1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Bài giảng khoa học môi trường và sức khỏe môi trường part 5 ppsx

20 560 5

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 20
Dung lượng 406,82 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đất không chỉ là nơi chứa những chất thải bỏ nói chung mà còn nhận HCBVTV từ nhiều nguồn khác nhau: - Đất được phun hoặc trộn với thuốc để xử lý đất, diệt sâu hại - Bụi thuốc phun lên câ

Trang 1

11- 100 Bẩn vừa

2.2 Ô nhiễm đất bởi hóa chất bảo vệ thực vật (HCBVTV)

Đất không chỉ là nơi chứa những chất thải bỏ nói chung mà còn nhận HCBVTV từ nhiều nguồn khác nhau:

- Đất được phun hoặc trộn với thuốc để xử lý đất, diệt sâu hại

- Bụi thuốc phun lên cây trồng thì cóï chừng 50% lượng bụi rơi xuống đất

- Từ những hạt mưa

- Từ xác sinh vật và cây trồng

Lượng thuốc xâm nhập vào đất theo đường này rất thay đổi Ví du:û các loại Clo hữu

cơ như DDT có khả năng đọng lại ở lá, quả của cây trồng, sau khi rơi xuống đất thuốc được giữ lại lâu trong đất với liều lượng ít hơn khi phun vì một phần đã được cây hấp thụ và chuyển hoá

Sự tồn tại của thuốc trong đất phu ûthuộc vào một số yếu tố:

- Bản chất của thuốc, cách phun

- Tính chất của đất (cơ, lý,hóa)

- Hệ vi sinh vật hoại sinh có trong đất

Những hạt đất mịn và nhất là các phân tử keo có khả năng giữ lại những hợp chất thuốc khác nhau

Căn cứ vào tốc độ phân hủy trong đất, HCBVTV cũng được chia ra 3 nhóm:

- Loại trên 18 tháng gồm đa số thuốc trừ sâu Clo hữu cơ

- Loại từ 3-12 tháng gồm các chất diệt cỏ

- Loại dưới 3 tháng gồm đa số thuốc trừ sâu lân hữu cơ

Tuy nhiên, ngay trong cùng một loại thuốc kể trên cũng có chất gần như không bị phân hủy và có thể còn biến thành chất độc hơn

Ví dụ: Clorophos (C4H804Cl3P) sẽ thành DDVP (C4H702Cl2P) bền vững và độc hơn Clorophos

Thuốc trừ sâu trong đất còn có thể bị cây trồng hấp thu, đặc biệt là nhóm rau có củ như cà rốt, củ cải làm thức ăn cho người và gia súc Do thuốc trừ sâu Clor hữu cơ tồn tại rất lâu trong đất, do đó thuốc này cần phải cấm sản xuất và sử dụng rộng rãi

2.3 Ô nhiễm đất bởi các chất thải rắn từ sản xuất công nghiệp

Dưới hình thái bụi, hơi khí độc, chất thải rơi xuống đất ở những khoảng cách xa gần khác nhau so với nơi sản xuất và chính những cây trồng; cây cỏ dùng làm thức ăn cho người

và súc vật mọc trên những mảnh đất bị nhiễm bẩn đó cũng hấp thụ những chất độc kể trên Ngoài ra, đất bị ô nhiễm còn là nguồn nhiễm bẩn cho mạch nước ngầm và nước bề mặt

Rơi xuống đất, những chất độc này có thể làm thay đổi thành phần hóa học, PH, độ thấm hút nước của đất chúng sẽ gây ảnh hưởng đến sự hoạt động của hệ vi sinh vật có trong đất, do đó làm giảm sút hiện tượng tự làm sạch của đất Cũng như HCBVTV, nhiều thành phần trong chất thải công nghiệp, đặc biệt là các kim loại, có thể được cây cỏ hấp thụ Nhiều thực nghiệm của các nhà khoa học đã chứng minh được điều này

Ví du:

- Vùng quanh nhà máy super photphat có hàm lượng fluor tăng lên trong đất, trong rau, cả trong sữa bò được nuôi trong vùng xung quanh nhà máy này;

- Đất xung quanh nhà máy luyện kim màu có hàm lượng chì cao;

Trang 2

- Đất xung quanh nhà máy sản xuất acid sunfuric có hàm lượng As rất cao và rau quả trồng cách nhà máy 2000m vẫn còn có hàm lượng As quá tiêu chuẩn cho phép

