Một số kết qủa đáng lu ý theo hớng ny trong những thời gian gần đây l sử dụng ti liệu biến động độ cao mực nớc nhận đợc từ vệ tinh theo các tuyến bao phủ ton bộ diện tích vùng bi
Trang 1Thủy văn và thủy động lực biển Đông - Chương 3
Trang 2nguồn gốc từ biển Philippin- Thái Bình Dơng Tuy nhiên các nghiên cứu gần
đây cho thấy cha thể khẳng định một cách chắc chắn về điều ny khi xem xét phân bố T-S ở các độ sâu khác nhau của Biển Đông v biển Philipin (hình 2.31)
Có thể nhận thấy sự ổn định tơng đối của nhiệt độ cũng nh độ muối của nớctầng sâu trong Biển Đông, khác với phạm vi biến động của các đặc trng nhiệt-muối của nớc biển Philipin tại các độ sâu tơng ứng
Nhận xét về các khối noớc Biển Đông
Có thể nhận thấy những đặc trng hình thnh v phân bố các khối nớc Biển Đông phản ảnh tác động của những nhân tố địa phơng có vai trò hết sức quyết định Ngoại trừ những khối nớc trong lớp hoạt động trên của biển, phần lớn các khối nớc đợc hình thnh v lan truyền trong phạm vy Biển Đông trong một khoảng thời gian rất di v chịu tác động của các nhân tố địa phơng nhnền nhiệt cao v độ muối thấp
Các khối nớc tầng mặt Biển Đông có phạm vy biến động của nhiệt độ v
độ muối khá lớn, song trên phần trung tâm biển vẫn tồn tại khá ổn định một khối nớc tầng mặt đặc trng cho vùng biển nớc sâu, một khối nớc cực đại độ muối trong nêm nhiệt mùa v khối nớc trung gian cực tiểu độ muối trong phần trên của nêm nhiệt cố định
Ch ơng 3 Các đặc điểm thủy động lực Biển Đông
Trang 3Các đặc điểm thủy động lực học Biển Đông phản ánh một cách đầy đủ tính phức tạp của vị trí địa lý, địa hình v các đặc điểm thủy văn Trong phần nychúng ta xem xét lần lợt các đặc trng thủy động lực học biển chủ yếu nhthủy triều, sóng v dòng chảy.
3.1 Thủy triều v mực nớc Biển Đông
3.1.1 Tình hình nghiên cứu
Nghiên cứu chế độ thủy động lực nói chung v thủy triều nói riêng ở Biển
Đông có ý nghĩa hết sức quan trọng do vị trí địa lý v điều kiện tự nhiên đặc thù
Địa hình đáy biển hết sức phức tạp, đờng bờ biển quanh co khúc khuỷu, nhiều
đảo to, nhỏ cùng hng loạt vịnh, eo lớn nhỏ đã lm cho chế độ thủy triều của Biển Đông rất phức tạp, có những đặc thù riêng biệt khác hẳn với các biển khác trên thế giới
Chính vì vậy, thủy triều Biển Đông đã đợc chú ý v nghiên cứu từ rất sớm.ở Việt Nam, những nhận xét có ý nghĩa khoa học đầu tiên về đặc điểm chế
độ thủy triều trong các vùng biển đã có trong Do địa chí của Nguyễn Trãi (thế
kỷ 15) v nhất l trong Vân Đui loại ngữ v Phủ biên tạp lục của Lê Quý Đôn (thế kỷ 18) Nhng những điều tra v nghiên cứu có ý nghĩa khoa học về thủy triều Biển Đông thực sự có đợc từ đầu thế kỷ XX với các công trình của Darwin (1905), Poincare (1910) v Ogura (1933) Từ đó đến nay việc điều tra nghiên cứu thủy triều Biển Đông không ngừng phát triển v hon thiện Các kết quả đạt
đợc ngy cng đợc nâng cao về tính khoa học cũng nh tính ứng dụng Có thể
điểm lại một số công trình nghiên cứu chính trong những năm gần đây theo các hớng khác nhau
a.Nghiên cứu sự biến đổi theo thời gian qua tui liệu thực đo tại các trạm
ven bờ v nội ngoại suy để tìm sự phân bố theo không gian
Từ nhiều năm nay dọc theo ven bờ Biển Đông nói chung v ven bờ Việt Nam nói riêng đã thiết lập một hệ thống các trạm nghiệm triều nhằm đo đạc liên tục dao động mực nớc biển theo các khoảng thời gian kéo di khác nhau từ hng tháng đến hng năm v thậm chí nhiều năm Trên cơ sở các chuỗi số liệu ny đã tiến hnh phân tích tính toán ra các tham số đặc trng cho chế độ thủy triều nh mực nớc trung bình, mực nớc cực trị, thời gian triều dâng, thời gian triều rút, các hằng số điều hòa thủy triều, v.v cho từng trạm đo đạc Hệ thống các hằng số điều hòa thủy triều dọc ven bờ v đảo l cơ sở cho các nghiên cứu thủy triều Biển Đông bằng các phơng pháp từ đơn giản đến hiện đại
Một trong những thnh quả theo hớng ny l việc lập ra các bảng thủy triều hng năm cho các cảng chính dọc ven bờ Trong bảng thủy triều đã cho kết quả dự tính mực nớc từng giờ của các cảng chính v một số giá trị nội suy cho các điểm phụ ở ven biển hoặc vùng hạ lu các sông Bảng thủy triều ny đợc Tổng Cục Khí tợng Thủy văn xuất bản từ năm 1958, mới đầu chỉ cho các cảng
