1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Giáo trình thực vật có hoa part 4 pot

15 576 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 694,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

4.4 SỰ PHÂN CHIA SINH GIỚI Cho đến những năm 50, 60 của thế kỷ XX, các sách giáo khoa chỉ đề cập đến sự tồn tại của hai giới: Động vật và Thực vật giống như đề xuất của Linnaeus 1735 và

Trang 1

4.4 SỰ PHÂN CHIA SINH GIỚI

Cho đến những năm 50, 60 của thế kỷ

XX, các sách giáo khoa chỉ đề cập đến

sự tồn tại của hai giới: Động vật và Thực

vật giống như đề xuất của Linnaeus

(1735) và từ đó các nhà phân loại khác

cho đến các nhà tự nhiên học đã công

nhận thế giới sống có hai giới Thực vật

và Động vật (hình 4.1) Theo quan điểm

hai giới, thực vật là các cơ thể sống ở

một nơi cố định và có thể quang hợp (tự

dưỡng), còn động vật là các cơ thể có

khả năng vận động chủ động và dinh

dưỡng kiểu toàn dưỡng (dị dưỡng) Nấm

không có khả năng quang hợp nhưng

xem như có rễ (sống cố định một chỗ);

Vi khuẩn một số có khả năng vận động,

một số có khả năng quang hợp nên Nấm

và Vi khuẩn xếp vào Thực vật Protozoa

vận động và toàn dưỡng nên xếp vào Động vật

Trong thực tế, nhiều cơ thể đơn bào thật khó xếp vào một trong hai giới trên và ý nghĩ một giới thứ ba cho các cơ thể này đã nảy sinh

Mặt khác, hệ thống hai giới để Vi khuẩn và Vi khuẩn lam là những sinh vật chưa nhân vào

thực vật, ngày nay đã trở nên quá lỗi thời vì nhiều nhà nghiên cứu (Stanier, Van Niel, 1962; Magulis, 1970) đã cho rằng sự khác biệt giữa nhóm tiền nhân và nhóm nhân thật là lớn hơn bất kỳ sự khác biệt nào giữa các nhóm sinh vật Nó thể hiện ở chỗ có nhân và chưa có nhân, giữa sự có mặt thể nhiễm sắc do các sợi ADN liên kết với protein và chưa có thể nhiễm sắc hay chỉ là các sợi ADN, giữa sự có mặt sinh sản hữu tính thông qua quá trình trao đổi gen nghiêm ngặt và sự chưa có sinh sản hữu tính và còn thể hiện ở một loạt các khác biệt trong cấu trúc của các nội bào quan Hệ thống hai giới thiếu sự phân biệt ranh giới quá lớn này Và cuối cùng nhóm Nấm khác biệt với thực vật về tổ chức tế bào, hệ thống sinh sản, kiểu dinh dưỡng và nhiều đặc điểm khác nữa Vì vậy, hệ thống hai giới đặt nó cùng với thực vật là không hợp lý

Hệ thống ba giới: Từ những thực tế đó vào cuối thế kỷ 19, Ernst Haekel (1866, 1894,

1904) đã đề nghị giới thứ 3: Protista gộp tất cả các cơ thể dạng hiển vi gần như đơn bào thành một nhóm Monera – Protista bao gồm cả Vi khuẩn thuộc nhóm chưa có nhân hoàn chỉnh, mà sau này nhiều nhà sinh vật đã bác bỏ (Margulis và Schwartz, 1998)

Hệ thống bốn giới: Herbert Copenland (1956), đã đưa ra hệ thống bốn giới (Thực vật,

Động vật, Protista và Nấm), sơ đồ này không khác nhiều so với hệ thống Haeckel nhưng đã có cải tiến quan trọng Copeland đã nâng hai ngành trong Protista trong hệ thống của Haeckel lên thành 2 giới: Monera và Protoctista (Hình 4.2)

Từ hệ thống Copeland, Whittaker đã chỉ ra những hạn chế như:

