TÂM LÝ SẢN PHỤ SƠ SINH2.1.Tâm lý sản phụ Thời kỳ thai nghén: Song song với những biến đổi sinh lý dẫn tới việc thay da đổi thịt ở người phụ nữ và còn có những diễn biến tâm lý đưa ngườ
Trang 1TÂM LÝ HỌC BỆNH NHÂN
CÁC CHUYÊN KHOA
Trang 2Mục tiêu học tập
1.Mô tả được những đặc điểm tâm lý bệnh nhân Ngoại khoa và thái độ của thầy thuốc
2.Trình bày được những đặc điểm tâm lý bà mẹ trong thời kỳ mang thai, trong cuộc đe, sau đẻí và các biện pháp dự phòng những rối loạn tâm lý
Trang 32 TÂM LÝ SẢN PHỤ SƠ SINH
2.1.Tâm lý sản phụ
Thời kỳ thai nghén: Song song với những biến đổi sinh lý dẫn tới việc thay da đổi thịt ở người phụ nữ và còn có những diễn biến tâm lý đưa người phụ nữ rời bỏ cuộc sống thời thơ ấu, con gái và chờ đợi cuộc sống làm mẹ Thai nghén được coi là bước ngoặt của quá trình phát triển tâm lý- cảm xúc của người phụ nữ Đó là thời kỳ khủng hoảng bình thường, một bệnh bình thường, được giải quyết bằng nâng đỡ đơn thuần, nhưng cần bao gồm các mặt sức khỏe, kinh tế , tâm lý và văn hóa xã hội
Trang 4 Trong thời kỳ này , người phụ nữ dễ nhạy cảm hơn bao giờ hết với các biểu tượng vô thức dồn đến ồ ạt
Nhìn chung, các tác giả (như Bibring và cộng sự) chia thời kỳ đó ra 3 giai đoạn, mỗi giai đoạn có đặc điểm riêng như sau:
Giai đoạn đầu: 3 tháng đầu:
-Chấp nhận hay không chấp nhận cái thai Ở nước ta với những biện pháp sinh đẻ kế hoạch thì đa số có thai là theo mong muốn, nhưng cũng có trường hợp lỡ lầm ( hoang thai, con ngoài giá thú,vỡ kế hoạch) và có nhiều vấn đề trong đời sống gia đình Dẫu sao lúc có thai sản phụ không khỏi không có lúc lưỡng lự đắn
Trang 5 +Vừa muốn có con để đạt ước nguyện nhà
chồng, người chồng, để có niềm sung sướng được làm mẹ, với đứa con trai để nối dõi tông đường, đảm bảo tuổi già có người chăm sóc
+Vừa không muốn chấp nhận cái thai, thậm
chí còn lo hãi, khước từ nó, lo lắng cho kinh tế gia đình để nuôi con, đứa con không như ý muốn, phong tục tập quán ngặt nghèo, đã có nhiều con gái lại sinh thêm một đứa nữa sẽ sao đây
Trang 6 +Khi chẩn đoán siêu âm thấy một cái gì
đó không bình thường có thể dẫn đến những xung đột nội tâm dẫn tới tính khí bất thường, làm nặng thêm các biểu hiện tâm lý đã có sẵn do nguyên nhân nội tiết.
