương tiện truyền thông mới Internet, và chính trị trên Internet, đã ngày càng gây nhiều ảnh hưởng và trở thành một phương tiện có thể dùng để vận động chính trị cho các nhóm có chung quyền lợi, sở thích ở trong hay ngoài lục địa quốc gia

Khả năng tiếp thu của dân chúng về chính trị: Khi văn hoá “lựa và chọn” xuất hiện, và khi thông tin bị tràn ngập và do ảnh hưởng của các quan điểm chính trị khác nhau tác động, cách thu nhận các luồng thông tin của khán thính độc giả cũng bị ảnh hưởng sâu rộng Người dân được tiếp cận với các loại chương trình chính trị mang tính cách ngoạn mục, gây cảm xúc mạnh, và lắm khi tiêu cực Ngoài ra, họ cũng tiếp thu luồng thông tin chỗ này và chỗ kia nên cũng không biết hư thực ra sao, và không thể đan kết lại với nhau để hệ thống hoá và không thể tiêu hoá nổi lượng thông tin đó Cho nên nhiều khi mức độ hiểu biết/ kiến thức của dân chúng có thể kết luận là phát triển bề rộng nhiều hơn là bề sâu

Nói chung, truyền thông chính trị đóng vai trò vô cùng quan trọng, nếu không muốn nói hàng đầu, đối với mọi hoạt động chính trị và mọi giới chính trị trong thời đại này Cho nên, mọi quyết định chính trị hiện nay, không nhiều thì

ít, đều bao gồm yếu tố truyền thông trong đó

3 Báo chí ở xã hội TBCN qua một số giai đoạn tiêu biểu

Chúng tôi tổng hợp 2 giai đoạn theo cách phân loại của Pierre Albert trong bộ sách Que sais je?: giai đoạn thế kỉ 17, 18- báo chí có sự tiến bộ và đa dạng hóa và giai đoạn đầu thế kỉ 19 đến năm 1871- thời kì công nghiệp hóa và dân chủ hóa báo chí Qua nền báo chí ở nhiều nước TBCN trong hai giai đoạn này, chúng tôi làm rõ được phần nào bức tranh mang tên Tự Do của báo chí TBCN Từ khi ra đời đến khi bắt đầu có những bước phát triển, báo chí TBCN chưa từng có khoảng thời gian “tự do” theo đúng nghĩa mà TBCN vẫn rêu rao

Kiểm soát truyền thông - Những thành tích ngoạn mục của tuyên truyền (Media control - The spectacular achievements of propaganda) của Noam

Trang 11

Chomsky là một cuốn sách viết về vấn đề và tư tưởng trong các xã hội dân chủ đương đại Rất nhiều người lầm tưởng rằng vấn đề kiểm soát truyền thông và tư tưởng chỉ có trong các xã hội toàn trị, nhưng thực chất nó tồn tại trong tất cả các quốc gia hiện nay, kể cả Mỹ và Tây Âu, tuy ở các hình thức khác nhau thô thiển hay tinh vi, đơn giản hay phức hợp, công khai hay che giấu Chomsky viết rằng:

"Tuyên truyền của nhà nước, khi được các tầng lớp có học ủng hộ và khi không

có sự trệch hướng được cho phép, có thể có hiệu quả lớn Đó là bài học được Hitler và nhiều người khác học thuộc và nó vẫn còn được tiếp tục cho đến tận hôm nay." Nền dân chủ khán giả và quan hệ công chúng chính là các hình thức kiểm soát truyền thông và tư tưởng hữu hiệu Mục đích của quan hệ công chúng (public relations) chính là "kiểm soát nhận thức của công chúng" (Chomsky sử dụng từ public mind) Nhiều người lầm tưởng rằng quan hệ công chúng chỉ là một hình thức quảng cáo hay kinh doanh thuần túy Nhưng đó chỉ là bề nổi, là

bộ mặt bên ngoải, còn bản chất bên trong chính là kiểm soát tư tưởng thông qua truyền thông Khi hệ thống chính trị áp dụng một cách nhuần nhuyễn quan hệ công chúng đó là lúc tuyên truyền nhà nước thu được các kết quả ngoạn mục Chomsky còn có nhận xét thế này: "Lý thuyết dân chủ tự do và chủ nghĩa Marx

- Lenin rất gần nhau trong những giả định tư tưởng chung của chúng." Chomsky nêu ví dụ rất hay về tuyên truyền qua hình thức quan hệ công chúng

Đó là trận đình công ngành thép vào năm 1937 ở Tây Pennsyvalnia Các phương thức cũ chống đình công không hiệu quả Và thế là người ta nghĩ ra cách mới chống đình công: quan hệ công chúng Mục đích của quan hệ công chúng là làm sao để tất cả mọi người phản đối những người đình công, và cho mọi người thấy những người đình công như là những kẻ phá hoại và gây hại đối với những lợi ích chung và công cộng Và thế là các giá trị Mỹ (Chomsky dùng từ Americanism, chúng tôi tạm dịch là các giá trị Mỹ) được đề cao cổ vũ mọi người trong một tinh thần hòa hợp Truyền thông được huy động làm việc này

Ai có thể chống lại giá trị Mỹ? Ai có thể chống lại sự hòa hợp? Không ai cả Nhận thức của công chúng được điều chỉnh theo tuyên truyền Mọi người cứ tưởng rằng tư tưởng và nhận thức của mình rất được tự do, rất được dân chủ,

Trang 12

nhưng thực chất đều đã bị điều chỉnh, đã bị kiểm soát một cách rất tinh vi Và kết quả đình công bị dập tắt Những khẩu hiệu được đưa ra, những khẩu hiệu không ai cảm thấy không thể đồng ý hay phản đối, nhưng thực ra rỗng tuếch, không chứa bất cứ một nội dung thực tế nào, làm cho công chúng không còn nhận ra bản chất thực sự của vấn đề.

Ví dụ gần đây, không phải do Chomsky viết trong sách, là chiến dịch tuyên truyền Iraq có vũ khí hủy diệt hàng loạt Cực kỳ hiệu quả, không chỉ trong nước Mỹ, mà gần như trên toàn thế giới Điều kỳ lạ là khi không ai có thể tìm ra

vũ khí hủy diệt ở Iraq, công chúng vẫn không cảm thấy mình bị lừa, hay bị tuyên truyền Sự kiểm soát truyền thông và tư tưởng có thể nói đạt tới cảnh giới rất cao, cấp độ mà giới truyền thông ở một số nước còn lâu mới đạt tới Sự thành công của tuyên truyền nhà nước không khỏi không có sự ủng hộ của tầng lớp có học Nhưng có một điều lạ nữa là những tầng lớp có học ủng hộ tuyên truyền này không bị (hay tự) dán mác "phò" (Tài liệu dịch)

Trích tiểu sử tác giả: Avram Noam Chomsky, Ph.D (sinh 7 tháng 12, 1928 tại East Oak Lane thuộc vùng ngoại ô của Philadelphia, Pennsylvania) là Giáo

sư về hưu (Emeritus) về ngôn ngữ học tại Massachusetts Institute of Technology Chomsky nhận bằng Ph.D về ngôn ngữ học từ Đại học Pennsylvania vào năm 1955 Ông tiến hành các nghiên cứu cho luận án của mình trong suốt 4 năm ở Đại học Harvard như là Harvard Junior Fellow Trong luận án tiến sỹ, ông bắt đầu phát triển một số ý tưởng về ngôn ngữ của mình, phát triển thêm trong cuốn sách xuất bản năm 1957 Syntactic Structures (Các cấu trúc ngữ pháp), có lẽ là công trình được nhiều người biết nhất trong ngành ngôn ngữ học Chomsky gia nhập như là giảng viên của Massachusetts Institute

of Technology vào năm 1955 và vào 1961 được phong hàm giáo sư trong Khoa Ngôn ngữ hiện đại và ngôn ngữ học (nay là Khoa ngôn ngữ học và Triết học)

Từ 1966 đến 1976 ông nắm Ferrari P Ward Professorship of Modern Languages and Linguistics Vào 1976 ông được phong Institute Professor Chomsky giảng dạy tại MIT một cách liên tục trong 50 năm qua

Trang 13

Và 2 giai đoạn phát triển của lịch sử báo chí sau đây sẽ chứng minh nhận định kiểm soát truyền thông của Noam Chomsky:

3.1 Thế kỉ XVII và XVIII

Đây là thời kì báo chí có sự tiến bộ và đa dạng Tuy nhiên, để có được thành quả này, báo chí đã phải vượt qua chế độ kiểm duyệt khắt khe kìm hãm, bất chấp chế độ đặc quyền và bất chấp mọi sự kiểm duyệt

3.1.1 Báo chí Anh: đấu tranh giành quyền lực (1621 – 1791)

Từ 1621 đến 1662, thực ra báo chí Anh sống dưới chế độ độc quyền, mà tình hình chính trị bất an (do nội chiến) làm cho rắc rối thêm Những tờ báo hợp pháp có đời sống vất vả và ngắn ngủi Dưới triều Tudor và đầu triều Stuart, báo chí được đăng những tin chính thức của triều đình, thậm chí từ 1632 đến 1641 còn bị cấm không đăng các tin tức nước ngoài Nghị viện thiết lập chế độ kiểm duyệt chặt chẽ báo chí, do đó năm 1644 mới ra đời cuốn Aeropagitica của Milton đấu tranh kịch liệt đòi tự do báo chí, tuy nhiên nói về sách nhiều hơn báo

Nền quân chủ được khôi phục năm 1660 càng làm chế độ đối với báo chí thêm khắc nghiệt Năm 1662, các báo bị cấm không được tường thuật các phiên họp của Nghị viện, và pháp lệnh licensing act củng cố thêm việc ra báo phải xin phép trước và bị kiểm duyệt Chỉ đến 1695, sáu năm sau cuộc Cách mạng 1688, pháp lệnh này mới hết hiệu lực Trong vòng một thế kỷ, báo chí Anh được hưởng tự do tương đối và đóng vai trò quyết định trong cuộc đấu tranh giữa phái whigs (cấp tiến) và tories (bảo thủ) Tuy nhiên tính độc lập của các báo là có giới hạn: báo chí luôn luôn bị truy tố ra tòa, và các chính phủ thường dùng tiền bạc để khống chế báo chí Từ 1712, Nghị viện hoảng sợ trước thanh thế của báo chí, ra lệnh đánh tem thuế rất nặng vào từng số báo xuất bản và vào quảng cáo; tuy nhiên biện pháp ấy không ngăn nổi số bản in của báo chí tăng tới 8 lần từ

1712 đến 1757 Sau hơn một nửa thế kỷ chống đối và cấm đoán, đến năm 1771, Nghị viện mới cho phép các báo tường thuật các phiên họp Pháp lệnh libel act được thông qua năm 1792 quy định cụ thể các trường hợp nhà báo phải chịu truy

Trang 14

tố trước pháp luật Nghe có vẻ tự do, thực ra đây là một sự cứng rắn thêm trong thái độ của chính phủ với báo chí.