Không có vị trí cho nhóm Nấm, có kiểu dinh dưỡng hấp thụ

Hình 4.1

Hệ thống tiến hóa hai giới

Trang 2

Protoctista là một tập hợp nhân tạo các cơ thể của hai giới: Động vật và Thực vật mà không thể hiện tính đích thực của một giới riêng

Hình 4.2

Hệ thống bốn giới của Copeland Khó có thể vẽ ra ranh giới tách các cơ thể của Protoctista đa bào với hai giới ở trên

Hình 4.3

Hệ thống của Whittaker

Trang 3

Từ các hạn chế trên, Whittaker (1959) đã đề nghị chia ra ba kiểu dinh dưỡng cho các cơ thể có nhân bậc cao là quang hợp, hấp thụ và toàn dưỡng, tương xứng với ba nhóm sinh thái: Sinh vật sản xuất, sinh vật phân hủy và sinh vật tiêu thụ Trong mỗi một kiểu dinh dưỡng đều

có các quá trình tiến hóa các cơ quan của nó, do vậy tạo ra cơ sở lôgíc cho hệ thống Whittaker (Hình 4.3): giới Monera hay là giới Tiền nhân, giới Protista - sinh vật phân cắt, các Protista liên kết nhân và có cấu tạo cơ thể đơn giản (đơn bào, tập đoàn, cơ thể đa bào đơn giản - Tảo thấp, Nấm thấp, Protozoa là sự chuyển tiếp giữa Protista và các cơ thể cao hơn tức là ranh giới chuyển tiếp từ đơn bào tới đa bào Ông đã tách Nấm thành một giới riêng biệt Đó là một tiến

bộ mới

Gordon (1974) cho rằng sự gián đoạn

lớn nhất của thế giới sống là nằm giữa

tiền nhân và có nhân, nó phải là ranh giới

giữa các giới Mỗi giới phải có một cốt di

truyền chung, thể hiện có một tổ tiên

chung Theo Gordon một hệ thống đáp

ứng yêu cầu trên có lẽ là hệ thống hai

giới tiền nhân và có nhân Giới có nhân

chứa một số lượng lớn các ngành chứ

không nhóm thành giới hoặc là để một hệ

thống bốn giới bằng cách giải tán protista

và sáp nhập vào ba giới cao hơn (Hình

4.4) Theo ông mức Protista có thể tìm

thấy trong cả ba giới đó Vấn đề những

ngành như Tảo lục (Chlorophyta) có

thành viên ở cả Protista và Thực vật đã

được giải quyết Hơn nữa nó đảm bảo

những cơ thể trong cùng một giới có

quan hệ gần gũi hơn so với các cơ thể

ngoài giới hoặc ít nhất so với hệ thống

của Whittaker, Whittaker/Margulis là khó khăn hơn trong việc nhặt ra các ngành liên quan với các ngành ngoài giới Tuy nhiên chính Gordon cũng thừa nhận hệ thống 4 giới của ông làm cho tính đa ngành của 3 giới có nhân tăng lên Theo ông để giải quyết vấn đề này chỉ có thể thay thế bằng hệ thống

đa giới (Hình 4.6)

Hệ thống năm giới: Mở rộng ý

tưởng của Copeland, Whittaker, Margulis (1973) đã cải biên hệ thống của hệ thống của Whittaker là chuyển các ngành đa bào thấp xuống thành giới Protista và lần nữa đã nâng sự hiểu biết

về độ lớn và tầm quan trọng của những khác nhau giữa các nhóm Hệ thống 4 giới của Whittaker được Lynn Margulis

Hình 4.4

Hệ thống bốn giới của Gordon

Hình 4.5 Hệ thống 5 giới của Margulis

Trang 4

(1973) phát triển xa hơn và được nhiều giáo trình, nhiều nước trên thế giới sử dụng và tồn tại cho đến ngày nay mặc dù những kiến thức về sinh học hiện nay ngày càng được mở rộng, tổ chức lại và cải tiến nhiều

