1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Khái quát Địa lý tỉnh Tiền Giang pps

15 984 7
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 15
Dung lượng 331,84 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tiền Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung tính, ít chua dọc sông Tiền, chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh,... Tiền Giang có diện tích trồng cây ăn quả lớn nhất so

Trang 1

Khái quát Địa lý tỉnh Tiền Giang

* Giới thiệu chung:

Tiền Giang là tỉnh vừa thuộc Vùng đồng bằng sông Cửu Long, vừa nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, nằm cách thành phố

Hồ Chí Minh 70 km về hướng Nam và cách thành phố Cần Thơ 90

km về hướng Bắc, nằm trong tọa độ 105050’ – 106045’ độ kinh

Đông và 10035’ - 10012’ độ vĩ Bắc Phía Bắc và Đông Bắc giáp Long

An và TP Hồ Chí Minh , phía Tây giáp Đồng Tháp, phía Nam giáp Bến Tre và Vĩnh Long, phía Đông giáp biển Đông Tiền Giang nằm trải dọc trên bờ Bắc sông Tiền (một nhánh của sông Mê Kông) với chiều dài 120km Tiền Giang có diện tích tự nhiên là 2.481,77 km2, chiếm

khoảng 6% diện tích Đồng bằng sông Cửu Long, 8,1% diện tích Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam, 0,7% diện tích cả nước; dân số năm

2009 là 1,67 triệu người (mật độ dân số 672,9 người/km2), chiếm khoảng 9,8% dân số Vùng đồng bằng sông Cửu Long, 11,4% dân số Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và 1,9% dân số cả nước Tiền Giang có 10 đơn vị hành chính cấp huyện (8 huyện, 01 thành phố, 01 thị xã) và 169 đơn vị hành chính cấp xã, trong đó, thành phố Mỹ Tho

là đô thị loại 2

Tiền Giang có địa hình tương đối bằng phẳng, đất phù sa trung

tính, ít chua dọc sông Tiền, chiếm khoảng 53% diện tích toàn tỉnh,

Trang 2

thích hợp cho nhiều loại giống cây trồng và vật nuôi Bờ biển dài 32km với hàng ngàn ha bãi bồi ven biển, nhiều lợi thế trong nuôi trồng các loài thủy hải sản (nghêu, tôm, cua…) và phát triển kinh tế biển Khí hậu Tiền Giang chia làm 2 mùa rõ rệt: mùa khô bắt đầu từ tháng 12 và mùa mưa từ tháng 5 Nhiệt độ trung bình hàng năm khoảng 270C; lượng mưa trung bình hằng năm 1,467mm

Khoáng sản Tiền Giang có mỏ đất sét Tân Lập với trữ lượng hơn 6

triệu m3, chất lượng tốt, có thể sản xuất vật liệu xây dựng cao cấp,

đồ gốm xuất khẩu; và trên 1 triệu m3 than bùn có thể làm phân vi sinh hữu cơ Ngoài ra, còn trữ lượng cát dọc sông Tiền phục vụ cho san lắp mặt bằng và tài nguyên nước khoáng, nước nóng

Năm 2009 khu vực nông nghiệp - lâm nghiệp - thủy sản chiếm tỷ trọng 48,3%, công nghiệp - xây dựng 23,4% và thương mại - dịch vụ 28,3% GDP bình quân đầu người đạt 969 USD

Sản phẩm nông lâm ngư nghiệp gồm cây lương thực có hạt đạt sản

lượng trên 1,3 triệu tấn; khóm sản lượng gần 100.000 tấn; dừa trên 79.000 tấn, cây ăn quả trên 800.000 tấn (không tính cây khóm) Tiền Giang có diện tích trồng cây ăn quả lớn nhất so với các địa phương trong cả nước với nhiều giống cây có giá trị xuất khẩu như: xoài cát Hòa Lộc, vú sữa Vĩnh Kim, sầu riêng Ngũ Hiệp, thanh long Chợ Gạo, nhãn xuồng cơm vàng, sơri Gò Công, bưởi long Cổ Cò và nhiều loại

Trang 3

cây có múi khác… Sản lượng từ nuôi và khai thác thủy sản năm 2009 đạt 189.000 tấn, trong đó khai thác đạt 80.000 tấn

Năm 2009 giá trị sản xuất công nghiệp-tiểu thủ công nghiệp đạt trên 7.200 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 416 triệu USD, nhập khẩu 92,8 triệu USD

