Hai bên đầu và thân có cơ quan đường bên là những ống nhỏ nằm dưới da và thông với bên ngoài qua những lỗ nhỏ.. Trên lát cắt dọc hình 6.10 có thể dễ dàng quan sát được: a Hệ thần kinh
Trang 1Dọc trên lưng phần sau có hai vây lưng, vây trước nhỏ, vây sau lớn và nối tiếp với vây
đuôi nhỏ Vây đuôi không phân thùy, khá tròn đều, các tia đối xứng hai bên trụ sống đặc
trưng của kiểu đuôi nguyên vĩ Đây là kiểu đuôi nguyên thủy nhất là nguồn gốc của 3 kiểu
còn lại ở cá sụn và cá xương
Cuối phần thân ở mặt dưới có lỗ hậu môn, phía sau có núm niệu sinh dục nhỏ Hai bên
đầu và thân có cơ quan đường bên là những ống nhỏ nằm dưới da và thông với bên ngoài qua những lỗ nhỏ
Da trần có phủ một lớp nhày do tuyến nhày tiết ra Các cơ thân và đuôi gồm nhiều khúc hình chữ Z xếp lồng vào nhau Đó là hiện tượng phân đốt của cơ Giữa các tiết cơ là vách cơ,
có thể quan sát được khi cá được lột da
3.2 Quan sát cấu tạo nội quan
Quan sát các lát cắt của cá Miệng tròn cho thấy :
Trên cùng là da bao phủ toàn bộ cơ thể Dưới da là tầng cơ Tiếp dưới tầng cơ là tổ chức
liên kết
Trên lát cắt dọc (hình 6.10) có thể dễ dàng quan sát được:
a) Hệ thần kinh
Hệ thần kinh của cá Miệng tròn là một ống dài nằm trong bao liên kết
Phía trước ống thần kinh là não bộ (hình 6.11) và phần sau là tủy sống Não bộ còn rất nguyên thủy nhưng cũng phân ra các phần: Não trước, não trung gian, não giữa, tiểu não và
hành tủy Các phần của não bộ chưa phân biệt rõ ràng Chúng đều nằm trên một mặt phẳng vì
chưa có hiện tượng uốn khúc não Có thể thấy thùy khứu giác khá lớn nằm phía trước bán cầu não trước Sau đó là não trung gian bị kẹp chặt vào giữa hai bán cầu não trước Mặt trên não trung gian có cơ quan đỉnh và mấu não trên Nhưng hai bộ phận này rất nhỏ và khó quan sát Mặt dưới não trung gian có phễu não hình vòm gắn với mấu não dưới, là một tuyến nội tiết và là nơi xuất phát của các dây thần kinh não Não giữa phát triển chưa đầy đủ, ở nóc lỗ hổng phủ màng biểu mô Tiểu não chỉ là nếp thần kinh mỏng nằm sau não giữa Hành tủy lớn chiếm gần một nửa chiều dài não bộ
b) Bộ xương
Hình 6.10 Lát cắt dọc cá Bám
1 Dây sống; 2 Ống thần kinh; 3 Rãnh ống thần kinh; 4 Mô liên kết; 5 Cơ lưng; 6 Não bộ; 7 Lỗ mũi; 8 Túi khứu giác;
9 Mấu não dưới; 10 Phần sau sọ; 11 Phần trước sọ; 12 Sụn trên sau; 13 Sụn trên trước; 14 Sụn vòng; 15 Phễu miệng;
16 Răng sừng; 17 Sụn dưới lưỡi; 18 Xoang miệng; 19 Thực quản; 20 Ruột; 21 Ống hô hấp; 22 Lỗ túi mang trong; 23 Bao mang trái; 24 Lỗ mang ngoài trái; 25 Tim; 26 Sụn bao tim; 27 Gan; 28 Dịch hoàn; 29 Ruột thẳng; 30 Lỗ hậu môn;
31 Thận; 32 Ống niệu; 33 Núm niệu; 34 Lỗ niệu; 35 Lỗ sinh dục
Trang 2Bộ xương cá Miệng tròn chưa có chất xương mà
chỉ mới ở giai đoạn sụn Bộ xương gồm dây sống và sọ
Dây sống nằm phía dưới và chạy song song với ống
thần kinh Cũng như ống thần kinh, dây sống nằm trong