1 Monera - Prokaryota: Bacteria, Không có nhân, cơ thể bé nhỏ (0,5-5 microns), sống

đầu tiên trên Trái Đất cách đây khoảng 3,8 tỷ năm Đó là Vi khuẩn và Tảo lam

2 Protista (Protoctista) - Eukaryota: Protozoa (Amoeba, Ciliates, Diatoms,

Dinoflagellates, etc.), cơ thể có nhân, cơ thể gồm những tế bào, lớn (>10 microns), sống cách đây 2,0-1,5 tỷ năm Đó là những sinh vật đơn bào

3 Fungi - Eukaryota: cơ thể đa bào, hoại sinh, sống bằng cách hấp thu thức ăn qua

màng tế bào, không quang hợp

4 Plantae - Eukaryota: cơ thể đa bào, tự dưỡng (quang hợp), có lục lạp, xuất hiện cách

đây 450 triệu năm Đó là Tảo lớn, Rêu, Dương xỉ, Cây có hoa

5 Animalia - Eukaryota: cơ thể đa bào, dị dưỡng, sinh sản hữu tính xuất hiện cách đây

700 triệu năm Đó là Động vật không xương sống và Động vật có xương sống

Hệ thống sáu giới: Bằng cách xác định trình tự các nucleotid của ARNr trong các nhóm

vi sinh vật khác nhau C Woese đã có được những phát kiến bất ngờ về vị trí chủng loại phát

sinh của vi khuẩn Kết quả chỉ ra rằng nhóm Vi khuẩn cổ (Ar chebacteria) gồm các loài vi

khuẩn sống trong các môi trường đặc biệt như ở các suối nước nóng và các hồ nước mặn là rất

khác biệt với Vi khuẩn thật (Eubacteria) và coi đó là hai nhánh tiến hóa của Prokaryota Nhóm Vi khuẩn thật (Eubacteria) khác cơ bản với Vi khuẩn cổ cả về cấu tạo, thành phần hóa

học, các trình tự đặc trưng (signature sequences) trong ARNr và các axit amin khác và các tính chất sinh lí học Vì vậy C Woese lần đầu tiên đã đưa ra một kết luận "cách mạng" là thế giới sống không phải phân chia giản đơn thành hai nhánh có nhân hay không có nhân mà là

ba nhánh: đó là Vi khuẩn hay Vi khuẩn thật (Bacteria hay Eubacteria), Sinh vật có nhân (Eukaryota hay Eukaria) và Vi khuẩn cổ (Archebacteria hay Archaea) Cũng trên cơ sở đó Woese đã đưa ra hệ thống sinh giới gồm sáu giới: hai giới Prokaryota: Vi khuẩn và Vi khuẩn

cổ và bốn giới Eukaryota: Protista, Thực vật, Nấm và Động vật (Hình 4.6).Các dẫn liệu phân

loại học phân tử cũng đã nhấn mạnh nguồn gốc của lục lạp và thể tơ là vi khuẩn khi nghiên

cứu so sánh trình tự các bazơ trong ARN riboxom Protista là những dạng tiến hóa đầu tiên của sinh vật có nhân Nhưng quan điểm về việc phân loại Protista là còn chưa thống nhất Whittaker (1969) đưa ra hệ thống năm giới thì Protista là một giới đơn bào Từ năm 1970 đến 1980: Protista được gộp thêm một số ngành tảo đa bào và nấm Những sự thay đổi này dựa

trên sự so sánh siêu cấu trúc và các chi tiết trong chu trình sống Ví dụ, tảo biển gần gũi với

tảo đơn bào (Protista quang hợp) hơn là với thực vật Protista cũng gồm cả Nấm nhầy và Mốc nước (Oomycota) do đó có tên gọi là Protoctista