Tiền Giang là tỉnh có nhiều tiềm năng về du lịch Hàng năm,

lượng du khách đến hàng năm đều tăng, riêng năm 2009 mặc dù chịu tác động của suy thoái kinh tế thế giới nhưng lượng khách đến Tiền Giang vẫn đạt 866.400 lượt người Thế mạnh của du lịch Tiền Giang chủ yếu nhờ vào các di tích văn hóa lịch sử và sinh thái như: di tích văn hóa Óc Eo, Gò Thành từ thế kỷ I đến thế kỷ VI sau công

nguyên); di tích lịch sử Rạch Gầm - Xoài Mút, di tích Ấp Bắc, lũy Pháo Đài; nhiều lăng mộ, đền chùa: lăng Trương Định , lăng Hoàng Gia, lăng Tứ Kiệt, chùa Vĩnh Tràng, chùa Bửu Lâm, chùa Sắc Tứ… các điểm du lịch sinh thái mới được tôn tạo như: vườn cây ăn quả ở cù lao Thới Sơn, Ngũ Hiệp, Trại rắn Đồng Tâm, khu sinh thái Đồng Tháp Mười, biển Gò Công

Mạng lưới viễn thông Tiền Giang được hiện đại hóa và triển khai

đồng loạt trong toàn tỉnh, đảm bảo thông tin liên lạc thông suốt

trong nước và quốc tế Điện lưới quốc gia đến toàn bộ trung tâm các

xã, phường, thị trấn Lượng nước sạch cung cấp cho sản xuất và sinh

Trang 4

hoạt đạt 55.000m3/ngày đêm cho các khu đô thị và nhiều vùng nông thôn Mạng lưới giao thông đường bộ khá hoàn chỉnh - đặc biệt là tuyến đường cao tốc thành phố Hồ Chí Minh-Trung Lương vừa mới đưa vào vận hành đã giúp rút ngắn đáng kể khoảng cách thời gian từ thành phố Mỹ tho đến thành phố Hồ Chí Minh Mạng lưới đường thủy thuận lợi Trục chính là sông Tiền, chiều dài 120km chảy ngang qua tỉnh về phía Nam và 30km sông Soài Rạp ở phía Bắc, tạo điều kiện cho Tiền Giang trở thành điểm trung chuyển về giao thông

đường sông từ các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long đi TP Hồ Chí Minh

và các tỉnh miền Đông Về phía Đông, đường biển từ huyện Gò Công Đông đến Bà Rịa- Vũng Tàu khoảng 40km

* Tổng quan:

Tỉnh Tiền Giang nằm về phía Đông Bắc Đồng bằng sông Cửu Long và cách thành phố Hồ Chí Minh 70 km, có diện tích tự nhiên là 2,481.8 km2 Có 32 km bờ biển và là cửa ngõ ra biển Đông

Toạ độ địa lý Tiền Giang giới hạn bởi

- 105o49'07'' đến 106o48'06''kinh độ Đông

- 10o12'20'' đến10o35'26''vĩ độ Bắc

Ranh giới hành chính

- Phía Đông giáp biển Đông,

Trang 5

- Phía Tây giáp tỉnh Đồng Tháp,

- Phía Nam giáp tỉnh Bến Tre, Vĩnh Long,

- Phía Bắc và Đông Bắc giáp tỉnh Long An TP.Hồ Chí Minh

* Tiền Giang: Điều kiện tự nhiên

* Địa hình:

Tỉnh Tiền Giang có địa hình bằng phẳng, với độ dốc nhỏ hơn 1% và cao trình biến thiên từ 0m đến 1,6m so với mặt nước biển, phổ biến

từ 0,8m đến 1,1m Nhìn chung, toàn vùng không có hướng dốc rõ ràng, tuy nhiên có những khu vực có tiểu địa hình thấp trũng hay gò cao hơn so với địa hình chung như sau:

- Khu vực đất cao ven sông Tiền (đê sông tự nhiên) phân bố dọc theo sông Tiền và kéo dài từ xã Tân Hưng (Cái Bè) đến xã Xuân Đông

(Chợ Gạo) Cao trình phổ biến từ 0,9 - 1,3m, đặc biệt trên dãy đất cao ven sông Nam quốc lộ 1 từ Hoà Hưng đến thị trấn Cái Bè do hầu hết

đã lên vườn nên có cao trình lên đến 1.6 - 1.8 m

- Khu vực thuộc địa bàn huyện Cai Lậy, Cái Bè, giới hạn giữa kinh Nguyễn Văn Tiếp và dãy đất cao ven sông Tiền có cao trình phổ biến

