Dưỡng bào mastocyte là tế bào tổ chức liên kết có hạt, không có trong máu mà nằm trong mô liên kết của nhiều cơ quan.. Về kích thước tế bào này lớn hơn tế bào ưa toan, có một nhân.. Tron
Trang 1Dưỡng bào (mastocyte) là tế bào tổ chức liên kết có hạt,
không có trong máu mà nằm trong mô liên kết của nhiều cơ quan Chúng có mặt nhiều nhất ở các vị trí dễ tiếp xúc với ngoại cảnh như da, đường hô hấp, tiêu hoá Người ta thường phát hiện chúng ở niêm mạc ruột, tử cung, da, lưỡi, huyết
quản, bàng quang (ở người); da, lưỡi, gan, phổi, tim (chó); màng bao gan (thỏ); lưỡi, dạ dày,gan, ruột (chuột cống) Về kích thước tế bào này lớn hơn tế bào ưa toan, có một nhân Trong hạt nguyên sinh chất có chứa các axit amin: Histidin, tylosin, tryptophan, histamin và heparin Các enzim
photphataza, histaminodecarboxylaza 5 - hydoxytryptophan, decarboxylaza, hydroxylaza Các hạt của chúng còn chứa
polysaccarit có phân tử lượng lớn gắn với protein, trong đó
có các axit amin kể trên, hai loại tế bào này có vai trò trong phản ứng phản vệ và dị ứng do IgE gây ra
Trang 3• BCĐNL (monocyte) và ĐTB(macrophage)
• BCĐNL(Monocyte) ở máu có đặc điểm nhân to, xốp, hình hạt đậu
• Monocyte bắt nguồn từ tế bào nguồn (stem
cells) tuỷ xương biệt hoá thành nguyên bào
mono (monoblast) rồi tiền mono (promonocyte) rồi tế bào mono trong máu, chúng lưu hành
trong máu 24 - 48 giờ rồi thoát mạch đến cư trú tại các mô khác nhau trong cơ thể Ở đây các mono tiếp tục thành thục để trở thành ĐTB
Ngày nay người ta xếp các tế bào trong hệ này vào một hệ thống chung là “ hệ đơn nhân thực
bào” (Mononuclear phagocyte system - MPS)
Trang 4• Hệ các tế bào đơn nhân thực bào
• Các tế bào nguồn ở tuỷ xương
• Đại thực bào Trong các tổ chức
• (Histiocyte) - Mô liên kết
• (Đại thực bào phế nang) - Phổi
• (Đại thực bào tự do và cố định) - Hạch limpho, lách
• (Đại thực bào phúc mạc, phế mạc) - Xoang thanh mạc
Trang 5• Chức năng thực bào
• Về hình thái và kích thước, các ĐTB khác hẳn tế bào đơn nhân lớn ĐTB có NSC rộng bắt mầu
xanh xám, nhân lớn và hình dạng không nhất định, phụ thuộc vào mức độ thành thục Chúng có nhiều
bộ máy Golgi và lyzosom Trong NSC còn chứa
các “không bào”, có vai trò quan trọng trong thực bào và ẩm bào; NSC của chúng còn kéo dài ra
thành những bộ phận gọi là “chân giả” có tácdụng khi tế bào di động Trên bề mặt ĐTB có hai loại thụ thể: dành cho Fc và dành cho bổ thể Vì vậy ĐTB
có thể ăn cả phức hợp KN đã được opsonin hoá Tại ổ viêm, sau khi nhận kích thích của các
lymphokin thì khả năng thực bào tăng lên gấp bội,
chúng đóng vai trò như một “vệ sinh viên” làm
sạch các ổ viêm