TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ KHOA SƯ PHẠM BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC XÂY DỰNG BỘ MẪU PHỤC VỤ GIẢNG DẠY THỰC HÀNH ĐỘNG VẬT HỌC CÓ XƯƠNG SỐNG PHẦN BÒ SÁT REPTILIA, CHIM AVES VÀ THÚ MAMMALIA L
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA SƯ PHẠM
BỘ MÔN SƯ PHẠM SINH HỌC
XÂY DỰNG BỘ MẪU PHỤC VỤ GIẢNG DẠY THỰC HÀNH ĐỘNG VẬT HỌC CÓ XƯƠNG SỐNG
PHẦN BÒ SÁT (REPTILIA), CHIM (AVES)
VÀ THÚ (MAMMALIA)
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP Ngành SƯ PHẠM SINH HỌC
Lớp: HS1110A1 MSSV: 3112235 NĂM 2015
Trang 2Thầy Đinh Minh Quang người đã trực tiếp hướng dẫn, cung cấp tài liệu, góp
ý, giải đáp những thắc mắc về phương pháp ngiên cứu đề tài, luôn động viên giúp
đỡ và không ngừng theo sát tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Thầy Nguyễn Minh Thành đã góp ý, giúp đỡ và thu mẫu để tôi hoàn thành luận văn và quý Thầy Cô trong Phòng thí nghiệm đã tạo điều kiện thuận lợi cho tôi thực hiện đề tài này
Các bạn làm luận văn trong phòng thí nghiệm Động vật đã góp ý, giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn
Người thân trong gia đình tôi luôn lo lắng động viên giúp tôi hoàn thành tốt luận văn
Cần Thơ, tháng 5 năm 2015
Người thực hiện
Lâm Trung Hậu
Trang 3Ngành Sư phạm Sinh học ii Bộ môn Sư phạm Sinh học
TÓM LƯỢC
Đề tài nghiên cứu “Xây dựng bộ mẫu phục vụ giảng dạy thực hành động
vật học phần Bò sát (Reptilia), Chim (Aves), Thú (Mammalia)” được thực hiện từ
tháng 8 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015 tại phòng thí nghiệm Động vật, Bộ môn
Sư phạm Sinh học, Khoa Sư phạm, trường Đại học Cần Thơ Kết quả của đề tài đã cung cấp thêm 5 mẫu ngâm giải phẫu của Gà nhà (Gallus gallus domesticus),
Bồ câu (Columba livia domestica), Chuột đồng (Rattus andamanensis), Thỏ nhà (Oryctolagus cuniculus), 8 tiêu bản dồn gòn của 5 loài: Cắc ké (Calotes versicolor), Rắn nước (Natrix piscator), Bồ câu, Chuột đồng, Thỏ nhà Ngoài ra, đề tài này còn cung cấp thêm 24 hình vẽ cấu tạo giải phẫu của Cắc ké, Rắn nước, Gà nhà, Bồ câu, Chuột đồng, Thỏ nhà hình giải phẫu tại vị trí, giải phẫu cấu tạo trong, niệu sinh dục của con đực và con cái Kết quả trên sẽ là nguồn
dữ liệu hữu ích để phục vụ cho giảng dạy và biên soạn giáo trình Thực hành Động vật học có xương sống ở lớp Bò sát, Chim, Thú trong thời gian tới.
Trang 4MỤC LỤC
CẢM TẠ i
TÓM LƯỢC ii
MỤC LỤC iii
DANH SÁCH HÌNH v
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU 1
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 1
1.3 Nội dung nghiên cứu 2
1.4 Phạm vi nghiên cứu 2
CHƯƠNG 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Khái quát về tình hình nghiên cứu và sử dụng lớp Bò sát, Chim, Thú trong giảng dạy học phần thực tập Động vật học có xương sống 3
2.2 Khái quát về đặc điểm của lớp bò sát (Reptilia) 4
2.2.1.Đặc điểm chung của lớp bò sát 4
2.2.2.Cấu tạo giải phẩu chung của bò sát 4
2.3 Khái quát về đặc điểm của lớp chim (Aves) 7
2.3.1.Đặc điểm chung của lớp chim 7
2.3.2.Cấu tạo giải phẫu chung của lớp chim 7
2.4 Khái quát về đặc điểm của lớp thú (Mammalia) 10
2.4.1 Đặc điểm chung của lớp thú 10
2.4.2 Cấu tạo giải phẫu chung của lớp thú 10
CHƯƠNG III PHƯƠNG TIỆN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 15
3.1 Phương tiện 15
3.2 Phương pháp 15
3.2.1.Phương pháp thu mẫu 15
3.2.2.Phương pháp giải phẫu 15
Trang 5Ngành Sư phạm Sinh học iv Bộ môn Sư phạm Sinh học
3.2.3.Phương pháp làm tiêu bản dồn gòn 23
3.2.4.Phương pháp vẽ hình 25
CHƯƠNG IV KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Kết quả 26
4.1.1.Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của Cắc ké và Rắn nước 26
4.1.1.1.Cắc ké 26
4.1.1.2.Rắn nước 33
4.1.2.Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của Gà nhà và Bồ câu 38
4.1.2.1.Gà nhà 38
4.1.2.2.Bồ câu nhà 42
4.1.3.Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của Thỏ nhà và Chuột đồng 47
4.1.3.1.Thỏ nhà 47
4.1.3.2.Chuột đồng 52
4.2.Một số thảo luận về giảng dạy thực hành phần Bò sát (Reptilia), Chim (Aves) và Thú (Mamalia) 57
CHƯƠNG V KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Đề nghị 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60 PHỤ LỤC I
Trang 6DANH SÁCH HÌNH
Hình 3 1: Giai đoạn cắt da Cắc ké (Calotes versicolor) 16
Hình 3 2: Giai đoạn cắt cơ Cắc ké (Calotes versicolor) 17
Hình 3 3: Giải phẫu Rắn nước (Natrix picastor) 18
Hình 3 4: Giai đoạn cắt da Gà (Gallus gallus dometicus) 19
Hình 3 5: Giai đoạn cắt cơ Gà (Gallus gallus dometicus) 20
Hình 3 6: Giai đoạn cắt da Thỏ (Oryctogalus cuniculus) 21
Hình 3 7: Giai đoạn cắt cơ Thỏ (Oryctogalus cuniculus) 23
Hình 4 1: Hình thái ngoài của Cắc ké (Calotes versicolor) 26
Hình 4 2: Cơ quan tại vị trí của Cắc ké (Calotes versicolor) ♂ 28
Hình 4 3: Cơ quan bên trong của Cắc ké (Calotes versicolor) ♀ 30
Hình 4 4: Cơ quan bên trong của Cắc ké (Calotes versicolor) ♂ 31
Hình 4 5: Hình thái ngoài của Rắn nước (Natrix piscator) 33
Hình 4 6: Cơ quan tại vị trí của Rắn nước (Natrix picastor) ♂ 34
Hình 4 7: Cơ quan bên trong của Rắn nước (Natrix picastor) ♀ 36
Hình 4 8: Cơ quan bên trong của Rắn nước (Natrix picastor) ♂ 37
Hình 4 9: Hình thái ngoài Gà nhà (Gallus gallus domesticus) 38
Hình 4 10: Cơ quan tại vị trí của Gà nhà (Gallus gallus domesticus) ♂ 39
Hình 4 11: Cơ quan tại vị trí của Gà nhà (Gallus gallus domesticus) ♀ 41
Hình 4 12: Cơ quan bên trong của Gà nhà (Gallus gallus domesticus) ♂ 42
Hình 4 13: Hình thái ngoài Bồ câu nhà (Columba livia domestica) 43
Hình 4 14: Cơ quan tại vị trí của Bồ câu (Columba livia domestica) ♀ 44
Hình 4 15: Cơ quan bên trong của Bồ câu nhà (Columba livia domestica) ♂ 45
Hình 4 16: Cơ quan tại vị trí của Bồ câu nhà (Columba livia domestica) ♀ 46
Hình 4 17: Hình thái ngoài Thỏ (Oryctolagus cuniculus) 47
Hình 4 18: Cơ quan tại vị trí của Thỏ (Oryctolagus cuniculus) ♀ 48
Hình 4 19: Cơ quan bên trong của, Thỏ (Oryctolagus cuniculus) ♂ 50
Trang 7Ngành Sư phạm Sinh học vi Bộ môn Sư phạm Sinh học
Hình 4 20: Cơ quan tại vị trí của Thỏ (Oryctolagus cuniculus) ♀ 51
Hình 4 21: Hình thái ngoài Chuột đồng (Rattus andamanensis) 52
Hình 4 22: Cơ quan tại vị trí của Chuột đồng (Rattus andamanensis) ♀ 53
Hình 4 23: Cơ quan bên trong của Chuột đồng (Rattus andamanensis) ♂ 55
Hình 4 24: Cơ quan tại vị trí của Chuột đồng (Rattus andamanensis) ♀ 56
Trang 8CHƯƠNG 1
GIỚI THIỆU
1.1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam là quốc gia có hệ động thực vật đa dạng và phong phú Trong đó,
Bò sát chiếm khoảng 296 loài thuộc 22 họ, Chim có 8600 loài thuộc 34 bộ, Thú hiện tại đã được phát hiện hơn 4300 loài được xếp vào 36 bộ (Lê Vũ Khôi, 2005) Bên cạnh vai trò đảm bảo thế cân bằng sinh học trong tự nhiên (Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009), nhiều loài là nguồn thực phẩm có giá trị kinh tế, một số loài còn được dùng làm dược liệu, sản xuất đồ mỹ nghệ và giải trí cho con người (Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009)
Bò sát, Chim, Thú ngày càng được tìm hiểu và trở thành những đối tượng nghiên cứu khoa học và được sử dụng để giảng dạy cho sinh viên, học sinh ở các trường Đại học, Cao đẳng, Trung học phổ thông và Trung học cơ sở Song bộ hình
vẽ trong tài liệu của các tác giả Lê Vũ Khôi, Trần Thanh Tòng, Trần Kiên lại chưa phù hợp trong việc giảng dạy cho sinh viên Bộ môn Sư phạm Sinh học, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ, cụ thể:
- Hình ảnh trong tài liệu của các tác giả chủ yếu mô tả chuyên sâu về đặc điểm cấu tạo giải phẫu của từng đối tượng Một số chi tiết không thực sự cần thiết hoặc chưa được đưa vào giảng dạy trong học phần Thực tập Động vật học có xương sống, điều này gây nhiều khó khăn cho sinh viên trong quá trình nghiên cứu môn học
Bên cạnh đó, bộ tư liệu của các lớp Bò sát, Chim, Thú của Phòng thí nghiệm Động vật thuộc Bộ môn Sư phạm Sinh học, Khoa Sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ còn hạn chế và một số đã bị hư hỏng nặng Một số mẫu giải phẫu Bò sát, Chim, Thú đã được làm khá lâu nên chất lượng có phần giảm sút
Chính vì vậy, đề tài “Xây dựng bộ mẫu phục vụ giảng dạy thực hành Động
vật học có xương sống phần Bò sát (Reptilia), Chim (Aves) và Thú (Mammalia)”
được đề xuất thực hiện
1.2 Mục tiêu của đề tài
Trang 9Ngành Sư phạm Sinh học 2 Bộ môn Sư phạm Sinh học
- Xây dựng bộ tư liệu ảnh phục vụ cho việc giảng dạy học phần “Thực tập Động vật học có xương sống” phần Bò sát, Chim và Thú
- Bổ sung một số tiêu bản (giải phẫu và dồn gòn) vào bộ sưu tập mẫu Bò sát, Chim và Thú trong Phòng thí nghiệm Động vật, Bộ môn Sư phạm Sinh học, Khoa
Sư phạm, Trường Đại học Cần Thơ
1.3 Nội dung nghiên cứu
Tiến hành giải phẫu, chụp ảnh, vẽ hình và thực hiện bộ mẫu (ngâm và dồn
gòn) của Cắc ké (Calotes versicolor), Rắn nước (Natrix piscator), Gà nhà (Gallus gallus domesticus), Bồ câu (Columba livia domestica), Chuột đồng (Rattus andamanensis) và Thỏ nhà (Oryctolagus cuniculus)
phương pháp giải phẫu, mô tả hình thái ngoài và cấu tạo giải phẫu của 6 loài trên, 5 mẫu ngâm giải phẫu của Gà nhà, Bồ câu, Chuột đồng, Thỏ nhà và 8 tiêu bản dồn gòn của 5 loài: Cắc ké, Rắn nước, Bồ câu, Chuột đồng, Thỏ nhà Đề tài được thực hiện từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 5 năm 2015 tại phòng thí nghiệm Động vật,
Bộ môn Sư phạm Sinh học, Khoa Sư phạm, trường Đại học Cần Thơ
Trang 10CHƯƠNG 2
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Khái quát về tình hình nghiên cứu và sử dụng lớp Bò sát, Chim, Thú trong giảng dạy học phần thực tập Động vật học có xương sống
Trong quyển “Photo Atlas for General Biology” của các thành viên trường
Đại Học Bayor (2005) đã mô tả rất chi tiết về cấu tạo giải phẫu của lớp Bò sát, Chim, Thú Trên thế giới đã có nhiều tác giả nổi tiếng nghiên cứu về các đối tượng
trên Đáng kể nhất đó là công trình nghiên cứu của Hickman et al (2003), Kardong et
al (2009), Naumov và Kartasev (1974), Raven et al (1989)
Bên cạnh các tài liệu nước ngoài, tài liệu trong nước sử dụng giảng dạy lớp Bò sát, Chim, Thú trong môn Động vật cũng rất phong phú Một số tác giả nổi tiếng ở Việt Nam như Lê Vũ Khôi (2005), Trần Kiên và Trần Hồng Việt (2009), Trần Gia
Huấn và ctv (1979), Trần Thanh Tòng (1998) Trong quyển luận văn tốt nghiệp ”So sánh đặc điểm hình thái, cấu tạo giải phẫu của Rắn mối (Mabuya multifasciata Kuhl, 1820) và Cắc ké (Calotes versicolor Daudin, 1802) của Lê Văn Nhản (2006)
đã mô tả rất rõ đặc điểm hình thái cũng như cấu tạo các hệ cơ quan của hai đối
tượng này Trong quyển luận văn tốt nghiệp “Đặc điểm cấu tạo hệ tiêu hóa ở một
số loài động vật thuộc các lớp động vật có xương sống” của Huỳnh Thị Phong và
Lê Ngọc Trâm (2007) cũng đã mô tả khá chi tiết về hệ tiêu hóa của Rắn nước, Thằn lằn, Tắc kè, Rùa, Bồ câu, Vịt nhà, Sẻ nhà, Cuốc ngực xám, Chuột đồng, Dơi
và Bò Trong Giáo trình Thực tập Động vật có xương sống của Hà Đình Đức (1977), Trần Hồng Việt và ctv (2004) đã chọn đối tượng giảng dạy thực hành ở lớp Bò sát là Rắn nước, ở lớp Chim là Bồ câu và ở lớp Thú là Thỏ nhà Trong Giáo trình Thực tập Động vật có xương của Trần Kiên và Nguyễn Thái Tự (1980) thì sử dụng Chuột đồng thuộc lớp Thú để giảng dạy Trong Bài giảng Thực hành Động vật có xương sống của Nguyễn Mỹ Tín và Nguyễn Thanh Tùng (2006) chọn đối tượng là Cắc ké ở lớp Bò sát, Gà nhà ở lớp Chim và Thỏ ở lớp Thú Hầu hết, trong các bài giảng thực
hành ở lớp Bò sát, Chim và Thú đã sử dụng đối tượng đại diện là Rắn nước (Natrix piscator), Gà nhà (Gallus gallus domesticus), Bồ câu (Columba livia domestica), Chuột đồng (Rattus andamanensis) và Thỏ nhà (Oryctolagus cuniculus) để giảng
dạy
Trang 11Ngành Sư phạm Sinh học 4 Bộ môn Sư phạm Sinh học
2.2 Khái quát về đặc điểm của lớp bò sát (Reptilia)
2.2.1 Đặc điểm chung của lớp bò sát
Bò sát là lớp động vật có xương sống ở cạn chính thức nên chúng có những đặc điểm thích nghi rõ rệt với môi trường này (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009)
Theo Lê Vũ Khôi (2005), dạng điển hình của bò sát thấy ở thằn lằn và cá sấu với phần đầu và phần cổ rõ ràng, bốn chi dài khoẻ, nằm ngang nâng được thân khỏi mặt đất và đuôi dài Dạng rắn là nhóm bò sát chuyên hóa đặc biệt với đời sống trườn trên mặt đất nên có thân dài và thiếu chi Dạng rùa có hình dạng biến đổi nhiều do có cơ thể ẩn trong bộ mai xương với cổ dài nhưng thân và đuôi tương đối ngắn
2.2.2 Cấu tạo giải phẩu chung của bò sát
2.2.2.1 Da
Biểu bì phát triển hơn lưỡng cư, tuy không có khả năng hô hấp nhưng do có tầng ngoài hóa sừng nên có thể ngăn cản sự thoát hơi nước qua bề mặt cơ thể và cách nhiệt (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn
và ctv, 1979; Trần Thanh Tòng, 1998)
Số vảy và vị trí của các vảy ở đầu và thân của bò sát gần như không đổi trong quá trình lớn lên Các nhà phân loại đã căn cứ vào đặc điểm này để xây dựng các tiêu chuẩn định loại bò sát Bì tương đối phát triển, có nhiều tế bào sắc tố tạo nên màu sắc
Theo Lê Vũ Khôi (2005) đa số bò sát không có tuyến da trừ một số nhóm có tuyến dọc hàm dưới ở cá sấu, tuyến đùi ở thằn lằn, tuyến lỗ huyệt của cá sấu và rắn, tuyến ở đường nối yếm ở một số loài rùa
2.2.2.2 Hệ xương
Sọ bò sát có một số sai khác cơ bản như nền sọ rộng, đã hóa xương, chỉ có một lồi cầu chẩm, hình thành cung thái dương, các hố thái dương và xương gốc bướm, đặc trưng cho động vật có màng ối (Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009)
Trang 12Cột sống bò sát có cấu tạo gồm 5 phần là cổ, ngực, thắt lưng, chậu và đuôi
Cổ gồm nhiều đốt, đốt sống thứ nhất khớp với sọ Phần ngực thường có 5 đốt, mỗi đốt mang một đôi sườn Phần thắt lưng cũng có đốt sống thay đổi, có xương sườn (ở rắn) Phần đuôi gồm vài chục đốt Nhóm rùa có cột sống cùng với xương sườn gắn chặt vào mai
Ở bò sát chi có cấu tạo 5 ngón điển hình của động vật ở cạn nhưng so với lưỡng cư kích thước của xương cổ chân và xương bàn chân của chi sau giảm đi Ở rắn, các chi bị tiêu biến (Lê Vũ Khôi, 2005)
Đai vai ở mỗi bên gồm xương quạ, trước quạ và xương bả, thường có thêm xương đòn và gian đòn hình chữ thập Đai hông ở mỗi bên gồm xương hông, xương háng và xương ngồi
2.2.2.3 Hệ cơ
Bò sát có hệ cơ phân hoá mạnh hơn nhiều so với lưỡng cư, tính chất phân đốt
mờ đi chỉ còn lại phần đuôi (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998)
2.2.2.4 Hệ thần kinh và giác quan
a Hệ thần kinh
Não bộ của bò sát hoàn chỉnh hơn lưỡng cư, bán cầu não lớn, nóc não có chất thần kinh tạo thành vỏ chất xám mỏng (Lê Vũ Khôi, 2005) Thuỳ đỉnh và thuỳ khứu giác lớn Tiểu não phát triển, hành tuỷ uốn cong như động vật cao Tủy sống chạy dọc cột sống, có 2 phần phình và các đôi dây thần kinh tủy Bò sát có 12 đôi dây thần kinh não, một số loài đôi X chưa tách khỏi đôi XI do đó chỉ có 11 đôi
b Giác quan
Xoang khứu giác ở bò sát chia thành ngăn khứu giác ở trên và ngăn hô hấp ở dưới Lưỡi của bò sát vừa là cơ quan vị giác vừa là cơ quan khứu giác Mắt của bò sát có 3 mí là trên, dưới và màng nháy bảo vệ cho mắt khỏi khô
2.2.2.5 Hệ hô hấp
Bò sát hô hấp chủ yếu bằng phổi Phổi tiến hóa hơn lưỡng cư, phổi xốp bên trong có nhiều vách ngăn, chia thành các phế nang (Lê Vũ Khôi, 2005)
Trang 13Ngành Sư phạm Sinh học 6 Bộ môn Sư phạm Sinh học
2.2.2.6 Hệ tuần hoàn
Hệ tuần hoàn của bò sát khác với lưỡng cư là thiếu tĩnh mạch da Tim có 3 ngăn (2 tâm nhĩ và 1 tâm thất), tâm thất đã có vách ngăn chưa hoàn toàn Tim vẫn còn xoang tĩnh mạch (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998)
Hệ động mạch gồm 3 cung động mạch rời nhau xuất phát từ 2 nửa của tâm thất (Lê Vũ Khôi, 2005) Nhánh thứ nhất là động mạch phổi từ nữa phải tâm thất ra thành 2 động mạch phổi đi tới phổi Nhánh thứ 2 từ nữa phải tâm thất uốn sang bên trái Nhánh thứ 3 từ nữa trái tâm thất hình thành cung chủ động mạch phải và động mạch cảnh
Máu từ phần sau của cơ thể về tim lần lượt theo các tĩnh mạch bụng, tĩnh mạch gan, cuối cùng đổ vào tĩnh mạch chủ sau sau đó đổ vào xoang tĩnh mạch rồi vào tâm nhĩ phải Máu từ phần trước cơ thể chuyển về tim theo các tĩnh mạch dưới đòn và tĩnh mạch cảnh tập trung vào tĩnh mạch chủ trước rồi di vào xoang tĩnh mạch, vào tâm nhĩ phải
2.2.2.7 Hệ tiêu hóa
Khoang miệng có xương hàm rất phát triển Trong khoang miệng có nhiều tuyến tiết chất nhầy Ở rắn tuyến nọc độc do tuyến nước bọt biến đổi (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998)
Một số nhóm có lưỡi phát triển Thực quản là một ống có thành mỏng, có nhiều nếp gấp dọc Dạ dày có cơ khỏe, nhiều tuyến vị Sau dạ dày là ruột non, tiếp theo là ruột già, trung gian có manh tràng Ruột thẳng đổ trực tiếp vào huyệt Tuyến tiêu hoá gồm: gan lớn phân thùy hoặc không, có túi mật lớn Tuỵ hình
lá, dày nằm ngay ở khúc ruột tá Lá lách là một thể màu đỏ nằm sau dạ dày
2.2.2.8 Hệ bài tiết
Cơ quan bài tiết là hậu thận, cấu tạo gồm đôi hình khối dài bám vào vách lưng ở vùng chậu Ống dẫn của thận hình thành từ gốc ống Vônphơ Có bóng đái chứa nước tiểu trừ rắn và cá sấu
Trang 142.2.2.9 Hệ sinh dục
Theo mô tả của Lê Vũ Khôi (2005), tuyến sinh dục đực là đôi tinh hoàn lớn màu trắng, tinh quản là ống Volff, cơ quan giao cấu có 2 loại: ngọc hành kép và ngọc hành đơn Tuyến sinh dục cái là hai buồng trứng Ống dẫn trứng gồm hai ống rỗng là ống Muller, một đầu thông với phần trước khoang bụng có loa kèn, đầu sau
là huyệt
2.3 Khái quát về đặc điểm của lớp chim (Aves)
2.3.1 Đặc điểm chung của lớp chim
Trong suốt 130 triệu năm tiến hóa theo hướng thích nghi với chuyển vận bay nên tất cả các loài chim hiện đại đều có cấu trúc cơ thể đồng dạng (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009) Theo Lê Vũ Khôi (2005)
Thân chắc, dạng thuôn hoặc hơi tròn Đầu nhỏ, cổ dài và cử động được Sự biến đổi hình dạng mỏ và đầu, chiều dài cổ, chiều dài và hình dạng cánh, đuôi, chi sau và các ngón chân đều thể hiện sự thích nghi với khả năng vận chuyển
2.3.2 Cấu tạo giải phẫu chung của lớp chim
2.3.2.1 Da
Da chim mỏng, khô và không có tuyến, tuyến da duy nhất là tuyến phao câu nằm ở các đốt sống đuôi Các tế bào bề mặt lớp biểu bì hóa sừng Mô liên kết của
da phân hóa thành một lớp mỏng Dưới cùng là những lớp xốp gồm những tế bào
dự trữ (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998)
Cơ thể chim được bao phủ bởi lông vũ có cấu tạo phức tạp Lông vũ rất nhẹ nhưng rất bền và có lực đàn hồi lớn Lông cánh giữ vai trò quan trọng khi bay, lông đuôi làm nhiệm vụ bánh lái
Một lông bao điển hình gồm thân lông và gốc lông Phần trên thân lông đặc mang 2 phiến lông (trong và ngoài) Mỗi phiến lông gồm nhiều sợi râu lông sơ cấp, trên những sợi này dính những râu lông thứ cấp móc với nhau Phần dưới thân là gốc lông, bên trong gốc lông có sợi màu trắng là di tích mạch máu tới nuôi lông
Trang 15Ngành Sư phạm Sinh học 8 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Màu sắc trên lông chim do hai loại sắc tố đen (melanin) và sắc tố tan trong
mỡ (lipocrom) tạo nên Sự pha trộn của 2 loại sắc tố này theo mức độ khác nhau cùng với hệ thống tế bào lăng trụ làm lông chim nhiều màu
2.3.2.2 Hệ xương
Một trong những biến đổi chủ yếu của chim thích nghi với sự bay là bộ xương nhẹ, các xương mỏng, xốp chứa nhiều khoang khí, khỏe, chắc và gắn chặt với nhau (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn
và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998)
Theo Lê Vũ Khôi (2005), xương sọ chim hầu như gắn kết lại thành một mảng Hộp sọ và ổ mắt lớn Các xương hàm không có răng và được bao bọc bằng
mỏ sừng
Cột sống chia làm 4 phần là cổ, ngực, chậu và đuôi Xương ức có gờ lưỡi hái lớn là nơi bám của cơ ngực Các đốt sống đuôi cuối cùng gắn liền với nhau thành xương phao câu
Xương chi trước có những biến đổi quan trọng cấu tạo nên cánh chim Đai vai gồm ba xương có hình dạng và vị trí thích hợp cho đôi cánh Xương đai hông không khớp với nhau và tạo nên hông mở thích ứng với việc đẻ trứng lớn có vỏ cứng Xương chi sau gồm ba phần: đùi, ống chân, bàn chân
2.3.2.3 Hệ cơ
Các cơ vận động cánh tương đối lớn đảm bảo cho việc nâng và hạ cánh khi bay Khối cơ chân chủ yếu nằm ở đùi Bàn chân không có cơ, khi chim đậu trên cành, các ngón chân quặp chặt nhờ gân nên chân chim không bị mỏi và chim không rơi khi ngủ (Lê Vũ Khôi, 2005)
2.3.2.4 Hệ thần kinh và giác quan
a Hệ thần kinh
Theo Lê Vũ Khôi (2005), não trước là hai bán cầu lớn, vỏ não mỏng, chưa có nếp gấp Thùy khứu giác nhỏ Mặt dưới bán cầu não có thể vân là trung tâm điều khiển các hoạt động bản năng của chim
Não trung gian bị che lấp do bán cầu não phát triển Não giữa có hai thùy thị giác lớn Tiểu não là trung tâm thống nhất chính của não điều khiển các hoạt động
Trang 16sống của chim Tủy sống có hai chỗ phình: phình cổ ứng và phình hông Chim có
đủ 12 đôi dây thần kinh não
b Giác quan
Tai chim có đủ ba vùng: tai giữa, trong và ngoài Bên ngoài tai có nếp da nổi lên và phủ lông (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009) Chim có mắt rất lớn, cấu tạo gần giống mắt bò sát
2.3.2.5 Hệ hô hấp
Theo Lê Vũ Khôi (2005) đường hô hấp bắt đầu từ đôi lỗ mũi ngoài dẫn đến xoang mũi rồi lỗ mũi trong Khe họng nằm sau lưỡi dẫn đến thanh quản có sụn nhẫn và sụng hạt cau Tiếp theo là khí quản phân thành hai phế quản
Phổi nhỏ, ít giãn nở vì được dính sát vào thành cơ thể Hệ thống túi khí rất phát triển, gồm 9 túi khí chính nối tiếp nhau và kéo dài thành các túi nhỏ
2.3.2.6 Hệ tuần hoàn
Lê Vũ Khôi (2005) cho rằng lớp chim có tim lớn, bốn ngăn Hệ động mạch của chim chỉ có cung chủ động mạch phải đi từ tâm thất trái, dẫn tới động mạch chủ lưng Ở gốc cung chủ động mạch phát ra một đôi động mạch không tên phân thành động mạch cảnh, động mạch dưới đòn, động mạch ngực tới cánh và ngực
2.3.2.7 Hệ tiêu hóa
Đa số chim đào, bắt, giết mồi bằng mỏ Một số loài chim ăn thịt bắt mồi lớn bằng chân Hình dạng mỏ chim cho thấy có sự chuyên hóa đối với các loại thức ăn khác nhau
Theo Trần Kiên và Trần Hồng Việt (2009) chim không có răng, tuyến nước bọt phát triển kém Hầu ngắn, thực quản dài và đàn hồi Nhiều chim có diều là phần phình của đọan cuối thực quản để chứa thức ăn Ở chim bồ câu diều còn tiết
"sữa" nuôi con non Dạ dày có hai phần: dạ dày tuyến và dạ dày cơ Chim có manh tràng ở nơi tiếp giáp ruột non và ruột già đổ vào huyệt Gan lớn
2.3.2.8 Hệ bài tiết
Chim có hậu thận khá lớn, gắn sát vào phần lưng của hông chim, chia làm 3 thùy Chim không có bóng đái (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998)
Trang 17Ngành Sư phạm Sinh học 10 Bộ môn Sư phạm Sinh học
2.3.2.9 Hệ sinh dục
Chim trống có hai tinh hoàn lớn hình bầu dục màu trắng ngà, có thêm tinh hoàn phụ Ống dẫn ngắn, có hoặc không có cơ quan giao phối Chim mái chỉ có một buồng trứng và ống dẫn trứng trái phát triển Trứng cỡ lớn hình bầu dục hay hòn dài, màu sắc thay đổi tùy loài và môi trường đẻ Chim đẻ từ một đến vài chục trứng/1 lứa Thường đẻ 1-2 lần/mùa đẻ (Lê Vũ Khôi, 2005)
2.4 Khái quát về đặc điểm của lớp thú (Mammalia)
2.4.1 Đặc điểm chung của lớp thú
Theo Trần Kiên và Trân Hồng Việt (2009), thú là lớp động vật có tổ chức cao nhất trong các lớp động vật có xương sống
Thú có hình dạng khá thay đổi, dạng điển hình có thân dài, 4 chi kiểu 5 ngón Đầu không lớn so với thân có cổ rõ ràng, đuôi nhỏ, dài Dạng đặc biệt của thú là dơi, thích nghi với đời sống bay trên không Dạng cá voi sống trong nước có hình
cá, chi trước biến đổi thành mái chèo, chi sau biến thành đuôi
2.4.2 Cấu tạo giải phẫu chung của lớp thú
2.4.2.1 Da
Da thú cấu tạo gồm hai lớp: biểu bì và bì Các sản phẩm sừng của da ở ngón chân thú là vuốt, móng, guốc Chỉ vài loài thiếu sản phẩm trên (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998)
Lông thú gồm lông phủ và lông nệm Lông nệm ngắn, mềm, phần tuỷ lông thiếu hoặc nhỏ Lông phủ có cấu tạo gồm thân lông ở ngoài da và chân lông cắm trong da Trong các tế bào tuỷ lông và vỏ lông gồm hai loại tế bào sắc tố: đen (melanosphore) và vàng (xanthosphore) làm cho lông có màu sắc
Theo Lê Vũ Khôi (2005), tuyến da cũng là sản phẩm của da thú và có bốn loại tuyến: tuyến mồ hôi, tuyến xạ, tuyến sữa và tuyến bã Ngoài ra da còn có một
số sản phẩm khác như vảy, sừng và gạc
2.4.2.2 Hệ xương
Cột sống chia ra làm 5 phần: cổ, ngực, thắt lưng, chậu và đuôi Phần cổ gồm 7 đốt, đốt thứ nhất là đốt chống có thể xoay quanh chồi răng cưa của đốt cổ thứ hai
Trang 18Phần ngực gồm 13 đốt đều mang sườn Phần thắt lưng thiếu sườn, gồm từ 6 đến 7 đốt Phần chậu ở đa số thú gồm 4 đốt gắn với nhau, đôi khi còn gắn thêm cả đốt đuôi thứ nhất Phần đuôi gồm 25 - 49 đốt sống
Các xương của hộp sọ gắn với nhau Ðặc trưng của thú xương màng nhĩ và xương xoăn mũi phức tạp
Xương đai vai của thú giảm nhiều so với các lớp có xương sống thấp Nhiều loài thiếu cả xương đòn, xương quạ tự do Ðai hông giống với bò sát nhưng xương háng và xương ngồi gắn với nhau ở mặt bụng
Xương chi ở đa số thú cấu tạo ít chuyên hoá so với chi 5 ngón điển hình Bàn chân giống lưỡng cư Xương chi chuyên hoá cao ở vài nhóm thú có guốc theo hai nhóm là nhóm thú ngón chẵn và nhóm thú ngón lẻ Dơi có chi trước với ngón I cấu tạo bình thường và các ngón khác có đốt kéo dài ra để căng màng cánh
2.4.2.3 Hệ cơ
Hệ cơ của thú rất phân hoá tới mức đặc biệt phức tạp Ở thú hiện tồn tại khoảng vài trăm loại cơ vân, đáng lưu ý là cơ hoành và cơ bám da (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009) Cơ hoành (diaphragma): là một cơ mỏng, rộng, hình vòm, ngăn khoang ngực với khoang bụng và có thực quản xuyên qua Cơ bám da ở vùng mặt của đa số loài thú tham gia vào việc hình thành má và môi
2.4.2.4 Hệ thần kinh và giác quan
a Hệ thần kinh
Hệ thần kinh của thú so với các lớp có xương sống khác đạt mức hoàn thiện nhất (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998) Điển hình nhất của não
bộ là có bán cầu não và tiểu não rất lớn che phủ tất cả các phần khác của não bộ Não trước của thú có nhau gồm bán cầu não lớn phủ chất xám, gọi là vòm não mới Thú huyệt có vòm não mới chưa phát triển Thú túi vòm não mới chỉ chiếm một phần của não bộ Thú ăn sâu bọ và dơi có vỏ xám chiếm toàn bộ vòm não của hai bán cầu
Trang 19Ngành Sư phạm Sinh học 12 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Một trong những đặc điểm tiến hoá của não bộ thú là mặt dưới các bán cầu não có sự xuất hiện nhiều khe, rãnh Hai bán cầu não được nối với nhau bằng thể chai Não trung gian ở mặt dưới có đôi dây thần kinh thị giác bắt chéo, có phễu não
và mấu não dưới Não giữa không lớn và phân 4 thuỳ gọi là củ não sinh tư Tiểu não của thú rất lớn, phân thành ba thuỳ Dây thần kinh não của thú gồm 12 đôi
b Giác quan
Cơ quan khứu giác đặc biệt phát triển ở thú Cơ quan thính giác có cấu tạo phức tạp gồm: ống tai ngoài, tai giữa của thú có ba xương ăn khớp với nhau là xương bàn đạp (stapes), xương búa (malleus) và xương đe (incus), cuối cùng là tai trong có ốc tai phát triển với nhiều vòng xoắn
2.4.2.5 Hệ hô hấp
Lê Vũ Khôi (2005) cho rằng cấu tạo cơ quan hô hấp của thú đồng nhất và khá phức tạp Thanh quản chủ yếu gồm sụn hạt cau và sụn nhẫn như bò sát Ngoài ra còn có thêm sụn giáp trạng và lưỡi gà đặc trưng cho thú Phổi gồm đôi thể xốp ở trong khoang ngực có cấu tạo phức tạp Phế quản đi vào phổi phân thành phế quản cấp một rồi phân phế quản cấp hai, cấp ba và cuối cùng thành những tiểu phế quản
Ðộng tác hô hấp của thú bằng cách nở, xếp lồng ngực Nhưng khác với bò sát
và chim, lồng ngực của thú thay đổi thể tích không chỉ do cử động của cơ gian sườn mà còn nhờ tác động của cơ hoành
2.4.2.6 Hệ tuần hoàn
Tim của thú có 4 ngăn, hai tâm thất và hai tâm nhĩ Từ tâm thất trái xuất phát chủ động mạch đi về bên trái (khác với chim) vòng ra phía sau chạy dọc cột sống thành động mạch chủ lưng lớn Từ tâm thất phải phát động mạch phổi chung, sau
đó chia hai động mạch phổi mang máu tĩnh mạch đến phổi để trao đổi khí
Máu tĩnh mạch của hai chi sau đổ vào đôi tĩnh mạch đùi , nhập lại thành tĩnh mạch chủ sau Tĩnh mạch gan tiếp nhận máu từ tĩnh mạch ruột, dạ dày, lá lách làm thành hệ gánh gan Máu từ phổi có hai tĩnh mạch phổi nhận máu động mạch đã trao đổi khí ở phổi về nhập lại đổ vào tâm nhỉ phải
Trang 202.4.2.7 Hệ tiêu hóa
Ống tiêu hoá dài và phân hoá thành nhiều phần, có các tuyến tiêu hoá hoàn chỉnh (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998)
Ống tiêu hoá của tất cả các loài thú (trừ thú đơn huyệt) đều có lỗ hậu môn biệt lập Ống tiêu hoá phân hoá ở nhiều phần: xoang miệng - hầu, thực quản, dạ dày, ruột và hậu môn Xoang miệng chia làm hai phần: xoang trước miệng và xoang miệng chính thức Răng thú không gắn trên xương mà cắm vào trong lỗ riêng của xương hàm Hầu ngắn thông với khí quản Thực quản là một ống cơ trơn, đàn hồi, xuyên qua cơ hoành tới dạ dày Dạ dày biệt lập rõ ràng với thực quản và ruột Ruột non phân biệt rõ với ruột già, ở phần giới hạn ruột non và ruột già có ruột tịt Ruột thừa là một đoạn ngắn hình giun ở đáy ruột tịt Ruột già có đoạn cuối thẳng gọi là ruột thẳng, đoạn này nối với lỗ hậu môn mở ra ngoài Các tuyến tiêu hoá gồm tuyến nước bọt ở xoang miệng, tuyến dạ dày, tuyến gan và tuyến tụy Gan tiết dịch mật, tụy có dạng màu trắng đục hay dạng lá mỡ nằm gần hạ vị của dạ dày
2.4.2.8 Hệ bài tiết
Thận của thú là hậu thận như bò sát và chim Thận có dạng hình hạt đậu, bề mặt nhẵn, đôi khi gồ ghề hoặc chia làm nhiều thuỳ, thường nằm ở vùng thắt lưng sát cột sống (Lê Vũ Khôi, 2005; Trần Kiên và Trần Hồng Việt, 2009; Trần Gia Huấn và ctv, 1979; Đào Văn Tiến, 1977; Trần Thanh Tòng, 1998)
Theo Lê Vũ Khôi (2005), cấu tạo của thận gồm hai lớp: lớp ngoài là vỏ thận, gồm nhiều chấm nhỏ màu đỏ gọi là nang Bowman; lớp trong là tuỷ thận gồm nhiều ống thu niệu, sắp xếp theo kiểu phóng xạ Ống dẫn niệu gọi là niệu quản Ða số thú, phần cuối của niệu quản có bóng đái
2.4.2.9 Hệ sinh dục
Theo Lê Vũ Khôi (2005), cơ quan sinh dục đực của thú bao gồm một đôi tinh hoàn hình bầu dục hoặc hình quả lê, gắn với phó tinh hoàn hay mào tinh là di tích của trung thận Ống dẫn tinh là ống Wolff đổ tinh trùng vào gốc của ống dẫn niệu Ống dẫn niệu sinh dục nằm trong cơ quan giao cấu Cơ quan sinh dục cái là hai buồng trứng đặc trưng nằm trong khoang bụng Ống dẫn trứng có miệng loe dạng phểu áp gần buồng trứng và phần sau chia làm ba phần: vòi fallopii, tử cung thông
Trang 21Ngành Sư phạm Sinh học 14 Bộ môn Sư phạm Sinh học
trực tiếp với xoang niệu sinh dục và âm đạo Phần sau âm đạo có lỗ niệu - sinh dục
đi từ bóng đái
Trang 22Hóa chất: nước cất, formol l0%, phèn muối, long não, thuốc diệt côn trùng
Mẫu vật: 14 mẫu cắc ké (Calotes versicolor), 10 mẫu rắn nước (Natrix piscator), 5 mẫu gà nhà (Gallus gallus domesticus), 6 mẫu bồ câu (Columba livia domestica), 10 mẫu chuột đồng (Rattus andamanensis), 5 mẫu thỏ nhà (Oryctolagus cuniculus), chọn những con đã trưởng thành, bao gồm cả con đực và cái
3.2 Phương pháp
3.2.1 Phương pháp thu mẫu
Mẫu cắc ké (calotes versicolor) được bắt tại khuôn viên Đại học Cần Thơ Một số mẫu khác như: rắn nước (Natrix piscator), gà nhà (Gallus gallus domesticus), bồ câu (Columba livia domestica), chuột đồng (Rattus andamanensis), thỏ nhà (Oryctolagus cuniculus) được mua tại nhà dân trên địa bàn thành phố Cần
Thơ
3.2.2 Phương pháp giải phẫu
Mẫu vật được giải phẫu dựa trên phương pháp nghiên cứu của Trần Hồng
Trang 23Ngành Sư phạm Sinh học 16 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Cắt da: lấy kẹp nâng da lên và dùng kéo cắt một đường thẳng từ điểm A cách huyệt 1cm lên tới hàm, tiếp theo cắt đường 2 và 3 Tách da ra khỏi cơ và ghim sang hai bên
Hình 3 1: Giai đoạn cắt da Cắc ké (Calotes versicolor)
Cắt cơ: cắt cơ theo đường BCDE sao cho lộ rõ hết tất cả nội quan, đường CD
và BE cắt qua xương đai vai, chú ý nâng mũi kéo, tránh làm vỡ bàn quan khi cắt đường BC và đứt khí quản khi cắt đường DE
Trang 24Hình 3 2: Giai đoạn cắt cơ Cắc ké (Calotes versicolor)
Tháo gỡ nội quan:
- Hệ tuần hoàn và hô hấp: tách khí quản ra khỏi thực quản sau đó cắt mạch máu xung quanh tim, tiếp theo tách phổi ra khỏi lồng ngực và cắt chóp phổi rời khỏi màng treo xoang bụng Trình bày tim, phổi dính với nhau và dính với khí quản sang phía bên trái người mổ
- Hệ tiêu hóa: gỡ ruột theo thứ tự từ dưới lên, bắt đầu từ trực tràng, đến ruột, tiếp theo tách chóp gan ra khỏi màng treo xoang bụng, trình bày hệ tiêu hóa sang phía bên phải người mổ Phải gỡ thật sạch mỡ đính trên các nội quan
Trang 25Ngành Sư phạm Sinh học 18 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Cắt da: lấy kẹp nâng vảy lên, dùng kéo cắt thủng phần da trước lỗ huyệt sau
đó cắt 1 đường từ điểm A lên tới hàm dưới Tách da ra khỏi cơ
Cắt cơ: cắt cơ theo đường cắt da (chú ý nâng mũi kéo) sau đó ghim cơ và da sang hai bên sao cho lộ rõ hết tất cả nội quan, tháo gỡ nội quan và trình bày giống với dạng thằn lằn Phải gỡ thật sạch mỡ đính trên các nội quan
Hình 3 3: Giải phẫu Rắn nước (Natrix picastor)
A
Trang 26*Đối với Chim
Cố định đối tượng: đặt đối tượng nằm ngửa, dùng kim ghim gắn chặt chân và cánh trên mâm mổ
Cắt da: nên vặt lông phần bụng trước khi cắt da Lấy kẹp nâng da lên và dùng kéo cắt đường số 1 thẳng từ điểm A lên gốc mỏ (khi đến cổ, chú ý nâng mũi kéo tránh làm thủng diều) Cắt đường 2 và 2’ ra hai khuỷu chân, cắt đường 3 và DF ra 3’ khuỷu cánh Tách da ra khỏi cơ và ghim sang hai bên
Hình 3 4: Giai đoạn cắt da Gà (Gallus gallus dometicus)
Cắt cơ: cắt đường AB và AC qua xương sườn và xương cánh, cắt đường BC
để lấy phần cơ ức bụng (chú ý nâng mũi kéo tránh làm thủng tim và các mạch máu lớn)
Tháo gỡ nội quan:
Trang 27Ngành Sư phạm Sinh học 20 Bộ môn Sư phạm Sinh học
- Hệ tuần hoàn và hô hấp: cắt màng bao tim, tách rời khí quản và thực quản (chú ý nhẹ nhàng tránh làm đứt khí quản), cắt các mạch máu xung quanh tim (2 động mạch dưới đòn và tĩnh mạch nối tim với gan), lóc phổi ra khỏi sườn, trình bày tim, phổi dính với nhau và dính với khí quản sang bên trái người mổ
- Hệ tiêu hóa: tháo gỡ hệ tiêu hóa theo thứ tự từ dưới lên, bắt đầu từ trực tràng, tháo ruột dần lên đến quai thập nhị trĩ tràng thì dừng lại (không tách tụy tạng
ra khỏi quai trập nhị trĩ tràng), tách gan ra khỏi các nội quan khác, chỉ giữ gan dính với quai thập nhị trĩ tràn bằng 2 ống dẫn mật, tách diều và thực quản ra khỏi phẩn
cổ Trình bày hệ tiêu hóa sang phía bên phải người mổ Phải gỡ thật sạch mỡ đính trên các nội quan
Hình 3 5: Giai đoạn cắt cơ Gà (Gallus gallus dometicus)
Trang 28*Đối với Thú
Cố định đối tượng: đặt đối tượng nằm ngửa, dùng kim ghim gắn chặt 4 chân trên mâm mổ
Cắt da: lấy kẹp nâng da lên và dùng kéo cắt đường số 1 thẳng từ điểm A cách
lỗ hậu môn khoảng 1cm lên tới hàm, tiếp theo cắt các đường 2 và 2’ ra chi sau, đường 3 và 3’ ra chi trước Tách da ra khỏi cơ và ghim sang hai bên
Hình 3 6: Giai đoạn cắt da Thỏ (Oryctogalus cuniculus)
Trang 29Ngành Sư phạm Sinh học 22 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Cắt cơ: cắt cơ theo đường AB và AC đến xương sườn thì dừng lại (chú ý nâng mũi kéo tránh làm vỡ bàng quan và thủng ruột), sau đó cắt theo chu vi của cơ hoàn như đường cắt 4, cuối cùng cắt đường BD và CE để loại bỏ thịt ngực (bước này phải hết sức cẩn thận tránh cắt phải tim và phổi)
Tháo gỡ nội quan:
- Hệ tuần hoàn và hô hấp: cắt màng bao tim, tách khí quản ra khỏi thực quản, cắt các mạch máu xung quanh tim và mạch máu nối tim với gan, tách phổi dính với khí quản và dính với tim sang phía bên trái người mổ
- Hệ tiêu hóa: tháo gỡ từ dưới lên, bắt đầu từ trựt tràng gỡ dần đến dạ dày, tách gan rời khỏi các nội quan khác Phải gỡ thật sạch mỡ đính trên các nội quan (chú ý chừa lại tụy tạng là một thể dài dạng chùm dính với thập nhị trĩ tràng) Trình bày hệ tiêu hóa sang phía bên phải người mổ
Trang 30Hình 3 7: Giai đoạn cắt cơ Thỏ (Oryctogalus cuniculus)
Trang 31Ngành Sư phạm Sinh học 24 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Trước khi giải phẫu nên đo đạt kích thước các vòng ngực, bụng, mông, chiều dài thân, chi trước, chi sau, chu vi vành tai của đối tượng và lưu lại số liệu làm khung kẽm Kích thước của sợi kẽm dùng làm khung xương phục thuộc vào kích thước của mẫu vật và loại xương
Giải phẫu: đặt con vật nằm ngửa trên mâm mổ Cắt một đường giữa bụng từ huyệt lên ức Vạch da sang hai bên để lộ cơ chân, rút chân ra khỏi da lần đến đầu gối, tháo khớp xương đùi, cắt ngang xương ống chân, cạo sạch cơ
Lột da: lột da về phía sau lấy toàn bộ xương đuôi ở thú, riêng ở chim thì để lại đốt xương đuôi cuối Lột da về phía cánh, tháo khớp cánh, cắt ngang xương cánh
và cạo sạch cơ Lột da về phía đầu, cắt ngang cột sống ngay lỗ xương chẩm, giữ lại hộp sọ Cắt bỏ lưỡi Tách bỏ nhỡn cầu Cạo sạch mỡ còn sót lại trong da
Bước 3: Xử lý da
Làm sạch hộp sọ: dùng kim nhọn đưa vào lỗ chẩm, hủy nát não bộ, lau sạch hộp sọ bằng cồn và formol Sau đó nhét vào hộp sọ bông gòn có tẩm formol Làm sạch hốc mắt giống như làm sạch hộp sọ Làm sạch mặt trong của da bằng cách lau lần lượt với các hóa chất sau: cồn, dung dịch phèn muối, formol, long não
Bước 4: Dựng hình cơ thể và nhồi mẫu vật
Gắn một đầu sợi kẽm làm cột sống vào lỗ xương chẩm Lộn cổ lại và dồn gòn vào cổ Gắn kẽm chi trước vào cột sống, phần kẽm còn lại chui qua cánh chim hay chi trước của thú và đưa ra ngoài để đỡ cánh hay để tỳ vào giá thể ở thú Gắn kẽm sườn vào cột sống Gắn kẽm chi sau vào cột sống, phần còn lại chui qua xương chân và lộ ra dưới bàn chân để gắn vào giá thể
Dồn gòn vào các phần còn lại và uống nắn cho đạt được kích thước đã đo Dùng chỉ may, may theo đường cắt, khỏa lông đường may, xếp lông lại cho đúng nếp ở chim hoặc dùng bàn chải chải lông ở thú theo đúng hướng của lông Gắn mắt giả vào hốc mắt, gắn kẽm vào vành tai thú, sửa dáng con vật theo tư thế tự nhiên của nó Cuối cùng tiêm formol vào các phần còn thịt mềm như mũi, môi, bàn chân, thịt ở đầu cánh
Bước 5: Bảo quản
Trang 32Sau khi dùng thuốc diệt côn trùng xịt lên bộ lông, tiến hành sấy khô mẫu vật
ở nhiệt độ vừa nóng trong nhiều ngày bằng cách phơi nắng hoặc đặt trong tủ sấy Mẫu được bảo quản ở nơi khô ráo tránh ẩm mốc, thỉnh thoảng lại đem ra phơi nắng mẫu sẽ giữ được lâu
3.2.4 Phương pháp vẽ hình
Hình vẽ có thể vẽ bằng tay, máy vi tính hay máy tình bảng Ở đây tác giả kết hợp giữa việc sử dụng laptop và máy tính bảng có sự hỗ trợ của phần mềm để vẽ hình
Bước 1: Vẽ phác thảo
Tiến hành vẽ phác thảo hình dạng ngoài, xắp xếp bố cục cơ thể, các nội quan sao cho rõ ràng hợp lý Cần chú ý hình dạng, tỉ lệ cơ thể và các nội quan của đối tượng sao cho đúng thực tế (trong phần mềm Adobe Illustrator người vẽ có thể vẽ trên nhiều lớp (layer), nên hình vẽ phác thảo phải đặt dưới cùng)
Bước 2: Vẽ nét viền
Tạo 1 lớp (layer) mới nằm chồng lên lớp vẽ phác thảo, sau đó tiến hành viền lại các nét vẽ phát thảo sao cho các nét vẽ được liền lạc, rõ ràng và nổi bật đối tượng
Bước 3: Tạo sáng tối
Có thể dùng các nét chấm, các nét gạch ngắn hoặc các ký hiệu khác để tạo sáng tối đối tượng Cơ quan có màu càng đậm sẽ được tạo độ tối nhiều hơn, phần rìa hoặc các phần nằm dưới thấp sẽ có màu tối hơn so với các phần ở trên cao (khi tạo sáng tối nên thực hiện theo thứ tự giảm dần độ tối, tức là phần nào tối hơn thì thực hiện trước)
Bước 4: Chú thích hình
Các thành phần được chú thích theo đúng vị trí và tên gọi bằng các đường kẻ ngang sao cho bố cục rõ ràng, hợp lý (các đường kẻ không chồng lấp lên nhau) Bước 5: Xuất file hình
Tùy thuộc vào mục đích sử dụng mà người dùng có nhiều phương án trong việc chọn lựa định dạng file ảnh, kích thước và chất lượng hình ảnh
Trang 33Ngành Sư phạm Sinh học 26 Bộ môn Sư phạm Sinh học
quan tại vị trí, tháo gỡ nội quan tiến hành chụp hình, vẽ hình và ngâm formol) Đối
với tiêu bản dồn gòn thực hiện trên 5 loài Cắc ké (Calotes versicolor), Rắn nước (Natrix piscator), Bồ câu, Chuột đồng, Thỏ nhà
4.1.1 Đặc điểm hình thái và cấu tạo giải phẫu của Cắc ké và Rắn nước
4.1.1.1 Cắc ké
Cắc ké (Calotes versicolor Daudin, 1802) thuộc họ Nhông (Agamidae), bộ phụ thằn lằn (Lacertilia), bộ có vảy (Squamata), lớp Bò sát (Reptilia) Đặc điểm chung của họ Nhông (Agamidae) là đầu và thân phủ vảy nhỏ, chi phát triển thích
nghi chạy trên mặt đất, phân bố chủ yếu ở Châu Á
Trang 34Cơ thể Cắc ké có thể chia làm 4 phần như sau: đầu, thân, đuôi và tứ chi gồm
có hai chi trước và hai chi sau Đầu cắc ké ngắn và hẹp, tráng hơi lõm được phủ vảy màu nâu hoặc đen Cổ chưa tách biệt rõ ràng Trước đầu mõm có một đôi lỗ mũi ngoài Mắt nhỏ và nhô cao có 3 mí: mí trên phát triển, mí dưới không cử động,
mí thứ ba là một màng nhày bảo vệ cho mắt khỏi khô, xung quanh mắt phát ra xọc màu đen hình phóng xạ Sau mắt là lỗ tai có màng nhĩ hơi nông, hình tròn màu trắng, phía sau màng nhĩ có gai nhọn Mặt dưới đầu phủ vảy màu trắng, vảy mặt trên có một gờ ở giữa kéo dài tạo nên mấu nhọn, ở con đực mấu này đặc biệt phát triển
Da khô, không có tuyến, toàn thân Cắc ké được phủ vảy nhỏ có một gờ ở giữa kéo dài tạo thành mấu nhọn Thân thon nhọn, dưới màu trắng, mặt bên thường có màu sắc thay đổi, thường có màu xám đôi khi có màu đỏ hay ngã vàng xen kẽ với sọc màu đen Cuối thân có một lỗ nằm ngang gọi là lỗ huyệt, nơi bài tiết phân, nước tiểu và sản phẩm sinh dục
Chi thon nhỏ được phủ vảy giống thân Chi của cắc ké khá linh hoạt, ngón chân thon dài có móng nhọn giúp cắc ké leo trèo và di chuyển nhanh trên các thân cây
Đuôi rất dài, trung bình dài gấp 3 lần thân, đuôi thuôn nhọn dần về phía sau
và cũng được phủ vảy Đuôi có khả năng tái sinh khi bị đứt
* Cơ quan tại vị trí
Hệ tiêu hóa: Miệng thông với thực quản rộng có màu đen Dạ dày lớn màu
trắng, bị gan che lấp Gan lớn màu nâu đỏ, hình tam giác trên gan có túi mật lớn màu xanh Tụy tạng màu trắng đục nằm sát bên đoạn cuối dạ dày Giữa dạ dày và tụy tạng có tỳ tạng là một hạt nhỏ màu đỏ sậm Ruột uốn khúc, đoạn cuối phình to
là trực tràng
Hệ hô hấp: Lỗ mũi ngoài thông với khí quản Khí quản dài, màu trắng nằm
dưới sụn treo, được nâng đỡ bởi các vòng sụn, phân thành 2 phế quản đi vào phổi Phổi là một đôi túi lớn, xốp màu hồng nhạt, bên trong chứa nhiều mao mạch Phần
chóp phổi dính vào màng xoang bụng
Trang 35Ngành Sư phạm Sinh học 28 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Hình 4 2: Cơ quan tại vị trí của Cắc ké (Calotes versicolor) ♂
1 Sụn treo; 2 Thực quản; 3 Khí quản; 4 Tim; 5 Phổi; 6 Gan; 7 Dạ dày; 8 Ruột;
9 Trực tràng; 10 Bàng quan; 11 Thể mỡ; 12 Khe huyệt
Trang 36Hệ tuần hoàn: Tim gồm có hai tâm nhĩ và một tâm thất, tâm thất có vách
ngăn chưa hoàn chỉnh Từ tim có hai cung động mạch rời nhau: cung chủ động mạch phải và cung chủ động mạch trái
Hệ bài tiết: Nằm phía dưới hệ tiêu hóa, khi ta đùa ống tiêu hóa sang một bên
thì thấy hệ bài tiết Hai thận là khối dài màu đỏ thẩm, nằm sát lưng và sâu dưới hố chậu gần huyệt Hai tuyến trên thận là hai giải nhỏ màu vàng nhạt nằm xa thận, sát tuyến sinh dục Bàng quang là một túi mỏng, màu trắng nằm giữa hai thể mỡ màu vàng hình lá
Hệ sinh dục: Con đực có hai tinh hoàn màu trắng đục Con cái có hai buồng
trứng chứa nhiều trứng
* Tháo và trình bày các cơ quan
Hệ tiêu hóa: Gồm có miệng, lưỡi, thực quản, dạ dày, ruột và huyệt Miệng có
răng nhọn đồng hình gắn vào xương hàm trên và hàm dưới Lưỡi thật, thuôn dài có màu hồng nhạt Thức ăn được đưa xuống thực quản rộng, ngắn màu đen rồi đổ vào
dạ dày Dạ dày có thành cơ dày, bên trong có cơ vòng thượng vị và hạ vị ngăn cách với các phần khác Sau dạ dày là ruột, ruột tương đối ngắn, có các tuyến tiêu hóa phát triển (gan, mật) Đoạn cuối ruột là trực tràng đổ vào huyệt và mở ra lỗ huyệt nằm ngang ở phía cuối thân Ở phía cuối dạ dày còn có tỳ tạng, là cơ quan sinh hồng cầu
Hệ hô hấp: Cơ quan hô hấp của Cắc ké là phổi Đường hô hấp bắt đầu từ lỗ
mũi ngoài dẫn đến đôi lỗ mũi trong (nằm trong xoang miệng) Khe họng dẫn vào khí quản (có sụn nhẫn và sụn hạt cau) Khí quản dài có nhiều vòng sụn phân làm 2
đi vào hai lá phổi (nằm ở hai bên tim) là một đôi túi mỏng, thuôn dài màu hồng
nhạt
Trang 37Ngành Sư phạm Sinh học 30 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Hình 4 3: Cơ quan bên trong của Cắc ké (Calotes versicolor) ♀
1 Sụn treo; 2 Khí quản; 3 Thực quản; 4 Tim; 5 Phổi; 6 Dạ dày; 7 Ruột; 8 Gan;
9 Túi mật; 10 Manh tràng; 11 Trực tràng; 12 Buồng trứng; 13 Thận; 15 Bàng quang;
Trang 38Hình 4 4: Cơ quan bên trong của Cắc ké (Calotes versicolor) ♂
1 Sụn treo; 2 Khí quản; 3 Thực quản; 4 Tim; 5 Phổi; 6 Dạ dày; 7 Ruột; 8 Gan; 9 Túi mật; 10 Manh tràng; 11 Trực tràng; 12 Tinh hoàn; 13 Phó tinh hoàn; 14 Tuyến trên thận ; 15 Ống dẫn tinh; 16 Thận; 17 Bàng quang; 18 Thể mỡ; 19 Khe huyệt;
Trang 39Ngành Sư phạm Sinh học 32 Bộ môn Sư phạm Sinh học
Hệ tuần hoàn: Tim gồm hai tâm nhĩ và một tâm thất, tâm thất có vách ngăn
chưa hoàn toàn, khi tim co, vách ngăn chưa hoàn toàn được nâng lên chạm tới nóc tâm thất làm cho hai nửa của tâm thất cách biệt nhau hoàn toàn, do đó máu tĩnh mạch ở tâm nhĩ phải và máu máu động mạch ở tâm thất trái không thể pha trộn Từ tim ra có ba cung động mạch rời nhau : cung động mạch phổi từ nửa phải tâm thất (mang máu tĩnh mạch) tách ra thành 2 động mạch phổi đi tới phổi Cung thứ 2 từ nửa phải tâm thất và mang máu tĩnh mạch, uốn sang bên trái Cung thứ 3 từ nửa trái tâm thất mang máu động mạch uốn sang bên phải, hình thành cung chủ động mạch phải và động mạch cảnh Vẫn còn xoang tĩnh mạch, so với lưỡng cư thì phát triển yếu và gắn với tĩnh mạch phải Tĩnh mạch chủ sau nhận máu từ tĩnh mạch thận và tĩnh mạch gan, máu của tĩnh mạch dưới đòn và tĩnh mạch cảnh tập trung vào tĩnh mạch chủ trước rồi di vào xoang tĩnh mạch, vào tâm nhĩ phải
Hệ bài tiết: Hệ bài tiết nằm ngay dưới hệ tiêu hóa Gồm hai thận có hình khối
dài, đầu thon nhọn, có màu đỏ đậm, nằm dọc hai bên cột sống ở phía sau xoang cơ thể về phía lưng Nằm xa hai thận về phía hệ sinh dục là tuyến trên thận (hai giải nhỏ màu vàng) Từ thận có ống dẫn tiểu đổ vào huyệt Bàng quang (mỏng, màu trắng) không thông với ống dẫn tiểu mà thông trực tiếp với huyệt do đó nước tiểu
từ ống dẫn tiểu (ống vônphơ) vào huyệt rồi mới vào bàng quang (bóng đái) Khi bàng quang căng nước tiểu lại từ bàng quang qua huyệt ra ngoài
Hệ sinh dục: Sự thụ tinh của Cắc ké là sự thụ tinh trong, do cắc ké đực có cơ
quan giao cấu là dương hành nằm ở hai bên khe huyệt Để quan sát dương hành, ta dùng kéo cắt 1 đường ở gốc đuôi 2 bên khe huyệt sau đó dùng kim mũi nhọn lôi dương hành ra Thể mỡ là nơi dự trữ năng lượng cho tinh hoàn và buồng trứng, kích thước của thể mỡ thay đổi tỉ lệ nghịch với tuyến sinh dục Cơ quan sinh dục đực gồm một đôi tinh hoàn hình bầu dục màu trắng, nằm trên tuyến thượng thận Hai tinh hoàn nằm so le, tinh hoàn bên trái thường nằm cao hơn Dưới tinh hoàn có ống nhỏ gấp cuộn nhiều lần là phó tinh hoàn, sau phó tinh hoàn là hai ống dẫn tinh lớn chạy dọc trên thận đổ vào huyệt Cơ quan sinh dục cái gồm có hai buồng trứng chứa nhiều trứng nằm so le nhau Trứng chín rớt vào miệng phễu ống dẫn trứng (vòi Fallope) Ống dẫn trứng (ống Munle) có thành dày, dài và uốn khúc nhiều lần
Trang 40Ống dẫn trứng bên phải thường dài hơn bên trái Hai ống dẫn trứng đổ riêng biệt vào huyệt
* Hình dạng ngoài
Hình 4 5: Hình thái ngoài của Rắn nước (Natrix piscator)
http://www.reptiles-zoo.com/t8430-xenochrophis-piscator Rắn nước có cơ thể dài, không có chi, cơ thể bao bọc bằng vảy sừng, được chia làm 3 phần: đầu, thân và đuôi
Phía trên đầu gồm mõm có hai lỗ mũi, sau mũi là mắt có mi dính liền không
cữ động và trong suốt, con ngươi tròn, ở tận cùng của mõm là miệng Khoang miệng rộng và có nhiều răng nhọn Đáy thềm miệng có lưỡi dài, đầu lưỡi chẻ đôi
và nằm trong bao che lưỡi
Thân Rắn nước được bao phủ bởi nhiều vảy nhỏ Phía lưng gồm nhiều tấm vảy lưng nhỏ xếp tì lên nhau nhưng lớp ngói lợp Phía bụng được phủ bởi những tấm vảy bụng xếp dọc và có kích thước lớn hơn vảy thân nhiều lần Rắn nước có khoảng 130-140 tấm vảy bụng Ở rắn nước tấm vảy hậu môn có dạng chẻ đôi Thân rắn nước thường có màu sám, đôi khi có màu nâu vàng Dọc hai bên sườn có các vạch đen nằm xiên về phía đôi Vảy bụng màu trắng đục Rắn nước thường sống trên cạn thì có màu sắc sặc sở hơn
Đầu Mắt Thân
Đuôi
1 cm