Trang 6

từ 0,7 - 1,0m và có khuynh hướng thấp dần về kinh Nguyễn Văn Tiếp Trên địa bàn có hai khu vực giồng cát và vùng lân cận giồng cát

có cao trình lớn hơn 1.0m là giồng Cai Lậy (bao gồm Bình Phú,

Thanh Hoà, Long Khánh, thị trấn Cai Lậy, Tân Bình, Nhị Mỹ) và giồng Nhị Quý (kéo dài từ Nhị Quý đến gần Lonh Định) Do đó, khu vực nằm giữa hai giồng này là dãy đất cao ven sông Tiền (bao gồm khu vực Long Tiên, Mỹ Long, Bàn Long, Bình Trung) có cao trình thấp hơn nên khó tiêu thoát nước

- Khu vực trũng phía Bắc Đồng Tháp Mười (bao gồm hầu hết huyện Tân Phước) có cao trình phổ biến từ 0,60 - 0,75m, cá biệt tại xã Tân Lập 1 và Tân Lập 2 có cao trình thấp đến 0,4 - 0,5m Do lũ hàng năm của sông Cửu Long tràn về Đồng Tháp Mười cộng với cao trình mặt đất thấp nên đây là khu bị ngập nặng nhất của tỉnh

- Khu vực giữa Quốc lộ 1 và kinh Chợ Gạo có cao trình từ 0,7 - 1,0m bao gồm vùng đồng bằng bằng phẳng 0,7 - 0,8m nằm kẹp giữa giồng Phú Mỹ, Tân Hương, Tân Hiệp (Châu Thành) phía Tây và giồng Bình Phục Nhất, Bình Phan (Chợ Gạo) phía Đông

- Khu vực Gò Công giới hạn từ phía Đông kinh Chợ Gạo đến biển Đông, có cao trình phổ biến từ 0,8 và thấp dần theo hướng Đông Nam, ra đến biển Đông chỉ còn 0,4 - 0,6m Có hai vùng trũng cục bộ

Trang 7

tại xã Thạnh Trị, Yên Luông, Bình Tân (Gò Công Tây) và Tân Điền, Tân Thành (Gò Công Đông) Do tác động bồi lắng phù sa từ cửa Xoài Rạp đưa ra, khu vực ven biển phía Bắc (Tân Trung, Tân Phước, Gia Thuận, Vàm Láng) có cao trình hơn hẳn khu vực phía Nam

Trên địa bàn còn có rất nhiều giồng cát biển hình cánh cung có cao trình phổ biến từ 0,9 - 1,1m nổi hẳn lên trên các đồng bằng chung quanh

* Đất đai:

Tổng quỹ đất tự nhiên của tỉnh là 236.663ha, trong đó có các nhóm đất chính như sau:

+ Nhóm đất phù sa: Chiếm 53% tổng diện tích tự nhiên 125.431 ha,

chiếm phần lớn diện tích các huyện Cái Bè, Cai Lậy, Châu Thành, Chợ Gạo, thành phố Mỹ Tho và một phần huyện Gò Công Tây thuộc khu vực có nguồn nước ngọt Đây là nhóm đất thuận lợi nhất cho nông nghiệp đã sử dụng toàn diện tích Trong nhóm đất này có loại đất phù sa bồi ven sông có thành phần cơ giới tương đối nhẹ hơn cả nên thích hợp cho trồng cây ăn trái

+ Nhóm đất mặn: Chiếm 14,6% tổng diện tích tự nhiên 34.552ha,

chiếm phần lớn diện tích huyện Gò Công Đông, thị xã Gò Công, Gò Công Tây và một phần huyện Chợ Gạo Về bản chất đất đai thuận lợi

Trang 8

như nhóm đất phù sa, nhưng bị nhiễm mặn từng thời kỳ hoặc

thường xuyên Nếu được rửa mặn loại đất này sẽ rất thích hợp cho việc sản xuất nông nghiệp với chủng loại cây trồng tương đối đa dạng

+ Nhóm đất phèn: Chiếm diện tích 19,4% diện tích tự nhiên

45.912ha, phân bố chủ yếu ở khu vực trũng thấp Đồng Tháp Mười thuộc phía Bắc 3 huyện Cái bè, Cai Lậy, Tân Phước Đây là loại đất hình thành trên trầm tích đầm lầy mặn ven biển thành tạo trong quá trình biển thoái, nên loại đất này giàu hữu cơ và phèn Đất phèn tiềm tàng và hoạt động sâu (phèn ít) có diện tích ít hơn so với đất phèn tiềm tàng và hoạt động nông (phèn nhiều) với tỷ lệ 6,82% so với 12,19%