Trang 5

Hình 4.6

Mối quan hệ của hệ thống sáu giới

Mặc dù sát thực hơn nhưng hệ thống sáu giới vẫn còn giữ lại nhánh động vật nguyên sinh đáng quan tâm Thêm vào đó, mặc dù có một điểm khác với cây phân loại của Woese là tách

vi khuẩn thành hai giới, tuy nhiên hệ thống sáu giới vẫn còn những nhược điểm của hệ thống năm giới trong việc mô tả vi khuẩn, vi khuẩn cổ và rất nhiều giới khác nhau của sinh vật nhân chuẩn khi tất cả chúng được xếp ngang cùng một bậc phân loại Có ý kiến cho rằng bậc phân loại ngang bằng sẽ ngụ ý bậc tiến hóa ngang bằng Trong khi ý kiến này được xem xét một cách xác đáng trong phạm vi hình thái sinh học vĩ mô, chúng ta nhấn mạnh vào sự đa dạng hình thái trong tiến hóa đã ngăn chặn sự đến gần một hệ thống phân loại hoàn thiện

Hệ thống bảy giới: Qua quá trình nghiên nghiên cứu nhiều tác giả thấy rằng Archaea gần

với Eukaryota hơn là với Bacteria Hiện nay trong trào lưu mới người ta coi chúng là những Liên giới hay Tổng giới Cuối năm 2002, trên kênh truyền hình Discovery channel hoặc Science channel (Hoa Kỳ) đã cho thấy việc phân chia sinh vật thành Vi khuẩn cổ và Vi khuẩn thường cùng với những nhóm khác hiện đã được chấp nhận

Trong các giai đoạn của quá trình tiến hóa về cấu trúc tế bào: tế bào của Eukaryota chứa nhân và các cơ quan tử cùng với những siêu thể khác của ty thể và lục lạp, ở đó có chứa những nguyên liệu di truyền riêng, chúng có thể có nguồn gốc từ những cơ thể riêng biệt bằng

sự cộng sinh và dung hợp với tế bào chủ Nhờ sự kết hợp đó từ rất sớm đã sinh ra nhóm Nấm nhầy - Myxomycota Nhóm này có những đặc điểm tách biệt với các nhóm khác và được coi

là một giới riêng biệt Vì vậy hệ thống bảy giới ra đời Bảy giới đó là: Archaic bacteria, Bacteria, Protista, Myxomycota, Plantae, Fungi và Animalia

Hệ thống tám giới: Trong quá trình nghiên cứu một vấn đề được nhiều nhà sinh học phân

vân về tính đồng nhất của giới Protista, vì vậy thuộc nhóm này tuỳ từng tác giả chỉ giới hạn gồm chỉ những cơ thể đơn bào và tập đoàn nhưng tác giả khác gộp tất cả các ngành tảo vào

Sau khi nghiên cứu so sánh đại diện Giardia lamblia - một cơ thể có nhân, đơn bào, có roi, kí sinh trong ruột người, người ta cho rằng nó thuộc Diplomonas, là đại diện của một nhánh tiến

hóa rất sớm của Eukaryota Riboxom của nó gần với Prokaryota hơn là với Karyota Nhóm này có một đặc trưng là có hai nhân đơn bội riêng rẽ có thể là dấu vết của giai đoạn đầu của

sự tiến hóa Karyota bằng cách kết hợp hai nhân đơn bội sẽ cho ta nhân 2n Sự thiếu thể tơ ở

Diplomonas cho thấy dấu hiệu nội cộng sinh trong tế bào nhân thực

Trang 6

Vỡ vậy người ta coi Archezoa (mà Giardia là đại diện) là một giới riờng phõn húa sớm

trong quỏ trỡnh tiến húa đến nhúm cú nhõn thật Cũng từ đú người ta coi lạp lục là kết quả tiến húa từ Vi khuẩn lam nội cộng sinh Như vậy giới này thuộc về Monera, là bước quỏ độ tiến từ Monera lờn nhúm cú nhõn thật

Người ta cũn cho thấy rằng Tảo nõu và một số ngành khỏc trong Protista như Oomycota, Chrysophyta, Diatomae cú mối liờn hệ với nhau và tỏch biệt với cỏc nhúm khỏc và được tỏch thành một giới riờng: Chromista Chỳng cú đặc trưng là lạp lục khụng thường xuyờn cú mà cú