II THANH TRỪ CHẤT THẢI ĐẶC

1.Tầm quan trọng của vấn đề thanh trừ chất thải bỏ

Trong tình hình kinh tế xã hội của nước ta hiện nay và để thực hiện mục tiêu sức khoẻ mọi người thì việc phòng chống ô nhiễm môi trường trong đó có đất, nước bởi chất thải bỏ là một vấn đề cấp bách trước mắt và vấn đề bảo vệ sức khoẻ lâu dài vì:

Chất thải bỏ là nguồn truyền nhiễm mang đủ các loại mầm bệnh: vi khuẩn, siêu vi khuẩn, đơn bào, trứng giun sán

Các công trình vệ sinh, việc quản lý và xử lý chất thải bỏ còn thiếu cả về số lượng và kém về chất lượng; nhất là ở nông thôn cả nước chỉ mới có 14% hố xí hợp vệ sinh

Người dân còn có thói quen dùng phân chưa xử lý để bón ruộng và nuôi cá

Nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa và phân chia theo mùa rõ rệt: mùa đông ngắn không lạnh lắm, mùa hè kéo dài và mưa nhiều

Về địa lý: Sông ngòi nhiều, tính chất đất xốp và ẩm tạo điều kiện cho mầm bệnh tồn tại quanh năm

Dân số phát triển nhanh và mật độ dân số phân bố không đều

Đời sống kinh tế thấp, trình độ văn hoá thấp nên những kiến thức vệ sinh thông thường chưa được phổ cập

2 Mục tiêu của biện pháp thanh trừ chất thải bỏ

Các biện pháp phòng chống chất thải bỏ đều nhằm hai hướng:

- Cắt đứt một trong 3 khâu của quá trình dịch tễ học bằng giải pháp điều trị bệnh nhân

để thanh toán mầm bệnh, hạn chế đường truyền; diệt côn trùng trung gian, bảo vệ môi trường

- Nâng cao sức đề kháng của người bệnh, hạn chế sự xâm nhập mầm bệnh vào cơ thể

Để đạt được mục tiêu theo hướng cắt đứt chu kỳ dịch tễ thì công trình vệ sinh là giải pháp có hiệu lực nhằm diệt mầm bệnh không cho chúng phát tán ra ngoại cảnh, bảo vệ được môi trường xung quanh, nhất là đất và nước

3 Ý nghĩa của việc thanh trừ chất thải bỏ

Thanh trừ tức là làm sạch và loại bỏ Chúng ta đều biết rằng một trong các nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường sống là từ chất thải bỏ Việc thanh trừ chất thải bỏ có ý nghĩa rất lớn đối với sức khỏe con người và có một giá trị kinh tế quan trọng

3.1 Ý nghĩa vệ sinh

Chất thải bỏ làm nhiễm bần môi trường xung quanh, làm cho tình trạng vệ sinh khu dân cư sút kém

Phân, rác, nước cống rãnh không được xử lý, không những làm nhiễm bẩn đất tại chỗ

đó mà còn theo nước mưa chảy tới các nguồn nước bề mặt xung quanh và thấm vào các mạch nước ngầm nông

Trong quá trình phân hủy, phân rác sẽ thải vào không khí xung quanh một lượng khí thối: NH3, H2S, Indol, Scaptol gây ra khó chịu, gây ra phản xạ ngừng thở Bụi từ đống rác, phân khô khi gặpü gió hay khi quét đường sẽ làm nhiễm bẩn bầu không khí

3.2 Ý nghĩa dịch tễ học

Chất thải bỏ là ổ chứa vi khuẩn, virus và trứng ký sinh trùng (hoặc kén), ổ vi khuẩn hoại thư sinh hơi, vi khuẩn than, uốn ván

Trang 3

Đống phân rác là nơi cư trú sinh sôi của các con vật trung gian truyền nhiều bệnh dịch nguy hiểm: chuột, ruồi nhặng, gián

3.3 Ý nghĩa xã hội

Cần phải thu dọn, xử lý chất thải bỏ; nhiệm vụ này đòi hỏi mỗi người, mỗi tập thể đều

có ý thức thực hiện Song trước hết đòi hỏi phải có tổ chức và có những biện pháp qui mô cho toàn khu dân cư nhằm:

- Bảo vệ môi trường bên ngoài

- Phòng ngừa bệnh tật, trước tiên là nhiễm giun sán, nhiễm khuẩn đường ruột

- Giảm tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ tử vong trong nhân dân

3.4 Giá trị kinh tế

- Nguồn phân bón tốt - Phế liệu có thể sử dụng để tái sản xuất, tiết kiệm nguyên liệu - Khí cháy

4 Các biện pháp xử lý phân hợp vệ sinh

Một năm, một người thải ra chừng 360 − 700kg (phân và nước tiểu) Trong phân ủ có khoảng 1% nitơ, 0,5% phospho, 0,3% kali, là những chất rất cần thiết cho cây trồng