Những rối loạn thực vật: gai gai rét, sởn
gai ốc, nôn mửa,
Trang 7 b.Giai đoạn thứ hai: 3 tháng giữa
+Sang giai đoạn này thai bắt đầu máy và ngày càng mạnh, thai phụ đi vào thế ổn định hơn
+Trung tâm mối quan tâm của thai phụ chuyển dần sang đứa con trong bụng: Theo dõi tiến triển của thai, qua kết quả các đợt khám thai Bà mẹ sẽ có tưởng tượng về đứa con mình sẽ ra sao, mạnh hay yếu, hiền hay nghịch ngợm, trai hay gái Rồi liên tưởng các lần sinh nở trước của bản thân hoặc của bố mẹ mình Cho tới khi sinh bà mẹ xây dựng hình ảnh đứa con tưởng tượng từ những ước mơ có
ý thức, quan tâm đến giới
Trang 8 Trong thời gian này chỉ cần một lời nói vô tình của bà đỡ, BS Siêu âm, hoặc bất cứ ai khiên sản phụ phấn chấn, sung sướng hoặc bồn chồn
lo lắng cho những điều không biết
c.Giai đoạn thứ 3: 3 tháng cuối
Giai đoạn chuẩn bị làm tổ và mong mỏi sự ra đời của đứa trẻ Giai đoạn này nặng nhọc hơn, chân phù nề, 90% bà mẹ lo lắng, sợ những điều không biết, đau hoặc tai biến sau đẻ, rách tầng sinh môn, băng huyết, phẫu thuật Vì vậy ở giai đoạn này sản phụ cần có chỗ để bám víu và đa số bà mẹ mong chóng đến ngày đẻ để thoát những vất vả của các tuần cuối
Trang 9 2.2.Cuộc đẻ và sinh con
Cuộc đẻ diễn ra vào lúc trình trạng người mẹ quá mẫn cảm và dễ yếu đi về thể xác và tinh thần do đó có nhiều vấn đề nếu không được chuẩn bị trước và không có sự nâng đỡ
Về sinh lý đó là do sự thúc đẩy không cưỡng lại được của thai nhi và do vậy bà mẹ không chọn được thời điểm cũng không cảm nhận được cơ thể diễn ra ngoài tầm kiểm soát và ý chí của sản phụ cho dù có được chuẩn bị một phần nào đó
Trang 10 2.3.Sau đẻ
Sau đẻ theo kinh nghiệm của một số bà mẹ cho thấy sau đẻ có một thời kỳ trầm nhược nhẹ, một trạng thái u buồn sau đẻ (Post partum blues) Đó là một biểu hiện bình thường ngắn ( 2-48 giờ), xãy ra ở 50 % phụ nữ mới sinh ( 30-80% theo các tiêu chuẩn được chấp nhận), xuất hiện ngay sau đẻ, với một cao điểm vào ngày thứ 3 và thứ 6, thường được cho là do mệt mỏi sau đẻ Thực chất đó là một trạng thái buồn bã, chán nản, mệt nhọc, lờ đờ, ảm đạm, được sản phụ mô tả một cách mơ hồ và mọi chuyện sẽ qua đi và đâu sẽ vào đấy
Trang 11 2.4.Quan hệ sớm mẹ con
Những giờ đầu sau đẻ là một thời kỳ người mẹ rất nhạy bén để bắt quan hệ với con, thiết lập được cầu nối (bonding), sự gắn bó mẹ con (attachment) (Anna Freud, Melanie Klein, Sitz Bowlby)
Mọi nhiễu loạn trong tương tác mẹ con đều do:
-Kích thích quá mức không tôn trọng tín hiệu của trẻ ( Tránh né, nhắm mắt, quay mặt đi )
-Kích thích yếu ớt nơi những bà mẹ trầm nhược, ức chế
-Đẻ non, dị tật bẩm sinh
-Chậm phát triển thai nhi dẫn tới thiếu thỏa mãn bố mẹ so với đứa con và kém tương tác
-Khó khăn thời thơ ấu của mẹ
Trang 12 Sản phụ phải trải qua quá trình thích nghi tâm lý phụ thuộc nhiều yếu tố:
thích nghi của sản phụ.
chối hay đồng ý
Trang 13 2.5.Tiếp cận dự phòng và trị liệu
2.5.1Tiếp cận dự phòng
Tiếp cận dự phòng một rối loạn là hoạt động bên cạnh những sản phụ, những em bé phải đương đầu với rối loạn đó Làm sao cho khả năng rối nhiễu xảy ra giảm bớt, và nếu có rối nhiễu cường độ sẽ giới hạn hơn
Dự phòng ở 3 cấp độ:
-Dự phòng cấp 1 tương ứng với định nghĩa trên nhằm giảm tỷ lệ mới xuất hiện trong dân cư
-Dự phòng cấp 2 nhằm giảm tổng số người mắc, ngăn chặn và rút ngắn thời gian mắc
-Dự phòng cấp 3 nhằm giảm những bất lực mãn tính, tái phát, hạn chế tối đa những tàn
Trang 14 Dự phòng dựa vào các chỉ báo nguy cơ
-Thời kỳ tiền sinh là khuyết tật của bà mẹ, những thai nghén trước đây không được theo dõi, tuổi bà mẹ dưới 18, tình cảnh cô đơn nhất là cắt đứt quan hệ với người bố của đứa trẻ
-Thời kỳ chu sinh là đẻ non, loạn tâm hậu sản, thời gian ở lại bệnh viện phải kéo dài và việc đưa trẻ vào một đơn vị chăm sóc chuyên biệt
Dù ở thời kỳ nào điều kiện kinh tế xã hội thấp kém cũng là một yếu tố nguy cơ trên bình diện phát triển tâm lý xã hội và nhận thức
Trang 15 Tổ chức dự phòng ở từng thời kỳ thai nghén như thế nào?