2 lớp vỏ phớa ngoài, cú ớt chất tế bào và cú vết tớch của nhõn Những nhúm cũn lại giữ lại trong giới Protista bao gồm: Dinoflagellata, Ciliata, Zooflagellata và Eugleoid Giới thực vật chớnh thức cú: Rhodophyta, Chlorophyta và Plantae Từ đú hệ thống 8 giới xuất hiện Tỏm giới đú là: Bacteria, Archebacteria, Archezoa, Protista (Protozoa), Chromista, Plantae, Fungi

và Animalia Việc chia sinh giới làm 8 giới phần nào đó giải quyết tớnh hỗn tạp trong Protista

Hệ thống đa giới: Chớnh Gordon, từ năm 1974 khi đưa ra hệ thống 4 giới cũng thừa nhận hệ

thống bốn giới của ụng mặc dự cú nhiều ưu việt so với cỏc hệ thống trước đú, nhưng ụng cũng thấy rằng tớnh đa ngành của ba giới cú nhõn là một vấn đề cần quan tõm và để giải quyết vấn

đề này chỉ cú thể thay thế bằng hệ thống đa giới (hỡnh 4.8)

Theo Gordon, hệ thống đa giới sẽ dẫn đến thứ nhất là nhiều giới chỉ cú một ngành và một

số ngành chỉ cú một lớp và một trường hợp Eustigmatophyta chỉ cú 7 loài Tuy nhiờn, ụng cho rằng khụng cú quy định giới hạn độ lớn của bất kỳ taxụn ở bậc nào, kể cả phạm vi giới Thậm chớ dự chỉ là một loài, nếu loài đú thực sự là độc nhất, tiờu biểu cho sự sống sút duy nhất đến ngày nay của một lớp hoặc một ngành, thậm chớ một giới Đặc điểm của nú sẽ khụng bị làm

mờ đi bởi ghộp nú vào nhúm khỏc cho mục đớch ngắn gọn Thứ hai là trong hệ thống đa giới,

Giới

Chromista

Giới

Giới Protista

Giới Vi

khuẩn

cổ

Giới Vi khuẩn thật

Thực vật có hoa

Hạt trần Dương xỉ

và họ

hàng

Tảo lục

Nấm đảm Nấm túi Nấm mốc

Chân khớp Thân mềm Giun đất

Hải miên

Động vật có xương sống

Da gai

Nấm nước Tảo silíc Tảo nâu

Trùngroi Tảo hai rãnh Trùng lỗ Tảo đỏ Nấm nhầy Tảo mắt Liệt trùng

VK nhiệt-lưu huỳnh

VK cơ chất mê-tan

VK ưa muối cực đoan

VK Gram âm

VK Gram dương Mycoplasma

Hỡnh 4.7.

Hệ thống tỏm giới (theo K.M Klemow (1997)

Trang 7

mỗi giới chỉ chứa đựng các cơ thể gần gũi nhau hơn là với các cơ thể ngoài giới Hơn nữa, sự

liên quan giữa các giới có thể chỉ ra bởi vị trí của nó, như Euglenoids chỉ ra có thể quan hệ xa với Chytrids và nấm (theo nghĩa hẹp) (cùng có α-aminoacid adipic dẫn xuất của lyzin) và cùng với Zoomastigines (có thể liên quan tới Trypanosom) trên cơ sở của đặc điểm tế bào học

như roi gồm các sợi bện lại và siêu cấu trúc mitosis, gần đây phát hiện có cytocrom C giữa

Euglena và Crithidia Thực vật và cả Tảo nâu đặt gần Tảo đỏ và Tảo dị mao cùng có xenlulo

trong vách tế bào Mặt khác, có cytocrom C đã thuyết phục chúng ta đặt thực vật và động vật tách ra bởi Nấm ở giữa Trong hệ thống này còn hợp nhóm Dị mao (bao gồm Tảo vàng, Tảo vàng ánh, Tảo nâu, Tảo silic và Nấm noãn) thành một nhóm và Eustigmatophyta (trước thuộc Tảo vàng) và Haptophyta (trước thuộc Tảo vàng ánh) xuất hiện như một giới nhỏ tách biệt là một sáng kiến

Hệ thống ba liên giới/Tổng giới: Trên cơ sở những thành tựu phân tích ADN và ARNr

nhiều tác giả đã đi đến thống nhất và đưa ra một phạm trù bao trùm mang tính tổng quát hơn

đó là 3 liên giới / Tổng giới (Domain) Ý tưởng về liên giới / Tổng giới (Superkingdom) đã

được đưa ra trong The Wellsprings of Life (Issac Arinov, 1960) Ba liên giới / Tổng giới:

Archaea, Bacteria và Eukarya (Eukaryota) lần đầu tiên đã được Woose (1990) chính thức đề nghị và sau đó được nhiều tác giả ủng hộ và nhiều cuốn sách trên thế giới sử dụng trong giảng dạy (J.H Postlethwait and J.L Hopson 1995; P H Raven, Ray F Evert et Susan E Eichhorn 2003)

Về hình thái học, Archaea tương tự với Bacteria nhưng về sinh học phân tử và sinh lý học cho thấy hai nhóm này khác xa nhau so với mối quan hệ giữa Archaea và Eukarya Liên giới/Tổng giới thứ 3 giành riêng cho những cơ thể mà nguyên liệu di truyền của nó nằm trong một màng đặc biệt tạo nên nucleic và gồm những cơ thể có cấu trúc cao hơn, từ Protista đến con người Việc khẳng định ba liên / Tổng giới cho đến nay không còn bàn cãi nhiều nhưng

sự có mặt các giới vẫn là vấn đề còn đang tranh luận chưa có hồi kết thúc Trong đó giới hạn của giới Thực vật và Protista là chưa rõ ràng nhất đặc biệt vị trí các ngành Tảo Theo tài liệu

Hình 4.8

Hệ thống đa giới của Gordon

Trang 8

mới nhất của P H Raven và cộng sự (2003) tất cả các ngành Tảo đều để trong giới Protista

và giới thực vật chỉ còn lại các ngành Thực vật bậc cao mà thôi

Hình 4.9

Sơ đồ ba liên giới

Trang 9

Chương 5

NHỮNG NGUYÊN TẮC TRONG PHÂN LOẠI

5.1 CÁC BẬC PHÂN LOẠI VÀ TÔN TI TRẬT TỰ CỦA CHÚNG

Giới thực vật - Regnum: Vegatabile trong giới chia ra các đơn vị

− Ngành - Divisio (Phylum)

− Lớp - Classis

− Bộ - Ordo

− Họ - Familia

− Chi - Genus

− Loài - Species

Trong hệ thống học còn dùng các bậc trung gian Ví dụ tông (Tribus) là bậc giữa họ và chi Nhánh (Sectio) và loạt (Serio) trung gian giữa chi và loài Thứ (Varietas) và dạng (Forma) là dưới loài

Trong phân loại thực vật hay dùng đối với bậc phụ khác, thường thêm bằng tiếp đầu ngữ

super là liên và sub là phân

Ví dụ phân lớp Mộc lan: Subclassis Magnoliideae, liên bộ Bông: Superordo Malvanae

Bảng 5.1

Các bậc theo luật quốc tế về tên gọi

Bậc của Taxôn (tiếng La Tinh) Ví dụ Đuôi của các bậc trên chi

Divisio (Phylum) Ngành Magnoliophyta -phyta

Classis Lớp Magnoliopsida -opsida

Subclasis Phân lớp Magnolidae -idae

Subordo Phân bộ Magnolinae -inae

Familia Họ Magnoliaceae -aceae

Subfamilia Phân họ Magnolioideae -oideae

Tribus Tông Magnolieae -eae

Subtribus Phân tông Magnoliineae -ineae

Genus Chi Magnolia -us, -a, um (on)