Hiện nay, ngoài tràm và bàng là hai loại cây cố hữu trên đất phèn nông, đã tiến hành trồng khóm và mía có hiệu quả ổn định trên diện tích đáng kể Ngoài ra, một số diện tích khác cũng đã bước đầu được canh tác có hiệu quả với một số mô hình như trồng khoai mỡ và các loại rau màu, trồng hai vụ lúa và cả trồng cây ăn quả trên những diện tích có đủ nguồn nước ngọt và có khả năng chống lũ

Đất phèn nặm chiếm diện tích nhỏ phân bổ dọc bờ đất thấp (đất

biền) bị ngập triều ven các lạch triều bưng trũng

+ Nhóm đất cát giồng: Chiếm 3,1% diện tích tự nhiên với 7.336ha,

Trang 9

phân bổ rải rác ở các huyện Cai Lậy, Châu Thành, Gò Công Tây và tập trung nhiều nhất ở huyện Gò Công Đông do đất cát giồng có địa hình cao, thành phần cơ giới nhẹ, nên chủ yếu làm đất thổ cư và canh tác cây ăn trái, rau màu

Nhìn chung, đất đai của tỉnh phần lớn là nhóm đất phù sa (chiếm 53%), thuận lợi nguồn nước ngọt, từ lâu đã được đưa vào khai thác

sử dụng, hình thành vùng lúa năng suất cao và vườn cây ăn trái

chuyên canh của tỉnh; còn lại 19,4% (45.912ha) là nhóm đất phèn và 14,6% (34.552ha) là nhóm đất phù sa nhiễm mặn trong thời gian qua được tập trung khai hoang, mở rộng diện tích, cải tạo và tăng vụ thông qua các chương trình khai thác phát triển vùng Đồng Tháp Mừơi, chương trình ngọt hoá Gò Công, đã từng bước mở rộng vùng trồng lúa năng suất cao, vườn cây ăn trái sang các huyện phía Đông

và vùng chuyên canh cây công nghiệp thuộc huyện Tân Phước

Đến nay, trên 90% diện tích đã được đưa vào khai thác sử dụng cho các mục đích như sau:

Trang 10

* Biển:

Tiền Giang có khu vực giáp biển Đông thuộc huyện Gò Công Đông với bờ biển dài 32km nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Xoài Rạp (sông Vàm Cỏ) và cửa Tiểu, cửa Đại (sông Tiền)

Sóng biển có độ cao cực đại (bình quân 1,25m và tối đa 3m) vào các tháng 10 đến tháng 02 khi có ảnh hưởng rõ nét của gió Đông Bắc (gió chướng) Ngoài ra, chế độ thủy triều khu vực biển Gò Công Đông chịu ảnh hưởng trực tiếp của thủy triều biển Đông

Vùng ven biển, thuộc hệ thống các cửa sông giáp biển nên từ lâu đã thiết lập được hệ thống rừng trồng ngập mặn với diện tích 2.028ha gồm các loại bần, đước, mắm, dừa nước, phi lao Thực vật dưới tán lá rừng ngập mặn rất phong phú gồm 75 loài thuộc 35 họ

Khu vực ven biển được phù sa bồi đắp quanh năm, hiện quá trình bồi đắp đang hình thành các cồn ven biển:

- Cồn Vân Liễu - cồn Ông Mão: nằm tiếp giáp với vùng đất liền thuộc

xã Tân Thành (Gò Công Đông), có chiều dài 7km, rộng 5km với diện tích 4.055ha Độ cao đường bình độ từ 0,6 đến -6,0m, vùng ven bờ nổi lên khi triều kém

Trang 11

- Cồn Ngang: nằm tiếp giáp phía Đông cù lao Tân Thới thuộc xã Phú

Tân (Gò Công Đông), có chiều dài 5,5km, rộng 2,5km với diện tích 1.617ha Độ cao dường bình độ từ -1,1 đến -0,6m, nổi một phần diện tích khi triều kém Hiện một số khu vực cao trên cồn đã trồng được phi lao, mắm

- Cồn Vượt: nằm cách 1,5km về phía Đông Nam cồn Ngang, có chiều

dài 10km, rộng 3km, với diện tích 3.188ha Độ cao đường bình độ từ -2,3 đến - 6,1m, ngập hoàn toàn