3.1.2 Báo chí Đức bị kiểm duyệt đè nặng (1610 – 1792)

Các cuộc chiến tranh trong nửa đầu thế kỷ XVII không tạo thuận lợi cho việc xuất bản tờ Gazette Ở một đất nước có rất nhiều xưởng in, các đảng phái đấu tranh lẫn nhau dùng các tờ bút chiến, tờ bướm khác nhau để tuyên truyền cho mình, hơn là dùng báo Hòa bình lập lại năm 1648 tạo điều kiện cho rất nhiều báo định kỳ ra đời ở khắp các xứ lớn, nhỏ trong Đế chế: năm 1701 có 57 đầu báo, năm 1780 có 138, năm 1788 có 182, năm 1800 có 193 Chúng được đặt dưới chế độ phép tắc và kiểm duyệt rất nghiêm ngặt - đặc biệt ở nước phổ dưới thời Frédéric II - và chịu những phán quyết rất độc đoán của chính quyền Do đó những báo đó tồn tại không lâu và nội dung không có gì đáng chú ý

Tuy nhiên, một số tờ báo cũng sống lâu, như tờ Magdeburgische Zeitung (Báo Magdeburg) (1644) hoặc tờ Berlisichen Zeitung (Báo Berlin), còn gọi là Vossische Zeitung, theo tên của người xuất bản, ra đời năm 1722, mà Lessing công tác từ năm 1751 đến 1755, hoặc tờ cạnh tranh với nó là Berliner Nachrichten (Tin tức Berlin) (còn gọi là Spenersche Zeitung), thành lập năm

1740, tờ Kolnische Zeitung (Báo Koln) ra đời năm 1763; hoặc có một số tờ được tương đối hoan nghênh như FrankFurter Journal năm 1680 ra tới 1.500 bản Tờ nhật báo đầu tiên xuất bản năm 1660 tại Leipzing dưới cái tên Neuienlauffende Nachricht von Kriegs - und Welthandeln (Tin tức nóng sốt về chiến tranh và thế giới)

Những tờ báo có tính toàn quốc sống rất chật vật do bị kiểm duyệt, phát hành khó khăn do bị sự chia rẽ về chính trị cản trở Theo gương tờ Journal des Savants, năm 1682 tại leipzing ra đời các tờ Act eruditorum bằng tiếng Laitnh; tập thử nghiệm Monatsgesprsche (Đàm thoại tháng) của Christian Thomasius năm 1688 có cuộc sống ngắn ngủi, nhưng tờ tạp chí văn học và triết học này sẽ sản sinh ra nhiều tờ kế tiếp Ở thế kỷ XVIII, nhiều tạp chí loại này, thường xuất bản ở Hambourg, lăm le ra mắt nhưng không thu nhiều kết quả Những

Trang 15

Intelligenz blattern (Báo trí thức) là những tờ quảng cáo đơn thuần, mọc ra như nấm: tờ đầu tiên tung ra năm 1722 tại Francfort.

Trong đế chế của triều Habsbourg, sự kiểm soát đối với báo chí còn rất ngặt nghèo hơn, nên các báo hiếm hơn, ra đời chậm hơn ở Đức Năm 1781, Joseph II nới lỏng kiểm duyệt nên báo chí nở rộ, nhưng đến 1789 lại tăng thuế, rồi 1791 lập lại chế độ kiểm duyệt làm nhiều báo buộc phải đóng cửa, nếu không thì cũng sống vật vờ

3.1.3 Báo chí Pháp thời kì Cách Mạng và Đế Chế (1789 – 1815)

Cuộc cách mạng Pháp đánh dấu một bước ngoặt trong lịch sử báo chí Với báo chí các nước khác, nếu nó chỉ gây những hậu quả gián tiếp – mà phải nói là cơn chấn động cách mạng và chính sách chống lại của các nền quân chủ

đã làm đảo lộn làng báo Tây Âu, trừ nước Anh – thì Cách Mạng, lần đầu tiên đã xác định, và có lúc đã thực thi, những nguyên tắc lớn của tự do báo chí Và suốt thế kỉ XIX, những nguyên tắc ấy sẽ trở thành nội dung yêu sách của các nhà báo trên toàn thế giới Cho đến nay, điều XI của bản Tuyên ngôn Nhân quyền ngày 26-8-1789: “sự tự do giao lưu tư tưởng và chính kiến là một trong những quyền quý nhất của con người: mọi công dân đều có thể tự do nói, viết, in, trừ khi lạm dụng tự do ấy thì phải chịu trách nhiệm trong những trường hợp do luật pháp quy định” vẫn là lời tuyên bố nổi bật nhất của nguyên tắc tự do báo chí Đồng thời, việc bãi bỏ hệ thống hội đoàn cũng gỡ bỏ mọi cản trở cho hoạt động của các xí nghiệp và cho việc hành nghề

Thời kì cách mạng làm cho báo chí có bước bột phát đặc biệt tương xứng với mối quan tâm sít sao của công chúng đối với biết bao sự kiện long trời lở đất: từ 1789 – 1800, ra đời tới hơn 1.500 đầu báo mới, nghĩa là trong 11 năm, tăng gấp đôi so với cả 150 năm cộng lại Thời kì này đã phát hiện ra sức mạnh của chính trị của báo chí, mà trước đó chỉ đóng vai trò thứ yếu Sau ngày 10-8-

1972, các báo bị đàn áp dữ dội; và dưới thời Đế Chế, báo chí bị kiểm soát găt gao là những bằng chứng cho thấy từ nay báo chí trở thành nguy cơ đáng gườm

Trang 16

đối với những chính quyền chuyên chế Song song với những sự kiện thời sự, đời sống báo chí vô cùng sục sôi.

3.2.1 Báo chí Pháp từ 1814 đến 1870

Từ 1800 đến 1870, số phát hành các nhật báo tăng lên tới 30 lần: sự phát triển mạnh mẽ ấy đánh dấu sự đột biến thật sự cảu báo chí Pháp, khiến chính quyền phải ngỡ ngàng Các chính phủ nối tiếp nhau đều nhạy cảm trước nguy cơ

mà báo chí mang lại cho chế độ, cản trở việc thi hành quyền lực, vì vậy tìm đủ mọi cách kìm hãm sự phát triển, kiểm soát tiếng nói của báo chí Ngược lại, chính sức mạnh bành trướng của mình lại thúc đẩy báo chí đòi tự do hơn nữa, và vượt qua mọi chướng ngại do chính quyền giương ra trên đường đi Báo chí có ảnh hưởng chính trị và tác động trực tiếp đến dư luận quần chúng, là một trong những nhân tố chủ yếu truyền bá các tư tưởng tự do, đưa quần chúng tiếp nhận những kiến thức, những tư duy phù hợp với tư tưởng và thực tế mới của đời sống kinh tế, xã hội và văn hóa

3.2.2 Báo chí Anh từ 1791 đến 1870

Trang 17

Do không sửa đổi luật libel act nên các chính phủ đều để mắt kĩ đến báo chí Rất nhiều nhà báo bị truy tố và tòa xử nghiêm khắc Những mối lo lớn của nhà cầm quyền là sợ nó phát triển thành một nền báo chí đại chúng và cấp tiến

về chính trị Vì vậy năm 1819, các báo phải đóng tăng lên nhiều thứ thuế, nhất là báo chính trị ra định kì

3.2.3 Báo chí Đức từ 1792 đến 1871

Ở Trung Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Đức, các luật lệ khắt khe đối với báo chí tỏ ra rất hữu hiệu so với nước Pháp Các chế độ quân chủ nối tiếp nhau đều có thái độ cứng rắn với báo chí ; chỉ ở Bavière và các thành phố tự do như Francfort, Cologne hoặc Hambourg, báo chí mới được nói về chính trị với chút ít độc lập Sự ganh đua giữa Phổ và Áo cũng làm cho tình hình báo chí viết tiếng Đức có những nét riêng

Ở Berlin, tờ nhật báo đầu tiên Berliner Abenblattern (Báo Berlin buổi tối) của Kleist (1810 – 1811) bị đình chỉ vì sợ bị Napoleon quở trách

Chính quyền Đức liên tục có những hạn chế báo chí Hội nghị chính trị năm 1819 mở rộng hiệu lực các luật kiềm chế ra toàn bộ các quốc gia Đức, rồi liên tiếp các năm 1824, 1831, 1832 lại bổ sung, ngày càng cứng rắn hơn Ngoài chế độ kiểm duyệt thì quy định chỉ những báo nào được chính quyền ưu ái mới được đăng quảng cáo, đó cũng là một vũ khí đáng kể

=> Qua hai giai đoạn lịch sử báo chí ở các nước TBCN trên, phần nào ta thấy được tổng quan bức tranh báo chí ở nhà nước TBCN

Trang 18

CHƯƠNG II: NGUYÊN NHÂN SỰ CAN THIỆP CỦA TBCN ĐỐI VỚI BÁO

CHÍSuy cho cùng, báo chí ở nước nào cũng là công cụ phục vụ cho lợi ích của chính quyền Chính vì vậy nhà nước nào cũng phải can thiệp tới báo chí Tất cả mọi nguyên nhân can thiệp của nhà nước TBCN đối với báo chí đều quy tụ về một nguyên nhân chính đó là nhà nước TBCN muốn sử dụng báo chí như một công cụ để phục vụ cho lợi ích của mình

1 Báo chí là công cụ trong lĩnh vực chính trị

Không phải ngẫu nhiên mà báo chí được coi là “quyền lực thứ tư” Với phạm vi rộng, sức tác động tới công chúng lớn của báo chí, nhà nước TBCN không thể bỏ qua công cụ hữu hiệu này để tác động đến đời sống chính trị của người dân

Trên phạm vi thế giới, do phạm vi ảnh hưởng và sức mạnh tác động to lớn của mình, các tập đoàn báo chí đã trở hành một thế lực hay một thứ quyền lực toàn cầu Nó tác động vào dư luận xã hội một cách tự nhiên, vạch ra hướng đi cho nhận thức, thúc đẩy việc hình thành thái độ, quan điểm chính trị - xã hôi Bằng cách ấy, nó đã tạo ra các điều kiện thuận lợi hoặc bất lợi cho những hành động chính trị kinh tế cụ thể nào đó

Nói như nhà báo Mỹ Giô-dép Phít-chơ khi nhận xét về kênh truyền hình toàn cầu CNN "người ta nhận thấy rõ ràng CNN và cùng với nó là việc đưa tin dồn dập của toàn thế giới báo chí mà CNN đã kích thích - bắt đầu ảnh hưởng đến chiều hướng diễn biến của các sự kiện "(người đưa tin UNESCO tháng 9-1990) Điều ấy cũng có nghĩa cái gọi là khách quan vô tư, phi chính trị trong hoạt động của các tập đoàn báo chí phương Tây tự nó vẫn chỉ là cái bánh vẽ giả dối không hơn, không kém Chính các chính phủ ở phương Tây đóng vai trò ngày càng to lớn trong định hướng và thao túng các phương tiện truyền thông đại chúng nhằm những mục đích chính trị bởi các lý do sau:

Thứ nhất, trong chính trị, truyền thông đóng vai trò then chốt, quyết định

sự nghiệp của giới chính trị Muốn vận động quần chúng cho một chính sách

Trang 19

hay một quan điểm (chính trị hay xã hội) nào đó thì phải thông qua truyền thông, bởi chỉ qua truyền thông mới đến được quảng đại quần chúng Cho nên các hoạt động chính trị nào không được truyền thông loan tải thì thường được xem như không đáng quan trọng hay thậm chí không hiện hữu Thành phần nào

có khả năng thu hút và thuyết phục quần chúng, nhất là trước những những sự chọn lựa (chính sách) khó khăn hay phức tạp, thì sẽ thành công Thiếu khả năng truyền thông thì thường dẫn đến tình trạng bị động, nhất là khi gặp thử thách lớn, và dễ đưa đến những phản ứng cho xong hơn là nắm lấy cơ hội hướng dẫn

dư luận một cách chủ động về một hay nhiều vấn đề nào đó

Thứ hai, truyền thông chính trị của giới chính trị Tây phương tuy đã tiến rất xa, biết vận dụng mọi kỹ thuật tân tiến nhất để hiểu biết rất rõ và rất chi tiết

về khả năng của mình và đối phương như thế nào, và qua đó làm cách nào để vận động cử tri, nhưng mục tiêu sau cùng cũng không khác gì các đảng chính trị khác từ xưa đến nay Tức là, mục tiêu vẫn luôn luôn là làm thế nào để vận động, thuyết phục quần chúng ủng hộ, chấp nhận các thông điệp chính trị, và bỏ phiếu cho mình

Ngay tại một quốc gia nào đó không thống nhất về chính trị như Trung quốc, Malaixia, thì đảng chính trị cầm quyền và nhà nước vẫn chủ động tạo ra các nguồn lực và điều kiện kinh tế, xã hội kỹ thuật, công nghệ để xây dựng các tập đoàn báo chí nhằm mục đích tạo ra sức mạnh truyền thông chi phối sự luận

xã hội, phục vụ cho các yêu cầu , nhiệm vụ chính trị Tuy nhiên khi đã trưởng thành các tập đoàn báo chí không chỉ trở thành thế lực truyền thông chính trị, mà còn trở thành thế lực kinh tế và chịu ảnh hưởng mạng mẽ bởi các quy luật kinh

tế trong quá trình tồn tại Cho nên mối quan hệ giữa chính trị và truyền thông có thể nói rất là mật thiết Ở đây, cũng cần phải hiểu chính trị ở khía cạnh sâu rộng của nó (tức ngoài yếu tố quyền lực), bao gồm các tương quan ảnh hưởng trên địa hạt tư tưởng, văn hoá, lịch sử, kinh tế, giáo dục, thông tin , nói chung là toàn xã hội

Báo chí là tiếng nói ủng hộ chính phủ nhà nước TBCN trong các cuộc chiến tranh:

Trang 20

VD1: CHIẾN TRANH VIỆT NAM

Lúc cuộc chiến mới nổ ra, rất nhiều tờ báo lên tiếng ủng hộ những nỗ lực của chính phủ Họ không bao giờ đặt câu hỏi: “Quân đội Mỹ có quyền gì để đặt chân đến Việt Nam?” Công việc của họ là khiến các độc giả, thính giả cảm thấy lạc quan và tự hào về quân đội mình Điều này cũng giống như cuộc chiến tranh tại Triều Tiên, các phóng viên chiến trường luôn vẽ ra một khung cảnh “màu hồng” gửi về công chúng nước nhà

Trong cuộc chiến ở Việt Nam, đã có lúc giới truyền thông cũng ủng hộ chính sách tàn bạo của Mĩ ở Việt Nam

Tạp chí Journal of Broadcasting có đăng một bài khá tường tận của nhà xã hội học George Baylay nghiên cứu về phương thức của ba hệ thống ti- vi Mỹ ABC, CBS và NBC trình bày cuộc chiến này từ 1965 cho đến 1970 Theo ông, gần phân nửa tài liệu chiến tranh liên hệ đến hoạt động của bộ binh và không lực trên chiến trường; lối 12% gồm có các bản văn tuyên bố của chính quyền Hoa Thịnh Đốn và Sàigòn; và sau hết, 3% dành cho tin tức lấy từ đối phương Bắc Việt Ảnh hưởng của chiến tranh đối với quần chúng Mỹ và những vụ đi bộ cổ

võ cho hòa bình, dân chúng xuống đường, sinh viên biểu tình v v của phong trào phản chiến tại Hoa Kỳ được trình bày giới hạn

VD2: CHIẾN TRANH VÙNG VỊNH (NĂM 1991)

Chiến tranh vùng Vịnh là cuộc chiến được truyền hình ở mức độ rất cao Lần đầu tiên tất cả mọi người trên thế giới đều có thể theo dõi trực tiếp hình ảnh các tên lửa lao vào các mục tiêu và các máy bay chiến đấu cất cánh từ các tàu sân bay Các lực lượng liên quân rất nhiệt tình thể hiện mức độ chính xác các vũ khí của họ

Tại Hoa Kỳ, nhóm "bộ ba lớn" điều hành mạng lưới tin tức đưa tin về cuộc chiến: Peter Jennings của ABC, Dan Rather của CBS và Tom Brokaw của NBC dẫn các chương trình thông tin buổi tối của họ khi các cuộc tấn công đã bắt đầu ngày 16 tháng 1, 1991

Nói chung, giới truyền thông Mỹ có xu hướng ủng hộ chính phủ Cách đưa tin của họ cho thấy điều đó

Trang 21

VD3: CHIẾN TRANH IRAG (NĂM 2003)

Có thể nói, kể từ khi Tổng thống Mỹ có ý định đánh Iraq, một tập đoàn báo chí khổng lồ của ông trùm truyền thông Rupert Murdoch cũng đã thở cùng nhịp với ông Bush bằng cách reo hò cổ vũ cho một cuộc chiến mà sau này theo đánh giá của báo chí phương Tây là, dễ mở đầu, khó kết thúc Trên các ấn phẩm của mình, trong khi lên tiếng công kích các nước Pháp, Đức là “những kẻ vô ơn, hèn nhát”, tư tưởng bài xích, phỉ báng những cuộc biểu tình cũng được ông trùm này cho đăng tải công khai và ồ ạt Không dừng lại ở đó, trong suốt mấy tháng qua báo chí Mỹ còn liên tục cho đăng tải những thông tin không có lợi cho nền hòa bình thế giới như khẳng định “Irac vẫn tiếp tục theo đuổi chương trình phổ biến vũ khí hạt nhân” (dù cho sau này khi chiến tranh đã nổ ra được 2 tuần nhưng nhà cầm quyền Mỹ vẫn không tài nào đưa ra được những chứng cứ để hợp thức hóa cuộc chiến của họ) mà bỏ qua những hậu quả có thể đến với người dân Irac (và cả người dân Mỹ) một khi cuộc chiến đã xảy ra Hay như việc đăng công khai danh sách những nguyên thủ thế giới ủng hộ Mỹ trong cuộc hạ bệ Tổng thống Irac Saddam Hussein như thủ tướng Anh, thủ tướng Tây Ban Nha…

Báo chí là công cụ để đưa tin có lợi cho chính phủ và bóp méo sự thật Đọc những ví dụ sau đây để thấy rõ điều đó

VD1: BỘ MÁY TRUYỀN THÔNG VÀ BỘ MÁY CHIẾN TRANH

Ở Liên Xô trước đây, ai cũng biết hay nghe đến tờ nhật báo Pravda (Sự thật) Dưới sự chỉ đạo và điều khiển của Nhà nước Xô-viết và Đảng Cộng sản Liên Xô, Pravda đã từng sản suất ra biết bao câu chuyện không tưởng mà chúng

ta có thể gọi là huyền thoại Ở Mĩ, ông George W Bush và Đảng Cộng hòa không thể khoe rằng họ làm chủ một cơ quan truyền thông như Pravda, và cũng không thể nói rằng họ làm chủ hệ thống báo chí, đài truyền thanh, đài truyền hình ở Mĩ, nhưng họ vẫn có thể tin tưởng vào hệ thống truyền thông Mĩ vì hệ thống này cũng vâng dạ như tờ Pravda của Liên Xô cũ

Bất kể bao nhiêu lời nói dối mà ông Bush và đồng nghiệp của ông nói về mối đe dọa của Iraq đến nền an ninh nước Mĩ, giới truyền thông Mĩ chẳng bao giờ chất vấn, chẳng bao giờ đặt những câu hỏi khó cho giới cầm quyền ở

Trang 22

Washington Bush và chính phủ của ông biết rằng họ có thể dựa và tin tưởng vào lòng ái quốc của giới truyền thông Mĩ, những người chỉ tường trình cuộc chiến ở Iraq như là báo cáo trận đấu thể thao của đội nhà Và, ông Bush, không như các nhà lãnh đạo của Liên Xô, không cần phải hạ lệnh, ra chỉ thị, hay bổ nhiệm một cơ quan kiểm duyệt nào cả, bởi vì trong hệ thống truyền thông ở Mĩ

đã có sẵn một cơ chế tự kiểm duyệt

Tháng 2 năm 2003, tờ Observer ở London tiết lộ rằng chính phủ ông Bush

đã và đang dọ thám các thành viên của Liên hiệp quốc để theo dõi thái độ của họ trước ý đồ xâm lược Iraq của Mĩ Đó là một hành động, lén đã đành, nhưng còn mang tính bẩn thỉu, hèn mọn Nhưng ở Mĩ, không một tờ báo nào loan tin này

Tờ Newsweek, một tờ tuần san lớn có qui mô phát hành trên toàn thế giới, cho chúng ta biết cựu tướng lãnh Iraq là Hussein Kamel, người ra đầu thú với Washington, vào năm 1995 cho biết Iraq đã giải giới vũ khí rất nhiều Rất ít báo chí Mĩ đưa tin này Nhưng trong các tuyên bố trước công chúng Mĩ và thế giới, ông Bush lại trích và sửa lời khai của Kamel để nói rằng Iraq vẫn còn duy trì vũ khí tàn sát hàng loạt!

Thực tế hiện nay cho thấy giới truyền thông Mĩ nói chung có khuynh hướng ủng hộ cuộc xâm lăng Iraq, cho dù chính phủ Mĩ cố tình hạn chế sự tự do của họ trong việc tường trình sự kiện, và bóp méo cũng như cung cấp thông tin giả Do đó, hiện nay tất cả các hình ảnh về cuộc chiến ở Iraq đều hoàn toàn bị

“vệ sinh hóa” Giới truyền thông chỉ tường trình những gì mà quân đội Mĩ và chính phủ Mĩ muốn nói

Hiện tượng này không phải mới Trong cuộc chiến ở A Phú Hãn, Walter Isaacson, tổng giám đốc hệ thống CNN, khuyên các phóng viên không nên chú trọng vào những khía cạnh tiêu cực như tử vong, thương vong, phá hủy môi trường … vì những hình ảnh này có thể gây khó khăn cho cuộc chiến Trong cuộc chiến vùng Vịnh vào đầu thập niên 1990s cũng thế: giới truyền thông Mĩ chôn vùi những hình ảnh hãi hùng, dã man của cuộc tàn sát trên xa lộ tử thần (còn gọi là cuộc thảm sát trên “Highway of Death”) khi quân đội Iraq rút khỏi Kuwait

Trang 23

Giới truyền thông còn đứng về phía chính phủ trong những vấn đề quan trọng khác, không phải vì những âm mưu đen tối, hay những cuộc điều đình phía sau hậu trường, nhưng bởi vì hệ thống truyền thông ở Mĩ tự nó là những công ti thương mại khủng lồ, những công ti có cùng lợi ích kinh tế và chính trị với giới điều hành quốc gia Trong nhiều trường hợp, họ tuy hai nhưng chỉ là một thực thể

Ngày nay, việc các công ti truyền thông sử dụng hay trưng dụng những cựu tướng lãnh, quan chức cao cấp, chính trị gia … đã trở thành một truyền thống Như Edward Said nhận xét, hệ thống truyền thông của Mĩ đã trở thành một bộ phận trong guồng máy quân sự, guồng máy chiến tranh của Mĩ Thành

ra, không ai ngạc nhiên khi thấy những tiếng nói chủ chốt trong các cuộc gọi là

“debate” hay “tranh luận” về chiến tranh và chính sách ngoại giao trên các hệ thống truyền hình và truyền thanh thường là những cựu quan chức trong chính phủ Mĩ Điều này cũng giái thích tại sao những cái gọi là “nguồn tin đáng tin cậy”, nhân viên báo chí, nhân viên Ngũ giác đài, phát ngôn viên Tòa bạch ốc, hay những nhân vật thân cận với chính quyền Mĩ thường chiếm đại đa số trong đội quân “chuyên gia” (experts) mà chúng ta nghe và thấy hàng ngày

Những đại công ty thống trị thế giới truyền thông càng ngày càng tập trung Ben Bagdikian, tác giả cuốn sách nổi tiếng Media Monopoly (Độc quyền truyền thông), ước tính rằng chỉ có 6 đại công ti đang nắm hầu hết hệ thống truyền thông tại Mĩ Chủ hãng NBC là General Electric, một công ti sản xuất vũ khí cho quân đội Mĩ Ngay cả các công ti truyền thông nhỏ, tuy không có liên

hệ với quân đội, nhưng cũng chịu ảnh hưởng của chính phủ Mĩ

Giới truyền thông Mĩ có mục tiêu chính là làm lợi qua việc buôn bán thông tin và quảng cáo Truyền thông, dù là báo chí, radio, hay truyền hình, đều kiếm tiền bằng cách buôn bán khán giả đến các công ti đặt quảng cáo và họ biết rằng cái business của họ sẽ lỗ lãi nếu họ chạy theo những loại thông tin có khả năng làm tổn hại đến các nhà cầm quyền Ảnh hưởng kinh tế trong việc tường trình và cung cấp thông tin chi phối đến những gì khán giả nhìn và thấy Chẳng hạn như thay vì chi ra một số tiền gửi kí giả đi thu thập thông tin về việc vi

Trang 24

phạm nhân quyền đối với các tù nhân đang bị giam giữ và hành hạ tại căn cứ không quân Bagram (A Phú Hãn), các công ti truyền thông chỉ việc gõ cửa Tòa bạch ốc và họ sẽ có ngay một “Thông cáo báo chí” phủ nhận những vi phạm nhân quyền ở đó Vừa rẻ tiền, lại vừa làm hài lòng giới cầm quyền.

Điều này có nghĩa là các cơ sở truyền thông độc lập đóng một vai trò quan trọng Nhưng tiếc thay, các cơ sở này hiện còn quá yếu kém về tài chính

và cơ sở vật chất để có thể thách thức các công ti truyền thông lớn, hay để làm

áp lực họ phải đề cập đến những vấn đề thiết thực mà đại đa số quần chúng quan tâm đến Nhưng thỉnh thoảng một áp lực cũng có hiệu quả khi qui mô của vấn

đề trở nên nghiêm trọng Chẳng hạn như sau nhiều tháng cố tình xem thường những cuộc biểu tình chống chiến tranh Iraq, một số tờ báo lớn như New York Times và Washington Post bắt buộc phải đưa lên trang đầu những hình ảnh và câu chuyện về cuộc biểu tình vĩ đại chống chiến tranh xảy ra trên toàn cầu vào hôm 15/2/2003

Trong cuộc chiến ở Việt Nam, giới truyền thông cũng ủng hộ chính sách tàn bạo của Mĩ ở Việt Nam, nhưng áp lực của phong trào chống chiến tranh đã buộc giới truyền thông ghi nhận những thực tế bi thảm và mở màn cho một cuộc tranh luận trong mọi thành phần trong xã hội Giới kí giả từ đó có khả năng và bản lĩnh phơi bày những tội ác chiến tranh,, những hình ảnh dã man của cuộc chiến, và thách thức những tuyên bố láo của chính phủ Hậu quả là nhiều cuộc biểu tình với hàng triệu người ở Mĩ và trên khắp thế giới, dẫn đến chấm dứt cuộc chiến ở Việt Nam

Không có gì phơi bày sự bất lực của giới truyền thông ở Washington bằng thái độ hèn hạ trước những tuyên bố sai lạc của ông Bush về mối quan hệ giữa Iraq và al Qaeda, giữa Iraq và biến cố 9/11/2001 Trong một lần họp báo ông Bush đề cập đến mối quan hệ này 8 lần, và ngay cả cho đến nay – khi cuộc chiến Iraq đang diễn ra – vẫn chưa một ai chất vấn lời tuyên bố này của Bush Không một ai trong giới “truyền thông chính thống” đòi ông Bush trưng bày bằng chứng cho hai tuyên bố quan trọng này của ông Thay vào đó, giới truyền thông

Trang 25

đã cho ông Bush một cái vé miễn phí để ông dùng biến cố 9/11 làm cái cớ gây chiến và xâm lăng Iraq

Theo một cuộc thăm dò ý kiến do công ti New York Times / CBS News

tổ chức, có đến 42% người Mĩ tin rằng Saddam Hussein trực tiếp dính dáng và

có trách nhiệm trong cuộc tấn công vào tòa nhà thương mại quốc tế hôm 9/11/2001 Cũng theo một cuộc thăm dò khác, 55% dân Mĩ tin rằng Saddam Hussein trực tiếp yểm trợ Al Qaeda!

Cho đến nay, không ai có bằng chứng về hai mối quan hệ đó Thực ra, đại đa số các học giả Mĩ và giới ngoại giao quốc tế đều cho rằng cả hai tuyên bố của ông Bush là sai Nhưng đây là một câu hỏi mà quần chúng không bao giờ nghe giới kí giả chất vấn: làm sao xã hội Mĩ có thể truyền bá những huyền thoại như thế, và xem đó là những bằng chứng về sự ủng hộ của công chúng Mĩ cho cuộc chiến?

Chính phủ ông Bush, qua các phát ngôn viên của Tòa bạch ốc và Ngũ giác đài, đưa ra nhiều lí do để gây chiến, và giới truyền thông ngoan ngoãn trình bày những lí do đó cho quần chúng như là những tín lí của chính phủ Thành ra, trong trường hợp này, giới truyền thông đã tự họ biến thành những người trong guồng máy chính phủ, thay vì theo đuổi truy tìm sự thật

Trong những huyền thoại về truyền thông ở Mĩ, có một huyền thoại rất phổ biến: đó là tự do báo chí Nhưng trong thực tế, hệ thống truyền thông Mĩ không bao giờ tự do, hay chỉ tự do đối với những người làm chủ các công ti sản xuất vũ khí, các công ti thương mại khổng lồ, tức là những nhân vật và cơ quan nắm quyền điều hành nước Mĩ Giới truyền thông Mĩ có những quan điểm hẹp

về thế giới bên ngoài, những quan điểm mà trong đó chấp nhận cái “quyền” của giới quân sự Mĩ và tự do thị trường để chi phối đến cuộc sống của người dân trên thế giới Do đó, những cái gọi là “tranh luận” trên hệ thống truyền thông

mà công chúng thấy là những người đồng ý với nhau về cơ bản, nhưng thỉnh thoảng bất đồng ý kiến về cách thức buôn bán các hương trình nghị sự của nhà nước

VD2: CHIẾN TRANH IRAG (NĂM 2003)

Trang 26

Đây là cuộc chiến thể hiện rõ nhất sự can thiệp của Nhà Trắng đối với truyền thông Mỹ.

1 Chuẩn bị ra sao?

Trước khi tới chiến trường, các nhà báo Mỹ được tham dự một khóa huấn luyện đặc biệt cho phù hợp với phong cách đưa tin của một nhà báo chiến tranh Và, khác với cuộc chiến vùng vịnh năm 1991, lần này các nhà báo được hứa cho là đưa tin từ chiến trường thay vì từ nóc một khách sạn nào đó từ Jordan hay Saudi Arabia Thân thế của họ sẽ được thông báo trong trường hợp bị chết hay bị thương Theo quy định, các nhà báo không được mang, sử dụng vũ khí, không được sức nước hoa và mặc quần áo sặc sỡ Mỗi nhà báo còn phải đánh số như binh lính trên ngực và gài trên giày những thông tin cần thiết về nhóm máu,

số hộ chiếu, số thẻ bảo hiểm Được biết tổng số những gì mà một nhà báo chiến tranh của Mỹ phải có lên tới 44 thứ, trong đó có các đồ dùng cần thiết như xẻng, túi đựng rác, viên lọc nước… Bù lại, trên chiến trường họ sẽ được sử dụng miễn phí các phương tiện đi lại, các khẩu phần ăn của các đơn vị mà họ đăng kí tham gia nơi trận địa Một điểm đáng lưu ý khác đối với các nhà báo là, dù được tường thuật trực tiếp tình hình chiến sự song họ không được phép tiết lộ những thông tin được coi là bí mật Vì thế, cách tốt nhất là không nên phỏng vấn không chính thức các binh lính Mỹ về việc con em họ bị thương hay chết ngoài mặt trận Việc tiết lộ chi tiết các thông tin về các cuộc hành quân càng là vấn đề nên tránh Chưa hết, các nhà báo còn không được tự rời khỏi hàng ngũ nếu không được binh lính “hộ tống” cũng như là phải được bộ chỉ huy liên quân cho phép mới được phát đi các câu chuyện bên lề, những bài phóng sự nhạy cảm… Tất nhiên, sự rào đón cẩn thận này nhằm mục đích ràng buộc báo giới với các nhà cầm quyền Mỹ để họ đưa ra những thông tin phiến diện nhưng có lợi cho Mỹ

Mà theo cách nói của các nhà bình luận quốc tế thì đó là nhằm cho các “tin tức

về chiến sự không gây ra những tác động tâm lý tiêu cực”

2.Bám trụ để săn tin và… bịa đặt!

Ngày 20/3, ngay sau khi chiến tranh nổ ra, nhà báo Nick Robertson của kênh truyền hình CNN đã có báo cáo trực tiếp phát từ tòa nhà Bộ Iraq và hôm

Trang 27

sau anh lại khẳng định được vị trí của mình thông qua những thông tin nóng hổi

từ đất nước Iraq Theo các nhà quan sát, tòa nhà Bộ thông tin Iraq ở Baghdad vốn là nơi duy nhất cho phép các nhà báo nước ngoài truyền tin trực tiếp thì hiện giờ rất dễ trở thành mục tiêu của các cuộc tấn công song không vì thế mà các phóng viên di tản khỏi địa điểm này Có thể vì điều này mà ngay trong những ngày đầu của cuộc chiến đã có không ít những nhà báo thuộc hãng truyền thông lớn của Mỹ như ABC, CBS, NBC, CNN tác nghiệp tại đây Tuy nhiên, ngày 21/3, chính phủ Irac đã ra lệnh buộc các phóng viên CNN phải rời khỏi Baghdad

vì đã tham gia vào một chiến dịch tung tin đồn thất thiệt của Mỹ CNN, một hãng truyền hình vốn rất nổi tiếng với các cuộc truyền hình trực tiếp từ chiến trường đã lên tiếng thừa nhận thông tin này là đúng và cho biết họ đã chuyển nhóm phóng viên này sang tác nghiệp tại Jordani, một quốc gia láng giềng phía tây nam Iraq Tuy nhiên, điều lạ là sau khi bị trục xuất khỏi Baghdad, CNN đã phải nhờ đến sự giúp đỡ của các phóng viên Thời báo New York đang có mặt tại Iraq lên truyền hình đưa tin trong khi hình ảnh chạy phía sau lưng thì vẫn do họ

tự dàn dựng bằng cách cho phát lại những cuốn băng ghi hình ảnh cuộc tấn công

từ trước đó, mặc cho dòng chữ quen thuộc “tường thuật trực tiếp” vẫn được chạy lên trên màn hình TV

Bị lừa dối, ngay sau đó, tổ chức Đoàn kết vì hòa bình đã kêu gọi một cuộc biểu tình đông đảo bắt đầu từ trưa 26/3 tại San Francissco Mỹ nhằm phản đối các phương tiện truyền thông Mỹ bóp méo sự thật về cuộc chiến tranh Iraq Andrea Buffa, Người phát ngôn của tổ chức nói: “Chúng ta đang thấy gì trên CNN? Họ phát đi những hình ảnh về cuộc chiến tranh với những lời bình luận của các cựu chiến binh hoặc các nhà báo chiến trường Tuy nhiên, đó không phải là sự thật” Những người tham gia cuộc biểu tình cũng đã lên tiếng kêu gọi các tập đoàn truyền thông phải tôn trọng sự thật, phải có trách nhiệm với những

gì họ cho đăng, phát chứ không phải những gì mà họ thích thêu dệt lên theo sự chỉ đạo của những người đứng đầu đất nước

Trong cuốn sách có tựa: Cuộc chiến tốt nhất từ trước đến nay: Dối trá, vô cùng dối trá, và mớ hỗn độn ở Iraq (Tarcher/Penguin, 2006), đồng tác giả John

Trang 28

Stauber và Sheldon Rampton đã khẳng định, các phóng viên truyền hình thực sự

đã xem nhẹ chứ không phải đưa quá đậm những tin tiêu cực về Iraq, trong khi

đó thông tin đăng tải trên các ấn phẩm cũng đã bị ''làm vệ sinh''

Stauber và Rampton đã trích dẫn kết quả nghiên cứu của các chuyên gia thuộc ĐH George Washington phân tích 1.820 câu chuyện tin tức từ 5 kênh truyền hình lớn của Mỹ và kênh truyền hình vệ tinh Ảrập Al-Jazeera Kết quả cho thấy, ''tất cả các phương tiện truyền thông Mỹ hầu như rụt rè trong việc đưa những cảnh thương vong của lính Mỹ, đồng minh, quân đội và thường dân Iraq lên màn hình Các báo in cũng không khá hơn Tháng 5/2005, khi phóng viên Los Angeles Times James Rainey viết bài đánh giá khoảng thời gian 6 tháng của cuộc chiến - 559 lính Mỹ và phương Tây thiệt mạng tại Iraq - độc giả của 6 tờ báo lớn và 2 tạp chí nổi tiếng là Atlanta Journal-Constitution, Los Angeles Times, New York Times, St Louis Post-Dispatch, và Washington Post không được nhìn thấy một tấm ảnh đơn nào về cảnh binh sĩ chết

"Những phàn nàn của ông Rumsfeld chính là một sự méo mó thú vị về sự thật, bởi thực tế chính quyền Mỹ đã chi hàng trăm triệu đô la cho chiến dịch truyền thông vốn bị cho là thiếu hiệu quả'', Rampton trả lời trong một cuộc phỏng vấn qua điện thoại

Tờ Washington Post đưa tin: ''Giới chỉ huy quân đội Mỹ tại Baghdad đã đưa ra đấu thầu trong thời hạn 2 năm một hợp đồng về quan hệ công trị giá 20 triệu USD nhằm kêu gọi các phương tiện truyền thông Mỹ và Trung Đông nỗ lực thúc đẩy việc đưa tin tích cực hơn về Iraq''

3 Ai là người nắm quyền chế biến thông tin về Iraq

Đó chính là người đứng đầu Lầu năm góc Trước khi chiến tranh xảy ra,

Bộ quốc phòng Mỹ đã không ngừng gây sức ép đối với Cục tình báo Trung ương Mỹ (CIA) để họ cung cấp các thông tin tình báo thuận lợi nhất cho cuộc chiến tranh Iraq Không chỉ dừng lại đó, Lầu năm góc còn tự “đẻ” thêm các báo cáo với những thông tin chưa hề được kiểm chứng đề bào chữa cho hành động xâm lược của mình Tất nhiên, để có được những thông tin này, Lầu năm góc cũng đã phải bỏ tiền ra mua từ những người Iraq lưu vong hay di tản thuộc Đại

Trang 29

hội Quốc dân Iraq mà cả CIA và Bộ ngoại giao Mỹ vốn chẳng mấy tin tưởng Một cựu thành viên của CIA cho hay, những thông tin từ Đạo hội quốc dân Iraq rất không đáng tin cậy nhưng nó là điều mà bộ quốc phòng cần Điều đáng buồn

là những thông tin này, sau đó lại được “xào nấu” lại cho Tổng thống Mỹ

“thưởng thức” cũng như được hợp thức hóa thông qua những diễn văn của ống Đến khi chiến tranh xảy ra, Lầu năm góc lại luôn là tâm điểm của các cuộc chỉ trích vì đã điều khiển báo giới cho dù họ luôn rao giảng rằng, khoảng 600 nhà báo có mặt cùng các đơn vị quân đội Mỹ chính là một “lực lượng của sự thật” để đối chọi lại với tất cả những gì Mỹ cho là “dối trá” của tổng thống Hussein

Thực tế hiện nay cho thấy giới truyền thông Mĩ nói chung có khuynh hướng ủng hộ cuộc xâm lăng Iraq, cho dù chính phủ Mĩ cố tình hạn chế sự tự do của họ trong việc tường trình sự kiện, và bóp méo cũng như cung cấp thông tin giả Do đó, hiện nay tất cả các hình ảnh về cuộc chiến ở Iraq đều hoàn toàn bị

“vệ sinh hóa” Giới truyền thông chỉ tường trình những gì mà quân đội Mĩ và chính phủ Mĩ muốn nói

Vì giới truyền thông Mỹ không thể tách rời khỏi sự ủng hộ của chính quyền, đi ngược lại phương hướng chính trị đã định, giới truyền thông sẽ mất chỗ dựa để tồn tại Có thể nói, nếu giới truyền thông không làm theo ý nguyện của chính quyền, sẽ không thể nào có được cái gọi là tin tức Ví dụ: muốn cho các phóng viên mặt trận nói theo chính quyền Mỹ, Bộ Quốc phòng Mỹ đã có quyết định, đối với các phóng viên viết bài có lợi cho chính sách của Mỹ, sẽ được chính quyền Mỹ trả một khoản nhuận bút không tồi

VD3: SỰ THỜ Ơ CỦA BÁO CHÍ MỸ ĐỐI VỚI NGHI NGỜ VỀ “MỐI

ĐE DOẠ IRAG” – Theo Washington Post

Những tuyên bố của Tổng thống Mỹ Bush, Phó tổng thống Cheney và các quan chức Nhà Trắng khác thường xuyên chiếm những phần diện tích quý báu trên tờ Washington Post, thậm chí khi những lời cảnh báo đó lặp đi lặp lại

"Chúng ta chẳng khác nào cái loa phát thanh của chính phủ Nếu tổng thống đứng dậy và nói điều gì đó, chúng ta tường thuật lại những gì ông ấy đã

Trang 30

nói", DeYoung nói "Và nếu những ý kiến trái ngược được đặt ở đoạn thứ tám

và cũng không phải trên trang nhất thì nhiều người chẳng đọc đến đó"

Nhận xét trên được minh hoạ ngày 6/2/2003, một ngày sau khi Ngoại trưởng Mỹ Colin Powell phát biểu trước Liên Hợp Quốc Ông đã minh hoạ bằng những bức ảnh chụp qua vệ tinh và những cuộc điện thoại nghe trộm để thuyết phục thế giới rằng Hussein đang che giấu vũ khí huỷ diệt hàng loạt

Một bài báo của DeYoung và Pincus nói về những thông tin tình báo chưa từng được tiết lộ mà Powell đưa ra "Đến tận trang 9 họ mới dùng một câu có từ

"tuy nhiên" và nói rằng "một số quan chức châu Âu và chuyên gia chống khủng

bố Mỹ tin rằng tuyên bố của Powell về mối liên hệ giữa Iraq và Al-Qaeda đã được chuẩn bị kỹ lưỡng để tạo ra ẩn ý"

Hôm đó, Warrick tập trung vào đánh giá của vị ngoại trưởng, dựa chủ yếu vào các nguồn tin sống, rằng Iraq có các nhà máy sản xuất vũ khí sinh học "Một

số điểm trong bài phát biểu của Powell khiến người ta nghi ngờ", Warrick viết Bài báo của ông được đăng ở trang 28

Downie nói rằng Washington Post đã có nhiều bài phân tích phát biểu của Powell ở những trang trong "Chúng tôi không có đủ bằng chứng để nói rằng ông ấy đã sai", Downie nói về Powell "Lôi một trong số những bài đó ra trang nhất chẳng khác nào tuyên bố rằng ông ấy đã sai về những thanh aluminum"

Những quyết định như vậy trùng với trang xã luận của tờ báo này, vốn ủng hộ cuộc chiến, ví dụ như tuyên bố sau bài phát biểu của Powell rằng "thật khó tưởng tượng có người nào đó lại nghi ngờ việc Iraq sở hữu vũ khí huỷ diệt hàng loạt" Những bài phân tích này khiến một số độc giả kết luận rằng tờ báo này chủ trương như vậy, mặc dù trang tin và xã luận không liên quan đến nhau

Hồi giữa tháng 3, khi Nhà Trắng chuẩn bị cuộc xâm lược Iraq, Woodward

đã can thiệp để bài viết của Pincus về việc chính quyền thiếu bằng chứng về vũ khí huỷ diệt của Iraq được đăng ở vị trí nổi bật hơn

"Chúng tôi không giữ nó vì bất kỳ lý do chính trị nào hay vì bị chính quyền gây áp lực", Spayd nói "Nhưng bởi những bài báo đó rất khó biên tập khi trên bàn của ban biêp tập có quá nhiều các bản copy Người ta đã quên rằng bài

Trang 31

báo này đang đề cập đến những vấn đề nào, các phái chính trị, sự sẵn sàng về quân sự, các vấn đề xung quanh Iraq thời hậu chiến và việc chính quyền đã chuẩn bị như thế nào, các mặt ngoại giao và Mỹ đang sở hữu vũ khí huỷ diệt hàng loạt Tất cả các bài đó đều cạnh tranh để được đặt ở vị trí nổi bật".

Woodward, ngôi sao của vụ Watergate, đã có nhiều thời gian để theo đuổi những cuốn sách thuộc hàng best-selling Woodward, một trợ lý chủ bút, đã có những yếu tố mấu chốt của một môi trường báo chí mà Pincus không có

Đánh giá của hai người đàn ông này là khác nhau Woodward nói rằng sau khi so sánh với những thông tin của Pincus, ông đã đưa bản nháp trong đó

có 5 đoạn chính nói rằng theo giới thạo tin, những bằng chứng của Nhà Trắng về

vũ khí huỷ diệt của Iraq "có vẻ gián tiếp và thậm chí không chắc chắn" Pincus cho rằng lời lẽ như vậy là quá nặng

Pincus cho biết ông đã viết xong bài khi Woodward can thiệp và ông cho rằng những thông tin mà người đồng nghiệp đưa ra chỉ là sự gợi ý vì thế ông cũng không thay đổi gì nhiều "Điều ông ấy làm chỉ là nói chuyện với các biên tập viên và thuyết phục họ đăng bài đó"

Bất chấp những tuyên bố của chính quyền Bush về vũ khí huỷ diệt hàng loạt của Iraq, hôm 16/3, Pincus bắt đầu bài báo của ông bằng dòng chữ "theo các quan chức chính quyền và Quốc hội, các cơ quan tình báo Mỹ không thể cung cấp cho Quốc hội hay Lầu Năm Góc những thông tin cụ thể về lượng vũ khí cấm hoặc nơi cất giữ", khiến người ta nghi ngờ về việc liệu Nhà Trắng có phóng đại thông tin tình báo hay không

Woodward nói rằng ông ước là đã xin Dowie cho đăng bài báo đó lên trang nhất chứ không phải đứng nhìn nó xuất hiện tận trang 17

Còn Downie bình luận: "Khi nhìn nhận lại mọi việc, tôi thấy lẽ ra bài báo

đó phải được đăng ở trang nhất chứ không phải trang 17, thậm chí dù nó không chắc chắn và chủ yếu dựa vào những nguồn tin giấu tên"

Những ngày trước chiến tranh, Priest và DeYoung đã nộp một bài nói rằng các quan chức CIA "đã bày tỏ sự nghi ngờ với chính quyền" về những bằng

Trang 32

chứng nói rằng Iraq tìm cách mua uranium để sản xuất vũ khí nguyên tử Bài báo đó bị giữ lại cho đến tận ngày 22/3, ba ngày sau khi cuộc chiến mở màn.

Nếu báo giới Mỹ đã mạnh tay hơn thì có thể làm chậm tiến trình chiến tranh hay không, điều đó vẫn chỉ là phỏng đoán Song Downie cho rằng những người phản đối chiến tranh và chỉ trích cách đưa tin của báo giới trước cuộc chiến tin điều đó "Họ có những ấn tượng sai lầm rằng nếu báo chí đã đưa tin khác đi thì cuộc chiến đã không xảy ra", ông nói

2 Báo chí là công cụ quản lý xã hội

Số lượng báo chí phát hành, nội dung tờ báo… cho biết trình độ dân trí của một khu vực mà tờ báo đó phát hành Vì vậy, TBCN can thiệp tới báo chí để nắm bắt trình độ dân trí, phục vụ cho quyền lực của mình

Dưới xã hội CNTB, các hệ thống chính trị thường phải dồn tối đa nỗ lực, trí tuệ để khai dụng, bằng một phương cách khôn ngoan, khéo léo nhưng không kém phần gay gắt, các phương tiện truyền thông tự do, để thuyết phục và gây ảnh hưởng lên dân chúng về chính sách của họ Quyền lực có được từ vai trò chủ yếu là tự nhận này đã mang đến cho báo chí một danh hiệu đáng kính là

“quyền lực thứ tư”, sau ba nhánh quyền lực chính thức của nhà nước (lập pháp,

tư pháp và hành pháp) Đây cũng chính là vai trò đã truyền cảm hứng cho Thomas Jefferson, một trong những người sáng lập ra nền dân chủ Hoa Kỳ, khi tuyên bố cách đây khoảng 200 năm rằng: nếu ông phải chọn giữa một bên là một chính phủ không có báo chí và một bên là báo chí không có chính phủ, ông sẽ

“không do dự một giây mà chọn cái thứ hai”

Báo chí Hoa Kỳ ra đời vào thế kỷ XVIII, là một công cụ nhỏ của giới trí thức tinh hoa và là một đại biểu trong đời sống chính trị của các đảng phái Được bảo vệ bởi sự can thiệp của chính phủ bằng một điều luật đã tồn tại 200 năm trong Hiến pháp Hoa Kỳ, báo chí đã tự mình trở thành một người giám sát đối với đời sống chính quyền, người ghi lại các sự kiện công cộng và thậm chí là người phân xử không chính thức các hành động của công chúng Tại Hoa Kỳ, các tạp chí, với hơn 11.000 loại, cũng phát hành với số lượng nhiều hơn cả số người Mỹ đọc chúng Mỗi hộ gia đình có ít nhất là ba chiếc đài thu thanh và hơn

Trang 33

95% số hộ có tivi Và có đến 65% dân số Mỹ thừa nhận rằng họ không thể sống thiếu các phương tiện truyền thông Như vậy, tác động của các phương tiện này lên nhận thức của công chúng là rất lớn.

Truyền thông ảnh hưởng mạnh mẽ và trực tiếp lên chính trị, kinh tế và hầu như mọi mặt xã hội, cho nên rất nhiều thành phần muốn sở hữu truyền thông vì quyền và lợi, một cách tích cực lẫn tiêu cực Truyền thông có thực quyền để thương lượng với chính quyền và các thành phần khác và các chủ nhân truyền thông có ưu thế chính trị để sẵn sàng trao đổi quyền lợi với giới chính trị trong các chính sách có lợi cho hai bên Thí dụ như trường hợp nhà đại truyền thông Rupert Murdoch nổi tiếng sử dụng quyền lực và ảnh hưởng của mình lên chủ nhiệm, chủ bút và nội dung các tờ báo ông sở hữu để qua đó ảnh hưởng lên suy nghĩ của giới cử tri và các việc làm của chính quyền Thí dụ, ông từng chỉ thị các phóng viên của báo Chicago Sun-Times là không được chỉ trích Tổng thống Ronald Reagan thời thập niên 1980

Khi báo chí, các đài phát thanh và truyền hình và báo chí trong nước được hoạt động tự do thì họ sẽ trở thành nền tảng vững chắc cho chế độ dân chủ Ngoài việc đóng vai trò là cơ quan giám sát các thể chế địa phương và cảnh báo cho công chúng những vấn đề liên quan đến sự an toàn của cá nhân họ, báo chí còn giúp người dân hiểu và tiếp cận với chính phủ ở nơi rất xa họ

Cách đây nhiều năm, khi bốn ngân hàng lớn nhất ở Uruguay phải đóng cửa trong cuộc khủng hoảng kinh tế, một ông cụ ở thị trấn Tucuarembo đã gọi điện đến đài phát thanh ở địa phương nhờ giúp đỡ Vợ ông bị ốm còn ông thì không thể tiếp cận tài khoản để lấy tiền để trả cho bác sỹ Những người làm chương trình tại đài Zorilla đã liên hệ với đại biểu quốc hội trong khu vực của ông, và chính người này đã giúp ông cụ liên hệ với Bộ Tài chính Ông cụ sau đó

đã biết có một đạo luật khẩn cấp đang được thông qua để giúp những người như ông có thể tiếp cận với tài khoản của mình

Đối với những người làm chương trình ở đài phát thanh Tucuarembo, việc giúp người dân trong thị trấn tiếp xúc với các cơ quan chính quyền và liên lạc với nhau đã trở nên quen thuộc Thính giả gọi điện để tìm những cuốn sách khó

Trang 34

tìm, tìm những con chó đã bị lạc, tìm việc làm và thuê nhân công Maria Martin, một đạo diễn chương trình phát thanh người Mỹ đã làm việc tại đài Zorilla và rất

ấn tượng trước sự thành công của nó, cho biết đài cũng phát bản tin, thảo luận thông qua điện thoại và các cuộc phỏng vấn

Người dân ở Angren, Uzbekistan, cũng có nguồn tin tương tự từ một đài truyền hình Họ gọi điện đến đài truyền hình TV-Orbita để trình bày những bức xúc của họ cũng như những khó khăn khác của thị trấn trên bản tin của đài Cả giới chức lẫn người dân địa phương đều xem bản tin này Khi chính quyền cố gắng đóng cửa đài truyền hình đó để giữ ảnh hưởng chính trị của mình thì người dân và những người tài trợ cho chương trình đã biểu tình và chính quyền đã buộc phải để đài truyền hình này hoạt động trở lại

Truyền thông, từ thời đơn sơ như báo chí cho đến truyền thanh, truyền hình và bây giờ là Internet, luôn đóng vai trò giáo dục và uốn nắn suy nghĩ, quan điểm con người trong tất cả các địa hạt nói trên

3 Báo chí là công cụ tăng doanh thu cho nhà nước TBCN

Bản chất của TBCN là tạo ra lợi nhuận cho chính mình Vì vậy, một miếng mồi béo bở như báo chí chắc chắn không nằm ngoài tầm kiểm soát của nhà nước TBCN

Trong nền kinh tế thị trường và trong bối cảnh thương mại hóa toàn cầu, hầu như mọi lĩnh vực nghề nghiệp đều chịu ảnh hưởng của lợi ích về quảng cáo

và thương mại Báo chí cũng không là ngoại lệ Năm 1842, Mác viết: “Điều tự

do đầu tiên của báo chí là tính không thương mại” (Trích theo Chibnall Law and order of news: An analysis of crime reporting in the British press Nxb Tavistock Publications, London, 1997, tr 206) Tuy thế khi báo chí chứng minh tính hiệu quả của nó như là một người đưa tin cho xã hội, các mục tiêu thương mại đã được quan tâm nhiều hơn bao giờ hết

Nguồn lợi mà các tập đoàn báo chí mang lại cho giới chủ thông qua hai dạng thức chủ yếu : trực tiếp và gián tiếp Nguồn lực trực tiếp thu được qua việc bán các sản phẩm hàng hoá, dịch vụ báo chí truyền thông và hoạt động quảng cáo Ở các nước công nghiệp phát triển, nguồn thu từ quảng cáo ngày càng lớn,

Trang 35

chiếm phần chủ yếu tổng doanh thu của các tờ báo, các đài phát thanh truyền hình, còn những tờ báo phát không, có nghĩa là các hợp đồng quảng cáo trở thành nguồn thu duy nhất Nguồn lợi gián tiếp mà các tập đoàn báo chí, truyền thông thu được qua việc tạo ra những ảnh hưởng chính trị, làm thay đổi các chính sách của nhà nước, hình thành những điều kiện đầu tư thuận lợi, những đơn đặt hàng béo bở Về sâu xa thì đây mới là nguồn lợi to lớn hơn mà các nhà

tư bản hướng tới Và là lý do quan trọng nhất để dẫn tới sự liên kết báo chí với giới truyền thông với công nghiệp, tài chính, dịch vụ để hình thành những tập đoàn độc quyền khổng lồ Điều ấy cũng giải thích tại sao các tập đoàn công nghiệp, tài chính khổng lồ ở mỹ và các nước phương tây luôn đóng vai trò to lớn

và tích cực trong bầu cử

Các tập đoàn tư bản thông qua báo chí để quảng bá, quảng cáo, giữ gìn, đánh bóng thương hiệu của mình, dùng báo chí làm cầu nối giữa sản phẩm của mình với công chúng Hơn nữa, báo chí lại là ngành kinh doanh ra tiền Các tài phiệt truyền thông như Rupert Murdoch cho chúng ta thấy kinh doanh các loại hình media cho lợi nhuận khổng lồ, chủ tòa báo hoặc nhà in thường là một doanh nhân nhiều hơn là một nhà báo

Từ khi khai sinh, mục đích thương mại của báo in đã rất rõ ràng Tờ Anzeiger (nghĩa là người quảng cáo) xuất bản ở Dresden (Đức) năm 1730, theo nhà nghiên cứu Anthony Smith, đã tự cho mình là phục vụ tất cả những ai trong hay ngoài thành phố muốn mua hay bán, cho thuê hay đi thuê, cho vay hay đi vay Ở Mỹ, trong thời gian thuộc địa, thương mại đã là một yếu tố tiên quyết của báo chí ( theo M, Emery và E, Emery, The Press and America: An Interpretive History of the Mass Media, xuất bản lần thứ 6, Nxb Prentice-Hall, 1988, tr 19, 20) Nhu cầu về buôn bán hàng hoá tiêu dùng, đặc biệt thông tin về những chuyến tàu chở hàng từ bên kia đại dương để lại kết quả là các tờ báo ban đầu hầu hết đều gắn với từ “người quảng cáo” (advertiser) trên vi-nhét

Vai trò của nhà báo đã thay đổi sâu sắc nếu chúng ta đồng ý với ý tưởng của Simon Canning trên tờ The Australian: “Mọi thứ có thể sẽ thay đổi và nhà báo sẽ sớm thấy công việc của họ không chỉ là phản ánh sự kiện, mà chính là

Trang 36

phương tiện mà các nhà quảng cáo phát tán thông điệp của mình” Thậm chí báo chí và thương mại đã luôn sát cánh kề vai, Canning cũng chỉ ra rằng quảng cáo

đã kiếm được rất nhiều lợi nhuận bằng cách đặt các thông điệp quảng cáo của họ cạnh tin tức Như thế, các nhà báo đã “bị ép để cho những thông tin thương mại giống như thế trở thành tin tức”

Internet cung cấp một môi trường tuyệt vời cho ngành quảng cáo và do đó báo chí điện tử dù muốn dù không cũng bị ảnh hưởng Một ví dụ mà Canning đưa ra là phần mềm quảng cáo gọi là IntelliTXT của công ty quảng cáo trực tuyến Vibrant Media ở Mỹ Khi các nhà quảng cáo sử dụng hệ thống này, họ có thể biến hàng trăm từ trong bài báo có tiềm năng gây thu hút về sản phẩm của họ

mà bạn đọc có thể đọc, sang dạng có kết nối đến quảng cáo Và chỉ cần di con chuột đến vị trí từ đó, một màn hình nhỏ sẽ hiện ngay ra mời gọi người đọc nhấn chuột vào trang quảng cáo chính thức Ứng dụng này khiến các chuyên gia báo chí Mỹ lo ngại về việc nhà báo chọn từ khi viết, bởi họ sẽ hướng tới những từ dễ được chuyến sang kết nối đến trang quảng cáo

Riêng ngành công nghiệp báo in Mỹ: thu nhập tăng từ 12.2 tỉ USD vào năm 1975 lên 54.9 tỉ USD năm 2000 Nói cách khác, báo in đã thu nhập tăng gấp 2.5 lần từ quảng cáo ở năm 2000 so với năm 1950 (Robert G Picard

Commercialism and newspaper quality Tạp chí Newspaper Research Journal,

Quyển 25, số 1, Mùa Đông 2004, tr 54)

Ngoài ra còn một số nguyên nhân khác dẫn tới sự can thiệp của nhà nước TBCN đối với báo chí như: nguyên nhân về văn hoá, nguyên nhân về khoa học

kỹ thuật… Tuy nhiên, chúng tôi chưa có điều kiện tổng hợp hết

Trang 37

CHƯƠNG III: QUÁ TRÌNH CAN THIỆP CỦA TBCN ĐỐI VỚI BÁO CHÍ

I NHÀ NƯỚC TBCN CAN THIỆP GIÁN TIẾP TỚI BÁO CHÍ

Trong nhiều trường hợp, nhà nước TBCN không trực tiếp nhúng tay vào dòng chảy của báo chí mà thông qua các ông chủ tập đoàn, từ đó tạo áp lực lên các cơ quan báo chí bằng nhiều hình thức: thao túng cơ quan báo chí hoặc xây dựng các cơ quan báo chí…

1 Nhà nước TBCN xây dựng cơ quan báo chí

Khi nhà nước TBCN đứng ra xây dựng hoặc mua cổ phần các cơ quan báo chí, tức các cơ quan báo chí đó thuộc về chính quyền, phục vụ cho lợi ích của chính quyền, và chịu sự giám sát chặt chẽ

VD1: Vào năm 1998, chính phủ Tony Blair của Anh Quốc đã thành lập một Bộ Phận Truyền Thông Chiến Lược (the Strategic Communications Unit), bao gồm các ký giả và nhân viên thông tin, để giúp điều hợp thông tin liên lạc cũng như để viết bài cho các vị Bộ Trưởng Thêm vào đó, trong thời đại thế giới thay đổi nhanh chóng hàng ngày, giới chính trị ngày càng lệ thuộc vào những chuyên gia truyền thông để hoạch định chiến lược hầu ảnh hưởng lên chương trình nghị sự (của các cơ quan truyền thông chính mạch mỗi ngày) cũng như tác động và xoay chuyển (spin) giới ký giả để cho các bài tường trình trên báo, truyền thanh hay truyền hình đi theo chiều hướng thuận lợi nhất cho họ Cũng trong thời đại này, thiếu khả năng để chủ động quản lý truyền thông sẽ làm cho đảng phái đó mất thế thượng phong, và có thể mất cả vị trí ảnh hưởng, dù trước đây có mạnh lớn cỡ nào Nói tóm lại, truyền thông chính trị trở thành một thành

tố quan yếu trong các hệ thống chính trị dân chủ hiện nay

VD2: HÃNG THÔNG TẤN AFP

Charles Louis Havas đã sáng lập ra Agence Havas vào năm 1835 nhằm cung cấp thông tin cho báo chí, tạp chí định kỳ vào các tạp chí khác ở Pháp Tuy nhiên cũng chính quyền lực về thị trường truyền thông và tin tức đã dẫn đến sự sụp đổ của Agence Havas ngay đầu thế chiến thứ hai Khi đó, Agence Havas đã

Trang 38

bị tước bỏ những dịch vụ phân phối truyền thông của nó và bị chính quyền Pháp tiến hành quản lý, kiểm duyệt Nó được đổi tên thành Office Fancs d’information (French Information Office - FIO) vào 1940 Tiếp theo, hãng thông tấn mới này nhanh chóng bị thâu tóm bởi Bazis sau khi Pháp đầu hàng phát xít Đức Mạng lưới phân phối trước đây của Agence Havas được sử dụng lại phục vụ cho Nazi và chính quyền Vichy.

Năm 1944 việc hoạt động của hãng FIO được điều khiển bởi một nhóm cựu thành viên của Fench Resistance và FIO được đổi tên thành Agence France-Press (AFP) Những người này lấy lại quyền điều hành và nhanh chóng lấy lại được cơ cấu cũng như danh tiếng toàn cầu của Agence Havas trước đây Tuy nhiên việc trợ vốn sâu sắc của chính quyền đã làm cho AFP không lâu sau đó chịu sự kiểm soát của chính quyền

AFP vẫn còn là một cánh tay đắc lực của chính phủ cho đến 1950 Khi đó hãng đối mặt với

sự cạnh tranh mới trong nước với hãng Agece Centrade Presse hoạt động từ 1951 cũng như các hãng thông tấn quốc tế là AP, Reuters… Trong khi các hãng thông tấn khác hoạt động độc lập và có khuynh hướng về thương mại thì AFP bị giới hạn như là một hãng thông tấn chính phủ Tuy nhiên dưới sự dẫn dắt của Jean Marin là CEO từ 1954 đến 1975, AFP bắt đầu có cải cách nhằm thay đổi trong hoạt động của nó

Năm 1957, AFP được một số tự do không những cho việc phát triển thương mại mà còn cho cả chính sách biên tập của nó Tuy nhiên, chính quyền pháp vẫn còn giữ sự kiểm soát mạnh mẽ trong mọi hoạt động của hãng Trong khi luật mới ban hành vào tháng 10-1957, AFP được hoạt động độc lập với những quyền dân sự, luật còn ngăn cấm hãng tích góp vốn thông qua việc bán cổ phần cho các nhà đầu tư tư nhân Trong cùng thời gian đó thì luật cũng yêu cầu hãng báo cáo ngân sách cân đối cho mỗi năm Một gánh nặng cho hãng là phải cung cấp cho các khách hàng thiết yếu bao gồm tám nhà đại diện từ các tờ báo

Trang 39

ngày trong nước và năm nhà đại diện của chính phủ nằm trong ban điều giám đốc của AFP.

Trong khi các hãng thông tấn lớn trên thế giới đều do tư nhân nắm quyền thì AFP lại được điều khiển bởi nhà nước Pháp Tuy thế, AFP vẫn là một hãng thông tấn lớn không chỉ vì nó tồn tại lâu đời nhất mà còn bởi uy tính cung cấp sản phầm, dịch vụ có chất lượng

2 Sự liên minh, tập trung hóa trong hoạt động truyền thông

Báo chí ở các nước tư bản ngày càng có xu hướng thu hẹp diện tích sở hữu Các tập đoàn lớn thao túng, nuốt các tập đoàn nhỏ hoặc sát nhập lại với nhau khiến cho sự phong phú về tiếng nói bị giảm thiểu Cho dù không có sự can thiệp trực tiếp của các ông chủ tư bản đến báo chí thì sự sở hữu tập trung này cũng gây ra ảnh hưởng rất lớn, bởi các tờ báo cũng một hệ thống thì không thể có quan điểm trái ngược nhau hay khác nhau được

Về cơ bản, các tập đoàn báo chí ở các nước tư bản hình thành trên cơ sở cạnh tranh, tích tụ tư bản, cá lớn nuốt các bé hoặc các công ty báo chí truyền thông tự nguyện liên kết lại bằng hình thức mua bán hay sát nhập với nhau nhằm tăng nguồn lực, tạo ra sức mạnh đủ khả năng cạnh tranh để tồn tại và phát triển trong môi trường cạnh tranh khốc liệt Cũng có thể, các quá trình diễn ra giữa các tập đoàn kinh tế công nghiệp thương mại, dịch vụ với các công ty báo chí truyền thông nhằm mở rộng lĩnh vực kinh doanh, tạo ra lợi thế xã hội trong phát triển

Trong xu hướng tích tụ và tập trung tư bản như ngày nay, các công ty báo chí truyền thông ngày càng bành trướng mạnh mẽ bằng cách mua lại, sát nhập, thôn tính các công ty nhỏ hơn không đủ sức cạnh tranh Với việc bỏ ra hàng tỷ đôla, các ông chủ này đã đẩy nhanh những sự tập hợp mới trong lĩnh vực báo chí, truyền thông địa chúng, tạo ra quy mô hoạt động, sức mạnh ảnh hưởng vượt

ra ngoài biên giới quốc gia, phạm vi khu vực Theo số liệu của công ty nghiên cứu thị trường Dialogic, trong 5 tháng đầu năm 2007 trên toàn thế giới đã ghi nhận 372 bản hợp đồng sát nhập mua lại giữa các công ty, tập đoàn báo chí truyền thông với tổng giá trị lến đến 93,8 tỷ USD Đáng chú ý nhất là hợp đồng

Trang 40

sáp nhập giữa Google với Double Click, trị giá 3,1 tỷ USD hồi tháng 4-2007, hợp đồng sát nhập giữa Yahoo với Right Media trị giá 680 triệu USD.

Có thể thấy báo chí ngày nay phát triển theo 2 xu hướng sau:

Xu hướng thứ nhất là phát triển theo chiều dọc Đó là sự phát triển nhằm đảm bảo sự bao quát đầy đủ các công đoạn sản xuất một loại hình sản phẩm truyền thông (lập chương trình, sản xuất, phát hành hoặc phân phối), hoặc sự bành trướng, liên kết trong nội bộ các loại hình báo chí truyền thông nhằm tăng cường ưu thế, sức mạnh trong cạnh tranh Ví dụ như báo chí chỉ tập trung vào phát triển tất cả các công đoạn của 3 loại hình dịch vụ chính của mình là phát thanh, truyền hình và trang web trên khắp toàn cầu Ở Mỹ, có thể nói Gannett là tập đoàn báo chí truyền thông có số lượng đầu báo lớn nhất Tập đoàn này đang

sở hữu 90 tờ nhật báo (trong đó có USA Today - một trong 2 tờ có quy mô toàn quốc và Wall street Jourmal - tờ báo hàng đầu về tài chính, kinh tế ở mỹ), 36 tờ báo định kỳ khác, kiểm soát 10 đài truyền hình, 16 dài phát thanh và một công

ty quảng cáo lớn nhất nước Mỹ

Hãng Turmer Broadcastinh System do Robert Edward Turner sáng lập năm 1963 lại thành công và nổi tiếng chủ yếu do sự nổi tiếng và phát đạt của kênh truyền hình CNN Được thành lập và đi vào hoạt động từ 1/6/1960 đến nay CNN đã phủ sóng toàn cầu thông qua vệ tinh, cung cấp dịch vụ tin tức truyền hình cho hơn 55 triệu gia đình ở Mỹ và hàng tỷ dân của 92 nước trên thế giới Năm 1995, CNN đã sát nhập vào tập đoàn Time Warner - một đế chế truyền thông có tài sản trị giá 18 tỷ USD

Xu hướng thứ hai là liên kết và bành trướng theo hàng ngang, đầu tư vào những ngành khác như tạo sự liên kết những ngành báo chí truyền thông, công nghiệp, tài chính, dịch vụ rất xa nhau để hỗ trợ lẫn nhau, hạn chế rủi ro, tăng cường sức mạnh Theo xu hướng đó, năm 1986, công ty General Electric đã mua mạng truyền hình mỹ NBC, công ty viễn thông khổng lồ mỹ AT&T năm 1999

đã nắm quyền kiểm soát hệ thống truyền hình cáp TCI, rồi đến năm 2004 thôn tính tiếp mạng Mediaone Từ năm 1999, tập đoàn Viacom đã thôn tính công ty điện ảnh Pamount và hãng truyền hình CBS Năm 2000, tập đoàn AOL tuyên bố

Ngày đăng: 19/03/2013, 08:27

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

"Báo chí tự do đem tình trạng (bần cùng) của nhân dân dưới hình thái trực tiếp của nó, không bị khúc xạ qua bất kỳ giới quan liêu nào tới ngưỡng cửa của  quyền uy (nhà vua), đưa nó tới trước quyền lực của nhà nước.. - Sự can thiệp của các nước TBCN đối với báo chí.
34 ;Báo chí tự do đem tình trạng (bần cùng) của nhân dân dưới hình thái trực tiếp của nó, không bị khúc xạ qua bất kỳ giới quan liêu nào tới ngưỡng cửa của quyền uy (nhà vua), đưa nó tới trước quyền lực của nhà nước (Trang 3)
cho một số chi tiết về bầu khí chính trị Một phần chuỗi hình biếm họa - Sự can thiệp của các nước TBCN đối với báo chí.
cho một số chi tiết về bầu khí chính trị Một phần chuỗi hình biếm họa (Trang 47)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w