5.2 CÁCH GỌI TÊN

Để có sự thống nhất trong phân loại và để trao đổi thông tin giữa các nhà khoa học luật tên gọi thực vật được hình thành Cùng với sự gọi tên còn có sự thống nhất các thuật ngữ của các taxôn

Việc đặt tên cho thực vật trước đây rất tuỳ tiện vì vậy cần có sự thống nhất Luật được đặt

ra với mục đích là để thống nhất cách gọi tên, tránh nhầm lẫn và để bãi bỏ các tên gọi cũ chưa đúng, tránh cho tác giả đặt tên thừa, không cần thiết Luật gọi tên được bắt đầu năm 1753 do Linnê xây dựng Từ nửa sau kỷ 18 đã chỉ rõ nhiều nghiên cứu phát hiện rất nhiều loài mới

Trang 10

nhưng ở mỗi nước có một cách đặt tên gọi khác nhau, trong lúc cách đặt tên của Linnê chưa phổ biến Do đó gặp rất nhiều khó khăn

Năm 1867 De Candolle đề xướng nguyên tắc đặt tên cây trên cơ sở cách đặt tên của Linnê Đến nay đã hơn 16 đại hội về thực vật, để sửa đổi, bổ sung, hoàn chỉnh luật đó cho nên nội dung cơ bản của bộ luật được coi là hoàn thiện

− Đại hội lần 1 năm 1867 ở Paris (Pháp)

− Đại hội lần 2 năm 1906 ở Viên (Áo)

− Đại hội lần 3 năm 1910 ở Brucxen (Bỉ)

− Đại hội lần 4 năm 1930 ở Kembrit (Mỹ)

− Đại hội lần 5 năm 1935 ở Amxtecđam (Hà Lan)

− Đại hội lần 6 năm 1950 do Spargue sửa chữa luật Amxtecdam

− Đại hội lần 7 năm 1950 ở Stôckhôm (Thụy Điển)

− Đại hội lần 8 năm 1954 ở Paris (Pháp)

− Đại hội lần 9 năm 1959 ở Môngtrêan (Canađa)

− Đại hội lần 10 năm 1964 ở Êdinbua (Anh)

− Đại hội lần 11 năm 1969 ở Sietưn

− Đại hội lần 12 năm 1975 ở Lêningrát (Nga)

− Đại hội lần 13 năm 1981 ở Sitni (Úc)

− Đại hội lần 14 năm 1986 ở Beclin (Đức)

− Đại hội lần 15 năm 1993 ở Tokyo (Nhật Bản)

− Đại hội lần 16 năm 1999 ở Xanh Louit (Mỹ)

5.2.1 Các nguyên tắc chung

1 Tên gọi thực vật không phụ thuộc vào tên gọi động vậtBộ luật áp dụng cho tất cả thực vật, không liên quan việc lúc đầu nhóm đó có thuộc thực vật hay không

2 Việc sử dụng tên gọi của các nhóm phân loại được xác định nhờ mẫu chuẩn danh pháp

3 Tên gọi các nhóm phân loại dựa theo nguyên tắc ưu tiên trong khi công bố

4 Mỗi nhóm phân loại có giới hạn, vị trí và bậc nhất định, không kể các ngoại lệ quy định cụ thể, chỉ có thể có 1 tên đúng đắn duy nhất, đó là tên có sớm nhất và hợp với quy tắc

5 Tên khoa học của các nhóm phân loại đều được coi là tên La tinh không phụ thuộc vào xuất xứ của nó

6 Quy tắc của tên gọi có tác dụng nghịch đảo nếu như chúng không được quy định giới hạn riêng (Những tên hợp pháp, hợp với luật thì được dùng và ngược lại)

Ngày đăng: 25/07/2014, 17:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 4.5  Hệ thống 5 giới của Margulis - Giáo trình thực vật có hoa part 4 pot
Hình 4.5 Hệ thống 5 giới của Margulis (Trang 3)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN