Trống vang ngoài năm núi, Cờ phất vượt muôn trùng.. Thơ của Thẩm-Thuyên-Kỳ khi bị biếm sang Hoan-Châu 2 bài Bài thứ 1 Nghe đồn Giao-Chỉ quận, Nam với Quán-Hung liên5 Ngày lạnh chia mùa
Trang 1Thơ đề Vịnh của Danh-hiền các Triều-đại
Thơ của Lục-Sĩ-Hoành tặng Thứ-Sử Giao-Chỉ là Cổ-Bí tự Công-Chân 3
Cố-Hầu gặp buổi thịnh,
Hoạn lộ lướt thanh phong
Phiên-Hậu 4 từng vua giúp,
Nam-Châu lại ruỗi giong
Trống vang ngoài năm núi,
Cờ phất vượt muôn trùng
Dù nhỏ, nên lánh trọc,
Chẳng to, cũng lập công
Non cao chi ngại vượt,
Bể cả chỉ quanh vòng
Buồn bã xem diều liệng,
Trang 2Cờ về nhướng cổ trông
Thơ của Thẩm-Thuyên-Kỳ khi bị biếm sang Hoan-Châu (2 bài)
Bài thứ 1
Nghe đồn Giao-Chỉ quận,
Nam với Quán-Hung liên5
Ngày lạnh chia mùa ít,
Mặt trời bổ bóng thiên
Úy-Đà từng dựng nước,
Sĩ-Nhiếp đã xa miền
Làng xóm liên nhà ở,
Ngư diêm nối nghiệp truyền
Người Giao dâng trĩ múa 6,
Tướng Hán ngắm diều lên7
Đầu bắc sườn non quẩy,
Trang 3Gió nam mặt biển rền
Biệt ly bao quản tháng,
Râu tóc đã kinh niên
Thân thuộc than phần số,
Vợ con cắt nợ duyên
Mộng àn, hồn bối rối,
Sầu chất, bệnh triền miên
Thôi chớ muôn hàng lệ,
Lòng chẳng thấu Hoàng-thiên
(Vượt bể vào Long-Biên)
Bài thứ 2
Từ trước nghe đồng trụ,
Một năm vừa trải qua
Đất Lâm-ấp chẳng biết,
Trang 4Trời đạo-minh còn xa
Bao thuở nhuần mưa móc,
Bên trời cách Kinh-hoa
Nhớ ai lụy chan chứa,
Tợ suối Nhật-Nam sa
Thơ của Quyền-Đức-Dư đưa chân Đô-Hộ Bùi-Thái
Bổng đeo Giao-Chỉ ấn,
Bằng bối tạm chia tay
Quan nhiệm dù xa cách
Chúa lo mừng được thay
Chu-Diên đường khuất khúc,
Phỉ-túy bay liền bầy
Thuyền đội vượt sóng biển,
Sinh kỳ cuốn khói mây,
Trang 5Cõi xa vén màn thấy,
Hang núi khói hương bay
Bắc-Việt mừng yên vỗ,
Nam-huân sách đức dày
Bạn thân than tạm biệt,
Công lạ chờ có ngày
Ý-dĩ quà bên ấy,
Ngày về, dám phiền ai
Thơ của Bì-Nhật-Hưu chê Đô-Hộ Lý-Trác làm việc quan tàn bạo, nhân dân phản loạn
Phương nam chẳng triệu-hồi đô-hộ,
Khiến Giao-Châu một độ ngửa nghiêng
Kể từ ba bốn năm liền,
Trung-nguyên nhục nhã liên miên lắm hồi
Trang 6Kẻ nhu nhược thụt lùi trước trận,
Người oai hùng mấy bận dùng binh
Quân-nhu hao tốn sinh-linh,
Mấy tay chiếu-tướng mặc tình kiếm ăn
Nạo xương-tủy nhân-dân quá-mức,
Để đem làm lương-thực quân-nhân
Hứa-Xương hùng hổ tướng-quân,
Hơn người oai võ mười phần hiên ngang
Mạnh như gió, kéo sang muôn kỵ,
Biến thành thây lấp bí giòng sông
Có người sống sót hồi tông,
Muôn nhà trông thấy hãi hùng khóc than
Tiếng ai oán lan tràn thôn dã,
Khí căm hờn đầy cả núi hang
Trang 7Ngọn cờ tiếng trống bẽ bàng,
Ai mà nghe thất cho đang tấm lòng?
Biết ai mà thở than cùng?
Dĩnh-Xuyên cổ-lục mấy trùng xa xa
Bài đàn Việt-Thường của Hàn-Dũ
Mưa phải thì,
Vận tốt tươi,
Nào ta có ý gì với ai?
Từ thuở Thành-Chu,
Chăm chỉ gian lao,
Mở mang bờ cõi,
Lưu truyền đời sau
Ngày nay Thánh-hoàng,
Ngự trị bốn phương
Trang 8Oai linh lừng lẫy
Ai dám khinh thường
Nhà không bỏ trống,
Ruộng có người cày
Việt-Thường thần phục,
Bốn bể vui vầy
Thơ của Hứa-Hồn làm khi lên lầu Úy-Đà
Hạng, Lưu đương mãng đuổi hươu Tần 8,
Hoàng-ốc nghênh ngang chốn hải-tân
Cậy sức Nhâm-Ngao từng dựng nước,
Nghe lời Lục-Giả lại xưng thần
Thơ Lý-Sinh tiễn bạn đi Lĩnh-Nam
Xa khơi non nước cõi Giao-Châu,
Thương kẻ năm tàn ruổi vó câu
Trang 9Bên biển Tạ-Công ngời chất bạc,
Trên đài vua Việt thoáng nhìn trâu
Lều tranh vượn hú trăng soi sáng,
Nhà đá cây già khói tỏa thu
Ngảnh mặt Trường-An nửa vạn dặm,
Gốc đồng bóng mát chớ yêm lưu
Thơ của Trương-Tịch chơi núi tặng thầy tu quận Nhật-Nam
Trong núi một sư già,
Cửa tùng khép mưa sa
Dở kinh trên lá chuối,
Rủ áo dưới bông la 9
Xây đá mới đào giếng,
Phá rừng tự trồng trà,
Hải-nam có khách đến,
Trang 10Trăm tiếng thổ, hỏi nhà
Thơ của Tư-Mã để đền thờ Phục-Ba
Biển Nam ban lệnh Hán,
Rừng Uất đuổi binh Mường
Đồng-trụ chia biên-giới,
Hoàng-kim cống quân-vương
Ý gian-thần đã trải,
Lòng báo-quốc ai thương
Lam-chướng đành trôi giạt,
Trung dũng một hòm xương
Tăng-Uyên-Tử khách-ngụ An-Nam, thấy Tiến-Phụng-Sứ về, khẩu chiếm bốn câu
An-nam ai bảo xa xăm,
Kế-Châu có kẻ hằng năm đi về
Trang 11Giang-Nam, Giang-Bắc bạn bè,
Ba năm thư-tín, chẳng hề gửi thăm
An-Nam Chí-Lược Quyển Đệ Thập Lục Chung
Chú thích:
1 Dịch là nách, một bên, viên là tòa nhà Dịch viên là hai tòa Trung-Thơ và Môn-Hạ ở hai bên cung điện nhà vua Chưa rõ tác giả của Dịch-Viên-Tùng-Chí là ai
2 Sử-Thông do Lưu-Trí-Cơ đời Đường soạn, có 20 quyển, chia ra nội thiên
và ngoại thiên nói về nguồn gốc và đắc thất của sử sách
3 Ở quyển thứ 8 chép là Công-Trực
4 Phiên Hậu là những tước vương gần với Thiên Vương
5 Nước người Mán có tục xuyên hông
6 Đời nhà Đường, người Việt đem chim địch (trĩ) vào chầu và múa
7 Mã Viện đời Đông-Hán khi qua đánh Trưng Trắc chưa yên, dưới thì nước lụt, trên thì mây mù, ngửa mặt thấy diều bay sà xuống nước, có ý buồn nhớ quê hương
Trang 128 Lưu Bang và Hạng Vũ nổi lên tranh thiên hạ của nhà Tần ví như giành nhau một con hươu
9 Bông đằng la