Với điều kiện nằm giữa các cửa sông nên rất thuận lợi cho nuôi trồng

và đánh bắt thủy hải sản Thủy sản nước lợ: gồm con giống và con non sinh sản và di chuyển vào sâu trong bờ, trữ lượng hàng năm ước tính về tôm, cua, cá, sò, nghêu tại các vùng cửa sông là 156.000 tấn Hải sản, tiềm năng hải sản khá dồi dào với trữ lượng hàng năm về sinh vật nổi lên đến 12.000 triệu tấn thực vật phiêu sinh, 5,96 triệu tấn động vật phiêu sinh, 4,7 triệu tấn sinh vật đáy và hơn 1 triệu tấn

* Sông ngòi:

Tiền Giang có mạng lưới sông, rạch chằng chịt, bờ biển dài thuận lợi cho việc giao lưu trao đổi hàng hoá với các khu vực lân cận đồng thời

Trang 12

là môi trường cho việc nuôi trồng và đánh bắt thủy hải sản:

- Sông Tiền: là nguồn cung cấp nước ngọt chính, chảy 115km qua

lãnh thổ Tiền Giang, cao trình đáy sông từ -6m đến -16m, bình quân -9m, độ dốc đáy đoạn Cái Bè - Mỹ Thuận khá lớn (10 - 13%) và lài hơn về đoạn hạ lưu (0,07%) Sông có chiều rộng 600 - 1.800m, tiết diện ướt vào khoảng 2.500 - 17.000m2 và chịu ảnh hưởng thủy triều quanh năm Lưu lượng mùa kiệt (tháng 4) khoảng 130 - 190m3/s

- Sông Vàm Cỏ Tây: là một sông không có nguồn, lượng dòng chảy

trên sông chủ yếu là từ sông Tiền chuyển qua Sông Vàm Cỏ Tây là nơi nhận nước tiêu lũ từ Đồng Tháp Mười thoát ra và là 1 tuyến xâm nhập mặn chính Tại Tân An cao trình đáy sông -21,5m, độ dốc đáy 0,02%, rộng 185m, tiết diện ướt 1.930m2, lưu lượng bình quân các tháng kiệt 9m3/s, lưu lượng lũ tối đa gần 5.000m3/s

- Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn có một số sông, rạch nhỏ thuộc lưu vực sông Tiền và sông Vàm Cỏ Tây góp phần rất quan trọng trong việc lưu thông, vận chuyển hàng hoá và phục vụ sản xuất như: Cái Cối, Cái Bè, Ba Rài, Trà Tân, Phú Phong, Rạch Rầm, Bảo Định, Kỳ Hôn, Vàm Giồng, Long Uông, Gò Công, sông Trà v.v

Hầu hết sông, rạch trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng chế độ bàn nhật

Trang 13

triều không đều Đặc biệt vùng cửa sông có hoạt động thủy triều rất mạnh, biên độ triều tại các cửa sông từ 3,5 - 3,6m, tốc độ truyền

triều 30km/h (gấp 1,5 lần sông Hậu và 3 lần sông Hồng), tốc độ độ chảy ngược trung bình 0,8 - 0,9m/s, lớn nhất lên đến 1,2m/s và tốc

độ chảy xuôi đến 1,5 - 1,8m/s Trên sông Tiền, tại Mỹ Thuận (cách cửa sông 102km) biên độ triều lớn nhất từ 121 - 190 cm, ở hai lũ lớn nhất (tháng 9 và 10) biên độ triều nhỏ nhất khoản 10 - 130cm và hai tháng mùa cạn (tháng 4 và 5) biên độ triều lớn nhất là 190 - 195cm Đỉnh triều (max) tại Mỹ Thuận : 196cm (17/10/1978), chân triều (min) : -134cm (30/04/1978)

* Thời tiết - Khí hậu:

Khí hậu Tiền Giang mang tính chất nội chí tuyến - cận xích đạo và khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nhiệt độ bình quân cao và nóng quanh năm Nhiệt độ bình quân trong năm là 27 - 27,9oC; tổng tích ôn cả năm 10.183oC/năm

Có 2 mùa: Mùa khô từ tháng 12 năm trước đến tháng 4 năm sau ; mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11 (thường có hạn Bà chằng vào

tháng 7, tháng 8)

Tiền Giang nằm trong dãy ít mưa, lượng mưa trung bình 1.210 -

1.424mm/năm và phân bố ít dần từ bắc xuống nam, từ tây sang

đông; Độ ẩm trung bình 80 - 85%

Ngày đăng: 24/07/2014, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w