bao liên kết Trong lát cắt dọc không thể thấy được sọ
nguyên vẹn mà chỉ thấy được các sụn của sọ Đó là sụn
vòng, sụn nóc trước, sụn nóc sau (hình 6.12)
Khó quan sát sọ tạng vì các sụn nằm trong cơ ở
vùng phễu miệng và vùng bên thành hầu, chỉ thấy được
sụn dưới lưỡi rất phát triển, là nơi bám của cơ lưỡi thích
nghi với đời sống kí sinh hút máu và dịch từ vật chủ
(hình 6.9C)
c) Hệ tiêu hóa
Cơ quan tiêu hóa có thể quan sát dễ dàng trên lát
cắt dọc Ở mút trước cơ thể là phễu miệng hình tròn
Quanh phễu miệng có diềm da Bên trong phễu miệng
là xoang miệng Trong xoang miệng có nhiều răng
sừng Phía trên miệng có tấm sừng trên lớn, phía dưới
có tấm sừng dưới Ngoài ra còn có răng sừng lưỡi, răng
sừng môi bên (hình 6.9B) Đáy xoang miệng có lỗ
miệng, phía dưới xoang miệng có lưỡi Lưỡi là một khối cơ chắt kéo dài từ miệng đến trước
tim Đầu lưỡi có nhiều răng sừng nhỏ Lưỡi có tác dụng như cái pittong cử động trong hầu và khi phễu miệng bám chặt vào vật chủ sẽ tạo áp lực để hút máu, dịch của vật chủ
Tiếp sau miệng là hai ống
là ống tiêu hoá và ống hô hấp
(ống nhỏ và dài ở phía trên là
ống tiêu hoá, ống lớn ngắn phía
dưới là ống hô hấp)
Phần đầu ống tiêu hóa là
thực quản dẫn đến dạ dày chưa
phân hóa, là đoạn ruột trước có
kích thước lớn hơn đoạn ruột sau
một chút Sau dạ dày đến ruột
thẳng và dẫn ra ngoài qua lỗ hậu
môn nằm ở mặt bụng Tuyến tiêu hóa là gan lớn hình túi, nằm phía dưới dạ dày và tụy phân
tán ở thành ruột (hình 6.10)
d) Hệ hô hấp
Cơ quan hô hấp là ống hô hấp nằm phía dưới ống tiêu hóa Ống này có đầu trong bịt kín, được hình thành từ phần trước của hầu Hai bên thành của ống có bảy đôi lỗ túi mang
Hình 6.11 Cấu tạo não bộ của cá Bám
I Mặt trên; II Mặt dưới
1 Bán cầu não; 2 Thuỳ khứu giác;
3 Dây khứu giác; 4 Não trung gian; 5.- 6 Hạch habenula; 7 Cơ quan đỉnh;
8 Dây thị giác; 9 Phễu não; 10 Thuỳ thị giác; 11.Lỗ thủng nóc; 12 Dây não giữa;
13 Dây vận nhỡn; 14 Dây sinh ba;
15 Dây thíng giác; 16 Hành tuỷ; 17 Hố trám; 18 Tiểu não thô sơ
Hình 6.12 Sọ và xương tạng của cá Bám
1 Dây sống; 2 Cung trên; 3 Hộp sọ; 4 Sụn nóc sau; 5 Túi khứu giác; 6 Túi thính giác; 7 Sụn vòng; 8 Sụn nóc trước; 9 Sụn bên trước; 10 Sụn bên sau;
11 Sụn dưới lưỡi; 12 Sụn que; 13 Sụn lẻ dưới; 14 Cung mang; 15 Dải sụn mang dọc; 16 Sụn bao tim; 17 Sụn tiêm; 18 Sụn dưới mắt
Trang 3trong thông với bảy đôi túi mang Mỗi túi mang lại thông ra ngoài qua lỗ túi mang ngoài
(hình 6.10) Các lỗ này thấy ở thành bên cơ thể sau vùng đầu Để tăng diện tích phân bố của các mao mạch, bên trong mỗi túi mang có nhiều lá mang xếp dọc theo đường kinh tuyến của túi Đầu ngoài của ống hô hấp thông với lỗ mũi lẻ của cá (hình 6.10)
e) Hệ tuần hoàn
Về cơ bản tương tự cá Lưỡng tỉêm, nhưng cá Miệng tròn đã có tim chính thức Tiêu bản
lát cắt dọc có thể thấy tim nằm trong sụn bao tim Đó là tấm sụn mỏng màu tím bao lấy tim
Tim gồm tâm nhĩ có thành mỏng nằm phía sau và tâm thất có thành dày hơn nằm phía
trước Từ tâm thất phát bầu chủ động mạch Từ bầu chủ động mạch phát lên phía trước là động mạch chủ bụng Động mạch chủ bụng phát ra tám đôi động mạch tới mang đi tới các đôi
túi mang Máu ở mang sau khi trao đổi khí sẽ theo tám đôi động mạch rời mang đổ vào động mạch chủ lưng và đưa đi nuôi cơ thể Trên lát cắt dọc chỉ có thể quan sát được tĩnh mạch gan
đổ vào xoang tĩnh mạch nằm ở phía sau tâm thất (hình 6.13 và 6.14A)
f) Cơ quan bài tiết và sinh dục
Cơ quan bài tiết của cá Miệng tròn là đôi trung thận dài, hẹp nằm ở hai bên nửa lưng sau khoang bụng, kéo dài đến hậu môn Đường dẫn niệu là ống Wolff đổ vào xoang niệu sinh dục, đổ ra ngoài qua lỗ niệu sinh dục ở đầu núm niệu sinh dục
Cơ quan sinh dục là một buồng trứng hay một tinh hoàn không có ống dẫn (hình 6.14B)
Hình 6.13 Tuần hoàn của cá Bám
1 - 2 Động mạch tới và rời mang; 3 Động mạch rời mang của nửa mang trái; 4 Động mạch đuôi; 5 - 6 Động mạch cảnh ngoài và trong; 7 Động mạch phân đốt; 8 Động mạch mạc treo; 9 Ống liên hệ; 10 - 11 Động mạch chủ lưng và bụng;
12 Động mạch bụng; 13 Động mạch gan; 14 Tâm thất; 15 Bầu chủ động mạch; 16 Xoang tĩnh mạch; 17 Tâm nhĩ; 18-
19 Tĩnh mạch chính trước và sau; 20 Tĩnh mạch đuôi; 21 Tĩnh mạch gan; 22 Tĩnh mạch dưới ruột; 23 Tĩnh mạch cảnh
đuôi
Trang 4Câu hỏi đánh giá
1 Nêu các đặc điểm về hình dạng ngoài và cấu tạo trong của cá Lưỡng tiêm thích nghi với lối sống vùi trong cát, nơi nước trong và không quá sâu?
2 Trình bày cấu tạo cơ quan tiêu hóa và hoạt động dinh dưỡng của cá Lưỡng tiêm?
3 Hình dạng ngoài thích nghi với lối sống bám của cá Bám và cá Mixin?
4 Cấu tạo hệ thần kinh của cá Bám Nêu rõ tính chất nguyên thủy của hệ thần kinh Cá bám?
5 Trình bày cấu tạo hệ tuần hoàn của cá Bám? So sánh với hệ tuần hoàn của cá Lưỡng tiêm?
Hình 6.14 Lát cắt ngang qua thân của cá Bám
A Qua vùng tim: 1 Tim; 2 Sụn; 3 Ruột; 4 Tuyến sinh dục; 5 Dây sống; 6 Ống thần kinh
B Qua vùng gan: 1 Gan; 2 Ruột; 3 Tuyến sinh dục; 4 Dây sống; 5 Ống thần kinh
Trang 5Bài 7
Lớp Cá sụn - cá nhám, Cá xương - cá chép
I Nghiên cứu cá nhám
1 Vị trí phân loại
Cá Nhám tro Mustelus griseus
Họ Cá Nhám Carcharhinidae
Bộ Cá Nhám Lamniformes
Lớp phụ Cá Mang tấm Elasmobranchii
Lớp Cá sụn Chondrichthyes
Nhóm Có hàm Gnathostomata
Ngành phụ Có sọ Craniota
Hay ngành phụ Có xương sống Vertebrata
Ngành Có dây sống Chordata
2 Dụng cụ và mẫu vật
- Hộp đồ mổ
- Chậu mổ
- Ván mổ
- Khăn lau tay
- Kim găm
- Cá Nhám tươi ướp lạnh hay đã ngâm trong formalin
- Các tranh vẽ: Hình dạng ngoài, cấu tạo nội quan, sơ đồ hệ tuần hoàn, não bộ, hệ niệu sinh dục cá Nhám
3 Kỹ thuật giải phẫu
Trước khi giải phẫu để quan sát hệ cơ, ta dùng dao rạch một hình chữ nhật có kích thước 3cm x 4cm ở bên thân cá Sau đó dùng kẹp nâng lên rồi lấy mũi dao lột bỏ mảng da đó
sẽ thấy cách sắp xếp cơ của cá Nhám Cơ của cá nhám phân đốt, các đốt cơ hay tiết cơ xếp theo hành chữ “S” hơi thẳng Các tiết cơ nằm song song với nhau và được ngăn cách bởi các vách cơ (hình 7.1)
Hình 7.1 Đường mổ cá nhám tro
Trang 6Sau khi đã quan sát hình dạng ngoài và hệ cơ ta tiến hành mổ cá Dùng dao cắt bỏ bớt phần cơ lưng con vật rồi đặt ngửa cá trong chậu mổ Dùng dao rạch ngang một đường 0,5cm
ở dưới vây lưng một chút Lấy kẹp nâng da và cơ bụng lên Dùng kéo lớn cắt theo đường mũi tên lên đến qua đai ngực Khi cắt chú ý không để kéo hướng sâu xuống sẽ dễ xuyên vào bụng
và cạm vào nội quan bên trong, nên cho kéo nằm ngang và cắt ít một (hình 7.1)
Tiếp tục dùng kéo cắt bỏ đai ngực và cắt dọc lên đến tận hàm dưới Cắt sang hai bên, bỏ phần
cơ vùng ngực ta sẽ thấy nội quan bên trong xoang ngực Chú ý trước khi gỡ phần này phải xác định vị trí của tim và động mạch bụng để không chọc vào tim và làm đứt mạch Sau khi đã xác định được tim, côn chủ động mạch, dùng mũi mác gạt nhẹ lần lượt tìm các động mạch tới mang Khi đã tìm đủ bốn gốc động mạch tới mang (trong đó gốc thứ tư sẽ được chia làm 2 tới
2 cung mang đầu) có thể dùng kẹp và kéo con gỡ bỏ cơ để hệ mạch tới mang lộ rõ
4 Nội dung nghiên cứu
4.1 Quan sát hình dạng ngoài
Đặt cá trong chậu mổ, dùng kẹp và kim mũi nhọn, kim mũi mác để xác định vị trí các
bộ phận quan sát
Cá Nhám có cơ thể hình thoi thuôn dài chia làm ba phần là đầu, thân, đuôi
a) Đầu
Được tính từ mút mõm đến sau khe mang thứ năm Phía trước của đầu là mõm nhọn Hai bên đầu có hai mắt to màu đen Đồng tử mắt tròn, mắt không có mí (ở một số cá Nhám khác có mí mắt thứ ba) Mắt có thể đảo đi đảo lại được nhờ hệ cơ mắt phát triển, nhờ đó cá Nhám có thể phát hiện được con mồi từ xa Gần ngay sau mắt có lỗ tròn nhỏ thông với hầu gọi là lỗ thở, là di tích của một khe mang Phía sau lỗ thở, xa hơn một chút là năm đôi khe
mang ngoài nằm ở hai phần sau của đầu
Miệng hình chữ “V” có đáy nhọn hướng về phía trước, nằm ở mặt dưới của đầu Trước miệng có hai lỗ mũi nằm ở hai bên Mỗi lỗ mũi có một nếp da gọi là van mũi ngăn không hoàn toàn chia lỗ mũi ra làm đôi Mũi thông với cơ quan khứu giác nằm trong xoang mũi một
lỗ cho nước vào và một lỗ cho nước ra Xoang mũi chỉ làm nhiệm vụ khứu giác không thông với xoang miệng (hình 7.2)
5
4
1
10
9
6
7
8
Hình 7.2 Hình dạng ngoài của cá nhám
1 Mõm; 2 Lỗ mũi; 3 Lỗ thở; 4 Tia vây; 5 Vây lưng trước; 6 Vây lưng sau; 7 Vây đuôi; 8 Vây bụng; 9
Vây ngực; 10 Các khe mang ngoài
Trang 7Dùng kẹp mở miệng cá Nhám ta sẽ thấy có nhiều răng nhỏ nằm trong xoang miệng Răng có dạng hình côn nhọn hướng vào trong có nguồn gốc từ vẩy tấm Xung quanh phía trước miệng có nhiều chấm đen, xếp theo đường cong là cơ quan xúc giác, bao gồm nhiều ống nhỏ bên trong chứa dịch
b) Thân
Được giới hạn từ sau khe mang thứ năm đến phía trước lỗ hậu môn, được phủ bởi lớp vẩy tấm Cá Nhám có hai đôi vây chẵn là vây ngực và vây bụng nằm ở mặt bụng thân cá Các đôi vây chẵn đều xếp theo vị trí nằm ngang, thể hiện tính chất nguyên thủy của kiểu xếp vây
Bờ trong mỗi bên vây bụng của cá đực có gai giao cấu do cơ vân biến đổi, là đặc điểm nổi bật
để phân biệt với cá cái
Trên lưng cá Nhám có hai vây lưng Vây lưng trước lớn nằm phía trước thân, vây lưng sau nhỏ nằm ở ranh giới giữa đuôi và thân ở mặt lưng cơ thể Vây lưng sau chưa có cấu tạo điển hình mà chỉ là nếp da nhô lên, nên gọi là vây giả hay vây mỡ Trung gian giữa thân và
đuôi là lỗ huyệt, là nơi đổ ra của các ống dẫn sinh dục, ống dẫn niệu và lỗ hậu môn (hình 7.2)
c) Đuôi
Có giới hạn trước là lỗ hậu môn, phía sau là mút đuôi cơ thể, được phủ vẩy tấm Trên phần đuôi có vây đuôi bao quanh Vây đuôi có hai thùy Phía trên là thùy lưng lớn, phía dưới thùy bụng nhỏ Vây đuôi cá Nhám cấu tạo theo kiểu dị vĩ để thích nghi với việc bơi nhanh trong tầng nước Mặt dưới đuôi là vây hậu môn lẻ
Dọc hai bên thân cá có hai hàng chấm nhỏ Đó là cơ quan đường bên Cơ quan này còn
phân bố ở vùng đầu, quanh mắt dưới dạng những đường cong phức tạp (hình 7.2)
4.2 Quan sát cấu tạo trong
4.2.1 Cấu tạo nội quan
a) Cơ quan tiêu hóa
Bắt đầu ống tiêu hóa là xoang miệng Quanh bờ xoang miệng có vài dãy răng nhọn, đỉnh hướng vào trong và gắn với cung hàm nhờ tổ chức liên kết Đáy xoang miệng có lưỡi và nếp màng nhày được nâng đỡ bởi sụn lưỡi Xoang miệng dẫn đến hầu thủng năm đôi lỗ khe mang trong và đôi lỗ thở hai bên Tiếp theo là thực quản ngắn Tiếp đến là dạ dày lớn, gấp khúc hình chữ “V” lệch Nhánh lớn là thượng vị của dạ dày nối với thực quản, nhánh nhỏ là
hạ vị nối với ruột Phần đầu ruột ngay sau dạ dày là ruột tá có kích thước gần bằng nhánh bé của dạ dày, ranh giới bên ngoài không rõ ràng Dạ dày có thành cơ dày và có nhiều rãnh dọc Thành ruột rất mỏng Sau ruột tá là ruột chính thức kéo dài về sau Cuối cùng là ruột thẳng Ranh giới giữa ruột chính thức và ruột thẳng là ruột tịt Dạ dày và ruột được nâng đỡ bởi vách
tràng hệ mạc hay mạc treo ruột
Dùng kéo cắt bỏ biểu mô ở ruột cá đã định hình bằng formalin ta sẽ thấy nếp nhày xếp hơi xoắn ốc gọi là van xoắn ốc Đó là các đặc điểm của cá thấp, nhằm giảm tốc độ vận chuyển của thức ăn đã tiêu hóa, tăng khả năng hấp thụ chất dinh dưỡng và nước
Trang 8Ruột đổ thẳng ra lỗ hậu môn nằm trong xoang huyệt, là điểm cuối cùng của ống tiêu hóa (hình 7.3)
Tuyến tiêu hóa của cá Nhám gồm có: Gan chia hai thùy, thùy lớn nằm trên dạ dày Trong thùy lớn có túi mật, ống dẫn mật đổ vào ruột tá
Tuyến tụy hình dải nhỏ màu trắng đục, nằm bên ngoài sau dạ dày, có ống dẫn đỏ vào phần cuối của dạ dày và đầu của ruột tá
Tì tạng hay lá lách là cơ quan sinh máu nhỏ, dài, màu đỏ sẫm, nằm bên ngoài dạ dày, kéo dài đến đầu ruột
b) Hệ tuần hoàn
+ Tim được bao bởi xoang tim nằm trong xoang ngực Xoang bao tim thường dính sát vào đai ngực Dùng kẹp nâng lên, lấy kéo cắt bỏ xoang bao tim sẽ thấy tim lộ ra rõ ràng Vùng tim gồm bốn phần là tâm thất, tâm nhĩ, phía trước có côn chủ động mạch và phía
sau có xoang tĩnh mạch Dưới tâm nhĩ là xoang tĩnh mạch cũng có thành mỏng hơn Xoang
tĩnh mạch là nơi tập trung máu tĩnh mạch ở khắp cơ thể trước khi đổ vào tim Gạt tâm thất lên
sẽ thấy tâm nhĩ có thành mỏng hơn Tâm thất hình chóp có thành dày, đỉnh nhọn hướng về phía trước Côn chủ động mạch có dạng hình chóp nằm phía trước tâm thất, được xem là một phần của tâm thất phân hóa thành, có van và có thể co bóp để cho máu chảy theo một chiều + Từ côn chủ động mạch phát ra động mạch chủ bụng đi lên phía trước Từ động mạch chủ bụng phát ra bốn đôi gốc động mạch tới mang Động mạch tới mang trên cùng chia làm hai nhánh đi vào hai cung mang đầu tiên (I) và (II) Nhánh trên cùng phát ra hai nhánh nhỏ là động mạch dưới lưỡi đi tới cung dưới lưỡi Các gốc động mạch còn lại đưa máu tới các cung mang theo thứ tụ III, IV, V (hình 7.3)
c) Cơ quan hô hấp
Dùng kẹp mở rộng xoang miệng cá để quan sát ta thấy sau xoang miệng là hầu Hầu thủng thành năm đôi lỗ khe mang trong và thông với bên ngoài bởi năm đôi khe mang ngoài
Cơ quan hô hấp của cá Nhám là mang Cá Nhám có ba loại mang :
1
2
4
3
5
10
11
12
13 14
15
16
17
18
19
20
21
22
23
24
25
Hình 7.3 Cấu tạo nội quan cá nhám
1 Mõm; 2.não cùng; 3 Não giữa; 4 Não trung gian; 5 Động mạch rời mang; 6 Động mạch chủ lưng; 7 Tinh hoàn; 8 Động mạch bụng; 9 Dạ dày; 10 Thận; 11 Vây lưng; 12 Lá lách; 13 Động mạch đuôi; 14 Tĩnh mạch đuôi; 15.Vây hậu môn; 16 Huyệt; 17 Tuyến trực tràng; 18 Van xoắn; 19 Ruột; 20 Tuỵ; 21 Gan; 22 Vây
bụng; 23 Tâm nhĩ; 24 Động mạch chủ bụng; 25 Động mạch tới mang
Trang 9+ Mang nguyên là mang đầy đủ, gồm cung mang là vòng cung bằng sụn, vách mang, lá mang đính vào hai bên vách mang
+ Mang nửa cũng có cung mang, vách mang và lá mang, nhưng lá mang chỉ có một hàng đính vào một bên vách mang
+ Mang giả chỉ có cung mang, vách mang không có lá mang
Cá Nhám có bốn đôi mang nguyên, một đôi mang nửa và một đôi mang giả
d) Cơ quan bài tiết
Là hai khối thận Để thấy rõ thận ta gạt ruột sang một bên Thận hình dải dài, màu nâu sẫm, nằm sát thành lưng con vật ở hai bên cột sống Dọc mặt bụng của thận có niệu quản tương đồng với ống Wolff đổ vào lỗ huyệt (hình 7.3)
Thận của cá Nhám là trung thận, ở cá đực ống Wolff giữ chức phận kép: Phần đầu dẫn tinh, phần cuối dẫn sản phẩm bài tiết
e) Cơ quan sinh dục
Quan sát bên ngoài có thể phân biệt cá đực và cái nhờ gai giao cấu ở con đực
+ Cá Nhám đực có hai khối tinh hoàn lớn, dài nằm hai bên xoang bụng có màu trắng nhạt Bỏ lớp màng bụng ở bên ngoài thận có thể thấy ống dẫn tinh, cũng là ống Wolff Cuối ống dẫn tinh có túi chứa tinh rất dễ bị rách khi cắt bỏ màng bụng
+ Cá Nhám cái có hai buồng trứng dài màu vàng nhạt, nằm sát với thận Hai ống dẫn
trứng chính là hai ống Mulle Phần đầu ống này mở rộng thành phễu nằm ở xoang ngực Phần
sau ống phình rộng thành tử cung có thể thấy rõ ở cá Nhám đang đẻ Phần gốc tử cung hai bên chập lại cũng đổ vào huyệt
f) Hệ thần kinh
Dùng dao và kéo lột bỏ da đầu cá Sau đó dùng mũi dao mở nóc hộp sọ, chú ý không chọc sâu mũi dao sẽ làm nát não Sau khi đã mở nóc sọ, dùng mũi kéo cắt hai bên sẽ thấy được các phần của não bộ và vài đôi dây thần kinh
Não cá Nhám gồm 5 phần kể từ trước ra sau:
+ Não trước gồm hai bán cầu não nhỏ, chưa tách biệt Phía trước não có hai thùy khứu giác khá phát triển liên hệ với bao khứu giác nhờ đôi dây thần kinh khứu giác là đôi dây thần kinh số I
+ Não trung gian nằm sau não trước Mặt lưng hoàn toàn bị che khuất Mặt bụng có thể xác định được nhờ gốc đôi dây thần kinh thị giác Bóc màng não mỏng sẽ thấy não thất ba là
một túi rỗng Nóc não trung gian có mấu não trên
+ Não giữa nằm ngay sau não trung gian, gồm hai thùy thị giác khá phát triển Xoang bên trong là rãnh Sylvius
+ Tiểu não là khối lớn phân thùy Tiểu não là trung khu điều khiển hoạt động vận động thứ cấp nên khá phát triển do cá Nhám hoạt động tích cực trong tầng nước
Trang 10+ Hành tủy phía trên có hố trám Trên hố trám là não thất tư được che phủ bởi túi mạch
(plexus chorioideus) Từ hành tủy phát ra nhiều đôi dây thần kinh đi tới các cơ quan hô hấp,
tuần hoàn, tiêu hóa và cảm giác (hình 7.4)
Phần cuối hành tủy liên hệ với tủy sống Nóc não cá Nhám đã có chất thần kinh Trục não có hiện tượng uốn khúc Đó là hai đặc điểm tiến bộ của hệ thần kinh cá Nhám
4.2.2 Bộ xương cá Nhám
a) Xương sọ
Gồm hai phần là hộp sọ và sọ tạng
- Hộp sọ hay sọ thần kinh hình thành do sự gắn liền đôi sụn giường và đôi sụn bên sống
với ba đôi nang: nang khứu giác chứa thùy khứu giác, nang thị giác chứa nhỡn cầu và nang
thính giác chứa tai trong Tất cả các đôi sụn và nang sụn đó tạo nên hộp chứa đựng não bộ
Quan sát thấy phía trước hộp sọ là ba que sụn mõm Mặt bụng có một que nằm giữa gọi
là que sụn giữa Mặt lưng có hai que nằm ở hai bên gọi là que sụn bên Ba que này hợp lại với nhau ở phía trước tạo nên hình tháp để đỡ mõm
Nhìn chung họp sọ cá Nhám chưa tách ra những sụn riêng biệt mà toàn bộ là một khối thống nhất không phân rõ ranh giới
Vùng khứu giác ở phía trước và hai bên của hộp sọ là nơi đi ra của hai que sụn bên Vùng này được gọi là nang khứu giác hay túi mũi có dạng trái xoan, bên trong chứa thùy khứu Mặt bụng túi mũi có lỗ thông với xoang mũi bên trong lỗ có sụn van mũi Trung gian túi mũi và xoang mũi có sụn vách mũi, ở giữa thủng lỗ là nơi đi ra của dây thần kinh khứu
giác Trên nóc sọ, giữa đôi túi mũi là lỗ thóp trước có hình tam giác, mặt trên phủ màng
mỏng
Hình 7.4 Hệ thần kinh cá nhám
I - X Dây thần kinh não; 1 - 2 Dây thần kinh tuỷ sống