Chuy ển peptide: nhờ hoạt động của nhóm protein M11 ở khu vực P nó đẩy acid amin vào trước F.Met hoặc cả đoạn peptidyl từ khu vực P sang khu vực A của tiểu phần 30S và một liên kết pept
Trang 1Hình 8.20 C ấu trúc của Ribosome
Hình 8.21 Giai đoạn mở đầu tổng hợp protein ở tế bào chưa có nhân
O - t- RNA Hình 8.22 Focmyl metionin
Hình 8.20 C ấu trúc của ribosome
Trang 2Khi focmyl MET vào thì GTP vào và IF3 ra lúc này IF2 hoạt động nó phân giải GTP thành GDP + Pi và năng lượng Năng lượng này được dùng vào việc đẩy IF1 ra ngoài và gắn
chặt 2 tiểu phần 30S và 50S với nhau, đẩy m-RNA lên 1 bước (1 codon), IF2 ra ngoài và Met focmyl được chuyển từ 30S sang 50S ( từ khu vực A sang khu vực P) (hình 8.21)
8.2.2.3 Quá trình kéo dài chu ỗi peptide
Quá trình này cần các yếu tố sau:
Yếu tố kéo dài bao gồm: EF-Tu, EF-Ts (ở VSV); TF1(ở tế bào có nhân) các yếu tố này dùng cho liên kết
Yếu tố đổi chỗ EF-G (ở VSV); TF2 (ở tế bào có nhân)
Quá trình diễn ra theo chu kỳ gồm 3 bước sau:
Liên k ết: Từ tế bào chất các aminoacyl-t-RNA lần lượt đi vào riboxom nhờ yếu tố vận
chuyển EF-Tu (hay TF1), chúng tạo thành phức hợp EF-Tu- GTP-aminoacyl-t-RNA Phức
hợp này đi vào khu vực A của 30S, EF-Tu giúp cho việc liên kết định hướng cho RNA với codon của nó đồng thời với vai trò enzyme phân giải GTP cho năng lượng Năng
aminoacyl-t-lượng này giúp cho aminoacyl -t-RNA bám chắc vào codon, sau đó EF-Tu và GDP+ Piđi ra ngoài, EF-Tu muốn hoạt động trở lại phải chịu tác dụng của EF-Ts và năng lượng của GTP (hình 8.24)
Chuy ển peptide: nhờ hoạt động của nhóm protein M11 ở khu vực P nó đẩy acid amin
vào trước (F.Met hoặc cả đoạn peptidyl) từ khu vực P sang khu vực A của tiểu phần 30S và
một liên kết peptide được hình thành ở đây Ở khu vực P chỉ còn lại t-RNA, quá trình này không tốn năng lượng Kết quả của bước chuyển này là một liên kết peptide được hình thành
ở khu vực A, t-RNA được giải phóng ở khu vực P
Đổi chỗ: đòi hỏi yếu tố đổi chỗ EF-G (hay TF2) và năng lượng của GTP Khi EF-G bám vào riboxom nó phân giải GTP cho năng lượng, năng lượng này cần để đẩy t-RNA ở khu vực
P ra ngoài và toàn bộ tảng peptidyl -t-RNA từ khu vực A sang khu vực P, đồng thời m-RNA
dịch lên một codon, có nghĩa là ở khu vực A của 30S lại xuất hiện một codon mới ứng với một acid amin mới sắp đưa vào (hình 8.23)
Quá trình được tiếp diễn như vậy, trong quá trình đó riboxom liên tiếp được đóng mở
giống như một máy giập, mỗi lần giập thì một acid amin lại được gắn vào chuỗi peptide Quá trình này tuỳ theo số lượng acid amin của phân tử protein đang được tổng hợp
8.2.3 Giai đoạn kết thúc
Các yếu tố kết thúc: RF1, RF2, RF3 đây là những protein có khối lượng phân tử trung bình 40.000 dalton RF3 có chức năng xúc tác RF1, RF2 Khi chuỗi peptide đã hình thành xong ứng với phân tử protein mà tế bào cần tổng hợp thì m-RNA cũng đã được đọc gần hết và quá trình bước vào giai đoạn kết thúc, trên khu vực A xuất hiện các codon kết thúc UAA, UAG, UGA Từ tế bào chất các yếu tố kết thúc được đưa vào riboxom, RF1 nhận biết được UAA, RF2 nhận biết được UAG và chúng đều nhận biết được UGA Các yếu tố này giúp cho quá trình nhận biết được codon kết thúc, dưới tác dụng xúc tác của RF3 các yếu tố RF1, RF2,
hoạt động và liên kết este của acid amin cuối cùng bị cắt đứt, chuỗi peptide rời khỏi riboxom,
Trang 3t-RNA cuối cùng rời khỏi khu vực P và m-RNA rời khỏi riboxom, 2 tiểu phần của riboxom tách ra khỏi nhau (hình 8.25)
Chuỗi peptide được cắt bỏ nhóm phocmyl do enzyme dephocmylase rồi sau đó cắt bỏđầu đuôi thành chuỗi peptide hoàn chỉnh, nhờ các liên kết, liên kết nhánh của các acid amin
và các ion Mn++, NH+ chuỗi peptide tự động tạo thành cấu trúc bậc II, III
Hình 8.23 Giai đoạn kéo dài chuỗi polypeptide ở tế bào có nhân
Trang 4Hình 8.24 Vai trò c ủa (EF1) trong chu trình kéo dài
Trang 5Hình 8.25 Giai đoạn kết thúc và tách rời.
Trang 68.2.4 Chu ỗi polypeptide gấp lại và hoàn thiện.
Chuỗi polypeptide sau khi được tổng hợp sẽ trải qua một quá trình phản ứng gọi là sựbiến đổi sau sao chép Ở cả tế bào không nhân và có nhân, sự biến đổi bao gồm các quá trình sau đây:
Đổi đầu C và N tận cùng Trong quá trình tổng hợp chuỗi polypeptide đều được mở đầu
bằng F- Met ở tế bào không có nhân và Met ở tế bào có nhân Nhóm formyl, Met và thông
thường thêm một số acid amin ở đầu N và đầu C bị tách rời bởi Enzyme
M ất một đoạn dấu hiệu (đoạn trình tự tín hiệu), khoảng 15-30 acid amin ở đầu N của
một số protein đóng vai trò định hướng cho protein đó đến chỗ giành cho nó trong tế bào Dấu
hiệu này được tách khỏi nhờ peptidase đặc hiệu
S ự thay đổi acid amin cá thể Nhóm OH của một vài acid amin như Ser, Tre và Tyr của
một vài protein được phosphoryl hoá nhờ ATP Việc thêm nhóm phosphate làm cho polypeptide mang điện âm Ví dụ casein của sữa có nhiều nhóm phosphate gắn với Ca+2
Tuy nhiên, sự phosphoryl hoá của Tyr ở một số protein lại có liên quan đến sự chuyển hoá tế bào bình thường thành ung thư
Nhóm carboxyl cũng được gắn thêm vào Asp, Glu của một vài protein, ví dụprothrombine chứa nhiều carboxyglutamate, tại đó mang điện tích âm và gắn với Ca+2 nhờ đó
có tác dụng làm đông máu Một vài protein có Lys được methyl hoá bởi Enzyme Mono và dimethyllysine có mặt trong một vài protein của cơ và Cytocrom C
G ắn thêm chuỗi Carbonhydrat Việc gắn này xảy ra trong hoặc sau quá trình tổng hợp
chuỗi polypeptide Vị trí gắn có thể ở Asn, Ser hoặc Tre
G ắn thêm nhóm Isoprenyl Các protein có sự biến đổi này thường là các oncogen và
proto-oncogen (các chất gây ung thư và tiền ung thư)
G ắn thêm nhóm phụ Các protein gắn thêm nhóm phụ tạo thành các protein có hoạt tính
sinh học, ví dụ biotin trong acetyl CoA carboxylase hoặc Hem trong cytochrom C
Hoàn thi ện bằng cách phân giải: Đó là trường hợp của các zymogene hay Insuline
S ự tạo thành liên kết chéo disulfide Các protein đi ra ngoài tế bào có nhân sau khi gập
lại một cách tự động, thường liên kết chéo đồng hoá trị do sự tạo thành các cầu disulfide giữa Cys ở trong hoặc giữa các chuỗi Quá trình này chống sự biến tính của protein ở môi trường ngoài tế bào
Trang 7lạp thể cũng là f.Met-t-RNA Tuy nhiên việc hiệp đồng sự tổng hợp protein trong Midochondria với sự tổng hợp protein ở bào tương sẽ được đề cập tới ở phần Midochondria
8.4 Điều hoà tổng hợp protein
8.4.1 Điều hoà hoạt động của RNA polymerase
RNA polymerase gắn vào DNA mở đầu cho sự sao chép ở một đoạn đặc biệt trên DNA được gọi là Promotor Promotor ở gần vị trí RNA bắt đầu tổng hợp trên DNA khuôn Sự điều hoà mở đầu sao chép là mối quan hệ giữa RNA polymerase và promotor Ở tế bào không nhân nhiều gen được điều hoà trong một đơn vị gọi là OPERON Một Operon bao gồm 2 vùng: Vùng điều hoà và các gen cấu trúc Các gen cấu trúc là những đoạn làm khuôn để sao chép các m-RNA Vùng điều hoà gồm Promotor, operator và các vị trí điều hoà
Sau mở đầu sao chép được điều hoà bởi sự kết hợp của protein với promotor Có thểchia thành 3 loại protein điều hoà sự mở đầu sao chép bởi RNA polymerase
Yếu tố đặc hiệu làm thay đổi tính đặc hiệu của RNA polymerase để gắn vào hoặc rời
khỏi promotor
Yếu tố kìm hãm gắn vào Promotor, ngăn chặn sự gắn của RNA polymerase vào Promotor
Yếu tố hoạt hoá gắn promotor, tăng cường hoạt động của RNA polymerase
Nghiên cứu đầu tiên về sự điều hoà tổng hợp protein Enzyme là ở gen galactosidase ở
Bacteria cho phép Bacteria đồng hoá lactose (hình 8.26)
Hình 8.26 C ơ chế điều hoà tổng hợp ββββ Galactosidase
Trang 8C ơ chế điều hoà Operon Tryptophan
E.Coli được nuôi cấy trong môi trường có Tryptophan thì E.Coli không tổng hợp Try Nếu môi trường nuôi cấy không có Try hoặc có một lượng Try không tương xứng với nhu
cầu, Operon Try hoạt động bình thường, Try được tổng hợp, còn trong môi trường nuôi cấy
có nhiều Try thì Try gắn vào repressor làm thay đổi cấu hình repressor, lúc này repressor lại
gắn vào operator, vị trí này gối lên promotor và sự gắn của repressor ngăn cản sự gắn của RNA polymerase 5 gen cấu trúc không hoạt động để sao chép ra các m-RNA mã hoá cho các Enzyme tổng hợp Try (hình 8.27)
Ngoài hai cơ chế trên còn có cơ chế làm suy yếu sự sao chép và cơ chế SOS (cấp cứu ngừng ngay sự sao chép)
Hình 8.27 C ơ chế điều hoà tổng hợp tryptophan ở E.Coli
8.4.2 Protein điều hoà.
Các protein điều hoà có các tính chất sau:
Có khả năng cố định trên DNA ở gần gen cấu trúc
Trang 9Có khả năng ngăn chặn hoặc hoạt hoá sự sao chép của các gen cấu trúc bằng cách thay đổi hoạt động của RNA polymerase
Có thể trả lời những tín hiệu xuất phát từ ngoài hoặc trong tế bào Nhờ đó mà các operon không hoạt động hoặc hoạt động sao chép ra các m-RNA Có nhiều dạng cấu trúc của protein điều hoà
8.4.3 Điều hoà hoạt động gen ở tế bào có nhân
Ở các tế bào có nhân cũng như tế bào không nhân, sự mở đầu sao chép từ một điểm điều hoà hoạt động của gen Ở các tế bào có nhân thường điều hoà bằng cách tăng cường hoạt động Trước hết, sự hoạt động sao chép là kết hợp giữa nhiều sự thay đổi trong cấu trúc của chromatin (chất nhiễm sắc) trong vùng sao chép Thứ hai là thông qua những yếu tố điều hoà dương và âm đã biết Thường thì điều hoà dương chiếm ưu thế Và thứ ba là có sự khác biệt
về mặt vật chất giữa quá trình sao chép xảy ra trong nhân tế bào với quá trình phiên dịch xảy
ra ở bào tương
Một protein điều hoà có thể tác động lên nhiều gen và mỗi gen lại có thể chịu ảnh
hưỏng của nhiều protein điều hoà Các protein điều hoà nhận biết chính xác DNA và cố định vào DNA nhờ các dạng cấu trúc đặc biệt của nó tạo thành các vùng cố định Tại đó các protein điều hoà sẽ liên kết với các vị trí tương ứng trên DNA bằng những liên kết yếu nhưliên kết Hydrogen, lực ValderVal Trong các vùng tác động, chính vùng này hoạt hoá RNA polymerase
9 S ự hoàn thiện phân tử protein sau khi đươc tổng hợp
Một số protein sau khi ra khỏi Ribosome đã có hoạt tính Tuy nhiên, nhiều protein lại cần sự biến đổi sau phiên dịch Những biến đổi này là kết quả của sự hoạt hoá để trở thành
dạng có chức năng trong thành phần của các bào quan trong tế bào Chúng ta cũng đã thấy
rằng cấu trúc bậc một của protein đã được xác định ngay từ giai đoạn sao chép (giai đoạn tổng
hợp các RNA thông tin) Cấu trúc ấy của protein đáp ứng như một cơ chất chịu tác động của các enzyme chuyển hoá, hoặc điều khiển đến các bào quan của tế bào như tế bào chất, ty lạp thể, nhân hoặc bài tiết ra ngoài tế bào Đối với các protein tế bào chất thì đơn giản vì chính ở
đó chúng được tổng hợp Còn với các protein khác chúng thường biến đổi theo cách cắt ngắn
và được vận chuyển tới các vị trí riêng trong tế bào Sự vận chuyển này liên quan tới một protein định hướng Yếu tố quan trọng nhất của sự định hướng là một đoạn ngăn trật tự sắp xếp của các acid amin cuối N của chuỗi polypeptide mới được tổng hợp được gọi là trật tự
tín hi ệu (TTTH) (hình 8.28)
Trang 10Chức năng của TTTH đã được David Sabatini và Gunter Blobel giới thiệu từ năm 1970 TTTH có tác dụng chỉ đạo protein đến đúng vị trí trong tế bào và được rời khỏi trong quá trình vận chuyển hoặc khi protein đã đến nơi dự định
10 S ự biến đổi của một số protein xuất ngoại
Protein dành cho xuất ngoại được tổngn hợp trên ribosome màng lưới nội chất có hạt Sự tổng hợp của chúng bắt đầu trên ribosome bào tương tự do Các giai đoạn của sự tổng hợp diễn ra theo cách thông thường Protein bài tiết có chứa một đoạn TTTH Đoạn TTTH được hình thành ở lưới nội bào ER Nó đánh dấu sự chuyển vị trí vào phần lumen (khoang) của ER Các TTTH được sắp
xếp luôn luôn ở gần đầu cuối N của protein Trong quá trình tổng hợp, đoạn đó thoát khỏi Ribosome sớm hơn Có khoảng hơn 100 đoạn TTTH đã được xác định Đoạn TTTH thường có chiều dài khoảng 15-36 acid amin, trên đó có các đoạn đặc trưng khoảng 10-15 acid amin kỵ nước, một hoặc nhiều hơn acid amin tích điện dương thường ở gần đầu cuối N đứng trước các acid amin kỵ nước và
một đoạn ngắn về phía đầu cuối C (vị trí cắt) là các acid amin ngắn như Gly, Ala (hình 8.29 a,b)
Hình 8.29 a T ổng hợp và bài xuất protein tiết
Hình 8.29 b T ổng hợp protein màng sinh chất
Đoạn TTTH được tổng hợp trên Ribosome gắn vào ER TTTH là công cụ trong việc định
hướng Ribosome vào ER TTTH xuất hiện sớm trong quá trình tổng hợp vì nó ở gần đầu cuối N Khi TTTH thoát khỏi Ribosome thì TTTH và Ribosome tự nó nhanh chóng gắn với dấu hiệu nhận
biết phân tử –Signal recognidion particle (SRP) SRP được tạo thành do 6 protein khác nhau và phân tử RNA 7S SRP chỉ gắn tạm thời trong quá trình tổng hợp protein Khi peptide có khoảng 70 acid amin thì ngừng gắn SRP cũng gắn với Ribosome Toàn bộ phức hợp này được gắn với
Trang 11Receptor SRP và Receptor Ribosome trên bề mặt của ER Chuỗi polypeptide mới sinh được giao cho phức hợp chuyển vị trí peptide trên ER SRP rời khỏi Ribosome và tiếp tục một chu kỳ mới Phức hợp chuyển vị trí nuôi dưỡng cho chuỗi polypeptide phát triển kéo dài trong lumen của ER.TTTH bị tách rời bởi enzyme thuỷ phân tín hiệu ở trong lumen của ER Ở trong lumen, protein
mới sẽ biến đổi theo các con đường riêng: Tạo thành các liên kết disulfide cũng như nhiều protein
sẽ glucid hoá (hình 8.30)
Hình 8.30 Đưa protein màng đã chuyển hoá vào màng lưới nội chất (a)protein màng có
th ể cắt bỏ đuôi tín hiệu cuối N và đuôi Stop- transfer; (b) protein màng type II đuôi tín hiệu cuối
N không được loại bỏ; (c) protein màng type III có đuôi tín hiệu multiple và Stop- transfer
11 S ự Glucid hoá của protein
Quá trình này xảy ra trong lưới nội bào và trong phức hợp Golgi Sự glucid hoá này quan trọng vì 2 lý do: Thứ nhất nó làm thay đổi hoạt tính sinh học, thay đổi tính hoà tan, tính ổn định và tính chất vật lý của protein Thứ hai chính nhóm carbohydrate của glucoprotein cũng có tác dụng như một dấu hiệu nhận biết vị trí mà protein đó định vị Sự glucid hoá không phụ thuộc vào bộ ba
mã di truyền Vị trí glucid hoá phụ thuộc vào những acid amin thích hợp trên phân tử protein và đặc tính của enzyme với cơ chất được glucid hoá Sự glucid hoá protein có nhiều loại glycosyltraspherase tham gia (khoảng trên 100)
Trong protein được glucid hoá các oligosaccharide thường được liên kết với protein thông qua Asn Các liên kết N- oligosaccharide được hình thành bằng nhiều cách, nhưng có chung bước đầu tiên: 14 đơn vị oligosaccharide bao gồm 2 phân tử N- acetyl glucosamine, 9 manose, 3 glucose được vận chuyển từ dolichol phosphate mang đến từng phân tử Asn trên protein
oligosaccharide được gắn vào nhóm phosphate của phân tử dolichol phosphate bằng cách gắn
lần lượt, gắn từng monosaccharide Thể oligosaccharide hoàn thiện nhờ hệ thống enzyme transferase vận chuyển từ dolichol phosphate sang protein Các transferase nằm trên mặt lumen của
Trang 12ER và chúng không xúc tác quá trình glucid hoá các protein của bào tương Sau khi vận chuyển vào trong lumen thể oligosaccharide được sắp xếp và tiếp tục biến đổi bằng các con đường khác nhau
với các protein khác nhau, nhưng tất cả những liên kết N- oligosaccharide vẫn được duy trì (hình 8.31, 8.32)
Hình 8.31 T ổng hợp oligosacchoride gắn N trên chất mang dolichol phosphte ở màng RER
Trang 13Hình 8.32 Chuy ển Oligosaccharide tới protein và các quá trình xa hơn xảy ra trên RER
và Golgi
Protein rời khỏi ER đến phức hợp Golgi trong các nang chuyên chở Trên phức hợp Golgi, các liên kết O-oligosaccharide được hình thành và liên kết N- oligosaccharide được biến đổi Bằng
những cơ chế này các protein biến đổi phù hợp để cuối cùng giữ đúng như dự định
Trong phức hợp Golgi, các protein được chuyển ra cho các tế bào bên ngoài qua màng bào
tương hoặc lysosome Hai cách vận chuyển khác nhau này được phân biệt trên đặc điểm cấu trúc không gian ba chiều của protein, khác với TTTH đã được tách rời trong lumen của ER Quá trình phân biệt protein được biết rõ ràng đối với Hydrolase, protein vận chuyển đến lysosome Cấu trúc
ba chiều của Hydrolase đôi khi được gọi là dấu hiệu ghép nối, được nhận biết bởi Phosphotransferase, enzyme xúc tác sự phosphoryl hoá một vài mannose trong enzyme của oligosaccharide Sự có mặt của một hoặc nhiều mannose –6- phosphate trong liên kết N-oligosaccharide là dấu hiệu cấu trúc chính nó hướng protein đến lysosome Receptor protein trên màng của phức hợp golgi nhận biết dấu hiệu mannose –6- phosphate này và gắn với hydrolase tạo thành phức Receptor –hydrolase.Những nang chứa phức hợp Receptor –hydrolase chuyển từ Cis sang Trans của phức hợp Golgi, bằng con đường đó đến nang phù hợp.Tại đây phức hợp Receptor –hydrolase bị tách rời do pH thấp trong các nang và bởi sự tách rời nhóm phosphate của mannose –6-phosphate dưới tác dụng của phosphatease Receptor quay trở lại phức hợp Golgi và nang chứa hydrolase từ nang tương ứng vào lysosome Như vậy đối với hydrolase liên kết N- oligosaccharide đóng vai trò chìa khoá trong việc định hướng enzyme này tới lysosome (hình 8.33)
Trang 14Hình 8.33 T ổng hợp và định hướng protein Lysosome
12 Các protein đi vào ty lạp thể
Các protein được tổng hợp trong bào tương trên các ribosome tự do, sau đó được chuyển vào
ty lạp thể Các protein mới được tổng hợp được coi như một tiền thân, có phân tử lớn TTTH ở cuối
N cung cấp dấu hiệu cho protein đến ty lạp thể thì chưa được xác định hoàn toàn, nhưng nó giầu acid amin có nhóm OH và thường thiếu các acid amin có tính acid TTTH này được nhận biết bởi Receptor của ty lạp thể có khả năng nhờ sự giúp đõ của yếu tố nhập khẩu (import factor) Các protein được chuyển vị trí qua cả hai màng vào trong Matrix (chất nền), sau đó các protein rời khỏi TTTH nhưng trật tự các acid amin còn lại không thay đổi Một ví dụ protein đi vào ty lạp thể theo
kiểu này là Cytocrom b2 Còn Cytocrom C thì lại khác, nó không được tổng hợp dưới dạng một tiền thân có phân tử lớn, nhưng lại có TTTH nằm trong cấu trúc của Cytocrom C Phần apoprotein này nằm gần mặt ngoài của màng và đi vào phần giữa hai màng Liên kết đồng hoá trị với Hem và sựthay đổi cấu trúc làm cho nó không quay trở lại bào tương (hình 8.34)
Trang 15Hình 8.34 Chuy ển protein tới chất nền của ty thể
13 Các protein nhân t ế bào
Nhân tế bào nhận nhiều protein để cấu tạo riêng cho nhân và cho các quá trình sao chép DNA
Ở màng nhân có các lỗ cho phép các protein phân tử nhỏ đi qua Các protein đều có đoạn TTTH đặc biệt định hướng protein vào trong nhân tế bào Đoạn TTTH này rất giầu lysine và Arginine Các Histon và Nucleosome được điều hoà bởi một protein gọi là Nucleoplasmine Các protein khác có
thể được giữ lại trong nhân bởi sự tạo thành những phức hợp trong các bào quan Đoạn TTTH định hướng cho protein đến nhận, ví dụ trật tự các acid amin (-Pro-Lys-Lys-Arg –Lys –Val-) nằm trong
cấu tạo phân tử không bị tách rời Dấu hiệu này cho phép protein như DNA polymerase, RNA polymerase vào trong nhân nhanh chóng qua các lỗ của nhân
Câu 1: Đặc điểm trao đổi protit ở động vật cao đẳng?
Câu 2: S ự tiêu hoá và hấp thu protit ở động vật?
Câu 3: Hãy k ể một số enzym tiêu hoá protit ở động vật?
Câu 4: Ph ản ứng khử amin (-NH2)? ý ngh ĩa của phản ứng này?
Câu 5: Ph ản ứng chuyển nhóm amin (-NH2) trong axít amin? Vai trò c ủa phản ứng này đối với sự sống của sinh vật?
Câu 6: Ph ản ứng khử nhóm carboxyl (-COOH) trong axít amin? Nêu vai trò của phản ứng này?
Câu 7: Vòng Ornitin và vai trò sinh h ọc của nó?
Câu 8: Trình bày quá trình ho ạt hoá và tạo phức hợp khởi đầu trong quá trình tổng
h ợp protit theo khuân mẫu?
Câu 9: Trình bày quá trình kéo dài chu ỗi peptit và kết thúc trong sự tổng hợp protit theo khuân m ẫu?
Trang 16Các mầm bệnh (Pathogen) trước hết vi phạm hàng rào vật lý là da và màng nhầy, ở đây, nó được phân biệt là vật xâm nhập từ bên ngoài và nó sẽ bị tiêu diệt Trong phạm vi chương này chúng ta
sẽ bàn về hệ thống miễn dịch và sự nhận diện các vật xâm nhập từ bên ngoài vào cũng như sự phân
biệt chúng với các thành phần bình thường của cơ thể, rồi tiêu diệt nó như thế nào Hệ thống miễn dịch
và hệ thống thần kinh của động vật có xương sống luôn luôn phát triển tương xứng với nhau
1 H ệ thống miễn dịch của cơ thể (các dạng đáp ứng miễn dịch)
Có 2 hệ thống miễn dịch, đó là hệ thống miễn dịch tế bào và hệ thống miễn dịch dịch thể
Mi ễn dịch tế bào (Cellular Immunity) là sự chống lại các tế bào đã bị thâm nhiễm Virus, ký
sinh trùng, các mô lạ thông qua tác động trung gian của các tế bào lymphocyte
Mi ễn dịch thể dịch (Humoral Immunity) Humor là thuật ngữ cổ của thể dịch (Fluid), nó có
hiệu ứng nhất trong việc chống lại sự thâm nhiễm của vi khuẩn và Virus, nó được tác động trung gian
bởi rất nhiều dẫn xuất chọn lọc của các protein có liên quan được hiểu là kháng thể hay là các globulin
miễn dịch (Immunoglobulin - Ig) Các kháng thể được tạo ra từ các tế bào B, ở động vật có vú, các tếbào này đã được chín (mature) ở trong tuỷ xương
1.1 H ệ thống miễn dịch tế bào (Cellular Immunity)
Đây là cách chống lại các tế bào, vật lạ xâm nhiễm vào cơ thể như vi rút, vi khuẩn thông qua
bản thân tế bào có khả năng gây miễn dịch đặc hiệu, nghĩa là tế bào kết hợp với những kháng nguyên
tương ứng được gắn trên một tế bào khác
Tính miễn dịch của động vật có xương sống là do những dạng xác định của tế bào máu chọn lọc
đó là các lymphocyte Chúng được sinh ra như tất cả các tế bào máu bắt nguồn từ các tế bào tiền thân thông thường (tế bào nguồn) ở tuỷ xương Tuy nhiên các tế bào lymphocyte khác hẳn với các tế bào
hồng cầu, nó có thể rời khỏi dòng máu đi vào khoảng không nội bào nơi có các tác nhân bên ngoài xâm nhập, đồng thời chúng có thể quay trở lại mạch huyết quản
Có 2 loại lymphocyte: lymphocyte T và lymphocyte B
1.1.1 Lymphocyte T
Lymphocyte T được sinh ra ở tuỷ xương, di chuyển về tuyến ức (thymus) và thành thục ở đây, sau đó vào máu, một ít vào hạch lâm ba Lymphocyte T thành thục chưa có khả năng miễn dịch, sau khi được kháng nguyên kích thích, nó được hoạt hoá trở thành tế bào lymphocyte T mẹ, đi vào lách
hoặc hạch lâm ba, ở đây chúng tăng sinh trở thành lymphocyte T có khả năng miễn dịch rất mạnh Về
chức năng, người ta chia lymphocyte T ra thành mấy loại sau:
Trang 17T ế bào lymphocyte T hiệu ứng (effetor T, ký hiệu là Te hay còn gọi là lymphocyte giết- Killer
T (Tk): chúng có tác dụng trực tiếp tham gia miễn dịch tế bào, có khả năng phá huỷ, phân giải vật lạ, tếbào ung thư
T ế bào lymphocyte T hỗ trợ (Helper T Cell ký hiệu T H ): có tác dụng hiệp đồng với bạch cầu đơn nhân lớn, xúc tiến hoạt hoá tế bào lymphocyte B
T ế bào lymphocyte T ức chế (Suppesor T ký hiệu T S ): có vai trò ức chế và hoạt hoá tế bào lymphocyte B và các tế bào T khác, tham gia điều hoà miễn dịch
T ế bào lymphocyte T nhớ (Memory T ký hiệu T m): có đời sống dài, nên khi gặp kháng nguyên
mà nó đã tiếp xúc thì tăng sinh và đáp ứng miễn dịch mạnh
Lymphocyte T có quan hệ mật thiết với bạch cầu đơn nhân Bạch cầu đơn nhân thực bào kháng nguyên, phân giải kháng nguyên và tiết vào máu những mảnh phân tử miễn dịch, gây kích hoạt tế bào lymphocyte T Đôi lúc kháng nguyên (KN) kết hợp kháng thể (KT) ngay trên bề mặt tế bào đơn nhân
lớn, sau đó tiếp xúc với tế bào lymphocyte T, truyền thông tin miễn dịch cho tế bào lymphocyte T
Người ta đã phát hiện ở lymphocyte T hỗ trợ và lymphocyte T ức chế một số chất có tác dụng đối với lymphocyte như:
TSF(Thymus stimuleative factor): Yếu tố kích thích tế bào tuyến ức
TcGF(T cell growth factor): Yếu tố sinh trưởng tế bào T
Về sau người ta đặt tên cho những yếu tố này là interlukin-II (iL-2) Những chất này có tác dụng làm tăng sinh sản tế bào T, iL-2 có tác dụng hoạt hoá tế bào B, tế bào T
1.1.2 Lymphocyte B
Lymphocyte Bđược sinh ra ở tuỷ xương, thành thục ở đây hoặc ở túi huyệt (Bursa Fabricius)
của gia cầm Chức năng chính của các lymphocyte B là sinh ra các kháng thể dưới sự kích thích của lymphocyte T
Có một số đại thực bào (tế bào dạng bạch tuộc ở lách và hạch lympho, tế bào Langerhans ở dưới
da, tế bào Kuffer ở gan) làm nhiệm vụ bẫy và tập trung KN Phần lớn các KN đều bị các đại thực bào
bắt và xử lý, sau khi xử lý các KN, đại thực bào có nhiệm vụ trình diện các KN cho lymphocyte T
Sự đáp ứng miễn dịch tế bào được hình thành do sự có mặt của các phân tử lạ, các protein và acid nucleic mà chúng ta hiểu là kháng nguyên (antigen)
Quá trình này xảy ra thông qua một sery phức tạp của các tương tác trung gian giữa các dạng tếbào T với các tế bào B gắn đặc hiệu một kháng nguyên (hình 9.1) Đáp ứng miễn dịch tế bào dẫn đến
sự huỷ hoại các tế bào "phạm tội" Nó được bắt đầu khi một đại thực bào(macrophage) (1a, 1b) xử lý
một kháng nguyên lạ, khi đã được tiêu hoá một phần đai thực bào phơi bày các mẫu kháng nguyên trên bề mặt của nó (3a, 3b) Người ta cho rằng ở đó các mẫu kháng nguyên được gắn với một trong hai
dạng protein bề mặt tế bào, đó là phức hợp hoà hợp tổ chức chính - Major Histocompatibility Complex (MHC) (được gọi như thế vì chúng được phiên mã từ một dẫy gen MHC) MHC rất đa dạng (có nhiều allele) Các cá thể phân biệt với nhau bởi protein MHC Vì thế MHC là các marker của các cá thể
Protein MHC l ớp I có mặt trên bề mặt của tất cả các tế bào có nhân của động vật có xương
sống Đại thực bào (Macrophage) có protein MHC lớp I được nhận biết bởi các Receptor của tế bào T (T Cell Receptor), các Receptor này có trên bề mặt của các tế bào