phòng cấp 1 như là: định kỳ khám thai, tránh các nhiễm trùng gây tổn thương cho hệ thần kinh trung ương và giác quan của trẻ, ngăn ngừa đẻ non.
cuộc sinh nở theo Lamaze ( Phương pháp: không đau) sẽ giúp sản phụ làm chủ được lo hãi trước và trong thời gian đẻ, tránh được ít nhất sự tăng đau đớn do lo hãi Trong việc chuẩn bị đó mối quan hệ giữa sản phụ và NHS thực hiện việc chuẩn bị đó có một vai trò
Trang 16 -Khi trở về nhà: Khi rời nhà hộ sinh về nhà sản phụ có những khó khăn đặc biệt Theo điều tra tại Viện Bảo vệ Bà mẹ và Sơ sinh: 71% sản phụ sau khi ra viện muốn mẹ con về nhà riêng vì 65% có chồng có thể giúp hoặc làm chổ dựa Vai trò người chồng là đặc biệt quan trọng từ khi thai nghén, cần được phát huy khi vợ đẻ và sau sinh.
2.6.Những yếu tố tâm lý trong chuyển dạ sớm
Trang 173.TÂM LÝ BỆNH NHÂN NGOẠI
KHOA
3.1.Đặc điểm tâm lý bệnh nhân ngoại khoa
thiệp phẫu thuật thường có ảnh hưởng lớn đến tâm lý bệnh nhân và người nhà bệnh nhân, bệnh nhân và người nhà thường rất lo lắng: Mổ có nguy hiểm không , ai mổ, sau mổ có lành bệnh không, có để lại di chứng, biến chứng, tàn phế không Vì vậy vai trò của thầy thuốc, điều dưỡng khoa ngoại là hết sức quan trọng, tùy theo trường hợp
Trang 183.2.Tác động tâm lý đối với bệnh nhân ngoại khoa
cần can thiệp phẫu thuật thầy thuốc phải chuẩn
bị tư tưởng thật chu đáo vì bệnh nhân thường sợ đau đớn, và lo sợ kết quả của cuộc mổ tốt hay không.
Đối với bệnh nhân có loại thần kinh cân bằng Đối với bệnh nhân có loại thần kinh cân bằng mạnh, động viên giải thích làm cho họ an tâm
Trang 19 Đối với bệnh nhân thần kinh không cân bằng hoặc yếu thì việc chuẩn bị thật chu đáo trước mổ là rất quan trọng ngoài động viên giải thích cần phải nâng cao thể trạng điều trị an thần Kinh nghiệm ở bệnh viện Macarop Ucrain Liên xô người ta có những bệnh nhân được mỗ kết quả tốt đến nói chuyện với bệnh nhân mới, bản thân thầy thuốc mời bệnh nhân đến giải thích phân tích bệnh tật, giới thiệu về sự cần thiết phải mổ , khi mổ có tiền mê , thuốc tê bệnh nhân không thấy đau đớn là gì.
Trang 20 Đối với bệnh nhân bị bệnh cấp tính đang đau quằn quại phải mổ cấp cứu mới cứu sống được bệnh nhân , tuy vậy bệnh nhân vẫn rất sợ mổ, thầy thuốc phải phân tích thật tỷ mỹ để bệnh nhân thấy sự nguy hiểm của bệnh tật đang đe dọa tính mạng Trong khi mổ phải đảm bảo mê sâu để bệnh nhân không bị đau đớn Trong giai đoạn hậu phẫu, bệnh nhân cần được chăm sóc điều dưỡng đặc biệt.
Trang 213.3.Tác động tâm lý đối với người nhà bệnh nhân
chuẩn bị tư tưởng đầy đủ, không được hoảng hốt, khóc lóc trước mặt bệnh nhân, điều đó làm cho bệnh nhân dễ suy diễn cho là nguy hiểm đến tính mạng nhưng thầy thuốc và người nhà không nói cho bệnh nhân Kinh nghiệm và trên nghiên cứu khoa học cho thấy bệnh nhân được chuẩn bị tinh thần chu đáo thì chịu đựng cuộc phẫu thuật tốt hơn, sợ hãi thì tỷ lệû tử vong cao lên do sợ hãi, chấn động tinh thần