Xử lý phân theo đúng yêu cầu có ý nghĩa to lớn để bảo vệ môi trường bên ngoài, cắt đứt một mắt xích trong quá trình dịch

4.1 Yêu cầu của một công trình vệ sinh về mặt vệ sinh dịch tễ

Để phù hợp với hoàn cảnh và môi trường Việt nam cũng như điều kiện canh tác của ngành nông nghiệp thì bất kể loại công trình vệ sinh nào cũng nhằm giải quyết 2 mục tiêu cơ bản là:

- Diệt trừ mầm bệnh không cho nó phát tán ra ngoài

- Biến chất thải bỏ (đặc và lỏng) thành nguồn phân bón hữu cơ để tăng màu mỡ cho đất, cung cấp chất dinh dưỡng cho cây trồng và an toàn khi dùng

Để đáp ứng 2 mục tiêu trên, một công trình xử lý phân phải đạt được 6 yêu cầu sau:

− Không làm nhiễm bẩn đất, nguồn nước tại nơi xây dựng

− Không có mùi hôi thối

− Không thu hút côn trùng và gia súc

− Tạo điều kiện để phân, chất thải bị phân hủy và hết mầm bệnh

− Thuận tiện khi sử dụng, nhất là đối với trẻ em

− Được nhân dân áp dụng và phù hợp với điều kiện tự nhiên của địa phương

4.2 Các loại công trình xử lý phân

4.2.1 Hố xí hai ngăn

Đó là công trình ủ phân tại chổ, chỉ được xây dựng ở nông thôn có sử dụng phân đã ủ làm phân bón

Nguyên tắc

Hố xí hai ngăn là một công trình ủ phân tại chỗ Hoạt động trên cơ sở kỵ khí nhờ các

vi sinh vật hoại sinh, phải có 2 ngăn riêng biệt: một ngăn để đi, một ngăn để ủ luân phiên nhau Khi phân được tập trung đầy thì được ủ kín ngay tại ngăn đó để phân hoại (mục) và diệt được vi khuẩn gây bệnh, trứng ký sinh trùng

Cấu trúc xây dựng

Công trình này gồm có hai phần:

− Ngăn tập trung phân và ngăn ủ (bệ xí)

Trang 4

− Phần che mưa nắng (nhà xí)

Toàn bộ phần cấu trúc xây dựng cũng như sử dụng, bảo quản phải đảm bảo nguyên tắc hoạt động của hố xí hai ngăn thể hiện trong 3 từ : Kín − Khô − Vững chắc

+ Nền hố xí: Đảm bảo không nứt nẻ, không lún Giữ cho bệ xí luôn khô ráo Nền xây cao hơn mặt đất xung quanh, có thể làm bằng tấm bê tông đúc sẵn hoặc xây bằng gạch láng xi măng, có thể đắp bằng đất sét nện dày 30cm

+Thành hố xí: Kết cấu chịu lực, không nứt nẻ, tốt nhất dùng bê tông đúc sẵn hoặc xây gạch trát xi măng

+ Bệ xí: Phải vững chắc, chịu được sức nặng của người ngồi khi lên xuống, không có kẽ nứt, được trát kín ở chổ tiếp giáp với thành xí; lỗ xí tròn, phải có nắp đậy kín, nước tiểu phải được hứng riêng không để trộn lẫn với phân

Bãi phân sau mỗi lần đi phải được phủ kín bởi chất độn (tro bếp, đất bột) Khi ủ phải trát kín

lỗ hố xí và cửa lấy phân và ủ ít nhất 4 tháng mới được lấy phân ra sử dụng

+ Kích thước bệ xí tùy theo số người trong gia đình và thời gian ủ dự kiến

+ Phần che mưa nắng: có thể không cần làm kiên cố nhưng cần che được mưa gió và thoáng khí

Sử dụng và bảo quản

- Chỉ đi một ngăn, một ngăn để ủ

- Phải giữ cho hố xí kín, khô, sạch

Tác dụng

Nếu đảm bảo xây dựng và hoạt động theo tiêu chuẩn kín, khô, và thời gian ủ trên 4 tháng thì loại hố xí ủ phân tại chổ này sẽ phát huy tác dụng của nó về mặt vệ sinh dịch tễ và đáp ứng mục tiêu:

- Diệt được mầm bệnh không làm nhiễm bẩn môi trường xung quanh

- Có được loại phân bón hữu cơ; an toàn khi sử dung

4.2.2 Hố xí thấm dội nước (HXTDN)

Là loại hình hố xí có nguồn gốc từ Ấn độ và còn được gọi là hố xí Sulabh

Nguyên tắc

Dựa vào khả năng tự làm sạch nước thải xảy ra trong đất trên cơ sở bãi phân bị cô lập trong bể chứa phân Vìì nước thải tự thấm vào đất xung quanh nên đáy và thành xung quanh

bể thấm không xây kín (mục đích để nước thải thấm theo chiều dọc và chiều ngang) Bệ ngồi

có cấu tạo nút nước; mỗi lần đi phải có nước dội nên ngăn cản được mùi hôi, do đó có thể xây ngay trong nhà

Cấu tạo và xây dựng

HXTDN có hai loại:

- Loại bệ ngồi đặt trực tiếp trên bể chứa

- Loại bệ ngồi đặt xa bể chứa : Loại này có thể xây thành một bể hay hai bể chứa nối với bệ ngồi qua ống dẫn

Mỗi hố xí dội nước có 3 bộ phận chính: bệ ngồi, ống dẫn phân và bể chứa Bệ ngồi có ống dẫn phân hình chữ Y ngược nối với 2 bể chứa phân xây chìm trong đất (trường hợp HXTDN có 2 bể chứa) hoặc đặt trực tiếp trên bể chứa phân (trường hợp HXTDN có 1 bể chứa phân)

- Loại bệ ngồi đặt trực tiếp trên bể chứa:

Trang 5

Bệ xí đặt tách rời bể chứa phân, khi bể chứa đầy có thể lấp đi và đào hố khác; có thể lấy phân ra ủ hoặc xử lý ngay để tránh gây tác hại với sức khoẻ Dù sao sử dụng hố xí một bể chứa cũng phức tạp và có nhiều nguy cơ ô nhiễm hơn

- Loại bệ ngồi đặt xa bể chứa:

Hai bể chứa phân riêng rẽ cùng được nối với một bệ xí bằng một ống dẫn phân Hai bể này được sử dụng luân phiên nhau Khi một bể đầy thì bịt đường dẫn xuống bể đó lại và mở đường dẫn xuống bể thứ hai Thời gian sử dụng bể thứ hai là thời gian để ủ bể một Khi bể 2 đầy thì mở bể 1 để lấy hết mùn bón ruộng và sử dụng lại như ban đầu Khi đó phân ở bể 2 lại được ủ Phân và nước dội vào bể chứa sẽ được phân huỷ và thấm dần vào đất

- Chọn địa điểm:

+ Gần nhà để tiện sử dụng

+ Tránh những nơi nước tù đọng hoặc ngập lâu khi mưa vì ảnh hưởng tới độ thấm nước trong bể chứa

+ Khoảng cách từ bể chứa đến nguồn nước bề mặt hay nguồn nước ngầm nông phải theo quy định, ít nhất 8m đối với vùng đất mịn, vùng đất đá phải xa hơn hoặc phải chọn giải pháp khác; đáy bể cách tầng nước ngầm ít nhất 2m

- Kỹ thuật xây dựng:

+ Đo và đánh dấu trên khu đất xây dựng: vị trí bể chứa phân, nơi đặt bệ, nhà xí và đường ống dẫn phân

+ Bể chứa phân: Đào 2 hố có kích thước 1,1 x 1,1 x 1,1m nếu xây 2 bể rời; đào một

hố kích thước 2,1 x1,1 x 1,1m nếu xây 2 bể gần nhau Xây quanh thành hố bằng gạnh loại 1và vữa xi măng cát với tỷ lệ 1: 3 hoặc 1: 4; hàng gạch đáy đặt xây ngang làm móng Bốn hàng gạch dưới cùng xây kín, từ hàng thứ 5 để lỗ thấm (trừ tường ngăn 2 bể chứa không để lỗ) Các hàng lỗ thấm cách nhau một hàng xây kín (nghĩa là hàng gạch thứ 5,7,9,11 có để lỗ thấm) Từ hàng gạch thứ 12 trở lên, xây kín hoàn toàn Thành bể cao hơn mặt đất 10 -15cm Tường ngăn giữa 2 bể xây kín hoàn toàn và trát bằng vữa ximăng cát, hàng trên cùng để một

lỗ thông giữa 2 bể ( 5 x 5cm)

+ Đặt xiphông, bệ xí:

Ghép xiphông và bệ xí liền vào nhau rồi đặt thử vào vị trí để căn độ phẳng của mặt bệ

xí và vị trí của xiphông Thông thường, mặt bệ xí phải cao hơn mặt đất 30-40cm để có độ dốc tốt cho ống dẫn phân vào bể chứa Bệ xí có thể đặt ở giữa hoặc đặt lệch về một bên, bệ xí quay ra cửa để khi ngồi có cảm giác thoải mái

Đổ nước vào xiphông và điều chỉnh để nút nước cao 1,5-2cm rồi cố định bằng gạch và vữa Đặt bệ và cố định, xây gạch đỡ xung quanh bệ, dùng xi măng gắn kín chổ nối giữa xiphông và bệ Đặt ống chữ Y đúc sẵn tiếp vào xi phông hoặc xây bằng gạch với đường kính ống 8-10cm, độ dốc của ống ít nhất 15-200 để phân trượt dễ dàng, tiếp tục đặt ống dẫn phân vào 2 bể chứa Chổ nối giữa 2 nhánh của ống chữ Y với ống dẫn phân nên để một khe hở 3cm

để tạo thành “van”; khi sử dụng sẽ bịt kín một bên ống lại; đến khi thay bể lại chuyển sang dùng ống bên kia Đổ đất hoặc cát vào khoảng trống bên dưới bệ xí và lèn chặt Mặt nền nhà

xí láng kín, có độ dốc vào bệ xí để toàn bộ nước trên nền nhà dễ dàng chảy vào

Sử dụng và bảo quản

Sau khi xây dựng một tuần, phần xi măng gắn đã chắc nên có thể sử dụng được Trước khi sử dụng cần kiểm tra lại về kỹ thuật xây dựng, độ kín của chổ gắn xiphông với bệ, van, nắp bể Kiểm tra nút nước, sự thông của toàn bộ đường dẫn phân

Bể chứa nước dội phải đủ nước, có dụng cụ múc nước

− Dội đủ 3 − 5 lít nước sau mỗi lần phóng uế

Trang 6

− Chỉ bỏ giấy chùi tự tiêu vào hố xí

− Không đổ nước xà phòng, thuốc sát trùng xuống hố xí

− Khi tắc dùng cán thông mềm để thông nhẹ nhàng

− Chỉ sử dụng lại bùn phân (nếu cần) sau 12 tháng sử dụng hố xí

− Nếu không có giấy chùi tự tiêu, thì phải có sọt đựng, đặt ở góc nhà xí và cần phải đốt hàng ngày Nếu bệ xí hoặc lỗ xí dính phân thì phải dùng nước cọ rửa ngay

− Bố trí bể chứa nước dội ngay trong nhà xí hoặc ngay trước cửa ra vào để tiện múc nước và có tác dụng nhắc nhở người đi cầu nhớ dội nước

- Bảo quản: quét dọn hàng ngày để tránh mùi hôi

Giữ cho nắp bể luôn kín, nếu có sứt mẻ cần trát lại ngay Khi chuyển bể phải bịt kín

“van” Sau khi lấy mùn phân ra sử dụng phải gắn kín lại ngay

Ưu nhược điểm của HXTDN

Xử lý phân hiệu quả và không gây ô nhiễm

không khí

Có thể xây dựng ngay trong nhà

Dễ sử dụng, bảo quản và tốn ít nước dội

Nguy cơ ô nhiễm mạch nước ngầm nông nếu

có dùng giếng

Chỉ xây dựng được ở nơi không quá khan hiếm nước

Kỹ thuật xây dựng, đặt xi-phông phải đúng

4.2.3 Hố xí tự hoại

Là loại hố xí dội nước được áp dụng cho các nhà ở riêng lẻ, nhà cao tầng có nước dội,

có ống thoát nước ở các đô thị, thành phố

Nguyên tắc hoạt động

Lợi dụng sự hoạt động phân hủy phân diễn ra trong nước của các vi khuẩn yếm khí và các vi khuẩn hiếu khí để làm sạch cơ bản phân, trước khi thải ra hệ thống cống thành phố Toàn bộ trứng giun sán, vi khuẩn gây bệnh đều bị tiêu diệt trong quá trình phân huỷ diễn ra trong bể, một phần do sự cạnh tranh bởi các vi khuẩn kỵ khí, một phần do nhiệt độ và điều kiện thiếu oxy Nếu xây dựng và sử dụng đúng đắn thì hố xí tự hoại là công trình xử lý phân đạt hiệu quả cao nhất hiện nay

Cấu tạo

- Bệ ngồi: Phải thật nhẵn, dễ cọ rửa và đẩy phân trôi được dễ dàng Bệ ngồi được nối liền với ống dẫn phân được tạo ra để luôn luôn có nút nước (xi-phông)

Nút nước là tiêu chuẩn kỹ thuật quan trọng của hố xí tự hoại nên phải đặt xi - phông đúng quy cách

- Bể xí: Thực chất là bể chứa và xử lý phân gồm:

+ Ngăn chứa phân,

+ Ngăn lắng phân,

+ Ngăn lọc hiếu khí

Bể xí với các ngăn chứa và ngăn lắng đều phải xây kín, láng kỹ mặt trong bằng xi măng mác cao nhằm tạo ra môi trường yếm khí trong nước, giúp cho các vi sinh vật yếm khí cạnh tranh và diệt mầm bệnh trong phân, nước tiểu

Ba ngăn này thông với nhau bởi một ống hình chữ L ngược

- Mức nước cống phải thấp hơn vị trí thoát nước thải của ngăn lọc hiếu khí

Sử dụng và bảo quản

Trang 7

- Khác với các loại hố xí khác, trước khi sử dụng hố xí tự hoại phải đổ đầy nước tất cả các bể để tạo điều kiện thuận lợi cho vi khuẩn yếm khí hoạt động

- Kiểm tra lại toàn bộ xiphông, đường dẫn phân, độ kín của bể trước khi sử dụng

Lỗ thông hơi phải kiểm tra, tránh bị bít tắc có thể gây nổ bể chứa hoặc xì hơi thối Các bước khác tương tự HXTDN nhưng mỗi lần đi lượng nước để dội nhiều hơn (5− 10lít / lần)

- Bảo quản hầm chứa không để nứt, vỡ làm thoát nước phân và đôi khi phải kiểm tra ống thông hơi, không để bị tắc

Ưu và nhược điểm

Ưu điểm:

- là loại hố xí hợp vệ sinh và an toàn nhất đối với sức khoẻ con người

- Xây dựng một lần nhưng sử dụng lâu dài và liên tục

- Bể phân và nhà xí có thể đặt xa nhau

- Không gây ô nhiễm cho bất kỳ nguồn nước nào xung quanh

- Có thể xây dựng ở bất kỳ vị trí nào kể cả cạnh giếng nước, ao, hồ

Hạn chế : - Giá thành cao,

- Cần nhiều nước dội

- Không xây được ở những chổ quá hẹp hoặc không có hệ thống cống thoát nước 4.2.4 Các hình thức xử lý phân khác được chấp nhận có điều kiện

Hố xí chìm (còn gọi là hố “mèo”)

Có thể áp dụng ở những nơi có vị trí cao không úng ngập, thoát nước dễ dàng

Ví dụ: nhà ở trên đồi, có vườn rộng

Ao cá vồ cải tiến ở Nam bộ

Loại hình cầu tiêu ao cá vồ là loại cầu tiêu rất mất vệ sinh, không có thầm mỹ; cần phải kiên trì vận động xóa bỏ Nhưng với thói quen nhiều năm và do điều kiện địa lý có nhiều

ao, hồ, ruộng thấp, gần sông ngòi nên cũng không dễ thay đổi Người ta có thể cải tiến ao cá vồ: Từ một ao chứa, làm thành một hệ thống 2 − 3 ao nối thông bằng nhiều ống dẫn nước Đồng thời phải tôn trọng nguyên tắc: ở ao chứa không được nuôi thả cá mà chỉ thả bèo

5 Thanh trừ rác

Trong sinh hoạt hàng ngày và trong quá trình sản xuất, tiêu dùng đã sản sinh ra nhiều chất thải bỏ gọi chung là rác Số lượng và thành phần của rác tuỳ thuộc vào sự phát triển và điều kiện địa lý của từng nước Nếu không quản lý chặt chẽ, các phế thải này sẽ gây ô nhiễm môi trường trong khu dân cư, đô thị, làm nhiễm bẫn nguồn nước và phát sinh nhiều bệnh tật

Việc quản lý các chất thải trong đó có rác cũng như nghiên cứu xử lý, tận dụng, tái chế chúng cho sản xuất là một công việc hết sức khó khăn Công việc này đã được nhiều nhà khoa học và nhiều quốc gia nghiên cứu giải quyết

5.1.Thành phần và phân loại rác

Trong rác thường có các phế liệu: các chất hữu cơ, bao bì thực phẩm, chai lọ thuỷ tinh, plastic, gạch đá, mẫu gỗ Tỷ lệ các thành phần khoảng 50% chất hữu cơ, chất vô cơ 49,7% Rác từ nhà ở, đường phố, chợ được tập trung, vận chuyển đến nơi xử lý, sau đó được chọn lọc và phân loại, xử lý tuỳ theo thành phần rác

Từ lâu, nhiều nước trên thế giới đã nghiên cứu các biện pháp xử lý rác nhằm hạn chế

Trang 8

5.2 Câc phương phâp xử lý râc

sự nhiễm bẩn, tận dụng tối đa câc phế liệu cho sản xuất, đồng thời chế biến râc thănh phđn bón

Có nhiều phương phâp xử lý râc khâc nhau

- Ủ râc

- Phương phâp xử lý nhiệt sinh vật

- Phương phâp bêi râc lộ thiín

- Phương phâp đốt

- Cânh đồng chôn câc chất đồng vị phóng xạ

5.2.1 Ủ râc

- Nguyín tắc:

Dựa văo khả năng tự sinh nhiệt cao của râc trong điều kiện tự nhiín khi được đânh đống, râc ủ sẽ biến thănh mùn, vi sinh vật gđy bệnh bị tiíu diệt

Tiíu chuẩn nơi thiết lập đống râc ủ:

+ Không bị ngập nước

+ Mức nước mạch ngầm tối thiểu sđu 2m

+ Dòng nước mạch không chảy tới giếng cung cấp nước uống + Câch xa nhă ở trín 1000m

Điều cấm:

Cấm đưa những cặn bê độc của chất thải công nghiệp, xâc súc vật văo đống râc ủ

- Tiến hănh ủ :

Sơ đồ cắt ngang đống râc ủ

+ Nền được nện chặt bằng lớp đất sĩt

+ Phủ lín trín một lớp vđt liệu hút nước

+ Rải thănh từng lớp, không nĩn chặt để lăm thoâng khí + Phủ lín toăn bộ đống râc một lớp đất dăy 15 - 25m

- Kích thưóc đống râc tùy theo yíu cầu, thường cao từ 1 -1,5m vă dăi 20 - 25m

- Đưa văo đống ủ những loại vi khuẩn giúp phđn hủy râc Có thể phun vôi clorua lín đống ủ Tỷ lệ nước trong râc đạt > 50%

- Thời gian ủ phụ thuộc thănh phần của râc vă điều kiện khí hậu Khoảng 3- 6 thâng

Rác

phát

Ủ phân bón

Nhà máy tái

Đốt khí nóng

Thu gom

rác

Vận

chuyển

rác

Xử lý rác thải

Chôn lấp San

Trang 9

- Để tăng khả năng phân hủy, có thể độn thêm đất mùn, rơm vụn

- Địa điểm :

+ Ở ngoại thành, gần đường giao thông Có nhà quản lý, nhà kho dụng cụ, nơi để xe,

có hàng rào bảo vệ

+ Đống ủ nên xếp thẳng hàng, giữa có lối đi rộng khoảng 3 - 4m Đường đi được rải nhựa hoặc xây xi măng 5 - 6m Xung quanh khu ủ rác phải có rãnh thoát nước chung

+ Khu dân cư cách xa nơi ủ tối thiểu 300 - 1000m

Rác hoại là chất tơi xốp màu nâu sẫm, không còn mùi thối và trọng lượng giảm bớt 35%, có thể cày lật vào đất làm phân bón

5.2.2 Phòng nhiệt sinh vật

Nguyên tắc: như nguyên tắc của ủ rác nhưng có thêm hệ thống bơm hút làm thoáng khí

So với rác ủ thì quá trình sinh hóa xảy ra nhanh hơn, mạnh hơn, ở nhiệt độ cao hơn (60 - 800

C) Hai ba ngày đầu rác tự sinh nhiệt Sau mười ngày, nhiệt độ lên tới 70 - 800C và duy trì 3 - 4 tuần sau đó Tiếp theo đến giai đoạn nhiệt độ hạ dần tới khi bằng với nhiệt độ không khí bên ngoài Toàn bộ quá trình xử lý mất 40 - 60 ngày

Phòng nhiệt sinh vật hình lập phương, thể tích khác nhau từ 3 -100m3, trung bình là 20m3

Tường và sàn làm bằng gạch, bêton cốt sắt (dùng tường cách nhiệt) Sàn không thấm nước và hơi dốc để nước bẩn chảy xuống thùng đặt phía dưới cách mặt sàn 15 - 20cm

Rác cho vào phòng qua cửa sập, không lèn chặt cho tới khi đầy 2/3 thể tích Điều kiện cần thiết là :

− Rác còn ẩm, tỉ lệ mất nước ít hơn 70%

− Trọng lượng chất vô cơ dưới 25%

− Trọng lượng chất hữu cơ dễ phân hủy hơn 30%

− Phải có luồng không khí vào phòng

Trọng lượng sau cùng của rác giảm còn 50% Hàm lượng mùn xấp xỉ 15%

5.2.3 Xử lý bằng bãi lộ thiên

Biện pháp này tuy sơ sài nhưng vẫn còn đang phổ biến ở nước ta Người ta tập trung rác của thành phố, thị trấn vào một bãi trống; bãi trống thường đặt ở xung quanh thành phố, cách xa khu dân cư từ 1000 - 3000m; với các mục đích như: lấp ao hồ và những vùng đất thấp đang cần được mở rộng

Một khu dân cư khoảng 50.000 dân cần một diện tích đổ rác 8-10 ha

Phương pháp này đơn giản, dễ thực hiện, không đòi hỏi nhiều kinh phí Sau một thời gian dài có thể sử dụng khu đất này để xây nhà ở, trồng cây, làm sân thể thao nhưng phương pháp này có nhược điểm là: cần phải có khu đất rộng; dễ gây ô nhiễm môi trường; gây mùi hôi thối; nơi phát triển của côn trùng, chuột mặt khác rất dễ gây ô nhiễm nguồn nước Do sự phân huỷ rác trong điều kiện tự nhiên, nên quá trình phân huỷ rác diễn ra chậm; phương pháp này không tận dụng được nguồn hữu cơ

Để giảm bớt sự hôi thối, sau khi đổ đủ một khối lượng rác nhất định, người ta lấp lên đống rác một lớp đất dày 70- 80cm

5.2.4 Chôn rác hợp vệ sinh

Trang 10

Cĩ thể hiểu một cách đơn giản là dùng để:

- Cải tạo đất bằng

- Tơn nền đất thấp cho cao lên và sử dụng đất theo ý muốn Điều cơ bản là phải dùng một lớp đất dày từ 15- 25cm phủ ngay lên mặt rác chơn để khắc phục những nhược điểm của bãi rác lộ thiên Để hạn chế đến mức thấp nhất sự ơ nhiễm cho nguồn nước bằng cách tạo hệ thống thốt nước xung quanh khu vực chơn rác

Chơn rác hợp vệ sinh cĩ thể thực hiện theo 3 cách:

- Chơn rác trên mặt đất bằng: áp dụng ở nơi đất khơng đào được, rác khơng chất thành đống mà rải trên khắp mặt bằng, đất được phủ rác phải đem từ nơi khác đến

- Đào hố chơn rác: Thích hợp cho những vùng cĩ thể đào được, đất đào sẽ được dùng

để phủ lên rác cần chơn Rác khơng đổ cao quá miệng hố Cách này rất phù hợp cho các gia đình ở nơng thơn, đào hố nhỏ để chơn rác

- Chơn lấp chổ trũng: Aïp dụng tốt cho những vùng đất trũng tự nhiên hoặc nhân tạo

Ví dụ : ao hồ cần san lấp; đất phủ thường được mang từ nơi khác đến

5.2.5 Nhà máy chế biến phân rác

Đây là dạng xí nghiệp phân loại và ủ rác dựa trên phương pháp xử lý nhiệt sinh vật Thường được áp dụng ở một số thành phố đơng dân cư, địi hỏi phải cĩ đầu tư về kinh phí và trang thiết bị

Quá trình kỹ thuật được chia làm 3 giai đoạn chính:

- Phân loại rác

- Cơng đoạn ủ rác

- Phân loại rác sau khi đã được ủ

Khâu quan trọng nhất của quá trình chế biến là làm phân huỷ các chất hữu cơ Rác được chế biến thành phân bĩn dựa vào phản ứng lên men nhờ các vi khuẩn cĩ sẵn trong rác

Để đảm bảo quá trình diễn ra nhanh chĩng và thuận lợi, người ta cho vào rác ủ những vi khuẩn cần thiết và tạo điều kiện ổn định như nhiệt độ, độ ẩm, thơng khí Sau quá trình ủ các chất hữu cơ và vơ cơ được chuyển sang dạng dễ tiêu, nâng cao hàm lượng đạm Song song quá trình trên là quá trình cơ học (nghiền, đảo, trộn, sấy khơ, đĩng gĩi)

5.2.6 Đốt rác Áp dụng đối với một số loại phế thải độc hại

Câu hỏi đánh gía cuối bài

Trình bày các nguyên nhân gây ơ nhiễm đất ?

Ý nghĩa của việc thanh trừ chất thải bỏ đối với một khu dân cư ?

Ưu nhược điểm của mỗi cơng trình xử lý phân hợp vệ sinh ?

Ngày đăng: 24/07/2014, 00:22

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ cắt ngang đống rác ủ - Bài giảng khoa học môi trường và sức khỏe môi trường part 5 ppsx
Sơ đồ c ắt ngang đống rác ủ (Trang 8)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm