Nghiên cứu triển vọng quan hệ kinh tế thương mại Việt Nam-Trung Quốc là rất cần thiết không chỉ để góp phần phát huy những tiềm năng thế mạnh
Trang 1Nghiên cứu triển vọng quan hệ kinh tế thơng mại
việt nam – trung quốc trung quốcViện nghiên cứu thơng mại
2000
Lời nói đầu
Việt Nam và Trung Quốc là hai nớc láng giềng, việc giao lu kinh tế giữa hai nớc đã có
từ lâu đời Sau khi quan hệ Việt Nam- Trung Quốc trở lại bình thờng thì hoạt động thơng mạigiữa hai nớc phát triển ngày càng mạnh mẽ Trong nhiều năm, các cửa khẩu, chợ và các đờngmòn biên giới là những nơi hàng hoá ra, vào tấp nập Đặc biệt từ năm 1990 trở lại đây, sau khihai nớc nối lại việc thông thơng đờng sắt, đờng biển, đờng hàng không, buôn bán chính ngạchgiữa hai nớc càng phát triển, cả về chiều rộng lẫn chiều sâu Mặc dù không thể phủ nhận đợcnhững thành tựu đã đạt đợc, nhng về cơ bản, còn nhiều khó khăn và thách thức đang đặt ra trớcquan hệ thơng mại của hai nớc Việt Nam- Trung Quốc Chính vì vậy, việc nghiên cứu đề tài
"Nghiên cứu triển vọng quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam - Trung Quốc" là rất cần thiết,
không chỉ góp phần phát huy những tiềm năng, thế mạnh của mỗi nớc mà còn tạo điều kiện choviệc phát triển kinh tế đối ngoại của Việt Nam, đa đất nớc hội nhập vững chắc vào kinh tế khuvực và thế giới Việc nghiên cứu đề tài này nhằm những mục đích sau:
1 Nghiên cứu chính sách thơng mại của Trung Quốc thời kỳ mở cửa và thực trạng quan
hệ kinh tế thơng mại Việt -Trung kể từ khi bình thờng hoá quan hệ giữa hai nớc; những bài họcthành công, những thuận lợi khó khăn trong việc phát triển quan hệ kinh tế thơng mại giữa hainớc
2 Đề xuất với các Bộ, ngành quản lý trong việc hoạch định chính sách và các doanhnghiệp Việt Nam về việc phát triển quan hệ kinh tế thơng mại với Trung Quốc Để đạt đợc cácmục đích nêu trên, đề tài đợc kết cấu thành ba chơng với nội dung nh sau:
Chơng I: Thực trạng quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam - Trung Quốc trong giai đoạn1991-1999
Chơng II: Các yếu tố tác động đến quan hệ kinh tế thơng mại Việt nam-Trung QuốcChơng III: Những kiến nghị và giải pháp thúc đẩy quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam
- Trung Quốc phát triển
Ban chủ nhiệm đề tài chân thành cám ơn các cơ quan của Bộ Thơng mại, Viện Nghiêncứu Trung Quốc, Viện nghiên cứu Thế giới, các chuyên gia đã tận tình giúp đỡ chúng tôi thựchiện bản đề tài này Do cha có điều kiện đi sâu nghiên cứu, khảo sát thực tiễn nên bản báo cáokhoa học này chắc chắn còn nhiều hạn chế Ban chủ nhiệm đề tài rất mong nhận đợc ý kiến
đóng góp của các chuyên gia để bản đề tài này đợc tiếp tục hoàn thiện
CHơng I Tổng quan về quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam - Trung
Quốc trong giai đoạn 1991-1999.
I Thực trạng quan hệ kinh tế thơng mại Việt Nam Trung Quốc trong giai đoạn 1991 1999:
-1 Đặc điểm chung về quan hệ thơng mại Việt Nam-Trung Quốc trong giai đoạn 2000:
1991-Sau khi bình thờng hoá quan hệ, hai nớc Việt Nam và Trung Quốc đã ký kết nhiều Hiệp
định về kinh tế hoặc có liên quan đến kinh tế trong đó đã ký Hiệp định Th ơng mại (1991) vàHiệp định hợp tác kinh tế- kỹ thuật (12-1992) Tháng 4-1994 Việt Nam và Trung Quốc đã kýkết Hiệp định về việc thành lập Uỷ ban Hợp tác kinh tế thơng mại và một số Hiệp định khác, tạo
Trang 2cơ sở pháp lý để tăng cờng hợp tác thơng mại giữa hai nớc, bớc đầu thúc đẩy quan hệ kinh tếthơng mại hai nớc phát triển và đã đạt đợc một số kết quả chủ yếu sau:
Tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nớc không ngừng tăng nhanh, cơcấu hàng xuất nhập khẩu của hai bên ngày càng phù hợp với tiềm năng và mang tính bổ sunglẫn nhau của hai nớc
Tỷ trọng kim ngạch thuộc mậu dịch "chính ngạch" tăng nhanh, dần chiếm u thế trongkim ngạch xuất nhập khẩu của hai nớc (nếu giai đoạn 1991-1993 kim ngạch mậu dịch tiểungạch là chủ yếu thì từ 1994-1998 kim ngạch buôn bán chính ngạch vơn lên giữ vị trí áp đảo)
Tuy nhiên, nhìn chung quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai cha ngang tầm với quan hệchính trị hết sức tốt đẹp giữa hai nớc Tổng giá trị thơng mại chính ngạch chỉ chiếm 7% tổngkim ngạch ngoại thơng của Việt Nam và 0,4% tổng kim ngạch ngoại thơng của Trung Quốc.Việt Nam chỉ là bạn hàng thứ 27 của Trung Quốc, cán cân thơng mại là âm đối với Việt Nam từ
1991 đến nay
Phơng thức mậu dịch ngày càng phong phú và đa dạng, phù hợp với điều kiện hoàn cảnhcủa hai bên và ngày càng tuân theo các luật lệ tập quán buôn bán quốc tế Giai đoạn 1991-1992hai bên chủ yếu áp dụng phơng thức mậu dịch hàng đổi hàng tại các cửa khẩu biên giới Từ saunăm 1992 cùng với việc ký kết Hiệp định hợp tác nghiệp vụ ngân hàng 2 nớc, hai bên đã tiểnkhai các phơng thức mậu dịch theo L/C hoặc các hình thức mậu dịch thanh toán qua ngân hàng
Từ năm 1994 hai bên mở rộng sang các phơng thức mậu dịch mậu dịch gia công, mậu dịch
chuyển khẩu "tạm nhập tái xuất", góp phần nâng cao kim ngạch 2 chiều của các bên.
Tỷ lệ các vụ tranh chấp, khiếu nại trong quan hệ buôn bán hai nớc ngày càng giảm.Cùng với việc hai nớc công bố hàng loạt các biện pháp quản lý và hỗ trợ các loại hình mậu dịchddi vào nề nếp, các đối tác tham gia trao đổi mậu dịch giữa hai nớc cũng thay đổi về thànhphần Tỷ lệ các t thơng, nhờng chỗ cho các đơn vị ngoại thơng Nhà nớc có tiềm lực, có kiếnthức kinh nghiệm buôn bán quốc tế và c ác xí nghiệp, đơn vị sản xuất lớn trực tiếp tham gia trao
đổi hàng hoá giữa hai nớc
2 Thực trạng phát triển quan hệ ngoại thơng Việt-Trung trong giai đoạn 1991-1999:
*Về kim ngạch xuất nhập khẩu
Kể từ năm 1991 trở lại đây, sau khi bình thờng hoá quan hệ, trao đổi thơng mại giữa hainớc Việt Nam- Trung Quốc không ngừng tăng lên, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh
tế của mỗi nớc Kim ngạch xuất nhập khẩu chính ngạch trong giai đoạn 1991- 1998 tăng trởngkhoảng 20%/năm Tốc độ phát triển này là khá cao so với tốc độ phát triển thơng mại giữa ViệtNam với một số nớc khác và đã phần nào chứng minh đợc tiềm năng thơng mại của cả hai phía(Xem bảng sau)
Kim ngạch xuất nhập khẩu giữa hai nớc trong giai đoạn 1991- 1998
( Nguồn: Thống kê của hải quan Việt Nam )
Trong giai đoạn 1991- 1999, xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam với Trung Quốctăng đều hàng năm Nếu năm 1991, Việt Nam mới xuất khẩu sang Trung Quốc 19,3 triệu USD
và nhập khẩu 18,4 triệu USD thì đến năm 1997 con số này đã đạt 474,1 triệu USD và 404,4triệu USD tơng ứng Mức tăng đều hàng năm cho thấy khả năng duy trì tốc độ trao đổi thơngmại giữa hai bên khá tốt, luồng hàng lu thông hàng hóa giữa hai phía ngày càng tăng thể hiệntrong việc kim ngạch xuất nhập khẩu ngày càng cao Tuy nhiên, năm 1996, kim ngạch trao đổithơng mại giữa hai nớc có giảm nhẹ, từ 691,6 triệu USD năm 1995 xuống còn 669,2 triệu USD(bằng 96,7%) Năm 1998, mặc dù có cuộc khủng hoảng tài chính Châu á - tuy không trực tiếpgây ra những thiệt hại lớn về tài chính, kinh tế đối với Việt Nam song đã ít nhiều làm ảnh h ởngtới quan hệ trao đổi thơng mại giữa Việt Nam với các nớc, nhất là các nớc cùng Châu lục, nhng
Trang 3quan hệ thơng mại giữa Việt Nam và Trung Quốc vẫn tăng lên, từ 878,5 triệu USD năm 1997lên 989,4 triệu USD So sánh con số kim ngạch xuất khẩu và kim ngạch xuất khẩu cho thấy ViệtNam trong cả giai đoạn vừa qua đều xuất siêu sang Trung Quốc tuy số lợng không lớn và xét vềtổng thể thì cán cân thơng mại giữa hai nớc trong giai đoạn vừa qua là khá cân bằng Riêng năm
1997, Việt Nam xuất siêu sang Trung Quốc khoảng 70 triệu USD Theo số liệu thống kê mớinhất của Tổng cục hải quan, 8 tháng đầu năm 1999, Việt Nam đã xuất sang Trung quốc đạt kimngạch 478,5 triệu USD và nhập khẩu đạt 383,4 triệu USD, tức là xuất siêu 101,8 triệu USD Tuynhiên, vấn đề là ở chỗ con số thống kê của hải quan Việt Nam và hải quan Trung Quốc khôngtrùng khớp nhau Theo con số của hải quan Trung quốc thì con số xuất siêu trong suốt giai đoạnvừa qua thuộc về phía Trung Quốc Cụ thể nh sau:
* Về cơ cấu xuất nhập khẩu:
- Hàng xuất khẩu:
Trung Quốc là một trong những nớc có nền nông nghiệp- công nghiệp khá phát triểntrong khu vực cũng nh trên thế giới Với thế mạnh là giá rẻ, công nghệ sản xuất khá tiên tiến,mẫu mã đẹp sản phẩm của Trung Quốc không chỉ có u thế ở thị trờng Châu á mà còn chiếmlĩnh đợc thị trờng các nớc Châu Âu và Châu Mỹ Một trong những khó khăn của Việt Nam khixuất khẩu hàng sang Trung Quốc là: những mặt hàng là thế mạnh của Việt Nam nh gạo, chè, càphê và một số sản phẩm nông nghiệp khác cũng là thế mạnh của Trung Quốc nên những mặthàng này rất khó mở rộng thị trờng, nâng cao số lợng tiêu thụ tại nớc này
Trong giai đoạn đầu sau khi bình thờng hóa quan hệ giữa hai nớc, hàng xuất khẩu củaViệt Nam sang Trung Quốc chủ yếu là nông sản và một vài loại khoáng sản có thế mạnh nhquặng crôm, dầu thô Tuy nhiên, các sản phẩm này chủ yếu là nguyên liệu thô cha qua chế biến,loại hàng công nghiệp tiêu dùng chiếm một tỷ lệ rất nhỏ Việc nhập khẩu các loại nguyên liệuthô này sẽ giúp Trung Quốc giải quyết đợc khâu nguyên liệu cho các ngành sản xuất, chế biếntrong nớc, tận dụng đợc giá lao động rẻ, tạo đợc nhiều công ăn việc làm cho ngời lao động cũng
nh nâng cao mức đầu t vào từng đơn vị thành phẩm, từ đó nâng cao giá thành sản phẩm Rõràng, cần thiết phải giảm tỷ lệ xuất khẩu nguyên liệu nh trong giai đoạn vừa qua để tận dụngsức lao động sáng tạo trong nớc và những lợi thế khác của Việt Nam, tìm hớng mở rộng thị tr-ờng của hàng Việt Nam trên thị trờng Trung Quốc
Số liệu cụ thể về cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Trung Quốc giai đoạn 1992- 1995
( Nguồn: Thống kê của hải quan Việt Nam )
Nhìn chung các mặt hàng tăng trởng không đều; dầu thô, cao su, hạt điều là những mặthàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất trong giai đoạn này Các mặt hàng này đều đợc xuất dớidạng nguyên liệu nên giá trị tận dụng đợc giá trị sản phẩm, trị giá xuất khẩu cha cao Vì vậy, đểnâng cao kim ngạch xuất khẩu các doanh nghiệp phải nâng cao khối lợng hàng xuất Đây là mộttrong những khó khăn chung của ngành thơng mại Việt Nam Rõ ràng, để nâng cao giá trị xuấtkhẩu cần nâng cao khối lợng hàng đã qua chế biến, giảm nguyên liệu thô, khai thác hợp lý vàkhông làm cạn kiệt nguồn tài nguyên thiên nhiên Hớng đi này nên áp dụng trong mọi quan hệthơng mại giữa Việt Nam với các nớc khác, trong đó có Trung Quốc
Trong giai đoạn 1996- 1999, giá trị kim ngạch xuất khẩu sang Trung Quốc tăng lên
đáng kể so với giai đoạn trớc Các sản phẩm cây công nghiệp nh cà phê, cao su, hạt điều vẫnchiếm một phần đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu Bên cạnh đó, một số mặt hàng khác nhhàng dệt may, hải sản cũng đã bớc đầu thâm nhập đợc thị trờng Trung Quốc
Trang 4Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 1996- 1999
( Nguồn: Thống kê của hải quan Việt Nam )
Đáng chú ý là dầu thô ngày càng chiếm tỷ trọng lớn trong kim ngạch xuất khẩu sangTrung Quốc nói riêng và trong kim ngạch xuất khẩu nói chung và tăng đều hơn so với giai đoạntrớc Nếu nh năm 1993 kim ngạch xuất dầu thô là 31,722 triệu USD, năm 1994 giảm xuống rấtthấp còn 7.600.000 USD thì năm 1996 con số này là 16 671.913 USD và tăng lên đến141.371.655 USD Trong khi đó, kim ngạch xuất khẩu than đá dờng nh có xu hớng giảm mạnh
do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ 28.693.603 USD (1996) xuống chỉ còn 5.227.000 USD.Nhìn chung trong giai đoạn 1996- 1999, cơ cấu hàng xuất khẩu sang Trung Quốc của Việt Nam
đã có những biến chuyển bớc đầu Tỷ lệ hàng nguyên liệu đã qua chế biến và hàng công nghiệptiêu dùng đã tăng lên đáng kể Một số mặt hàng nh cao su, dầu thô, hải sản, hàng rau quả, hạt
điều, than đá đã chiếm một tỷ trọng đáng kể trong tổng xuất khẩu của cả nớc
Tỷ trọng của một số mặt hàng xuất khẩu sang Trung Quốc trong tổng số các mặt hàng xuất khẩu tơng ứng của Việt nam
Tên hàng Tổng xuất khẩu Xuất khẩu sang
- Lơng thực, gạo, nông sản, các loại gỗ, hoa quả
- Thuỷ hải sản: Thuỷ hải sản tơi sống và đông lạnh, động vật nuôi nh rắn, ba ba, rùa
- Hàng tiêu dùng, đồ gỗ gia dụng, giày dép, xà phòng
Tỷ trọng xuất khẩu của các mặt hàng này khá phân tán, chỉ có một số mặt hàng nh cao
su thiên nhiên, dầu thô là có mức xuất khẩu lớn và khá ổn định Qua bảng thống kê trên đây chothấy, Trung Quốc là một thị trờng lớn có nhu cầu nhập khẩu cao một số mặt hàng từ Việt Namnh: cao su, hạt điều, hàng rau quả, than đá, dầu thô, hải sản Đây cũng là một gợi mở về mặthàng cho các doanh nghiệp Việt Nam nhằm tiếp cận và mở rộng thị phần tại trờng Trung Quốc.Tuy nhiên, chúng ta không thể nâng cao kim ngạch xuất khẩu chỉ bằng cách tăng khối l ợng,nhất là đối với các mặt hàng nh dầu thô, than đá mà phải nâng cao chất lợng, tăng tỷ lệ hàngxuất khẩu đã qua chế biến nhằm hạn chế việc khai thác quá mức nguồn tài nguyên thiên nhiên
và không tính đến yếu tố môi trờng Có nh vậy mới đảm bảo cho sự phát triển bền vững củangành thơng mại nói riêng và kinh tế nói chung
Trang 5* Hàng nhập khẩu:
Nhìn chung, hàng nhập khẩu từ Trung Quốc khá phong phú về chủng loại song chủ yếu
đều là những mặt hàng đã qua chế biến và các sản phẩm công nghiệp Tùy theo nhu cầu củatừng năm, từng giai đoạn mà số lợng nhập khẩu từng mặt hàng tăng hoặc giảm Trong giai đoạn1991- 1995, các mặt hàng nhập khẩu có số lợng lớn là xi măng, kính xây dựng, thép cán, thépxây dựng, ngũ cốc và bột, dợc phẩm, hàng may mặc, dợc phẩm
Cơ cấu hàng nhập khẩu giai đoạn 1991- 1995 đợc thống kê nh sau:
(Nguồn: Tổng cục Hải quan)
Mặc dù con số thống kê qua các năm không đầy đủ song nếu so sánh với kim ngạch vàmặt hàng xuất khẩu có thể thấy sự chênh lệc trong quan hệ thơng mại giữa Việt Nam và TrungQuốc Tuy một vài năm Việt Nam có xuất siêu sang Trung Quốc nhng kim ngạch xuất siêu đóchủ yếu từ số lợng hàng nguyên liệu thô xuất khẩu Trong khi đó, hàng nhập khẩu từ TrungQuốc chủ yếu là các sản phẩm công nghiệp, sản phẩm ông nghiệp đã qua chế biến và đợc nhậpvới giá cao hơn hẳn so với giá nguyên liệu thô xuất khẩu Rõ ràng, cần thiết phải nhanh chóngtăng lợng hàng xuất khẩu đã qua chế biến để tạo thêm công ăn việc làm cho ngời lao động trongnớc, tăng giá trị hàng xuất khẩu
Cơ cấu mặt hàng xuất nhập khẩu giai đoạn 1996-1999
Các mặt hàng máy móc thiết bị nhập khẩu của Trung Quốc nhìn chung chỉ có trình độ
kỹ thuật thấp hoặc trung bình Vì vậy chúng không phù hợp với chính sách nhập khẩu máy mócthiết bị của ta là nhập khẩu những thiết bị, máy móc có kỹ thuật tiên tiến để nâng cao chất lợngsản phẩm và bảo vệ môi trờng sinh thái của đất nớc Vì vậy, cần phải quản lý chặt chẽ hơn nữaviệc nhập khẩu máy móc thiết bị từ thị trờng Trung Quốc Từ năm 1997 trở lại đây chúng ta đãphần nào hạn chế đợc số lợng nhập khẩu đối với nhóm mặt hàng này Các thiết bị toàn bộ chocác nhà máy xi măng lò đứng do chất lợng không cao, khả năng an toàn về mặt môi trờng kémnên từ năm 1997 đã không đợc nhập khẩu Đối với nhóm hàng tiêu dùng nhập khẩu, các sảnphẩm của Trung Quốc đang cạnh tranh rất mạnh mẽ với hàng sản xuất trong nớc, nhiều mặt
Trang 6hàng thuộc nhóm này có xu hớng "lấn át" so với hàng trong nớc sản xuất do giá cả rất rẻ Nhìnchung các mặt hàng này có chất lợng không cao và chủ yếu là sản phẩm của các địa phơng.Thực tế này đặt các nhà hoạch định chính sách và doanh nghiệp trong nớc trớc vấn đề làm thếnào để hạn chế lợng hàng nhập khẩu loại này từ Trung Quốc, đồng thời nâng cao chất lợng sảnphẩm trong nớc, hạ giá thành để tăng tính cạnh tranh của các sản phẩm cùng loại trên chính thịtrờng nội địa và khẳng định mình trên thị trờng khu vực cũng nh quốc tế Nhóm hàng nguyênliệu nhập khẩu chủ yếu là các sản phẩm dầu mỏ, hoá chất, sắt thép, thuốc trừ sâu Nhóm hàng l -
ơng thực thực phẩm gồm có bột mỳ, hoa quả, dầu thực vật Các chủng loại hàng nhập khẩu từTrung Quốc khá phong phú và một phần đáng kể đợc nhập khẩu theo đờng tiểu ngạch hoặc điqua biên giới do hoạt động buôn lậu
* Về phơng thức buôn bán
Hoạt động xuất nhập khẩu chính ngạch và tiểu ngạch đều phát triển do đợc sự chú trọngcủa cả hai phía, nhất là sau khi Hiệp định thơng mại đợc ký kết (1991) đã góp phần làm kimngạch buôn bán hai chiều ngày càng tăng lên Bên cạnh đó, trao đổi thơng mại của dân c khuvực biên giới cũng đợc mở rộng và phát triển Đến nay, trên biên giới phía Bắc đã mở 25 cặpcửa khẩu trên bộ, trong đó có 18 cặp theo Hiệp định tạm thời (gồm 4 cửa khẩu quốc tế, 7 cửakhẩu quốc gia, 7 cửa khẩu địa phơng), 7 cặp cửa khẩu mở ngoài hiệp định do sự thỏa thuận của
địa phơng hai bên, trong số này 2 cửa khẩu Ka Long (Móng Cái) và Tân Thanh (Lạng Sơn) hoạt
động nhộn nhịp hơn các cửa khẩu chính Ngoài ra còn có hàng trăm đờng mòn, hàng chục chợ
đờng biên cho dân c hai bên vùng biên giới qua lại giao lu
Đối với hoạt động buôn bán chính ngạch: Đã có bớc phát triển đáng kể kể từ khi quan
hệ hai nớc bình thờng trở lại và chiếm phần lớn trong trao đổi thơng mại hai chiều giữa hai phía.Trong thời kỳ 1991- 1996, xuất nhập khẩu chính ngạch tăng bình quân 103%/năm Giai đoạn
đầu (1991-1993) khi mối quan hệ hai nớc mới bình thờng trở lại, mậu dịch chính ngạch chỉchiếm phần nhỏ so với mậu dịch tiểu ngạch những từ 1994 - 1998, hoạt động buôn bán chínhngạch đã vơn lên và giữ vị trí áp đảo trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu với Trung Quốc Do
đặc thù là Việt Nam và Trung Quốc có chung đờng biên giới trên bộ khá dài (1306 km) nêntrao đổi qua biên giới trên bộ chiếm một phần khá lớn (66%) và diễn ra ở các cửa khẩu quốc tế
và quốc gia Việc giao hàng tại các cảng quốc tế nh Hải Phòng, Sài Gòn, Đà Nẵng cũng đợcthực hiện nhng chỉ chiếm khoảng 34% khối lợng hàng hoá trao đổi giữa hai phía Trong trao đổithơng mại với Trung Quốc, ngoài việc xuất- nhập khẩu hàng qua các cảng biển và các cảng vậntải khác thì trao đổi qua các cửa khẩu ở khu vực biên giới trên bộ diễn ra hết sức mạnh mẽ vàchiếm phần lớn lợng hàng trao đổi của cả hai phía Theo Tổng cục Hải quan thì năm 1997, tổngkim ngạch xuất nhập khẩu của ta qua các cửa khẩu biên giới phía Bắc là 442 triệu USD và trong
6 tháng đầu năm 1998 con số này là 158 triệu USD Điều này cho thấy vai trò hết sức quantrọng của các cửa khẩu biên giới trong quan hệ thơng mại Việt Nam- Trung Quốc Hoạt độngbuôn bán ở cửa khẩu nh Móng Cái, Hữu Nghị, Đồng Đăng, Ka Long diễn ra sôi nổi, xuấtnhập khẩu chính ngạch của ta chiếm 70- 75% trong tổng số kim ngạch xuất nhập khẩu vớiTrung Quốc Các chủ thể tham gia buôn bán chính ngạch với Trung Quốc chủ yếu là các doanhnghiệp Nhà nớc ở các tỉnh biên giới có liên doanh với với các Tổng công ty ở sâu trong nội địa,sau đó hình thành mạng lới kinh doanh bao gồm các doanh nghiệp Nhà nớc ở Trung ơng và cácdoanh nghiệp Nhà nớc ở các địa phơng trong cả nớc cùng tham gia Các hình thức giao dịchtrong buôn bán chính ngạch cũng rất đa dạng và đã áp dụng các phơng thức buôn bán thôngdụng trong thơng mại quốc tế giữa hai nớc nh hợp đồng mua bán Bên cạnh đó, các hình thứcgia công, tạm nhập tái xuất, chuyển khẩu cũng đã bắt đầu đợc thực hiện và có xu hớng gia tăng.Việc áp dụng các phơng thức giao dịch quốc tế thông dụng trong quan hệ thơng mại Việt-Trung cũng là một trong những yếu tố góp phần làm giảm rủi ro, tạo ra sự chắc chắn trongtrong trao đổi buôn bán giữa các doanh nghiệp Có thể thấy rằng, hoạt động xuất nhập khẩuchính ngạch giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn vừa qua đã đạt đợc những kết quả
đáng chi nhận song chính sự nhộn nhịp trong quan hệ này cũng gây nên những khó khăn nhất
định cho hoạt động quản lý của phía Việt Nam Đó chính là sự hỗn loạn, tranh mua tranh bánlàm cho việc quản lý hoạt động thơng mại, nhất là ở khu vực biên giới trở nên rất phức tạp
Đối với hoạt động buôn bán biên mậu:
Cùng với sự phát triển khá nhanh của hoạt động xuất nhập khẩu chính ngạch, hoạt độngbuôn bán biên mậu cũng diễn ra rất sôi động Trong giai đoạn 1991- 1996, buôn bán biên mậutăng bình quân 56%/năm Nhìn chung, buôn bán biên mậu thờng chiếm khoảng 25- 30% tổngkim ngạch xuất nhập khẩu với Trung Quốc Theo thống kê của Tổng cục Hải quan thì năm
1997, tỷ trọng buôn bán biên mậu chiếm 31,25% trong tổng kim ngạch buôn bán hai chiều,năm 1998 con số này là 41,76% Cụ thể:
Trang 7Tỷ trọng buôn bán mậu biên trong tổng kim ngạch buôn bán Việt- Trung
(Theo thống kê của Tổng cục Hải quan)
Số liệu năm 1996 là số của riêng tỉnh Quảng Tây
Số liệu biên mậu của năm 1997, 1998 bao gồm cả 3 tỉnh Vân Nam, Quảng Tây, đảo Hải Nam
Buôn bán biên mậu cũng diễn ra dới nhiều hình thức nh ký kết hợp đồng giữa các cácdoanh nghiệp, đổi hàng trực tiếp giữa các doanh nghiệp và c dân, buôn bán trung gian và thuhút nhiều đối tợng tham gia, từ các công ty Nhà nớc, công ty cổ phần đến các công ty t nhân, cdân vùng biên giới và c dân ở các tỉnh khác Việc thanh toán trong buôn bán biên mậu chủ yếu
là bằng tiền mặt và chủ yếu là bằng đồng Nhân dân tệ, việc áp dụng các hình thức thanh toánquốc tế còn rất ít
Nhìn chung, hoạt động trao đổi thơng mại với Trung Quốc trong thời gian qua còn khákhiêm tốn Một thị trờng đông dân nh Trung Quốc đang là sức hút mạnh mẽ đối với các doanhnghiệp ở nhiều nớc, trong đó có Việt Nam Tuy nhiên, để có thể đứng vững và chiếm lĩnh đợcthị trờng này lại là một trong những vấn đề hết sức khó khăn do những chính sách của TrungQuốc về khuyến khích tiêu dùng hàng nội địa, hạn chế sử dụng sản phẩm ngoại nhập Trongquan hệ thơng mại với Trung Quốc thời gian qua, có thể rút ra những điểm thuận lợi và khókhăn dới đây:
* Kết quả và thuận lợi:
- Quan hệ giữa hai nớc tiếp tục phát triển đã có tác động thúc đẩy quan hệ kinh tế Trung nói chung và quan hệ thơng mại nói riêng Rõ ràng, những thoả thuận giữa các nguyênthủ quốc gia và lãnh đạo cao cấp của hai Nhà nớc về các vấn đề biên giới trên bộ và Vinh Bắc
Việt-Bộ, việc ký kết các hiệp định thơng mại, hiệp định biên mậu chính là cơ sở tạo sự ổn định cho
sự phát triển quan hệ thơng mại giữa hai nớc, nhất là giao lu kinh tế qua các cửa khẩu
- Hai tỉnh Vân Nam và Quảng Tây ngày càng coi trọng phát triển quan hệ với các nớcláng giềng, trong đó Việt Nam đợc xem là một đối tợng hết sức quan trọng Mới đây, hai tỉnhnày đã có một số chính sách, biện pháp tăng cờng mở cửa, trao đổi kinh tế đối ngoại, trong đóViệt Nam là trọng điểm Họ coi Việt Nam là một thị trờng lớn giúp các tỉnh này xoá bỏ tìnhtrạng tụt hậu quá xa về kinh tế so với các tỉnh duyên hải của họ Việc các tỉnh giáp biên giớiViệt Nam tăng cờng và mở rộng hợp tác với các nớc, trong đó có Việt Nam cũng là một điềukiện thuận lợi có thể mở ra một bớc phát triển mới trong quan hệ giữa hai nớc nói chung và cáctỉnh biên giới của hai bên nói riêng
- Việt Nam tiếp tục chính sách hội nhập, đa dạng hoá, đa phơng hoá hơn nữa quan hệkinh tế đối ngoại, tạo thế đứng mới cho giao lu kinh tế của ta với Trung Quốc qua các cửa khẩuphía Bắc Việc hội nhập vào hoạt động kinh tế khu vực và thế giới sẽ góp phần giúp các doanhnghiệp Việt Nam nâng cao sức sản xuất, chất lợng sản phẩm, có thể cạnh tranh tốt hơn với hànghoá Trung Quốc, từ đó cải thiện một phần cán cân và cơ cấu xuất khẩu hàng sang Trung Quốccủa ta hiện nay
- Trung Quốc đang tiếp tục đi sâu mở cửa cải cách và có một số chính sách thuận đối vớiViệt Nam trong giao lu kinh tế qua các cửa khẩu với Trung Quốc Những chính sách của TrungQuốc đang tạo lập một luật chơi bình đẳng cho các doanh nghiệp trong nớc Chính phủ TrungQuốc đã dần xóa bỏ một số chính sách u đãi về thuế trớc đây dành cho các tỉnh biên giới, cácvùng mở cửa kinh tế Nh vậy, các doanh nghiệp thuộc các tỉnh biên giới Trung Quốc sẽ mất đinhững u đãi về thuế, tài chính , làm giảm tơng đối sức cạnh tranh trong quan hệ thơng mại nóiriêng và trong giao lu kinh tế với Việt Nam nói chung
- Xu thế hợp tác tiểu khu vực, liên kết kinh tế tiếp tục phát triển đã tác động và làm thay
đổi bộ mặt của việc giao lu trao đổi hàng hoá qua các cửa khẩu phía Bắc Các nớc trong khuvực mong muốn xây dựng một vành đai vòng cung kinh tế Hà Nội- Quảng Ninh- Hải phòng,Trung Quốc thúc đẩy mạnh mẽ việc xây dựng vòng cung kinh tế Vịnh Bắc Bộ (bao gồm QuảngTây, Hải Nam) Trong tơng lai, nếu hình thành các khu vực trên đây sẽ đẩy mạnh giao lu kinh
tế gia Quảng tây với Miền Bắc nớc ta
Mặc dù có những thuận lợi có thể tạo tiền đề cho việc phát triển quan hệ thơng mạiViệt- Trung, song trên thực tế còn rất nhiều vấn đề khó khăn, những tồn tại cần đ ợc khắc phục
để thúc đẩy hơn nữa trao đổi thơng mại giữa hai nớc
* Những tồn tại và khó khăn:
Trang 8Mặc dù tốc độ tăng trởng kim ngạch xuất nhập khẩu hai nớc tăng nhanh nhng con sốnày chỉ chiếm một tỷ trọng rất khiêm tốn trong tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của mỗi nớc.
Đối với Việt Nam, xuất nhập khẩu với Trung Quốc chiếm khoảng 10% tổng kim ngạch xuấtnhập khẩu; đối với phía Trung Quốc con số này còn cha đạt 1% Rõ ràng, đây là con số hết sứcnhỏ bé, cha xứng với tiềm năng của cả hai phía
Cán cân thơng mại còn có những điểm cha hợp lý, nhất là đối với phía Việt Nam Điềunày thể hiện ở việc nhập siêu của Việt Nam ngày càng tăng, gây nên những bất lợi cho việc thúc
đẩy quan hệ mậu dịch phát triển đồng đều, cân bằng
Cơ cấu hàng xuất nhập khẩu với Trung Quốc còn có bất lợi cho phía Việt Nam Hànghoá xuất khẩu sang Trung Quốc của ta mới chỉ dừng ở nguyên liệu thô, dễ quản lý, các sảnphẩm tinh chế còn ít dẫn đến việc khối lợng hàng xuất có thể lớn nhng giá trị xuất khẩu chacao Điều này gây nên những bất lợi cho phía ta nh không tận dụng và tạo đợc công ăn việc làmcho nguồn nhân lực trong nớc, khai thác không hợp lý và không hiệu quả nguồn tài nguyênthiên nhiên Trong khi đó, sản phẩm nhập khẩu từ Trung Quốc chủ yếu là hàng tiêu dùng, cácsản phẩm đã qua chế biến, cá mặt hàng đa dạng hơn, số lợng nhiều nhng phân tán, khó quản lý.Nhìn chung chất lợng hàng hoá trao đổi giữa hai nớc thờng có phẩm cấp thấp, nhất là hàngTrung Quốc Hầu hết hàng hoá này đều là sản phẩm của các địa phơng, chất lợng không cao.Trong buôn bán biên giới, tình trạng hàng giả, hàng kém chất lợng vẫn chiếm một tỷ trọng khálớn, gây những ảnh hởng không tốt đối với ngời tiêu dùng
Buôn lậu trên bộ và trên biển giữa hai nớc trong giai đoạn vừa qua là một trong nhữngvấn đề cả hai bên cùng quan tâm Tình trạng buôn lậu không có chiều hớng thuyên giảm màngày càng trở nên trầm trọng hơn, gây khó khăn cho việc quản lý khu vực biên giới, làm hỗnloạn thị trờng và ảnh hởng tới sự phát triển kinh tế của mỗi nớc
Việc Trung Quốc nới rộng quyền tự chủ cho các địa phơng để họ chủ động làm ăn vớiViệt Nam cho phù hợp với điều kiện của các tỉnh này; đồng thời coi Việt Nam nh một thị trờng
bổ sung, hỗ trợ, chỉ có vai trò quan trọng đối với các khu vực giáp biên giới, vùng sâu vùng xacủa Trung Quốc mà không phải là thị trờng chính sẽ làm cho Trung Quốc ít chú trọng, thiếuchủ động cũng nh ít tăng cờng và khuyến khích các doanh nghiệp của họ làm ăn với Việt Nam
Điều này sẽ là một khó khăn rất lớn cho phía Việt Nam trong việc mở rộng quan hệ kinh tế, th
-ơng mại với Trung Quốc
Trung Quốc đang tích cực đàm phán để gia nhập WTO, mở rộng quan hệ với các nớctrong khu vực và thế giới Việc họ trở thành thành viên chính thức của WTO, cam kết đến năm
2000 sẽ hạ biểu thuế xuống mức 15% sẽ có những tác động đến luồng hàng vào Việt Nam Điềunày thể hiện ở chỗ, với mức thuế suất thấp, nhiều sản phẩm của các nớc khác sẽ vào Việt Namqua đờng Trung Quốc gây khó khăn cho sản xuất trong nớc của ta và nếu không có chính sáchquản lý chặt chẽ thì nguồn nhập khẩu này cũng góp phần làm mất bình ổn thị trờng trong nớc,
ảnh hởng tới sự phát triển thơng mại, kinh tế
Tóm lại, xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn 1991- 1998 đã
có những bớc tiến đáng kể Tuy nhiên, sự phát triển này vẫn cha thực sự phản ánh hết tiềm năngcủa cả hai phía Không những thế, trong quan hệ thơng mại với Trung Quốc, phía Việt Nam cònphải chịu những bất lợi Để phát triển quan hệ thơng mại Việt - Trung, cần thiết phải có sự nỗlực của cả hai phía bằng những chính sách khuyến khích hợp lý, tạo điều kiện thoả đáng để cácdoanh nghiệp, cá nhân- không chỉ ở khu vực biên giới- có thể mở rộng quan hệ, tìm đối tác đểtăng cờng quan hệ buôn bán giữa hai phía Ngoài nỗ lực của các địa phơng, các doanh nghiệpthì những thoả thuận cấp cao của lãnh đạo Đảng và Nhà nớc chính là yếu tố quan trọng- nếukhông muốn nói là quyết định- góp phần nâng cao vai trò của thị trờng mỗi bên- cùng với việcban hành các chính sách, pháp luật sẽ tạo cơ sở pháp lý để phát triển quan hệ thơng mại giữa hainớc
3 Tình hình đầu t của Trung Quốc vào Việt Nam trong giai đoạn 1991 - 1998
Hoạt động đầu t (kể cả đầu t trực tiếp và gián tiếp) của Trung Quốc vào Việt Nam đã
đ-ợc phục hồi và tăng lên rõ rệt kể từ khi quan hệ hai nớc bình thờng trở lại Số dự án đầu t trựctiếp tính đến năm 1997 là 56 dự án với tổng vốn đăng ký 88 triệu USD Hoạt động đầu t trựctiếp của Trung Quốc vào Việt Nam cũng đã góp phần vào việc giải quyết công ăn việc làm chongời lao động, đồng thời đóng góp vào nguồn thu ngân sách bằng trách nhiệm đóng thuế, phítheo quy định của pháp luật Theo số liệu thống kê của Bộ Kế Hoạch và Đầu t, số ngời lao độnglàm việc trong các dự án đầu t trực tiếp của Trung Quốc tại Việt Nam là 1630 ngời, nộp ngânsách Nhà nớc 21007 nghìn USD Doanh thu của các xí nghiệp này là 23.598 nghìn USD, trong
đó trị giá xuất khẩu là 2591 nghìn USD và giá trị bán trong n ớc là 21005 nghìn USD Riêng
Trang 9trong năm 1997, Trung Quốc đã có 11 dự án đầu t trực tiếp vào Việt Nam đợc cấp giấy phép vớitổng vốn đăng ký là 22,9 triệu USD So với thời kỳ 1991- 1992, những năm gần đây đầu t củaTrung Quốc vào Việt Nam tăng trởng với tốc độ nhanh hơn Tuy nhiên, so với các nớc lân cận
nh Singapore, Hàn Quốc thì lợng vốn đầu t của Trung Quốc vào Việt Nam còn rất khiêm tốn.Trong điều kiện Việt Nam đang có những chính sách khuyến khích đầu t nớc ngoài, mở cửakinh tế và với tiềm năng kinh tế của Trung Quốc thì khối lợng đầu t của Trung Quốc vào ViệtNam còn cha đáng kể và cha tơng xứng với tiềm năng của cả hai nớc Tính đến 10/3/1998, tổng
số vốn đầu t trực tiếp đang thực hiện của Trung Quốc là 30984 nghìn USD, trong đó năm 1991
là 1975 nghìn USD, năm 1992 là 4196 nghìn USD và năm 1993 là 5627 nghìn USD
Nhìn chung trong giai đoạn 1991- 1999, đầu t của Trung Quốc vào Việt Nam cha nhiều,chủ yếu là các dự án nhỏ, tập trung chủ yếu vào một số lĩnh vực dịch vụ và công nghiệp nhỏ,mặc dù hai bên đã tạo điều kiện thuận lợi cho các xí nghiệp lớn tham gia hợp tác kinh tế, đầu t
Đến cuối năm 1997, các doanh nghiệp Trung Quốc đã đầu t 41 hạng mục công trình ở ViệtNam với tổng kim ngạch ớc tính 102 triệu USD, đứng thứ 21 trong tổng số các nớc và lãnh thổ
đầu t vào Việt Nam Cho tới nay, dự án đầu t lớn nhất của Trung Quốc vào Việt Nam là dự ánxây dựng khu chế xuất Linh Trung ở thành phố Hồ Chí Minh với vốn đầu t của cả hai phía là 14triệu USD, tiếp đó là nhà máy thép Hải Phòng với vốn đầu t là 9,7 triệu USD Tính đến nay,phía Việt Nam đã cấp giấy phép cho 76 dự án đầu t của Trung Quốc với tổng số vốn trên 130USD Nếu tính cả Hồng Kông thì số dự án đợc cấp giấy phép là 375 dự án với tổng số vốn 3,35
tỷ USD Phần lớn các dự án này đều có quy mô nhỏ với vốn bình quân xấp xỉ 2 triệu USD Từ
đầu năm 1999 đến nay, Trung Quốc có 11 dự án đầu t vào Việt Nam với tổng số vốn 9 triệuUSD Nếu so sánh với quan hệ thơng mại giữa hai nớc thì tình hình đầu t phát triển chậm hơn.Tuy nhiên, Trung Quốc không chỉ đầu t trực tiếp vào Việt Nam mà còn có các khoản đầu t giántiếp khác nh viện trợ phát triển, cho vay không lãi Năm 1992, Chính phủ Trung Quốc đã kýHiệp định viện trợ cho Việt Nam 80 triệu NDT dùng để cải tạo, nâng cấp Nhà máy phân đạmBắc Giang, nhà máy dệt 8/3 Sau 8 năm triển khai, đến nay có 3 dự án sử dụng khoản vay nàyvới tổng số vốn 50 triệu NDT bao gồm nhà máy phân đạm Bắc Giang (17,5 triệu NDT); nhàmáy dệt 8/3 (17,5 triệu NDT); dự án công trình thủy điện nhỏ cho các tỉnh phía Bắc (15 triệuNDT) đã thực hiện xong, trong khi đó 3 hạng mục là Công ty Cao su Sao Vàng 12,6 triệu NDT;nhà máy tráng men Hải Phòng 6,2 triệu NDT và nhà máy sứ Hải Dơng 11,2 triệu NDT đangtrong quá trình triển khai Năm 1994, Trung Quốc thỏa thuận giúp Việt Nam cải tạo và mở rộngNhà máy gang thép Thái Nguyên Các hạng mục này đang đợc tiến hành, một số hạng mục đã
đi vào sản xuất Có thể nói, về cơ bản, khoản vay không lãi 80 triệu NDT đã đợc giải ngân xong
và các dự án đã đi vào sản xuất bớc đầu Khoản vay không lãi 200 triệu NDT từ năm 1997 vẫn
đang trong quá trình triển khai và đợc phân bổ cho 6 dự án bao gồm cải tạo, hiện đại hóa dâychuyền sản xuất glucoza; nhà máy gỗ nhân tạo Thái Nguyên; Nhà máy dệt Nam Định; công tydệt Phú Thọ; Công ty dệt 19-5 Hà Nội; Công ty xây dựng công trình giao thông 6 Trong số các
dự án này, dự án Nhà máy gỗ nhân tạo Thái Nguyên và Công ty xây dựng công trình giao thông
6 có tính khả thi cao, các dự án khác đang ở trong quá trình thảo luận hợp đồng Trong năm
1998 và 1999, Trung Quốc cũng cung cấp cho Việt Nam hai khoản viện trợ không hoàn lại 10triệu NDT (1998) và 20 triệu NDT (1999) Khoản viện trợ 10 triệu NDT đợc phân bổ cho dự ánxây dựng nhà ở học viên của học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh Hiện nay khoản viện trợnày đang đợc hai bên cùng bàn bạc để tìm phơng án giải ngân Trong thời gian qua, phía ViệtNam đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp Trung Quốc tham gia đấu thầu và trúng thầu hạngmục cải tạo nhà máy sinh hoạt Hải Phòng Hiện nay các đối tác Trung Quốc cũng đang thamgia đấu thầu xây dựng nhà máy nhiệt điện Na Dơng và nhà máy nhiệt điện Cao Ngạn Với chínhsách đổi mới kinh tế và đang trong quá trình đổi mới công nghệ, Trung Quốc rất quan tâm tớiviệc liên doanh giữa các doanh nghiệp Trung Quốc và doanh nghiệp Việt Nam nhằm sản xuấthàng hoá để tiêu thụ tại chỗ hoặc xuất khẩu Mặc dù vậy, cho đến nay đầu t (trực tiếp và giántiếp) của Trung Quốc vào Việt Nam vẫn cha tơng xứng với tiềm năng kinh tế của Trung Quốccũng nh nhu cầu tiếp nhận đầu t của phía Việt Nam Có thể nhận thấy rằng, đầu t của TrungQuốc vào Việt Nam trong giai đoạn vừa qua chủ yếu là nhằm nâng cấp một số công trình doTrung Quốc xây dựng trong giai đoạn trớc Trong khi đó, đầu t của Trung Quốc vào các lĩnhvực kinh tế nh nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ còn rất hạn chế hoặc nếu có thì vốn đầu t th-ờng đạt mức nhỏ hoặc trung bình, số dự án đầu t có quy mô lớn hầu nh cha có
4 Tình hình du lịch Việt Nam- Trung Quốc
Trang 10Việt Nam và Trung Quốc có quan hệ mật thiết lâu đời trên nhiều lĩnh vực, trong đó có
du lịch Năm1994, hai nớc thiết lập quan hệ chính thức về du lịch và đã ký kết Hiệp định hợptác du lịch Việt- Trung với nội dung chủ yếu sau:
- Khuyến khích phát triển và hợp tác du lịch giữa hai nớc, ủng hộ các doanh nghiệp dulịch 2 nớc, thiết lập và phát triển quan hệ nghiệp vụ du lịch
- Hai bên khuyến khích các doanh nghiệp du lịch tiến hành hợp tác du lịch và đầu t theoluật đầu t của mỗi nớc
- Hai bên ủng hộ các công ty du lịch của nớc mình, tổ chức khách du lịch của nớc thứ 3
đi du lịch tại nớc bên kia
Kết quả là, trong năm 1994, việc khai thông các cửa khẩu quốc tế Đồng Đăng (LạngSơn) với Nam Ninh (Trung Quốc) đã làm tăng nhanh lợng khách quốc tế bằng đờng bộ và pháthuy các tuyến du lịch liên quốc gia Chỉ tính riêng ngày 17/4/1994, ngày mở cửa khẩu quốc tếMóng Cái- Đông Hng và thông cầu Bắc Liên nối liền biên giới Việt- Trung, đã có khoảng 6 vạnlợt ngời Trung Quốc sang thăm Móng Cái- Trà Cổ và hơn một vạn lợt ngời Việt Nam sang thăm
Đông Hng Mặt khác, Việt Nam- Trung Quốc không chỉ khai thông cửa khẩu Móng Cái mà cònkhai thông cửa khẩu Lạng Sơn Theo quy hoạch của ngành du lịch Việt Nam, Lạng Sơn làtuyến du lịch quan trọng thứ 2 ở khu vực phía Bắc, có vị trí địa lý thuận tiện, có tiềm năng tàinguyên du lịch phong phú, là nơi có nhiều danh lam thắng cảnh và di tích lịch sử, có nền vănhoá phong phú và đậm đà bản sắc dân tộc nên đủ điều kiện để phát triển thành trung tâm dulịch trong nớc và quốc tế Đặc biệt sau khi Việt Nam- Trung Quốc ký kết Hiệp định về du lịch,
số lợng khách tới Lạng Sơn tăng lên nhanh chóng Nhiều hình thức du lịch mới cũng xuất hiện
Từ năm 1994 đến nay, Việt Nam và Trung Quốc đã ký nhiều văn bản, hiệp định và kế hoạchhợp tác Nói chung, hầu hết nội dung của Hiệp định đã đợc triển khai.Nhiều địa phơng của ViệtNam đã thiết lập và ký kết văn bản thoả thuận với địa phơng phía Trung Quốc về trao đổikhách, khai thông tuyến du lịch đờng biển Nhờ có những chính sách u đãi này, số khách dulịch Trung Quốc và Việt Nam đã tăng đáng kể (xem bảng dới)
Số khách Trung Quốc vào Việt Nam qua các năm
Lợng
khách
17.509 14.381 62.640 377.555 405.271 420.743 480.000
(Nguồn: Tổng cục du lịch Việt Nam)
Trong thời gian tới, Việt Nam và Trung Quốc dự định có phơng hớng hợp tác nh:
-Thúc đẩy Cục du lịch Quốc gia Trung Quốc đa Việt Nam vào danh sách thị trờng đakhách của Trung Quốc
-Mở rộng địa bàn các tỉnh đợc tổ chức phục vụ khách du lịch Trung Quốc và khách ViệtNam bằng Thẻ du lịch (Hà Tây, Hà Nam, Ninh Bình, Thanh Hoá )
-Mở rộng hình thức cấp thị thực tại cửa khẩu cho khách du lịch của Trung Quốc vàkhách du lịch nớc thứ ba từ Trung Quốc sang Việt Nam du lịch
-Tạo điều kiện cho các địa phơng đã tiến hành hợp tác du lịch biên giới với các địa
ph-ơng của Trung Quốc, tổ chức các cuộc giao ban giữa hai bên nhằm giải quyết vớng mắc, tạo
điều kiện tăng cờng hợp tác du lịch
-Tăng cờng trao đổi thông tin giữa Tổng cục Du lịch Việt Nam và Cục Du lịch Quốc giaTrung Quốc
-Tiếp tục tăng cờng hợp tác phát triển du lịch sinh thái, quản lý khách sạn ; hợp táctuyên truyền du lịch của nớc kia tại thị trờng nớc mình theo Kế hoạch hợp tác 1999-2000 đãký
II Một số chính sách phát triển kinh tế thơng mại của Trung Quốc trong giai đoạn cải cách kinh tế
A Vị trí, vai trò của Trung Quốc trên trờng quốc tế
- Trung Quốc là nớc có tỷ lệ tăng trởng cao trên thế giới:
Từ khi các cuộc cải cách kinh tế của Trung Quốc đợc khởi xớng trong những năm cuối1970- bắt đầu bằng chính sách mở cửa thì Trung Quốc đã đạt kỷ lục tăng trởng kinh tế cao từnăm 1978 Từ năm 1978 đến năm 1997, nhịp độ tăng trởng kinh tế trung bình hàng năm củaTrung Quốc là 9,8% Trong các năm 1993-1997, mức tăng trởng hàng năm là 11%, cùng trongthời kỳ đó, nếu so với mức tăng bình quân hàng năm của kinh tế thế giới là 3,7%
Năm 1998, do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tiền tệ Châu á, nhịp độ tăng trởng kinh
tế Trung Quốc có sút giảm chút ít, song vẫn là nớc tăng trởng nhanh nhất thế giới Do vậy đã
Trang 11cho phép Trung Quốc tiến kịp với các nớc lân cận Châu á tiên tiến Sự thành công của cácchính sách này cũng cho phép Trung Quốc gây tác động có ý nghĩa đến nền kinh tế thế giới
- Trung Quốc là nơi thu hút đầu t nớc ngoài:
Trung Quốc xếp vào hàng thứ 11 trong những nớc có ngành thơng mại lớn nhất thế giới
và là điểm đến của đầu t trực tiếp nớc ngoài Sự tăng trởng kinh tế của Trung Quốc đã có tácdụng hữu ích đến khu vực Đông Nam á Sự hội nhập kinh tế to lớn đợc đánh dấu bởi sự tăng tr-ởng các dòng chảy đầu t và thơng mại diễn ra giữa Trung Quốc và các nớc lân cận Sự tăng tr-ởng ngày càng tăng của sự hội nhập là với các nền kinh tế khác nhau Điều này phụ thuộc vàolịch sử, chính trị đất nớc và các quan hệ kinh tế với Trung Quốc cũng nh là cấp độ phát triển vàcác nguồn tài nguyên thiên nhiên
- Trung Quốc là thị trờng xuất nhập khẩu của thế giới:
Đối với Châu á, Trung Quốc là một thị trờng xuất khẩu lớn hơn nguồn nhập khẩu Mặtkhác, các nền kinh tế công nghiệp hoá mới Trung Quốc (Hồng Kông và Đài Loan) là một bạnhàng thơng mại khá quan trọng của Trung Quốc Các nớc trong khối NIE của Trung Quốcchiếm 25% trong tổng ngạch thơng mại của Trung Quốc, trong khi Châu á chỉ chiếm 5%
Với việc tiến hành cải cách kinh tế và mở rộng quan hệ đối ngoại với các nớc TrungQuốc đạt đợc những thành tựu hết sức to lớn trong công cuộc phát triển kinh tế Quá trình cảicách và phát triển ở Trung Quốc không chỉ là bớc ngoặt đối với nớc này mà còn có tác động tolớn đến tiến trình tự do hoá thơng mại toàn cầu
B Một số chính sách phát triển kinh tế thơng mại của Trung Quốc trong giai đoạn cải cách kinh tế:
1.Chính sách cải cách kinh tế của Trung Quốc ở các vùng đặc khu duyên hải
Vùng đặc khu duyên hải của Trung Quốc đợc coi là nơi có kinh tế phát triển, bởi ở đây
có nhiều Thành phố, Hải cảng thông thơng với thế giới nh: Bán đảo Triều Tiên, Nhật Bản, ĐàiLoan v.v.Vì vậy, tiềm năng mở rộng quan hệ kinh tế với bên ngoài là rất lớn Các đặc khuduyên hải của Trung Quốc vẫn đợc thế giới đánh giá là nơi hấp dẫn về đầu t ở đây Trung Quốcchú trọng cải thiện môi trờng đầu t, cơ sở hạ tầng, giao thông tạo môi trờng thuận lợi cho việctiếp nhận đầu t và kỹ thuật từ nớc ngoài Để làm đợc việc đó Trung Quốc đã phải điều chỉnhhoàn thiện hệ thống luật, chính sách cũng nh phong cách làm việc, quản lý Các chính sách u
đãi đặc của Trung Quốc đợc thể hiện về các mặt hành chính, pháp quyền, tài chính, thuế, hảiquan, ngoại thơng
Trên cơ sở kinh nghiệm thu đợc từ các đặc khu kinh tế, năm 1984 Trung Quốc lại quyết
định mở ra thêm 14 thành phố mở cửa ven biển Căn cứ vào đặc điểm của các thành phố này, cóthể chia thành bốn loại hình lớn sau:
- Loại hình tổng hợp gồm 3 thành phố kinh doanh, là Thiên Tân, Thợng Hải, QuảngChâu
- Loại hình thơng mại gồm 3 thành phố là Đại Liên, Thanh Đảo và Ninh Ba
- Loại hình cơ sở gồm 6 thành phố kinh doanh nguyên liệu, năng lợng là Phúc Châu, ÔnChâu, Nam Thông, Yên Đài, Trạm Giang, Bắc Hải
-Loại hình cảng vận tải gồm hai thành phố có giao thông thuỷ bộ và bến cảng tốt là LiênVân Cảng (tỉnh Giang Tô) và Tân Hoàng Đảo (tỉnh Hà Bắc)
Mặt khác, để đẩy mạnh quan hệ kinh tế đối ngoại thu hút vốn đầi t nớc ngoài với các
n-ớc láng giềng, từ tháng 3 năm 1992 đến nay, Quốc vụ viện Trung Quốc đã quyết định thành lập
13 thành phố mở cửa ven biên giới Đó là những khu vực đặc biệt có chức năng t ơng tự nh cáccảng tự do, khu mậu dịch tự do vừa làm nhiệm vụ chế biến hàng hoá xuất khẩu vừa kinh doanhngoại thơng Mời ba khu này gồm 12 khu ở các cảng ven biển và 1 khu ở cảng sông đã đi vàohoạt động Có thể nói rằng với chính sách đổi mới của Trung Quốc đã góp phần làm thay
đổi bộ mặt của khu vực này
2 Chính sách xuất nhập khẩu của Trung Quốc:
Bên cạnh việc tạo điều kiện thuận lợi cho các vùng duyên hải phát triển kinh tế, TrungQuốc đã xây dựng chính sách xuất nhập khẩu của mình chia thành 6 khu vực nh: Hồng Kông,Nhật, Bắc Mỹ, Tây Âu, SNG, Đông Âu và Đông Nam á, 6 khu vực này chiếm khoảng 80%tổng kim ngạch xuất khẩu của Trung Quốc Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng chủ chơng pháttriển các thị trờng Mỹ La Tinh, Châu Phi để mở rộng thị trờng xuất khẩu, tăng thị phần củahàng hoá Trung Quốc trong thơng mại thế giới
Trang 12Với chính sách khuyến khích xuất khẩu của mình, Trung Quốc đã áp dụng các biệnpháp nh cho vay u đãi về lãi suất đối với những xí nghiệp mua hàng hoá, vật t phục vụ cho việcxuất khẩu, miễn giảm thuế quan Thậm chí nếu các doanh nghiệp này bị lỗ vốn còn có thể đ ợctreo nợ tại ngân hàng mà thực tế đã có những xí nghiệp đợc Nhà nớc xoá nợ Tất cả các khuyếnkhích trên đều nhằm tăng cờng xuất khẩu và tạo ra ngoại tệ.
Bên cạnh đó, Trung Quốc cũng áp dụng chế độ hoàn thuế xuất khẩu Hoàn thuế giántiếp hàng hoá xuất khẩu là các loại hoàn thuế bao gồm bốn loại thuế, thuế sản phẩm, thuế giá trịgia tăng, thuế doanh thu và đặc biệt là thuế tiêu dùng
Đối với việc áp dụng chế độ này, Quốc vụ viện đã nêu ra yêu cầu phải thực hiện theo
nguyên tắc “thu bao nhiêu hoàn bấy nhiêu”, “hoàn thuế triệt để”, “ cha thu thì không hoàn”.
Những năm gần đây, chính sách hoàn thuế xuất khẩu của Trung Quốc đã đợc bổ xung hoànthiện và từng bớc đi vào hợp lý hoá, chính quy hoá Hiện nay, Trung Quốc đã xác lập một loạtquy định cụ thể về việc hoàn thuế xuất khẩu nh xác định tỷ lệ hoàn thuế, cơ sở và phơng pháphoàn thuế, kỳ hạn và địa điểm hoàn thuế Đồng thời, để đảm bảo chính sách này đợc quán triệtchấp hành, ngành thuế vụ còn hợp tác với các ngành hữu quan để xây dựng một loạt biện phápquản lý hoàn thuế xuất khẩu, trong đó chú trọng hoàn thiện các cơ quan quản lý, chính sáchhoàn thuế và biện pháp quản lý, bảo đảm cho các xí nghiệp ngoại thơng phát triển ổn định
Đồng thời, trong hoạt động ngoại thơng Trung Quốc cũng thực hiện một loạt các cải cách sau
nh áp dụng một số biện pháp thu thuế xuất nhập khẩu Đối với hàng hoá xuất khẩu, nếu hànghoá có doanh thu lớn thì thu thuế điều tiết xuất khẩu, nếu xuất khẩu không có lãi hoặc lợi nhuậndới 7,5% thì không thu Đối với hàng hoá nhập khẩu, trừ các loại hàng hoá đ ợc Nhà nớc phêchuẩn miễn thuế, tất cả các loại khác đều thu thuế hải quan, thuế công thơng; một số ít códoanh thu lớn sẽ nâng cao thuế suất hơn
Trung Quốc cũng thực hiện chế độ hoàn vốn xuất khẩu, điều chỉnh cơ cấu ngành nghềsản xuất, hạ thấp giá thành xuất khẩu, bù lỗ xuất khẩu của xí nghiệp, làm giảm khó khăn vềnguồn vốn kinh doanh, từ đó góp phần củng cố chính sách điều tiết thuế mậu dịch xuất khẩu.Quyền kinh doanh ngoại thơng cũng đợc nới lỏng, mở ra nhiều kênh tiêu thụ, tăng cờng xuấtkhẩu Quyền kinh doanh ngoại thơng cũng đợc nới lỏng, mở ra nhiều kênh tiêu thụ, tăng cờngxuất khẩu Chính vì vậy, các xí nghiệp ngoại thơng đã tách khỏi sự phụ thuộc vào các ngànhquản lý hành chính ngoại thơng, quyền kinh doanh đã đợc nới lỏng, xí nghiệp đợc tự hạch toánkinh doanh, tự chịu lỗ lãi, trở thành thực thể kinh tế độc lập, tự xây dựng một cơ chế khoán kinh
tế có trách nhiệm, quyền hạn và lợi ích thống nhất, đảm nhận các nhiệm vụ kinh doanh xuấtnhập khẩu ngoại thơng một cách tự chủ theo quy định của Nhà nớc Hiện nay, các xí nghiệpngoại thơng đợc phân loại theo tính chất nghiệp vụ riêng biệt, bao gồm: xí nghiệp chuyên kinhdoanh, xí nghiệp kiêm kinh doanh, xí nghiệp dịch vụ Bắt đầu từ năm 1993, Trung Quốc đãthành lập hơn 4000 công ty ngoại thơng, dành quyền kinh doanh các sản phẩm khoa học kỹthuật có liên quan của 100 viện nghiên cứu khoa học, 925 xí nghiệp sản xuất đợc tự quyền kinhdoanh; hơn 9000 xí nghiệp đầu t ngoại thơng cũng đợc quyền kinh doanh ngoại thơng Ngoài
ra, còn có hơn 70 công ty hợp tác kinh tế kỹ thuật quốc tế cũng có quyền kinh doanh và 23 cửahàng bách hoá lớn và vừa đợc quyền kinh doanh với một số nớc trên thế giới ở nớc ngoài,Trung Quốc cũng thành lập 4.117 công ty mậu dịch và phi mậu dịch ở 120 nớc và khu vực trênthế giới, đã mở rộng phạm vi ngoại thơng sang thị trờng thế giới
Nhà nớc thực thi chính sách khuyến khích tích cực phát triển các loại gia công xuất khẩu
do đó đã trực tiếp thúc đẩy xuất khẩu phát triển Việc coi trọng mậu dịch gia công xuất phát từtình hình cụ thể của Trung Quốc nhằm tận dụng u thế địa lý gần Hồng Kông, có vùng ven biểnthuận tiện và có nguồn lao động dồi dào Vì vậy, chính sách khuyến khích gia công xuất khẩu
có thể giải quyết việc làm cho một số lợng lớn lao động, học tập kinh nghiệm quản lý, tiếp xúcvới kinh tế thị trờng, đồng thời cũng là dịp chuyển đổi cơ cấu ngành nghề cho phù hợp với tìnhhình mới
Từ khi tiến hành cải cách mở cửa, Trung Quốc đã từng bớc quy phạm biện pháp phânphối hạn ngạch nhập khẩu Từ năm 1994 bắt đầu thực hiện việc đấu thầu phân phối hạn ngạchmột số mặt hàng, hiện nay có 36 mặt hàng xuất khẩu thực hiện chế độ đấu thầu hoặc sử dụnghạn ngạch có thanh toán
Phạm vi kinh doanh cũng đợc mở rộng hơn Trừ 16 mặt hàng xuất khẩu do Nhà nớcthống nhất kinh doanh và 14 mặt hàng nhập khẩu do Nhà nớc chỉ định, thì các xí nghiệp (côngty) XNK khác đều có thể tham gia XNK những mặt hàng và các kỹ thuật khác Biện pháp quản
lý đấu thầu hàng xuất nhập khẩu đang đợc soạn thảo Việc giảm hạn chế nhập khẩu, quy phạmhoá hạn ngạch nhập khẩu và giấy phép nhập khẩu là một nội dung quan trọng của tự do hoá
Trang 13mậu dịch Vì thế Trung Quốc gần đây đã công báo thời gian biểu cho việc từng bớc bãi bỏ hạnchế nhập khẩu đối với 385 loại sản phẩm trong vòng hơn 10 năm kể từ sau ngày vào WTO.Tháng 10 năm 1998 vừa qua Trung Quốc đa ra biện pháp khuyến khích nhập khẩu nguyên liệu
để chế biến hàng xuất khẩu Phần lớn hàng xuất của Trung Quốc hiện nay vốn là loại hàng này.Nhng để đẩy mạnh xuất khẩu hơn nữa, nguyên liệu sử dụng cho mục đích xuất khẩu đợc miễnthuế nhập khẩu, trong khi nguyên liệu nhập để chế biến hàng tiêu thụ nội địa vẫn phải chịuthuế Tuy nhiên các công ty nhập nguyên liệu làm hàng xuất khẩu phải nộp tiền ký cợc từ 40
đến 60% giá trị hàng nhập tuỳ theo từng loại hàng Sau khi các sản phẩm chế từ nguyên liệunhập đợc xuất đi hoặc ít nhất là nguyên liệu nhập đợc tái xuất, thì tiền ký cợc đợc hoàn trả lại.Nếu có những gian lận nh bán nguyên liệu hoặc các sản phẩm chế biến từ nguyên liệu nhậpkhẩu ra thị trờng nội địa, các công ty nhập khẩu ngoài việc phải trả thuế nhập khẩu còn phải trảlãi suất tiền thuế kể từ ngày nhập khẩu và sẽ bị phạt 30% giá trị hàng nhập khẩu và sẽ bị phạt30% giá trị hàng nhập nếu việc trả thuế và lãi suất không đúng hạn
Bên cạnh những cải cách về chính sách xuất khẩu, Trung Quốc cũng tiến hành cải cáchchính sách nhập khẩu với việc đơn phơng giảm thuế nhập khẩu 225 loại hàng và bãi bỏ toàn bộthuế điều tiết nhập khẩu, vào đầu năm 1992 Cuối năm 1992, Trung Quốc lại giảm thuế nhậpkhẩu 3771 loại hàng làm cho tổng mức thuế nhập khẩu của Trung Quốc giảm 9,3%; cuối năm
1993 lại giảm thuế nhập khẩu 2898 mục thuế; tháng 1/1994 tiếp tục giảm theo 234 mặt hàngthuốc nông nghiệp và một số nguyên liệu quan trọng có liên quan tới sản xuất công nông nghiệp
và một số linh phụ kiện sản phẩm điện máy 1/4/1996 giảm thuế quan ở mức độ lớn đối với gần
5000 mặt hàng, làm cho mức thuế quan trung bình ở mức 35,9% xuống còn 23% Trung Quốccũng tuyên bố mức thuế quan trung bình năm 2000- đây chính là bớc đi tích cực nhằm từng bớcbãi bỏ các biện pháp phi quan thuế Số mặt hàng có liên quan tới các mặt hàng phi quan thuế đã
từ 1247 loại giảm xuống còn 384 loại Thực hiện quản lý nhập khẩu theo danh mục Những mặthàng ngoài danh mục chỉ cho mở cửa kinh doanh, còn những mặt hàng nằm trong danh mục thì
có chỉ định Công ty XNK chịu trách nhiệm giám sát và điều hoà Thông qua hàng loại các cảicách, cơ chế nhập khẩu của Trung Quốc từng bớc thích ứng với yêu cầu của quy phạm mậu dịchquốc tế
Có thể nói, những thay đổi trong chính sách quản lý xuất nhập khẩu đã góp phần khôngnhỏ vào những thành tựu kinh tế mà Trung Quốc đã đạt đợc Cùng với các chính sách mở cửatrong các ngành nghề khác, chắc chắn sẽ tạo ra những tiền đề, tạo cơ sở cho sự phát triển mạnh
mẽ hơn của nền kinh tế Trung Quốc
3 Chính sách biên mậu của Trung Quốc
Chính sách của Chính phủ Trung Quốc đối với 5 thị trấn biên giới thuộc tỉnh Quảng Tây
và Vân Nam (thông báo số 62-1992 của Quốc vụ viện) gồm 11 chính sách đợc phép áp dụng vớinội dung chủ yếu là:
- Khuyến khích, tích cực thu hút vốn đầu t và ngoài nớc để thúc đẩy kinh tế phát triển;
mở rộng quyền phê chuẩn dự án đầu t nớc ngoài; giảm thuế lợi tức của các xí nghiệp FDI ở mứcthuế suất 24%; cho phép các nhà đầu t của các nớc láng giềng đợc đầu t với bằng hiện vật, tliệu sản xuất, vật t khí tài khác trong phạm vi tổng hạn ngạch đầu t của họ Số hàng hóa này cóthể tiêu thụ theo những quy định về mậu dịch biên giới và đợc giảm 50% thuế xuất khẩu và thuếcông thơng thống nhất; những xí nghiệp có vốn nớc ngoài, có đổi hàng với nớc láng giềng, chophép t tiêu thụ, khi nhập khẩu đợc giảm 50% thuế nhập khẩu và thuế công thơng thống nhất(những hàng hoá thuộc hạng mục Nhà nớc hạn chế nhập khẩu phải làm thủ tục xin phép theoquy định)
- Quy định về khuyến khích phát triển gia công, mậu dịch và nông nghiệp tạo ngoại tệ
- Cho phép thành lập các khu hợp tác kinh tế biên giới
- Ưu đãi đầu t hạ tầng: Nhà nớc cấp bù thoả đáng chi phí xây dựng, trang bị cửa khẩu;cấp tín dụng u đãi mỗi năm Ngân hàng Nhà nớc cho vay u đãi để kiến thiết thành phố biên giới
và xây dựng KHT trong khuôn khổ kế hoạch cho vay và đầu t của Nhà nớc Mức cho Bằng ờng và Đông Hng là 20 triệu NDT/năm (gấp đôi mức cho Uyển Đĩnh và Thuỷ Lệ trên biên giớivới Mianma);
T-Mậu dịch biên giới theo văn bản này đợc giải thích bao gồm 3 hình thức: mậu dịch chợ
c dân biên giới, giới dịch tiểu ngạch biên giới, hợp tác kỹ thuật và kinh tế
1 Mậu dịch chợ c dân biên giới: là chỉ những hoạt động trao đổi hàng hoá của dân c khuvực biên giới, tiến hành ở các chợ đợc chỉ định hoặc điểm mở cửa mà Chính phủ phê chuẩntrong phạm vi 20 km tuyến biên giới và không đợc vợt qua kim ngạch cũng nh số lợng đã quy
định
Trang 142 Mậu dịch tiểu ngạch biên giới: là chỉ hoạt động mậu dịch đợc tiến hành giữa các xínghiệp đợc phê chuẩn có quyền kinh doanh mậu dịch tiểu ngạch thông qua cửa khẩu biên giới
đất liền đợc Nhà nớc chỉ định, với xí nghiệp hoặc cơ cấu mậu dịch của khu vực biên giới nớcláng giềng
3 Hợp tác kỹ thuật và kinh tế đối ngoại biên giới là chỉ hoạt động của những doanhnghiệp ở khu vực biên giới Trung Quốc đợc Bộ Hợp tác kinh tế mậu dịch đối ngoại phê chuẩn
có quyền kinh doanh hợp tác kỹ thuật và kinh tế đối ngoại, triển khai các hạng mục hợp tác dịch
vụ lao động và công trình thầu khoán với khu vực biên giới của các nớc láng giềng
Quy định này phù hợp với tinh thần văn bản “ Biện pháp quản lý mậu dịch tiểu ngạchbiên giới và hợp tác kinh tế kỹ thuật đối ngoại khu vực biên giới do Bộ hợp tác kinh tế mậu dịch
Đối ngoại và Tổng cục Hải quan ban hành ngày 29 tháng 3 năm 1996 Trong văn bản này đã bổsung thêm hình thức “ Hợp tác kỹ thuật và kinh tế đối ngoại biên giới”
Về chủ thể hoạt động mậu dịch biên giới
Ngoài c dân biên giới và xí nghiệp mậu dịch tiểu ngạch biên giới quy định trong vănkiện số 2 của Quốc vụ viện cũng đợc bổ sung thêm loại hình “xí nghiệp hợp tác kỹ thuật kinh tế
đối ngoại” với các quy định cụ thể nh sau:
Xí nghiệp mậu dịch tiểu ngạch biên giới là chỉ những doanh nghiệp ở khu vực biên giớiTrung Quốc đợc Bộ Hợp tác kinh tế mậu dịch đối ngoại hoặc các ngành đợc trao quyền khácphê chuẩn, có quyền kinh doanh mậu dịch tiểu ngạch biên giới Xí nghiệp mậu dịch tiểu ngạchbiên giới phải có vốn đăng ký không dới 500.000 nhân dân tệ
Xí nghiệp hợp tác kỹ thuật kinh tế đối ngoại: chỉ những doanh nghiệp ở khu vực biêngiới đợc Bộ hợp tác kinh tế mậu dịch đối ngoại phê chuẩn, có quyền kinh doanh hợp tác kỹthuật nh triển khai các hạng mục hợp tác dịch vụ lao động và thầu khoán công trình ở khu vựcbiên giới của các nớc láng giềng trên nguyên tắc các dự án công trình dới 1.000.000 USD hoặchợp tác lao vụ dới 100 ngời phải đợc tỉnh thẩm cấp “Th phê chuẩn”, trên mức đó phải do Bộkinh tế mậu dịch đối ngoại thẩm xét và phê chuẩn:
Toàn bộ hoạt động của hai loại xí nghiệp trên đều nằm trong khuôn khổ của Luật Hảiquan và “ Biện pháp quản lý mậu dịch tiểu ngạch biên giới và hợp tác kinh tế kỹ thuật đối ngoạikhu vực biên giới”
Về chủ thể quản lý mậu dịch biên giới:
Thông t của Quốc vụ viện Trung Quốc về các vấn đề có liên quan đến mậu dịch biêngiới (3/1/1996) quy định Chính phủ nhân dân các Tỉnh và khu tự trị biên giới chỉ định ra cơquan chủ quản về mậu dịch biên giới Tổng cục Hải quan giám sát, quản lý; Văn phòng hỗnhợp chống buôn lậu biên giới thuộc Chính phủ phụ trách hoạt động chống buôn lậu, Uỷ ban Kếhoạch Nhà nớc, Uỷ ban kế hoạch nhà nớc và Uỷ ban kinh tế mậu dịch tiểu ngạch biên giới cấphạn ngạch nhập khẩu cho từng địa phơng (đối với mặt hàng quản lý bằng hạn ngạch) Bộ kinh tếmậu dịch đối ngoại thẩm duyệt danh mục xí nghiệp mậu dịch biên giới, các dự án hợp tác kinh
tế kỹ thuật đối ngoại đợc phân cấp và cùng Tổng cục Hải quan biên soạn biện pháp quản lý hoạt
động mậu dịch biên giới
Hoạt động mậu dịch biên giới theo tinh thần của văn bả trên đã chỉ rõ phía Trung Quốcquản lý một cách chặt chẽ hoạt động quản lý biên mậu và hệ thống từ Chính phủ cho tới các địaphơng, có sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan hữu quan , do vậy theo đúng tinh thần màQuốc vụ viện đề ra Đó là:
-Khẩn trơng định ra biện pháp quản lý đồng bộ, tích cực ủng hộ mậu dịch biên giới
- Thiết thực tăng cờng sự lãnh đạo và quản lý đối với mậu dịch biên giới, thúc đẩy mậudịch biên giới phát triển lành mạnh
- Điều chỉnh, quy phạm hoá các biện pháp chính sách mậu dịch biên giới theo hớng thểchế hoá kinh tế thị trờng XHCN
- Thúc đẩy mạnh mẽ sự phát triển kinh tế khu vực biên giới, tăng cờng đoàn kết dân tộc,củng cố và phát triển quan hệ hữu nghị láng giềng với các nớc xung quanh
4 Chính sách đầu t nớc ngoài của Trung Quốc:
Chính sách đầu t nớc ngoài của Trung Quốc đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc thu hútvốn, công nghệ hiện đại, tăng hiệu quả sản xuất và thúc đẩy quá trình hội nhập của Trung Quốcvới nền kinh tế thế giới
Trang 15Bên cạnh việc mở rộng địa bàn thu hút vốn đầu t nớc ngoài, Trung Quốc còn tạo môi ờng kinh doanh thuận lợi cho các hoạt động đầu t nh cải tạo và xây dựng cơ sở hạ tầng, sửa đổiluật đầu t nớc ngoài Trung Quốc đã chú trọng bỏ vốn ra xây dựng và cải tạo đờng xá, bến bãikho tàng, cảng nớc sâu, sân bay, hệ thống thông tin cùng với điều kiện cung ứng năng lợng,giao thông bu điện Ngoài ra, Trung Quốc đã ban hành hơn 500 văn bản liên quan đến quan hệkinh tế đối ngoại và đầu t trực tiếp Những văn bản này đợc xây dựng trên những nguyên tắcbình đẳng cùng có lợi, tôn trọng tập quán quốc tế.Luật đầu t nớc ngoài của Trung Quốc ( 1-7-
tr-1979 ) đã mở ra hành lang pháp lý thông thoáng cho các nhà đầu t nớc ngoài khi bỏ vốn đầu tvào Trung Quốc Tuy nhiên, Bộ luật này cũng còn những hạn chế nhất định
Ngoài luật đầu t , các văn bản khác liên quan đến tài chính, tiền tệ, xuất nhập khẩu,chuyển giao công nghệ, xuất nhập cảnh, đi lại và c trú của ngời nớc ngoài, quản lý tài nguyênkhoáng sản, đất đai, lao động và tiền lơng cũng đã đợc các ngành hữu quan ban hành nhằm h-ớng dẫn cụ thể hoạt động hợp tác đầu t nớc ngoài vào Trung Quốc Các Văn bản trên đợc bổsung sửa đổi theo hớng tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu t nớc ngoài khi đầu t vào TrungQuốc
Trung Quốc cũng đa ra các chính sách u đãi thuế đối với các lĩnh vực đang đợc khuyếnkhích đầu t nh: Chế tạo máy, công nghiệp điện tử, công nghiệp năng lợng Đối với những ngànhnghề mà Nhà nớc khuyến khích đều đợc hởng sự u đãi nh nhau về thời gian kinh doanh, thờigian miễn giảm thuế thu nhập Đối với những ngành nghề tập trung nhiều lao động, Trung Quốckhuyến khích chuyển dịch từ ven biển vào nội địa Đối với những ngành nghề tập trung nhiều
kỹ thuật, nhiều tri thức cao và mới mẻ bất kể đầu t ở nội địa hoặc ven biển đều đợc hởng u đãithuế thu nhập 15% Đặc biệt, Nhà nớc Trung Quốc khuyến khích các thơng gia nớc ngoài đầu tvào khu vực miền Trung và miền Tây Trung Quốc, là những khu vực xa xôi hẻo lánh, nhằmphát huy sức lao động tại chỗ và khai thác tài nguyên khoáng sản tại các vùng này Trung Quốckhuyến khích đầu t khai thác dầu khí, điện, phát triển các hạng mục khai thác công nghiệpnặng, hoá chất, công nghiệp nguyên vật liệu, kim loại, các ngành công nghiệp đồng bộ vànhững ngành nghề nông, lâm, thuỷ sản Trung Quốc đa ra những u đãi về thời hạn kinhdoanh, u đãi đối với hoạt động tái đầu t Đối với doanh nghiệp đầu t nớc ngoài mang tính sảnxuất, nếu thời hạn kinh doanh trên 10 năm, tính từ năm thứ 3 đến năm thứ 5 họ đợc giảm mộtnửa thuế thu nhập Những u đãi về thuế dành cho các nhà đầu t nớc ngoài ở một mức độ nhất
định đã giảm bớt gánh nặng tài chính cho các nhà đầu t
Ngoài các biện pháp khuyến khích đầu t nh trên, Trung Quốc còn thực hiện đa dạng hoácác hình thức đầu t, đa dạng hoá chủ đầu t Đây là một trong những nguyên nhân quan trọngkhiến Trung Quốc thu hút đợc nhiều vốn đầu t trong những năm qua
Trung Quốc đã ban hành chính sách khuyến khích đầu t của Hoa kiều bằng việc đa racác chính sách cụ thể nh “những quy định về việc khuyến khích Hoa kiều và đồng bào HồngKông, Ma Cao đầu t” (1990) Với những khuyến khích này, Trung Quốc đã thu hút đợc nhiềuvốn đầu t của Hoa kiều
Năm 1993, Bộ Hợp tác kinh tế đối ngoại của Trung Quốc đã cho phép các công ty siêuquốc gia đợc đến Trung Quốc xây dựng và nới lỏng phạm vi kinh doanh đối với các công tynày Từ những nỗ lực trên, nhiều công ty xuyên quốc gia và những tập đoàn tài chính lớn củaphơng Tây đã dồn dập đầu t vào Trung Quốc Chỉ trong vòng từ năm 1993 đến năm 1994 đã cótới hơn 100 công ty xuyên quốc gia và tập đoàn tài chính lớn ở các nớc Mỹ, Nhật, Anh,Pháp đầu t vào Trung Quốc Các công ty này mang tới Trung Quốc cách quản lý khoa học,công nghệ tiến tiến hiện đại và lợng vốn lớn Nó có tác dụng rất lớn đối với việc nâng cao trình
độ kỹ thuật của Trung Quốc, nâng cấp đổi mới sản phẩm, cải thiện kết cấu ngành nghề
Với chính sách thông thoáng, tạo điều kiện cho các nhà đầu t trên, Trung Quốc đã dành
đợc một số thành tựu đáng kể Từ năm 1979 đến năm 1997, Trung Quốc đã thu hút đ ợc một ợng lớn vốn đầu t nớc ngoài (8,35 tỷ USD, trong đó 63% là đầu t trực tiếp) từ trên 100 nớc vàkhu vực với quy mô hạng mục ngày càng mở rộng, lĩnh vực đầu t rộng rãi, cơ cấu đầu t đợc uhoá Theo đánh giá của các chuyên gia nớc ngoài, Trung Quốc gia nhập WTO, GDP mỗi nămtăng 2,94% tơng đơng hơn 30 tỷ USD Đầu t trực tiếp vào Trung Quốc tăng từ 45 tỷ USD (năm1998) lên đến 100 tỷ USD, năm 2005, kim ngạch trao đổi thơng mại sẽ tăng từ 3,24 tỷ USD lêntới 600 tỷ USD Điều này có nghĩa sẽ có một bớc nhảy
l-vọt về kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
Thành tựu đạt đợc từ chính sách đầu t nớc ngoài của Trung Quốc:
Trang 16Trải qua 20 năm không ngừng mở rộng đờng đi sâu vào thị trờng vốn quốc tế, ngày nay
Trung Quốc trở thành “một mảnh đất đầu t màu mỡ” của Châu á, thậm chí của thế giới Từ
năm 1979 đến năm 1997, Trung Quốc đã thu hút đợc một lợng đầu t từ nớc ngoài đạt 348,35 tỷUSD, trong đó 63% là đầu t trực tiếp, đạt trên 220 tỷ USD, từ trên 100 nớc và khu vực, vào trên
20 ngành nghề Năm 1998, dù có cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ ở Châu á nhng lợng đầu tnớc ngoài vào Trung Quốc vẫn tăng, tuy mức tăng không lớn nh mấy năm trớc, với việc phêchuẩn gần 2 vạn hạng mục, Trung Quốc đã ký thêm những hợp đồng mới trị giá 52,1 tỷ USD,tăng 2% so với năm 1997 Mức sử dụng thực tế là 58,9 tỷ USD, trong đó của đầu t trực tiếp là45,6 tỷ USD, tăng 0,7% Cho đến nay, đầu t nớc ngoài chiếm khoảng 13% đầu t của cả nớc.Các xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài sản xuất ra 14% sản phẩm công nghiệp và chiếm 47% kimngạch xuất khẩu của cả nớc Về tín dụng, Trung Quốc đợc đánh giá là có cơ cấu vay nợ quốc tếthuộc loại ít rủi ro Đến cuối năm 1997, số nợ dài hạn và trung hạn của Trung Quốc chiếm trên86% tổng số nợ nớc ngoài Nhờ những cố gắng trong việc thu hút vốn nớc ngoài, từ năm 1993Trung Quốc trở thành nớc đứng đầu các nớc đang phát triển và đứng thứ hai thế giới- sau Mỹ,
về mặt này, và giữ đợc vị thế này 6 năm liên tục
Lợng thu hút đầu t nớc ngoài vào Trung Quốc là rất lớn, quy mô hạng mục ngày càng
mở rộng, lĩnh vực đầu t rộng rãi, cơ cấu đầu t đợc u hoá Đầu những năm 80, quy mô mỗi hạngmục đầu t trung bình đạt 1,22 triệu USD, đến đầu những năm 90 đạt 1,37 triệu, đã nhanh chóngnâng lên trên 3 triệu USD vào năm 1997 Các tập đoàn, công ty lớn trên thế giới cũng ngàycàng hớng về Trung Quốc; đã có trên 200 trong số 500 công ty đa quốc gia hàng đầu trên thếgiới đầu t vào nớc này Trung Quốc đã điều chỉnh chính sách u đãi, khiến các nhà đầu t nớcngoài bắt đầu chuyển hớng vào miền Tây Trung Quốc, những vùng tơng đối nghèo nàn và lạchậu so với miền Đông Nguồn đầu t ngày càng đa nguyên hoá, từ chỗ trớc đây phần lớn là củaHoa kiều và ngời Hoa, dần dần đi đến chỗ đã có nhiều nhà đầu t từ các nớc Âu Mỹ đa vốn vàoTrung Quốc
Nhằm ngăn chặn những suy giảm trong hoạt động đầu t nớc ngoài 8 tháng đầu năm nay,vừa qua Chính phủ Trung Quốc đã thông qua một loạt các các chính sách thuế mới áp dụng chocác doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài Các biện pháp này tập trung vào việc tạo ra mộtkhung thuế quan u đãi hơn trong việc đầu t vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp, đặc biệt là cácngành sản xuất sử dụng công nghệ cao
Theo thứ trởng Bộ Ngoại thơng và hợp tác kinh tế thì chính sách thuế mới này bao gồmcác giải pháp chính:
Mức thuế nhập khẩu và các loại thuế liên quan đối với các thiết bị dùng cho nghiên cứu,hoàn thiện công nghệ sản xuất của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
Hoãn trả toàn bộ thuế GTGT cho các doanh nghiệp sử dụng dây chuyền sản xuất trongnớc
Sử dụng thuế thu nhập doanh nghiệp để bù đắp cho 50% các chí phí liên quan tới nghiêncứu với điều kiện các chi phí này phải tăng hơn 10% so với năm ngoái
Ngoài những u đãi trên, để khuyến khích đầu t vào vùng có điều kiện kinh tế khó khăn,Chính phủ Trung Quốc còn cho áp dụng một mức thuế rất thấp trong 3 năm đầu hoạt động chocác nhà đầu t tại những khu vực này, chỉ bằng 15% so với các doanh nghiệp có vốn đầu t nớcngoài tại các khu vực có điều kiện thuận lợi hơn Chính Phủ cũng hy vọng, với môi trờng pháp
lý thuận lợi nh vậy, hoạt động đầu t tại các khu vực có điều kiện khó khăn sẽ tăng lên Hiệnnay, tổng số vốn đầu t tại đây mới chỉ chiếm 12% trong tổng số 280 tỷ USD đã đầu t vào TrungQuốc từ năm 1979 đến nay
Theo đánh giá chung, các biện pháp mới này sẽ tạo ra một hàng lang rộng rãi hơn chocác nhà đầu t nớc ngoài trong mục đích tìm kiếm lợi nhuận, đồng thời tạo điều kiện tốt choTrung Quốc có thể sở hữu đợc các công nghệ sản xuất hiện đại trên thế giới hiện nay Ngoài racòn một cái đợc rất lớn khác cho Trung Quốc đó là việc đạt đợc sự thoả thuận với Tổ chức th-
ơng mại Thế giới (WTO) trong đòi hỏi giảm bớt hàng rào thuế quan bảo hộ khi mà Trung Quốcxin gia nhập vào tổ chức này
Mặt khác, theo đánh giá của các chuyên gia nớc ngoài, Trung Quốc gia nhập WTO,GDP mỗi năm tăng 2,94% tơng đơng hơn 30 tỷ USD Đầu t trực tiếp vào Trung Quốc tăng từ 45
tỷ USD năm 1998 lên đến 100 tỷ USD năm 2005 trong cùng thời kỳ này kim ngạch trao đổi
th-ơng mại sẽ tăng từ 3,24 tỷ USD lên tới 600 tỷ USD Điều này có nghĩa sẽ có một b ớc nhảy vọt
về kinh tế của Trung Quốc sau khi gia nhập WTO
5 Chính sách du lịch Trung Quốc
Trang 17Trong thời kỳ đầu của cải cách mở cửa, Trung Quốc đã kịp thời củng cố và phát triển thịtrờng du lịch nội địa, ban hành chính sách bảo đảm và phát triển du lịch trong nớc phát triển.
Trong quá trình phát triển ngành du lịch, Trung Quốc chủ yếu phát triển mô hình Nhà
n-ớc Điều đó bao gồm hai nội dung:
- Một là, Nhà nớc và các địa phơng dựa vào bộ máy quản lý hành chính quản lý du lịch;chỉ đạo phơng hớng, chính sách phát triển cho các doanh nghiệp du lịch; tổ chức và tuyêntruyền xúc tiến hoạt động du lịch
- Hai là, phát huy tính chủ động tích cực của chính quyền địa phơng, đặc biệt là cấp tỉnhtrong việc phát triển mạnh ngành du lịch địa phơng Nh vậy, vừa có thể thúc đẩy kinh tế địa ph-
ơng vừa bảo đảm duy trì xu thế chung của toàn ngành du lịch
Trong những năm cải cách mở cửa gần đây, Trung Quốc không ngừng bảo quản trùng
tu các danh lam, thắng cảnh để giới thiệu cho du khách Ngoài 10 thắng cảnh nổi tiếng củaTrung Quốc và thế giới là Vạn Lý Trờng Thành (Bắc Kinh), phong cảnh Quế Lâm (Quảng Tây),
Cổ Cung (Bắc Kinh), Vờn cây Tô Châu (Giang Tô), Hoàng Sơn (An Huy), Tam Hiệp (dọc ờng Giang trên địa phận 2 tỉnh Tứ Xuyên và Hồ Bắc), Nhật Nguyệt Đàn (Đài Loan), Khu TrạiSơn Trang (Hà Bắc), Hàng Châu với Tây Hồ (Chiết Giang), Binh Mã Nhà Tần (Thiềm Tây),Trung Quốc còn rất nhiều các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh khác nh vùng TrungNguyên với các di tích thời Tam Quốc Diễn Nghĩa Ngay tại Bắc Kinh còn có tới 18 di tích lịch
Tr-sử và phong cảnh đẹp nổi tiếng nh Thiên Đàn, Nhật Đàn, Địa Đàn, Nguyệt Đàn, Hơng Sơn,Thập Tam Lăng, Vân Nam có các”rừng cây đa”, Hồ Côn Minh Sơn Đông có Khúc Phu, nơi thờKhổng Tử đều là những nơi nổi tiếng, thu hút nhiều khách du lịch
Cùng với việc mở cửa thu hút du khách nớc ngoài Trung Quốc đã quan tâm đến hệthống các khách sạn, cửa hàng ăn phục vụ cho khách du lịch Đến nay, Trung Quốc có hơn
2300 khách sạn, trong đó có hơn 500 khách sạn 2 sao trở lên, để đón du khách n ớc ngoài Hiệnnay ở Bắc Kinh có tới 15 khách sạn 5 sao, 24 khách sạn 4 sao và 37 khách sạn 3 sao
Trong những năm qua, cùng với sự phát triển của du lịch, tại Trung Quốc đã xuất hiệnthêm 50.000 mặt hàng các loại phục vụ du lịch Trung Quốc đã có kế hoạch chọn các chủ đề dulịch cho các năm nhằm tuyên truyền với thế giới về tài nguyên du lịch phong phú của TrungQuốc Để cải thiện môi trờng du lịch một cách toàn diện, năm 1995, Trung Quốc đã phát độngphong trào “Sáng lập thành phố du lịch u tú toàn Trung Quốc” Từ khi phát động phong trào
đến nay, đã cải thiện đáng kể môi trờng phát triển du lịch Trung Quốc; thúc đẩy các thành phốphát triển theo hớng hiện đại hoá, quốc tế hoá, trở thành nơi tập kết du lịch và thúc đẩy cácngành nghề liên quan đến du lịch phát triển Từ nay về sau, Cục du lịch Quốc gia và các thànhphố tham gia phong trào sẽ củng cố thành quả đã đạt đợc, nâng cao chất lợng sản phẩm du lịch,
đa phong trào phát triển cả về bề sâu và bề rộng, tiếp tục cải thiện môi trờng du lịch chung
Theo đánh giá của Tổ chức Du lịch Thế giới WTO, du lịch trong nớc của Trung Quốc
đạt 694 triệu lợt khách với mức doanh thu đạt 239,1 tỷ NDT Tổng doanh thu từ du lịch quốc tế
và du lịch nội địa của Trung Quốc đạt 343,9 tỷ NDT, tăng 10,5% so với năm 1997, chiếm4,32% GDP
Du lịch trong nớc cũng phát triển mạnh: Những năm 90-95, có tới 2,2 tỷ lợt khách trongnớc tới thăm các danh lam thắng cảnh trong nớc, đạt mức tăng trởng hàng năm 18,9% Thunhập của ngành công nghiệp du lịch trong nớc trong 5 năm (1995-1999) là 371,3 tỷ NDT (44,7
Trải qua gần 20 năm, ngành du lịch Trung Quốc đã phát huy tiềm năng to lớn và phongphú của mình, phát triển thành một trong những ngành có nhịp độ tăng trởng nhanh nhất Số ng-
Trang 18ời đến thăm Trung Quốc năm 1997 là 57,588 triệu lợt ngời, tăng 31 lần so với năm 1978 Năm
1998, mức doanh thu ngoại tệ từ ngành du lịch của Trung Quốc đạt 12,6 tỷ USD, tăng 45 lần sovới năm 1978, mức tăng bình quân hàng năm là 22,4% Thời gian 1978-1998, thu ngoại tệ từ dulịch đạt 78,4 tỷ USD Năm 1998, mức thu ngoại tệ từ du lịch của Trung Quốc đã đứng hàng thứbảy thế giới, đứng sau Mỹ, ý, Pháp, Tây Ban Nha, Anh và Đức
Trung Quốc cũng mở rộng cửa cho ngời Trung Quốc ra nớc ngoài du lịch Năm 1997,công dân Trung Quốc xuất cảnh là 8,1 triệu lợt ngời, tăng gấp 4 lần so với năm 1978 Số ngoại
tệ do du lịch mang lại đạt gần 50% tổng số thu phi mậu dịch, trở thành nguồn thu nhập quantrọng Du lịch cũng là nguồn tạo việc làm rất lớn, ví dụ: năm 1997, toàn ngành tạo đợc 67 triệulàm việc Bên cạnh đó, những ngành nghề liên quan khác nh giao thông, kiến trúc, xây dựng,công nghệ thông tin phát triển một cách có hiệu quả, đã giúp cho hơn 4 triệu dân miền trung tâyTrung Quốc đợc hởng lợi ích do du lịch mang lại, thoát khỏi đói nghèo và trở nên giàu có
III Các chính sách phát triển kinh tế thơng mại của Trung Quốc đối với Việt Nam.
1 Các chính sách của Trung Quốc trong quan hệ kinh tế thơng mại với Việt Nam
Nhằm phát triển kinh tế và ổn định biên giới quốc gia, Trung Quốc coi chính sách biênmậu là một trong những chính sách quan trọng của chiến lợc phát triển kinh tế của mình Đốivới Việt Nam, để phát triển quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai nớc, Trung Quốc dành những u
tiên đặc biệt về thủ tục quản lý xuất nhập khẩu, thị thực, thuế quan Trung Quốc đã ban hành
nhiều chính sách hỗ trợ và u đãi đặc biệt cho các địa phơng vùng biên giới Việt-Trung nh:
* Luật Hải quan Trung Quốc
Luật Hải quan của Trung Quốc( bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-7-1987) ra đời nhằm quản
lý và thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu hàng hoá của Trung Quốc với các nớc láng giềng trong
đó có Việt Nam Những u đãi về Hải quan đợc thể hiện ở những nội dung cụ thể nh sau:
Hàng xuất nhập khẩu có thể đợc miễn trừ khám xét nếu có đơn của chủ hàng và chấpnhận của Tổng cục Hải quan ( điều 19- chơng 3)
Hàng hoá tạm thời xuất hoặc nhập hợp pháp đợc tái nhập hoặc tái xuất trong vòng 6tháng, trờng hợp đặc biệt có thể đợc gia hạn (điều 23- chơng 3)
Theo quy định của Tổng cục Hải quan, hàng hoá xuất nhập khẩu của các khu kinh tế
đặc biệt đợc miễn thuế hoặc giảm thuế, những hàng hoá khác sẽ đợc Tổng cục Hải quan xemxét một cách độc lập hoặc phối hợp với Bộ Tài chính để giảm thuế hoặc miễn thuế (điều 40, 41-chơng 3)
* Chính sách của Chính phủ Trung Quốc đối với 5 thị trấn biên giới thuộc tỉnh Quảng Tây
và Vân Nam
Để phát triển quan hệ kinh tế thơng mại vùng biên giới Việt- Trung, Trung Quốc đã banhành chính sách u đãi với 5 thị trấn biên giới thuộc tỉnh Quảng Tây và Vân Nam với những nộidung cụ thể nh sau:
* Trao quyền tự chủ về quản lý hoạt động mậu biên và hợp tác đối ngoại cho các địa
ph-ơng
* Khuyến khích 5 thị trấn trên thu hút vốn đầu t nớc ngoài bằng những biện pháp nh:
- Mở rộng quyền phê chuẩn dự án đầu t nớc ngoài cho 5 thị trấn
- Giảm thuế lợi tức của các xí nghiệp FDI hoạt động tại 5 thị trấn trên
- Cho phép các nhà đầu t Việt Nam đợc đầu t bằng hiện vật, t liệu sản xuất trong phạm
vi tổng hạn ngạch đầu t của họ Số hàng hoá này có thể đợc tiêu thụ tại Trung Quốc với mứcthuế quan giảm 50%
* Khuyến khích các hoạt động gia công, mậu dịch và phát triển nông nghiệp nh: miễnthuế nhập khẩu, thuế VAT đối với những hàng nhập khẩu là hạt giống, giống cây con, thức ăngia súc và các thiết bị có liên quan tới việc gia công sản xuất hàng xuất khẩu
* Cho phép thành lập các khu hợp tác kinh tế biên giới tại 5 thị trấn trên
- Vật t trang thiết bị cần thiết để xây dựng cơ sở hạ tầng cho khu hợp tác kinh tế đ ợcmiễn thuế nhập khẩu
- Những thị xã có đủ điều kiện đợc phép thành lập khu hợp tác kinh tế biên giới và tổchức sản xuất gia công xuất khẩu
* Ưu tiên đầu t cơ sở hạ tầng
- Cấp tín dụng u đãi: ngân hàng Nhà nớc cho vay u đãi để kiến thiết thành phố vùng biên
và xây dựng khu hợp tác kinh tế trong khuôn khổ kế hoạch cho vay và đầu t của Nhà nớc
- Chính sách khuyến khích tái đầu t: Nếu các xí nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài chuyển
lợi nhuận về nớc thì bị đánh thuế lợi tức là 33%, nếu tái đầu t chỉ bị đánh thuế lợi tức là 24%
Trang 19* Khuyến khích xuất nhập khẩu qua vùng biên giới Việt- Trung
Nếu trị giá hàng nhập khẩu thấp hơn 1000 NDT/ngời/ngày thì đợc miễn thuế Hải quan,trên 1000 NDT thì phần vợt quá bị thu thuế
Việt Nam và Trung Quốc là hai nớc láng giềng, vì vậy các chính sách mậu biên, chínhsách xuất nhập khẩu của Trung Quốc đều liên quan trực tiếp đến hoạt động kinh tế thơng mạigiữa hai nớc
Ngoài các chính sách u đãi nêu trên, Trung Quốc và Việt Nam đã ký kết nhiều Hiệp
định để giải quyết những vấn đề xảy ra trong quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai nớc Chúng tacùng xem xét các Hiệp định đó ở phần dới đây
2 Các Hiệp định thơng mại đã đợc ký kết giữa hai nớc trong giai đoạn 1991-1999
Với quyết tâm xây dựng mối quan hệ kinh tế lâu dài và bền vững, từ tháng 11 năm 1991
đến nay, Chính phủ nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và nớc cộng hoà nhân dân TrungQuốc đã cùng nhau ký kết nhiều Hiệp định kinh tế thơng mại quan trọng nh: Hiệp định thơngmại giữa hai nớc, Hiệp định tạm thời giải quyết công việc vùng biên giới ( hai Hiệp định này đ -
ợc ký tại Bắc Kinh trong chuyến đi thăm chính thức Trung Quốc lấn thứ nhất của Tổng bí th ĐỗMời và Thủ tớng Võ Văn Kiệt, ngày 5-11-1991); Hiệp định Hợp tác kinh tế Việt Nam - TrungQuốc (ký tại Hà Nội nhân dịp phó Thủ tớng kiêm ngoại trởng Trung Quốc Tiền Kỳ Tham sangthăm Việt Nam, tháng 2 năm 1992); Hiệp định hợp tác kinh tế kỹ thuật, Hiệp định hợp tác khoahọc kỹ thuật (hai Hiệp định này đợc ký kết tại Hà Nội nhân dịp Thủ tớng Trung Quốc Lý Bằngthăm chính thức Việt Nam vào cuối tháng 11 đầu tháng 12 năm 1992); Hiệp định về thanh toán
và hợp tác giữa Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam và Ngân hàng nhân dân Trung Quốc
( Hiệp định này đợc ký ngày 26-5-1993 tại Bắc Kinh); Hiệp định giữa Chính phủ nớcCộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ cộng hoà nhân dân Trung Hoa về hàng hoáquá cảnh (ký tại Hà Nội ngày 9-4-1994); Hiệp định về thành lập Uỷ ban hợp tác kinh tế thơngmại Việt Nam -Trung Quốc, Hiệp định về bảo đảm hàng hoá chất lợng hàng hoá xuất nhậpkhẩu và công nhân lẫn nhau, Hiệp định về vân tải đờng bộ (ba Hiệp định này đợc ký kết tai HàNội nhân chuyến đi thăm chính thức Việt Nam của Tổng bí th Đảng , Chủ tịch nớc Công hoàTrung Quốc Giang Trạch Dân ngày 19-11-1994); Hiệp định về mua bán hàng hoá ở vùng biêngiới giữa Chính phủ nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Chính phủ nớc Cộng hoà nhândân Trung Hoa (đã ký 7-11-1998 tại Bắc Kinh); Hiệp định về biên giới trên bộ đợc ký kết ngày23-12-1999 nhân dịp thủ tớng Chu Dung Cơ sang thăm Việt Nam
Những Hiệp định trên đã giúp cho quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai nớc ngày càng
đ-ợc củng cố và phát triển, chúng giải quyết đđ-ợc những yêu cầu bức xúc trong thực tiễn hoạt
động của mỗi bên Các Hiệp định đợc ký kết mang những nội dung chủ yếu sau đây:
* Mục đích hợp tác
Cho dù đợc ký kết trên lĩnh vực nào thì các Hiệp định cũng mang một mục đích chung
là đẩy mạnh quan hệ kinh tế thơng mại giữa hai nớc trên cơ sở bình đẳng cùng có lợi, tôn trọngchủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của nhau Song bên cạnh những mục đích nêu trên mỗi mộtHiệp định đều mang những mục đích riêng của mình, những Hiệp định ký sau bổ xung và hoànthiện hơn cho các Hiệp định ký trớc đó
Hiệp định thơng mại đợc ký kết nhằm mục đích thúc đẩy hơn nữa sự hợp tác thân thiệngiữa hai nớc trên cơ sở bình đẳng và cùng có lợi Hiệp định tạm thời giải quyết công việc trênvùng biên giới hai nớc đợc ký kết với mục đích là tạo điều kiện thuận tiện cho sinh hoạt và sựqua lại của nhân dân vùng biên giới, thúc đẩy quan hệ kinh tế thơng mại hai nớc phát triển, xâydựng biên giới Việt- Trung thành biên giới hoà bình hữu nghị
Nếu Hiệp định hợp tác khoa học kỹ thuật đợc ký kết với mục đích là đẩy mạnh hợp táckhoa học kỹ thuật thì Hiệp định về thanh toán và hợp tác giữa ngân hàng Nhà nớc Việt Nam vàngân hàng nhân dân Trung Hoa lại đợc ký kết với mục đích là để tăng cờng, thúc đẩy pháttriển về mậu dịch, kinh tế và hợp tác tiền tệ, thực hiện tốt công tác thanh toán giữa hai n ớc Để
đảm bảo sức khoẻ, sự an toàn của nhân dân, bảo vệ môi trờng thiên nhiên và lợi ích ngời tiêudùng hai nớc, đảm bảo chất lợng hàng hoá xuất nhập khẩu, chất lợng phục vụ, thúc đẩy sự pháttriển kinh tế và thơng mại giữa hai nớc Hiệp định về đảm bảo chất lợng hàng hoá xuất nhậpkhẩu và công nhận lẫn nhau đã đợc hai Chính phủ hai nớc cùng nhau ký kết
*Về vấn đề xúc tiến, mở rộng hợp tác thơng mại
Ngay từ những Hiệp định đầu tiên đợc ký kết, Chính phủ hai nớc đã thể hiện ý chí,mong muốn xúc tiến thơng mại giữa hai nớc với những nội dung nh sau: Chính phủ Việt Nam
và Chính phủ Trung Hoa đồng ý tạo điều kiện dễ dàng thuận lợi cho nhau trong các hoạt động
Trang 20xúc tiến mậu dịch nh hội chợ thơng mại, triển lãm thơng mại v.v mà các cơ quan hữu quan củanớc kia tổ chức tại nớc mình Hai bên ký kết đồng ý thúc đẩy buôn bán dân gian ở biên giới hainớc; các vấn đề cụ thể của việc buôn bán này sẽ đợc giải quyết theo các quy định có liên quancủa hai bên ( Điều 6,7 của Hiệp định thơng mại ký ngày 7/11/1991) Trong hoạt động thơngmại, hai bên cam kết dành cho nhau u đãi tối huệ quốc đối với việc đánh thuế hải quan xuấtnhập khẩu cũng nh trong việc giải quyết các thủ tục về quản lý hải quan Đãi ngộ này không liênquan đến các u đãi và lợi ích mà mỗi nớc đã và sẽ dành cho các đối tợng thơng mại đặc thù củamình (Điều 2 Hiệp định Thơng mại, Hiệp định tránh đánh thuế hai lần).
Trong hiệp định hợp tác kinh tế giữa hai nớc đợc ký kết ngày 14/2/1992, Chính phủ ViệtNam và Trung Quốc đã bổ xung thêm các lĩnh vực đợc khuyến khích và giúp đỡ để phát triểnkinh tế nh:
- Đấu thầu các loại công trình và hạng mục
- Cung cấp máy móc, thiết bị, phụ tùng, vật t, cử chuyên gia và cung cấp dịch vụ t vấn và
đợc đề cập đến Đó là Chính phủ hai nớc đồng ý tích cực áp dụng các biện pháp tăng cờng quản
lý chất lợng hàng hoá mua bán ở vùng biên giới để đảm bảo lợi ích ngời tiêu dùng, bảo hộ sảnxuất, chống hàng giả, hàng kém chất lợng, đồng thời giao quyền cho các tổ chức giám định hànghoá của mỗi bên tiến hành giám định chất lợng hàng hoá theo tiêu chuẩn quy định trong hợp
đồng mua bán của hai bên Tất cả những nỗ lực trên của Chính phủ hai n ớc đã tạo điều kiệnthuận lợi cho các doanh nghiệp hai nớc có điều kiện tham gia vào thị trờng của nhau
* Vấn đề Biên giới
A Đối tợng đợc phép xuất nhập cảnh, qua lại biên giới
Theo Điều 6 Hiệp định tạm thời về việc giải quyết công việc trên vùng biên giới hai n ớcgiữa Chính phủ nớc CHXHCN Việt Nam và Chính phủ CHND Trung Hoa đợc chia thành 3 loại:
- C dân biên giới sử dụng giấy thông hành
- Nhân viên mậu dịch biên giới ở vùng biên giới và nhân viên vùng biên giới đợc mờitham gia các hoạt động văn hoá, sử dụng giấy thông hành
- Công dân hai nớc hoặc nớc khác có hộ chiếu thị thực xuất nhập cảnh tại cửa khẩu quy
định
B Hệ thống cửa khẩu
Hệ thống cửa khẩu chia làm 3 loại:
- Cửa khẩu hàng hoá mậu dịch và xuất nhập cảnh bằng hộ chiếu thị thực xuất nhập cảnhhoặc quá cảnh gồm ba đờng bộ: Hữu Nghị- Hữu Nghị Quan, Móng Cái - Đông Hng, Lào Cai-
Hà Khẩu và một cặp đờng sắt: Đồng Đăng- Bằng Tờng
- Cửa khẩu hàng hoá mậu dịch địa phơng và mậu dịch biên giới, hành khách xuất nhậpcảnh bằng hộ chiếu, thị thực và giấy thông hành gồm 3 cặp: Tà Lùng- Thuỷ Khẩu, MaLuThàng-Kinh Thuỷ Hà, Thanh Thuỷ- Thiên Bảo
- Cửa khẩu hàng hoá mậu dịch biên giới và xuất nhập cảnh bằng giấy thông hành (hiệnthờng gọi là cửa khẩu đại phơng hay cửa khẩu tiểu ngạch) gồm 14 cặp cửa khẩu Trong đó vềphía Việt Nam gồm các cửa khẩu nh: Hoành Mô (Quảng Ninh), Chi Ma, Bình Nghi (Lạng Sơn),Hạ lang, Lý Vạn, Phô Pheo,Trà Lĩnh, Sóc Giang (Cao Bằng), Săm Phun, Phó Bảng, Xín mần(Hà Giang), Mờng Khơng, Lào Cai), Ma Lu Thàng, Thun Lu, A pha chải (Lai Châu)
Một điều đáng chú ý là ở khoản 3 Điều 7 của Hiệp định tạm thời quy định:
“ở những nơi cách xa những cửa khẩu biên giới quy định trong khoản 1 Điều này, nếugặp những việc bất khả kháng hoặc có nhu cầu đặc biệt khác thì chính quyền địa phơng cấp tỉnhvùng biên giới hai bên có thể hiệp thơng để mở các đờng qua lại tạm thời Sau khi chính quyền
địa phơng cấp tỉnh vùng biên giới hai bên hiệp thơng nhất trí, mỗi bên sẽ báo cáo Chính phủ nớcmình phê duyệt sau đó sẽ thực hiện Việc kiểm tra sự qua lại ở các đ ờng qua lại tạm thời cầnthiết thực hiện theo đúng biện pháp quản lý cửa khẩu chính thức”
Trên cơ sở điều khoản này phía Trung Quốc đã mở hàng loạt đờng qua lại ngay sát cáccửa khẩu chính thức để tập hợp hàng hoá đẩy vào Việt Nam Đặc biệt là trờng hợp cửa khẩu Tân
Trang 21Thanh- Pò Chài, hiện nay nguyên là một đờng qua lại tạm thời nh vậy, đã trở thành hai khu vựcthơng mại biên giới đặc biệt phát triển.
C Hoạt động mậu dịch diễn ra tại khu vực biên giới:
Trong Hiệp định tạm thời về giải quyết công việc trên vùng biên giới hai nớc (Chơng V)nêu rõ những nội dung cụ thể nh sau :
* Hình thức mậu dịch có hai loại: Mậu dịch biên giới và mậu dịch địa phơng
*Chủ thể tiến hành: Cơ quan mậu dịch có quyền kinh doanh mậu dịch biên giới và mậudịch địa phơng của hai nớc
* Biện pháp thực hiện: Chính quyền địa phơng cấp tỉnh, vùng biên giới bàn bạc với nhauxác định theo pháp luật hiện hành và quy định có liên quan của Chỉnh phủ hai nớc để thực hiệncác hoạt động giao dịch
* Hàng hoá trao đổi và phơng tiện vận chuyển trong mậu dịch xuất nhập khẩu phù hợpvới quy định pháp luật có liên quan của hải quan
* Thuế quan và các loại thuế căn cứ pháp luật hiện hành của mỗi nớc
D Vấn đề chợ biên giới :
Theo khoản 3 điều 9 của hiệp định tạm thời về giải quyết công việc trên vùng biên giới
E Vấn đề gìn giữ, quản lý trị an vùng biên giới
Trong Hiệp định tạm thời về giải quyết công việc trên vùng biên giới hai nớc (điều 1) có
quy định :
Chính phủ hai nớc có thẩm quyền giải quyết mọi vấn đề về biên giới, không ngành nào
và địa phơng nào của hai bên làm thay đổi đờng biên giới giữa hai nớc, nếu làm thay đổi sẽ bịcoi là không có giá trị và bị huỷ bỏ Hai bên đồng ý cùng giữ gìn biên giới mốc, bất kỳ bên nàonếu phát hiện mốc biên giới và các tiêu chí biên giới khác có thay đổi thì cần nhanh chóng thôngbáo cho phía bên kia Ngời của hai bên sẽ cùng nhau ghi nhận lại và báo cáo lên ngành chủ quảnmỗi bên Ngành chủ quản của hai bên sẽ tuỳ theo tình hình mà bàn bạc, giải quyết hoặc chờ đếnkhi đàm phán biên giới sẽ giải quyết
Hai bên sẽ hợp tác giữ gìn trật tự trị an xã hội vùng biên giới hai nớc Hai bên cùng nhaugiải quyết các vấn đề nh: Ngời xuất nhập cảnh trái phép, tổ chức điều tra xử lý các vụ án có liênquan tới hai nớc, phối hợp điều tra, truy lùng, bắt giữ, chuyển giao các tội phạm vợt biên giới.Phối hợp ngăn ngừa và trừng trị các hoạt động phạm tội vợt biên buôn lậu, buôn ma tuý, vũkhí, làm bạc giả, dụ dỗ và buôn bán phụ nữ, trẻ em
F Sản xuất và các hoạt động khác ở vùng biên giới.
Theo Chơng II điều 3,4,5 của Hiệp định tạm thời về giải quyết công việc trên vùng biêngiới có quy định hai vấn đề sau:
1 Các vấn đề có liên quan đến dòng chảy biên giới hai bên cần hiệp thơng tiến hànhtrên nguyên tắc bình đẳng cùng có lợi, tôn trọng lợi ích của nhau và tránh gây tổn thất cho phíabên kia, tránh làm thay đổi dòng chảy biên giới.Nếu tiến hành các công trình có thể ảnh hởng tớidòng chảy tại vùng biên giới thì sau khi hai bên nhất trí mới đợc phép tiến hành thi công
2 Khi tiến hành các hoạt động chụp ảnh trên không và thả vật thể thăm dò trên khôngvới mục đích hoà bình ở vùng gần biên giới cần thông báo trớc cho phía bên kia Nếu một bêncần bay vào không phận phía bên kia thì cần phải đợc phía bên kia đồng ý
3 Các lĩnh vực hoạt động bị cấm hoạt động trên vùng biên giới đó là:
- Cấm tuỳ tiện nổ súng, gây nổ trong phạm vi 2 km của mỗi bên kể từ đ ờng biên giới.Nếu cần thiết gây nổ trong phạm vi này cần thông báo trớc cho phái bên kia
- Cấm đốt rẫy trong phạm vi 1 km của mỗi bên kể từ đờng biên giới
- Những hoạt động trên không đợc làm tổn hại đến mốc biên giới và các tiêu chí kháccũng nh an toàn của ngời và gia súc
- Cấm dân biên giới vợt biên giới chặt gỗ, củi, chăn dắt, canh tác, săn bắn, khai thác đặcsản hoặc tiến hành các hoạt động với mục đích phi pháp khác
G Các quy định về quá cảnh hàng hoá
Theo điều 3 của Hiệp định về quá cảnh hàng hoá đã có những quy định nh sau:
Trang 22- Các hàng hoá muốn quá cảnh cần đợc cơ quan có thẩm quyền của nớc cho quá cảnhcho phép trên cơ sở đơn xin quá cảnh của chủ hàng nớc xin quá cảnh
- Phải tuân thủ pháp luật hải quan của nớc cho quá cảnh
Bộ mậu dịch và hợp tác kinh tế đối ngoại của nớc CHND Trung Hoa nếu tiêu thụ tại Trung Quốc
và nộp thuế, các chi phí khác theo quy định của nớc cho quá cảnh
* Vấn đề quản lý chất lợng và giám định hàng hoá
Các quy định về quản lý chất lợng hàng hoá và giám định hàng hoá đã đợc Chính phủhai nớc thống nhất thông qua Hiệp định về đảm bảo chất lợng và công nhận lẫn nhau với nhữngnội dung chủ yếu nh:
Để đảm bảo chất lợng hàng hoá xuất nhập khẩu, cơ quan đợc uỷ quyền của mỗi bên căn
cứ vào thoả thuận về nội dung và phơng pháp theo tiêu chuẩn quốc tế để thẩm định hệ thốngchất lợng của cơ sở sản xuất hàng hoá xuất khẩu của nớc mình Các tổ chức kiểm tra chất lợng
sẽ cấp giấy chứng nhận chất lợng hoặc tem (dấu) kiểm nghiệm cho lô hàng xuất khẩu của đơn vịmình khi thoả mãn các yêu cầu sau đây:
- áp dụng các tiêu chuẩn chất lợng hàng xuất khẩu về an toàn, vệ sinh mà hai bên đãthừa nhận, đồng thời phù hợp với yêu cầu của hợp đồng ngoại thơng và các điều kiện bổ sung
mà hai bên đã ký kết
- Hàng hoá xuất khẩu đã đợc phòng kiểm nghiệm hai bên công nhận
Cơ quan đợc uỷ quyền của hai bên sẽ cung cấp cho bên kia mẫu giấy chứng nhận chất ợng hoặc tem kiểm nghiệm của mỗi nớc mình để mỗi bên giao cho hải quan lu giữ để kiểm tra.Nhng trong Hiệp định về quản lý chất lợng và công nhận lẫn nhau hai bên đã cha đề cập đến vấn
l-đề kiểm dịch động thực vật của mỗi bên khi xuất nhập khẩu do vậy, trong điều 14 Hiệp định về
đờng bộ, Chính phủ hai nớc đã thống nhất rằng: Các thủ tục vệ sinh kiểm dịch động thực vật
đ-ợc tiến hành theo điều ớc đa phơng mà hai bên ký kết tham gia hoặc các hiệp định song phơng.Một vấn đề nảy sinh trong quan hệ kinh tế thơng mại hai nớc đó là vấn đề buôn bán ở chợ biệngiới Vấn đề kiểm tra chất lợng hàng hoá khi mua bán hàng hoá đó ở chợ biên giới là một trọngnhững vấn đề hết sức phức tạp hiện nay Để tạo điều kiện cho c dân biên giới có điều kiện kinhdoanh buôn bán và đảm bảo cho biên giới Việt - Trung phát triển một cách hoà bình, hữu nghị,ngày 19/10/1998, Chính phủ nớc Cộng hoà nhân dân Việt Nam và Chính phủ nớc Cộng hoànhận dân Trung Hoa đã ký kết Hiệp định về mua bán hàng hoá ở vùng biên giới Trong Hiệp
định này, hai bên đã ký kết đồng ý tích cực áp dụng các biện pháp tăng cờng quản lý chất lợnghàng hoá mua bán ở vùng biên giới để đảm bảo lợi ích ngời tiêu dùng, bảo hộ sản xuất, chốnghàng giả, hàng kém chất lợng, đồng thời giao quyền cho các tổ chức giám định hàng hoá củamỗi bên tiến hành giám định chất lợng hàng hoá xuất nhập khẩu trong mua bán ở vùng biên giới
và cấp giấy chứng nhận giám định chất lợng hàng hoá theo tiêu chuẩn quy định trong hợp đồngmua bán của hai bên (Điều 6)
* Quy định về thanh toán.
Nói chung, hầu hết các Hiệp định đều thống nhất rằng: Việc thanh toán, kết toán trongmua bán hàng hoá ở vùng biên giới, trong các hợp đồng ngoại thơng đợc ký kết giữa hai nớc đợcthực hiện bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi, đồng Việt Nam hoặc bằng đồng Nhân dân tệ theo cácphơng thức thanh toán do hai bên mua bán thoả thuận Các Hiệp định đợc ký kết trớc ngày26/5/1993 cha đề cập tới vấn đề hàng đổi hàng giữa hai nớc Hiệp định về thanh toán và hợp tác
giữa hai ngân hàng hai nớc đã khắc phục đợc những thiếu sót này nh sau: Trong trờng hợp nếu
có chênh lệch giữa xuất và nhập thì có thể thanh toán trả bằng hàng nếu đợc doanh nghiệp hainớc thoả thuận (điều 3) Ngân hàng thơng mại hai bên tuỳ điều kiện của từng nớc quyết địnhthành lập quầy đổi tiền để phục vụ cho dân c biên giới đi lại, trao đổi, mua bán (điều 4) tạo điềukiện thanh toán cho hoạt động mậu dịch tiểu ngạch bằng các đồng tiền của nớc mình
Giá cả hàng hoá trong các hợp đồng ngoại thơng dựa vào mức giá thị trờng quốc tế củahàng hoá đó hoặc do các công ty ngoại thơng của hai nớc thoả thuận (điều 4, 5 Hiệp định th-
ơng mại ký ngày 7/11/1991)