ở miền Bắc từ Cửa Tùng trở ra Từ năm 1972 đã dự tính cho các cảng trong cả nớc v một số cảng nớc ngoi (Hong Kong, Kom Pong Som, Singapo, Băng
Trang 4Mộ Canh (1984), Pariwono (1985), Fang (1986), Huang v các cộng sự (1994) Một số kết qủa đáng lu ý theo hớng ny trong những thời gian gần đây l sử dụng ti liệu biến động độ cao mực nớc nhận đợc từ vệ tinh theo các tuyến bao phủ ton bộ diện tích vùng biển để phân tích điều ho, kết hợp với các ti liệu quan trắc tại các trạm ven bờ để hiệu chỉnh đã nhận đợc các bản đồ phân bố hằng số điều hòa thủy triều cho ton biển (Yanagi v các cộng sự, 1997)
b.Nghiên cứu sự phân bố trong không gian của các đặc trng thủy triều bằng cách giải hệ phơng trình thủy động lực 2 chiều
Hớng nghiên cứu ny đợc bắt đầu muộn hơn so với hớng trên nhng nó phát triển cng ngy cng mạnh mẽ trong những năm sau ny theo sự tiến bộ không ngừng của toán học tính toán v kỹ thuật máy tính
Trớc hết phải kể đến những nghiên cứu theo phơng pháp tìm nghiệm giải tích của hệ phơng trình thủy động lực học thủy triều Mặc dù bằng cách ny có thể có đợc nghiệm chính xác của bi toán đợc biểu diễn bằng các công thức giải tích, song đòi hỏi miền nghiên cứu phải có dạng hình học đơn giản nhhình chữ nhật, hình tròn, với độ sâu không đổi hoặc biến đổi theo quy luật tuyến tính Chính vì vậy những nghiên cứu thuộc loại ny ít đợc phát triển ở Biển Đông, vùng có hình thái bờ v địa hình đáy biển biến đổi rất phức tạp Có thể nêu ví dụ về công trình theo hớng nghiên cứu ny của Phan Phùng (1974)
đã tính phân bố các sóng triều chính cho vịnh Bắc Bộ v vịnh Thái Lan sau khi
đơn giản hoá các điều kiện tự nhiên thực của chúng
Phát triển mạnh mẽ nhất v có những thnh tựu đáng kể nhất theo hớngny l các công trình nghiên cứu theo phơng pháp số trị giải hệ phơng trình thủy động lực thủy triều Những công trình đầu tiên tính toán thủy triều Biển
Đông bằng phơng pháp số trị xuất hiện vo những năm 60 của thế kỷ XX Công trình đầu tiên có thể kể đến l Sergeev (1964), ông đã sử dụng phơng pháp giá trị biên của Hanxen để tính toán phân bố biên độ v pha của bốn sóng triều chính trong Biển Đông Các công trình tiếp thep cũng theo phơng pháp ny lcủa Nguyễn Ngọc Thuỵ (1969), Đặng Công Minh (1975) với số điểm biên cứng có hằng số điều hòa nhiều hơn Nội dung phơng pháp ny l sử dụng hệ phơngtrình tuyến tính, với tính chất dao động thủy triều có chu kỳ đã loại bỏ biến thời gian v đa hệ phơng trình thủy động về dạng elliptic Bi toán có nghiệm duy nhất khi biết điều kiện dao động mực nớc trên biên bao quanh miền nghiên cứu
Phơng pháp số trị khác để giải bi toán phân bố không gian của thủy triều l dựa trên hệ phơng trình thủy động thủy triều phi tuyến với điều kiện biên hỗn hợp: cho trớc dao động mực nớc trên biên lỏng v sử dụng điều kiện
Trang 5không thấm tại biên cứng Không sử dụng tính chất dao động tuần hon để loại thnh phần biến đổi theo thời gian trong hệ phơng trình, hệ phơng trình đợc giữ nguyên để giải ở dạng hyperbolic Nhiều công trình của nhiều tác giả khác nhau đã tập trung theo phơng pháp ny để nghiên cứu thủy triều trong Biển
Đông cũng nh trong các vịnh riêng biệt nh vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan Có thể
kể tên hng loạt các công trình của các tác giả l Ye v Robinxon (1983), Li vChen (1987), nhóm mô hình triều thuộc đề ti nh nớc KT.03.03 (1991-1995:
Đỗ Ngọc Quỳnh, Nguyễn Thị Việt Liên, Đặng Công Minh, Nguyễn Hữu Nhân, Bùi Hồng Long, Lê Trọng Đo, Nguyễn Thọ Sáo), Fang, Kwork, Yu v Zhu (1999) Ngoi ra còn có thể kể đến những công trình đợc thực hiện trong khuôn khổ các luận án tiến sỹ trong v ngoi nớc nh của Bùi Hồng Long (1986), Nguyễn Thọ Sáo (1988), Nguyễn Thị Việt Liên (1997), Đinh Văn Mạnh (2000) Trong đó luận án của Đinh Văn Mạnh đã bớc đầu xây dựng mô hình 3 chiều cho chuyển động thủy triều vịnh Bắc Bộ Cần lu ý rằng bằng giải số trị theo phơng hớng ny một số tác giả đã bắt đầu nghiên cứu tìm hiểu sâu hơn về cơ chế hình thnh biến đổi bức tranh dao động thủy triều trong Biển Đông
Một số tác giả đã nghiên cứu các bi toán truyền sóng tự do, truyền sóng dao động có chu kỳ triều qua các biên lỏng, các chu kỳ dao động riêng trong tonbiển, đánh giá tác động trực tiếp của lực gây triều trong phạm vi biển Có thể kể tên một số tác giả của những nghiên cứu ny l Đỗ Ngọc Quỳnh (1983, 1991), Phạm Văn Huấn (1994), Phạm Văn Ninh v Trần Thị Ngọc Duyệt (1997), Đỗ Ngọc Quỳnh, Phạm Văn Ninh, Nguyễn Thị Việt Liên v Trần Thị Ngọc Duyệt (1998)
3.1.2 Các kết quả phân tích hằng số điều hòa v đánh giá vai trò các yếu tố hình thnh triều Biển Đông
a Hệ thống các hằng số điều hòa thủy triều tại các trạm ven bờ vu đảo
Những hằng số điều hòa (HSĐH) thủy triều nhận đợc từ phân tích điều hòa các chuỗi số liệu quan trắc mực nớc liên tục di ngy tại các trạm đo đạc
đặt ở ven bờ lục địa hay các đảo đóng vai trò hết sức quan trọng trong việc nghiên cứu hiện tợng thủy triều trong biển Trớc hết từ những giá trị ny có thể nghiên cứu các đặc trng chế độ dao động thủy triều tại những vùng đặt trạm, tính toán các giá trị cực trị hay dự báo độ cao mực nớc ở thời điểm bất kỳ cho trạm đó Các hằng số điều hòa đợc tính cho các sóng chính, tơng ứng với các chu kỳ v tên sóng đợc dẫn ra trong bảng 3.1 Chính trên cơ sở các HSĐH thủy triều ny m Trung tâm Khí tợng Thủy văn Quốc Gia (Tổng Cục Khí tợng Thủy văn trớc đây) đã tính v xuất bản Bảng thủy triều hng năm cho một số trạm ven bờ (gồm 13 trạm ven bờ nớc ta v 4 trạm thuộc các khu vực lân cận) Mặt khác các HSĐH thủy triều tại các trạm cố định l cơ sở cho các mô hình tính toán phân bố không gian của các đặc trng thủy triều v dòng triều trong ton biển
Bảng 3.1 Các sóng chính thông dụng sử dụng trong phân tích hằng số điều hòa thủy triều
Trang 6Loại Tên sóng Ký hiệu Chu kỳ
Bán nhật triều Mặt trăng chính
Mặt trời chính Ellip mặt trăng lớn Mặt trăng mặt trời
Mặt trăng chính Mặt trời chính Ellip mặt trăng lớn
Mặt trăng tháng Mặt trời nửa năm Mặt trời năm
Nớc nông 1/4 ngμy Nớc nông 1/6 ngμy
M4
MS4
M6
6,21 giờ 6,10 giờ 4,14 giờ
Những HSĐH ny ở một số điểm sẽ đóng vai trò l điều kiện biên của các mô hình, ở một số điểm khác sẽ dùng lm tiêu chuẩn để hiệu chỉnh, kiểm định, kiểm tra các mô hình Rõ rng hệ thống các HSĐH thủy triều tại các trạm cố
định đóng vai trò cực kỳ quan trọng trong việc nghiên cứu thủy triều v dòng triều trong một vùng biển
Nhận thấy vai trò thiết yếu của hệ thống các HSĐH thủy triều, đề ti cấp nh nớc KT.03.03 “Nghiên cứu thủy triều Biển Đông” thuộc Chơng trình Nghiên cứu Biển 1991-1995 đã thu thập v chỉnh biên số liệu các HSĐH thủy triều tại các trạm phân bố dọc ven bờ v đảo trong Biển Đông Đã chọn lọc vthống kê đợc 275 điểm với các giá trị HSĐH mực nớc triều Từ kết quả của đề ti KT 03.03, các số liệu HSĐH đợc tính toán v công bố dựa trên các nguồn tiliệu chính sau đây:
Bảng các hằng số điều hòa thủy triều của Văn phòng thủy văn Quốc tế Monaco (BHI-International Hydrographic Bureau Monaco): Tidal list of
harmonic constants Pub No26, 1936, 1953, 1959
Bảng thủy triều Anh (ATT): Admiralty Tide Tables,
Các kết quả tính toán của Tổng cục KTTV Việt Nam,
Bảng thủy triều Trung Quốc v một số nguồn khác
Trong số 275 điểm đã nói ở trên, phân bố ở các nguồn nh sau: 29 (BHI),
203 (ATT), 26 (Tổng Cục KTTV), 1 (Trung Quốc) v 16 (các nguồn khác)
Cũng cần chỉ ra rằng mức độ chính xác của các HSĐH trong tập thống kê trên l khác nhau giữa các trạm Trong số ny chỉ có 26% các trạm với HSĐH
đợc tính từ chuỗi số liệu một năm trở lên, còn lại 74% số trạm đợc tính từ
Trang 7chuỗi quan trắc 1 tháng, 1/2 tháng hay ngắn hơn Dĩ nhiên chuỗi quan trắc di
sẽ phân tích đợc nhiều sóng thnh phần hơn v độ chính xác các HSĐH sẽ cao hơn Dù sao đây cũng l một tập số liệu rất quý giá có thể sử dụng vo nhiều mục đích khác nhau để nghiên cứu thủy triều Biển Đông
b Kết quả đánh giá vai trò các yếu tố trong việc hình thunh vu biến đổi hiện toợng thủy triều trong Biển Đông
ma sát đáy luôn l mối quan tâm hng đầu của các nh nghiên cứu tính toán bức tranh phân bố thủy triều
Trong khuôn khổ đề ti cấp nh nớc KT.03.03 đã nhận đợc một số kết quả về nghiên cứu chọn hệ số ma sát đáy trong bi toán tính toán thủy triều Biển Đông nh sau:
Đã tiến hnh tính toán bi toán thủy triều Biển Đông theo mô hình thủy
động với các trờng hợp hệ số ma sát đáy khác nhau, biến đổi từ nhỏ đến lớn cho
2 sóng chính đợc chọn l K1 v M2 Hệ số ma sát đáy cho thay đổi từ rất nhỏ (0.5.10-3) đến khá lớn (4.0.10-3
) với bớc thay đổi 0.5.10-3 Các kết quả tính toán của từng phơng án đợc đem so sánh với trờng hợp ma sát đáy rất nhỏ (có thể xem nh ảnh hởng của ma sát l gần bằng không) để tính ra sai lệch tuyệt đối v tơng đối cho từng điểm trong ton miền tính
Kết quả cho thấy sự có mặt của ma sát đáy đã lm thay đổi đáng kể bức tranh phân bố biên độ v pha của dao động mực nớc cũng nh dòng triều Dĩ nhiên hệ số ma sát cng tăng, sự sai khác cng lớn Với dao động mực nớc ảnh hởng của ma sát đáy thấy rõ ở các vùng biển nông (nh vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan) hơn l các vùng biển sâu Chẳng hạn khi so sánh trờng hợp ma sát đáy trung bình (2,5.10-3) với trờng hợp ma sát đáy không đáng kể, sai lệch biên độ của sóng K1 ở các vùng nớc nông có thể vợt quá 30cm (tơng ứng sai lệch tơng đối trên 40%), pha có thể vợt quá 30o
Giá trị tơng ứng ở vùng nớc sâu l 10cm (sai lệch tơng đối 15%) v 10o Với sóng M2 cần lu ý l sai lệch tơng
đối ở vùng nớc sâu cũng sẽ khá lớn, mặc dù sai lệch tuyệt đối cũng chỉ 5-10cm nhng vì bản thân giá trị biên độ của M2 ở đây l nhỏ nên sẽ lm tăng giá trị tơng đối
Đã tiến hnh tính toán thử nghiệm v so sánh hai trờng hợp: trị số ma sát lấy cố định, bằng giá trị trung bình 2,6.10-3
v trị số ma sát thay đổi ở từng vị trí tùy thuộc độ sâu biển
Hệ số ma sát biến đổi theo độ sâu của biển đợc tính theo công thức
0
0 2
3
21
2
11ln
ằ
ằº
ô
ôê
z X
K
Trang 8Nhiều kết quả tính toán thử nghiệm đã chứng tỏ rằng trong vùng Biển
Đông nên chọn hệ số ma sát đáy trong khoảng 2,5.10-3 đến 3,0.10-3
Vai trò của lực Coriolis
Trong các nghiên cứu trớc đây có tác giả đã tính lực Coriolis lấy giá trị trung bình cho ton Biển Đông vì cho rằng ở vĩ độ thấp lực ny không lớn Nhng cũng có các tác giả khác cho rằng đối với Biển Đông l một biển lớn trải di từ xích đạo đến 25o
N, do đó không thể bỏ qua sự thay đổi của lực ny theo vĩ
độ, mặc dù ở vĩ độ thấp giá trị lực ny không lớn nh ở các vĩ độ cao
Kết quả tính toán trong Đề ti KT03.03 cho thấy có sự khác nhau rõ rệt trong bức tranh phân bố thủy triều trong 2 trờng hợp đã nêu Điều đó cho thấy khi tính toán các bi toán thủy triều Biển Đông cần thiết phải tính đến sự thay
đổi lực Coriolis theo vĩ độ địa lý
Vai trò của thunh phần phi tuyến
Trong mô hình số trị thủy động tính toán thủy triều dựa trên cơ sở hệ phơng trình Saint-Venant đầy đủ, hiệu ứng phi tuyến tham gia trong hai thnh phần chính, đó l thnh phần ma sát đáy theo quy luật tỷ lệ với bình phơng vận tốc v thnh phần gia tốc phi tuyến
Kết quả tính toán cho thấy hiệu ứng gia tốc phi tuyến ảnh hởng tới dao
động mực nớc không đáng kể khi giải bi toán thủy triều cho cả Biển Đông Sai lệch tuyệt đối về biên độ ở phần lớn các vùng chỉ từ 0 đến 2cm, vi chỗ đạt tối đa dới 5cm, còn về pha sai lệch tuyệt đối hầu nh không quá 5o
Tuy nhiên hiệu ứng phi tuyến ny ảnh hởng tới dòng triều rõ nét hơn ởmột số vùng nh gần eo Đi Loan, eo Quỳnh Châu, vùng phía đông đảo Hải Nam, vùng bờ biển miền Trung Việt Nam v bờ tây Philippin sự sai khác tuyệt
đối giữa 2 phơng án tính có thể đạt tới 5cm/s, còn các vùng khác còn lại trong Biển Đông sự sai lệch ny không quá 1cm/s Có thể nhận thấy rằng hiệu ứng gia tốc phi tuyến sẽ có ảnh hởng rõ rệt ở những vùng có dòng triều mạnh v có gradient tốc độ dòng lớn Khi giải bi toán thủy triều ở những vùng hẹp hơn có
độ sâu biến đổi mạnh bằng bớc lới nhỏ đủ mô tả chi tiết sự biến đổi của độ sâu
Trang 9thì có thể nhận thấy sự sai lệch rõ rng hơn do tác động của hiệu ứng gia tốc phi tuyến.
Nh vậy để tính toán đủ chính xác hiện tợng thủy triều, trong mô hình không nên bỏ qua thnh phần gia tốc phi tuyến, đặc biệt l khi nghiên cứu tính toán dòng triều
Vai trò tác động trực tiếp của lực gây triều trong Biển Đông
Sự hình thnh chuyển động thủy triều trong Biển Đông đợc thực hiện bằng 2 con đờng: một l sóng triều đợc hình thnh trong đại dơng rộng lớn v truyền vo Biển Đông qua các cửa nh eo Đi Loan, eo Bashi, eo Kalimantan,
eo Malaca (thực tế đây l các biên lỏng giới hạn biển với đại dơng bên ngoi); hai l sóng triều đợc hình thnh ngay trong Biển Đông dới tác dụng trực tiếp của lực gây triều Từ xa tới nay các tác giả đều thừa nhận rằng con đờng thứ nhất l cơ bản, l chính yếu nhất để hình thnh nên chuyển động thủy triều Biển Đông, còn con đờng thứ hai l thứ yếu, không đáng kể, thậm chí có thể hon ton bỏ qua không cần đếm xỉa đến khi nghiên cứu chế độ dao động thủy triều trong Biển Đông Bi toán thủy triều Biển Đông đợc xét thuần túy l bitoán truyền sóng triều từ biên lỏng vo
Tuy nhiên rất cần thiết phải đánh giá định lợng về vai trò tác động trực tiếp của lực gây triều trong Biển Đông Các nghiên cứu của Đặng Công Minh (1975), của nhóm nghiên cứu tại Viện Cơ học (Đỗ Ngọc Quỳnh v các cộng sự, 1998) đã rút ra đợc một số kết luận về ảnh hởng của lực gây triều
Đối với sóng M2: Việc tính toán đến tác dụng trực tiếp của lực gây triều trong Biển Đông lm thay đổi đáng kể biên độ của sóng ny Tại các vùng vịnh Bắc Bộ, vịnh Thái Lan v phần phía đông của biển, biên độ sóng M2 tăng có chỗ
đạt từ 4 đến 8cm (bờ Philippin), thậm chí tới 14cm (gần eo Quỳnh Châu v vùng ven bờ Kiên Giang) Trong khi đó có một số nơi biên độ lại giảm khá mạnh từ 4
đến 12cm (nh vùng phía bắc Biển Đông, phía đông v nam của Nam Việt Nam) Sai lệch tơng đối nhiều nơi đạt từ 40 đến 50% thậm chí cao hơn
Đối với sóng S2: sóng ny có biên độ nhỏ hơn M2 nên sai lệch tuyệt đối cũng nhỏ hơn Các vùng ny tăng giảm biên độ cũng phân bố giống nh đối với sóng
M2 Sai lệch tơng đối có giá trị khá lớn đặc biệt ở vùng bắc Biển Đông có thể đạt tới giá trị vi trăm phần trăm, còn phần lớn các nơi sai lệch tơng đối từ 10 đến 20%
Đối với sóng K1: Việc tính toán đến tác dụng trực tiếp của lực gây triều nói chung lm giảm biên độ sóng ở các vùng phía bắc, vùng trung tâm biển (trong đó
có ton bộ vịnh Bắc Bộ) v vùng tây nam Phần tăng biên độ ở gần Philipin vvùng đông nam của biển Mức độ tăng, giảm đều nhỏ từ 1 đến 4cm Sai lệch tơng đối trong các vùng cỡ từ 0 đến 10%
Đối với sóng O1: Cũng giống nh với sóng K1, các vùng tăng giảm biên độ cũng gần giống nh với sóng K1 Trị số tăng giảm cũng nhỏ, lớn nhất đạt 4 đến 6cm ở vùng gần eo Kalimantan Sai lệch tơng đối trong các vùng cũng cỡ từ 0
đến 10%
Trang 10Nh vậy từ kết quả tính toán đánh giá cho thấy việc tính toán đến lực gây triều trực tiếp trong Biển Đông ảnh hởng ít tới các sóng chu kỳ ngy, trong khi
đó lại ảnh hởng rõ rệt đối với sóng chu kỳ nửa ngy Tuy nhiên sóng chu kỳ ngy trong Biển Đông l chiếm u thế trong ton biển, cho nên vẫn có cơ sở để nói rằng khi giải bi toán thủy triều Biển Đông có thể bỏ qua thnh phần lực gây triều nếu nh thực tế có thể chấp nhận một sai số no đấy Còn nếu cần thiết phải nâng cao độ chính xác tính toán thủy triều (với sai số vi cm) trong các bi toán nghiên cứu hay ứng dụng thì cần thiết phải tính đến thnh phần lực gây triều trực tiếp trong Biển Đông
c Nguyên nhân hình thunh hiện toợng triều đa dạng vu đặc sắc của Biển
Đông
Nh các phần trên đã trình by, chúng ta đã thu đợc bức tranh thủy triều v dòng triều rất đa dạng ở Biển Đông với thnh phần nhật triều chiếm uthế trong phần lớn các khu vực của biển Những nét đặc thù của thủy triều Biển
Đông rất khác với những nét chung của các biển khác trên thế giới Nh ta biết hầu hết các vùng của đại dơng v biển trên thế giới đều có chế độ bán nhật triều chiếm u thế Chẳng hạn trong số trên 3000 điểm nằm ở mọi vùng trên thế giới đợc đa ra trong Bảng thủy triều Anh thì chỉ có 17 điểm có tỷ số giữa biên
độ tổng cộng của các sóng nhật triều chính (K1 v O1) so với biên độ tổng cộng của các sóng bán nhật triều chính (M2 v S2) đạt từ 2,5 trở lên v trong đó đã có
7 điểm thuộc Việt Nam Hơn nữa chế độ thủy triều tồn tại ở các vùng khác nhau trong biển có tính chất đặc trng của cả 4 loại v giữa chế độ thủy triều v dòng triều lại không đồng nhất cùng loại nh nhau
Nh vậy khi tìm hiểu về nguyên nhân hình thnh hiện tợng triều phức tạp v khá đặc biệt của Biển Đông có thể đặt ra những câu hỏi sau:
Thông thờng, theo lý thuyết thủy triều v thực tế với đa số các vùng biển trên thế giới, thủy triều có chế độ đặc trng l bán nhật triều, nhng ở đây, Biển Đông lại có đủ 4 loại đặc trng: bán nhật triều đều, bán nhật triều không
đều, nhật triều đều v nhật triều không đều Hơn nữa vùng bán nhật triều lại chiếm tỷ lệ rất ít, còn đại đa số l nhật triều chiếm u thế Vậy nguyên nhân tại sao ?
Tại sao bức tranh thủy triều rất phức tạp chủ yếu ở phần phía tây của biển trong đó bao gồm cả vịnh Bắc Bộ v vịnh Thái Lan, ngoi ra ở eo Đi Loan vvịnh Pulo Lakei thủy triều cũng biến đổi khá mạnh Trong khi đó cả vùng khơi
khá rộng của biển thủy triều ít biến động ?
Vì sao hình thnh các sóng nớc nông lớn ở khu vực ven biển đồng bằng sông Cửu Long v miền lân cận ?
Vì sao đặc trng chế độ thủy triều v chế độ dòng triều lại khác nhau ? Những nghiên cứu trong thời gian qua cha thể trả lời hết v thấu đáo những câu hỏi giải thích cơ chế hình thnh v biến đổi hiện tợng triều đa dạng v đặc sắc của Biển Đông Nhng đã có một số kết quả nghiên cứu bớc đầu đi sâu vo giải thích một số đặc điểm trong cơ chế ny Có thể tóm tắt một số nét
Trang 11nh sau:
Thông qua phân tích vật lý kết hợp với tính toán giải tích thủy động theo các công thức tơng đối đơn giản Nguyễn Ngọc Thuỵ (1969, 1985) đã nhận định rằng điều kiện địa hình v kích thớc Biển Đông nói chung v hai vịnh Bắc Bộ v Thái Lan nói riêng có điều kiện thuận lợi cho chế độ cộng hởng đối với sóng nhật triều, trong khi đó vịnh Pulo Lakei v eo Đi Loan thuận lợi cho cơ chế cộng hởng với sóng bán nhật triều
Khi nghiên cứu sự truyền các dao động cỡng bức có chu kỳ khác nhau từ các biên lỏng (eo Đi Loan, eo Basi, eo Kalimantan) vo trong Biển Đông thông qua giải hệ thống phơng trình thủy động lực nớc nông đầy đủ, Đỗ Ngọc Quỳnh (1991) đã chỉ ra rằng eo Basi đúng l đóng vai trò quan trọng nhất trong việc truyền sóng triều vo Biển Đông Các dao động từ đây đợc lan truyền nhanh vphát triển rộng trong cả biển Do điều kiện địa hình v kích thớc của biển cho nên cho dù ở biên lỏng biên độ các sóng chu kỳ ngy v nửa ngy l bằng nhau nhng sóng ngy đã đợc tăng biên độ khi truyền vo trong biển, trong nhiều khu vực đã lấn át hẳn sóng nửa ngy v quyết định chế độ dao động ngy trong phần lớn các khu vực của biển
Để nghiên cứu khả năng cộng hởng của các sóng triều chu kỳ khác nhau trong biển, Phạm Văn Huấn (1997) đã nghiên cứu bi toán dao động tự do trong ton Biển Đông thông qua giải số trị hệ phơng trình nớc nông không chứa ma sát Đã tiến hnh theo dõi biến đổi mực nớc tại 16 điểm ở các vị trí tiêu biểu trong biển Sau đó tiến hnh phân tích phổ tại những điểm ny để tìm ra các chu kỳ riêng của dao động Kết quả trong phạm vi từ 1 đến 60 giờ đã tìm đợc 15 mod dao động có năng lợng đáng kể trong đó chu kỳ chung cho ton biển l19,2 giờ v sau đó l 24 giờ Ngoi ra tùy từng vùng còn tồn tại những chu kỳ khác Nh vậy có thể kết luận khả năng cộng hởng của các dao động có chu kỳ cận ngy v ngy l rất rõ rng Điều đó giải thích tại sao các sóng triều chu kỳ ngy có địa vị thống trị trong Biển Đông Cũng theo hớng nghiên cứu ny,Phạm Văn Ninh v Trần Thị Ngọc Duyệt (1997) đã nghiên cứu dao động riêng của khối nớc Biển Đông theo một cách tiếp cận khác Các tác giả đã giải hệ thống phơng trình thủy động lực nớc nông đầy đủ với giả định có các dao động cỡng bức trên các biên lỏng với biên độ không đổi (0,5m) v với một chuỗi các chu kỳ khác nhau biến đổi từ 2 đến 720 giờ Sau đó tiến hnh theo rõi biên độ dao động mực nớc tại từng điểm trong biển (6620 điểm) tơng ứng với các chu
kỳ dao động cỡng bức trên biên khác nhau; từ đó tìm ra các chu kỳ trội hay phổ các dao động riêng tại từng điểm Kết quả chỉ ra rằng ton bộ Biển Đông có hai chu kỳ riêng l nửa ngy (11-12 giờ) v cận ngy (18-21 giờ), trong đó biên độ cộng hởng cận ngy biểu hiện rõ rệt nhất Riêng Vịnh Bắc Bộ còn có chu kỳ riêng 32-36 giờ với hiệu ứng khuếch đại biên độ rất mạnh v Vịnh Thái Lan có chu kỳ riêng 50-60 giờ Nh vậy cần lu ý rằng chế độ nhật triều đều ở Vịnh Bắc
Bộ không gắn liền với chu kỳ cộng hởng mạnh nhất của thủy vực nh một số tác giả thờng quan niệm trớc đây
Trang 123.1.3 Đặc điểm phân bố thủy triều v dòng triều, phân vùng chế độ triều v nguyên nhân hình thnh hiện tợng triều đa dạng v
đặc sắc ở Biển Đông
Thông qua các kết quả tính toán mô hình số trị kết hợp với những số liệu thực đo về thủy triều v dòng triều trong biển có thể rút ra những kết luận định tính v định lợng về đặc điểm phân bố bức tranh triều đặc sắc v phức tạp của Biển Đông
a Đặc điểm truyền triều
Trên cơ sở các tính toán theo mô hình số trị thủy động thủy triều cho 4 sóng chính M2, S2, K1, O1 ta có thể nhận định tổng quát về đặc điểm truyền sóng triều trên ton biển v các bộ phận của biển nh sau:
Hiện tợng thủy triều đợc hình thnh trong Biển Đông, chủ yếu l do sóng triều truyền từ Thái Bình Dơng vo Khi truyền từ đại dơng vo, thoạt tiên các sóng bán nhật triều có biên độ lớn hơn rõ rệt với năng lợng bằng khoảng gấp rỡi năng lợng của các sóng nhật triều
Trang 13Hình.3.1 Phân bố pha v biên độ sóng M2
Tuy nhiên trong quá trình truyền sóng triều do điều kiện địa hình biến đổi, nhất l khi truyền vo vùng thềm lục địa phía tây, trong đó có hai vịnh lớn lvịnh Bắc Bộ v vịnh Thái Lan, các sóng nhật triều đã đợc mạnh lên rõ rệt vtại nhiều nơi đã áp đảo thnh phần bán nhật triều Ngoi ra do địa hình đáy vhình thái bờ đặc biệt của các vịnh ny đã tạo nên các vùng nhật triều thuần túy hoặc nhật triều không đều đồng thời thu hẹp những vùng bán nhật triều hoặc lm cho những vùng bán nhật triều tuy vẫn tồn tại song các thnh phần nhật triều trong đó đã lớn lên đáng kể, có nghĩa l thnh những vùng bán nhật triều không đều Chính vì vậy, bức tranh thủy triều ở Biển Đông nói chung v nói riêng ở miền phía tây của biển l đa dạng v đặc sắc, có thể nói hiếm thấy trên thế giới so với sự chi phối nổi bật của thnh phần nhật triều
Trang 14Hình 3.2 Phân bố pha v biên độ sóng S2
Các dạng sóng tiến lúc ban đầu chuyển dần thnh dạng sóng tiến-đứng hoặc đứng-tiến Các điểm vô triều (amphidrome) bán nhật hoặc ton nhật đợchình thnh ở hai vịnh lớn phía tây của biển (bảng 3.3) Các vùng nút sóng vbụng sóng của các sóng cũng xuất hiện Chẳng hạn vùng nút sóng bán nhật triều ở vịnh Bắc Bộ Vùng bụng sóng bán nhật triều biên độ lớn ở khu vực eo ĐiLoan v vịnh Pulo Lakei, ở đây các đờng đẳng biên độ dy đặc v dòng triều chảy khá mạnh do điều kiện riêng địa phơng Phần còn lại với diện tích khá rộng của biển thì bức tranh thủy triều đơn giản hơn nhiều do ở đây độ sâu biển khá lớn không lm biến dạng nhiều đến bức tranh truyền sóng triều
Bảng 3.3 Tọa độ các điểm vô triều của 4 sóng chính theo kết quả mô hình
Trang 15Sóng M2 S2 O1 K1
Toạ độ 1 11 o 10N, 101 o 40E 2 o 30N, 105 o 45E 1 16 o 35N, 107 o 40E 1 16 o 45N, 107 o 10E
2 8 o 00N, 103 o 45E 2 8 o 10N, 103 o 40E 2 8 o 30N, 102 o 35E
Trang 16triều ở tây nam cửa Vịnh Bắc Bộ lại cha thể hiện đầy đủ m có một nửa thể hiện ảo (trên đất liền) Đối với sóng bán nhật triều M2 (hình 3.1) điểm vô triều ở vịnh Thái Lan dờng nh có hai, nhng đều cha thể hiện trọn vẹn trên biển m đều có một nửa l ảo (trên đất liền) Riêng ở vịnh Bắc Bộ, đối với sóng bán nhật triều M2 không hình thnh điểm vô triều m lại hình thnh dải nút sóng (trên đó biên độ dao động triều cũng rất nhỏ) từ Cát B (Việt Nam) tới Bắc Lê (đảo Hải Nam, Trung Quốc)
Hình 3.4 Phân bố pha v biên độ sóng O1
Với trờng hợp sóng bán nhật triều S2 (hình 3.2) cách thể hiện điểm vô triều còn mờ nhạt hơn nữa, do biên độ của sóng S2 trên biển Đông nói chung lnhỏ, vì vậy với những vùng có biên độ quá nhỏ 0-1cm tuy cũng coi l các điểm vô triều với sự quay vòng cha đầy đủ của góc pha nhng do quá mờ nhạt nên
Trang 17không có ý nghĩa thật sự trong thực tế
b.Độ lớn thủy triều vu dòng triều
Sau đây l tóm lợc một số đánh giá khái quát về giá trị cực trị của mực nớc v dòng triều tổng hợp trong Biển Đông Đây l vấn đề có ý nghĩa thực tiễn quan trọng, đặc biệt trong công tác thiết kế thi công v quy hoạch trong vùng biển Ngoi ra còn cần thiết trong việc xác định mực chuẩn cao độ ở lục địa vmực chuẩn độ sâu trong các bản đồ hng hải, số 0 bảng thủy triều, ranh giới lãnh hải, xác định cao độ ở vùng ven biển, ngoi khơi v các đảo xa Kết quả nytuy cha đầy đủ v độ chính xác cha cao, song đây l những đánh giá khái quát, l ti liệu tham khảo tốt cho cả vùng Biển Đông rộng lớn
Một cách khái quát có thể thấy độ lớn triều cực đại ở Biển Đông trong mỗi chu kỳ 19 năm có thể vọt quá 5m ở tây bắc eo Đi Loan, vùng đỉnh Vịnh Bắc Bộ; vợt quá 4m ở bờ biển đông bắc Việt Nam, bắc eo Đi Loan, phía trong vịnh Pulo Lakei v vùng lân cận Vũng Tu (Việt Nam) Vùng có độ lớn thủy triều khoảng 1m hoặc nhỏ hơn chút ít l vùng khơi khá rộng lớn giữa Biển Đông tiếp giáp với phần bắc của biển v vùng rộng choán hầu khắp cửa vịnh Thái Lan Các vùng có độ lớn triều cực đại trong chu kỳ 19 năm rất nhỏ không vợt quá 0,5m l vùng cắt ngang gần cửa vịnh Thái Lan, vùng nhỏ lân cận cửa Thuận An (Việt Nam) Các vùng còn lại của biển trong vùng ven bờ có giá trị từ 1,5m đến 4m v ở vùng khơi có giá trị từ 1 đến 2m Trong vùng biển Việt Nam tồn tại cả những vùng có độ lớn triều cực đại rất nhỏ (d0,5 m) v những vùng có độ lớn triều cực đại lớn (t4,5m), cùng những vùng có chế độ triều khác nhau xen kẽ Rõ rng bức tranh dao động thủy triều ở biển nớc ta rất đa dạng
Dòng triều cực đại trong chu kỳ 19 năm ở Biển Đông cũng thay đổi đáng kể
từ dới 2cm/s (chủ yếu ở vùng khơi gần phía tây bắc v gần phía đông của trung tâm biển) đến trên 100cm/s (eo Đi Loan, eo Quỳnh Châu), lân cận vịnh Diễn Châu, phía trong vịnh Thái Lan, vịnh Pulo Lakei v bờ đông bán đảo Malaca Nói chung các vùng có dòng triều chảy mạnh (vợt quá một hải lý/giờ) lphần lớn eo Đi Loan, xung quanh bán đảo Lôi Châu, vịnh Diễn Châu (Việt Nam), vùng lân cận bờ đông Nam Bộ (Việt Nam), ven bờ tây vịnh Thái Lan,
đông bán đảo Malaca, vịnh Pulo Lakei, ven bờ tây Philippin Dải dòng triều chảy mạnh có thể kéo di từ ven bờ ra khoảng trên dới nửa độ kinh vĩ tùy theo vùng Tới khoảng cách xa bờ chừng 1-2 độ l dòng triều trở nên yếu đi rõ rệt (chỉ còn trên dới 10 cm/s), trừ trờng hợp trong vịnh Bắc Bộ v eo Đi Loan
c Phân vùng chế độ thủy triều vu dòng triều
Trên cơ sở các kết quả tính toán theo mô hình số trị thủy động trong tonBiển Đông cho bốn sóng chính, đã nhận đợc các hằng số điều hòa thủy triều vdòng triều tại từng vị trí trong biển Sau đó xác định tính chất của chế độ thủy triều theo giá trị của tỷ số phân loại
Trang 18Hình 3.5 Bản đồ chế độ thuỷ triều
Có nhiều cách để xác lập tỷ số phân loại theo giá trị của các sóng chủ yếu
ở đây, đã chọn tỷ số phân loại dựa trên bốn sóng triều chính l M2, S2, K1 v O1(tỷ số Vander Stock) để lm chỉ tiêu phân loại chế độ thủy triều v dòng triều,
ở đây H l giá trị biên độ dao động mực nớc, V l giá trị modun vận tốc của các sóng triều tơng ứng
Trang 19Hình 3.6 Bản đồ chế độ dòng triều
Hình 3.7 Bản đồ chế độ triều theo Nguyễn Ngọc Thuỵ
Tùy thuộc giá trị của D, tính chất chế độ thủy triều (hay dòng triều) đợc
Trang 20Bảng 3.4: phân vùng chế độ thủy triều v dòng triều Biển Đông
BNT BNTKĐ NTKĐ NT
Độ lớn max (m) BNT BNTKĐ NTKĐ NT
Độ lớn max (cm/s)
X X X
x x
0,9y1,3 1,1y2,4 0,6y3,3 0,6y2,5
x x
x x x x
x x
x x x
25y50 25y50 10ytrên
100 10y100
x x x
0,9y1,5 1,1y1,7 1,5y2
x x
x x x
x x x
x 1y10 1y10 2y10
Trang 21Có thể rút ra một số nhận xét về bức tranh phân bố đặc trng chế độ thủy triều v dòng triều Biển Đông nh sau:
Về chế độ thủy triều: Vùng nhật triều đều (Dt3) v nhật triều không đều (1,50<D<3,00) chiếm phần lớn diện tích của biển với độ lớn triều đáng kể ở Vịnh Bắc Bộ (giá trị cực đại vợt quá 5m) v độ lớn vừa phải nằm ở phần còn lại (từ 1
đến 2m) Vùng bán nhật triều đều (0,0<D<0,25) chỉ chiếm diện tích rất nhỏ: hầu khắp eo Đi Loan với độ lớn triều từ vừa đến rất lớn (vợt quá 5m); nửa trái cửa Vịnh Thái Lan với độ lớn triều trung bình v nhỏ; một vùng rất hẹp ở khu vực cửa Thuận An (Việt Nam) với biên độ trung bình v nhỏ, có thể nói nhỏ nhất ở Biển Đông Trên hình 3.7 dẫn ra bản đồ phân bố tính chất triều vùng biển Việt Nam của Nguyễn Ngọc Thụy
Vùng bán nhật triều không đều (0,25<D<1,50) chiếm diện tích lớn hơn so với vùng bán nhật triều đều v nằm xen kẽ giữa các vùng bán nhật triều đều vnhật triều không đều, trong đó các vùng ven biển Nam Bộ (Việt Nam) v phía
đông bán đảo Lôi Châu (Trung Quốc) l có độ lớn triều đáng kể
Về chế độ dòng triều: So với bản đồ phân vùng chế độ thủy triều thì bản đồ
phân vùng chế độ dòng triều phức tạp hơn nhiều Có thể thấy trong Biển Đông tồn tại đủ cả bốn loại dòng triều: nhật triều đều, bán nhật triều đều, nhật triều không đều v bán nhật triều không đều Các vùng phân bố xen kẽ đan xen nhau rất phức tạp không phân bố thuần nhất v rõ rng nh trờng hợp chế độ thuỷ triều
Mặt khác sự tơng ứng giữa chế độ thuỷ triều v chế độ dòng triều không
đơn gản vì sự xuất hiện các dạng sóng triều khác nhau ở các vùng trong biển, không chỉ sóng tiến, m cả sóng đứng, sóng đứng-tiến hoặc sóng tiến đứng Chính vì vậy m có những vùng chế độ thuỷ triều v chế độ dòng triều có đặc trng giống nhau, nhng cũng có những vùng hai loại chế độ ny lại có đặc trng khác nhau không cùng loại Nhìn chung vùng có chế độ dòng triều hỗn hợp (nhật triều không đều hoặc bán nhật triều không đều) chiếm hầu hết diện tích của Biển Đông Vùng có chế độ dòng triều bán nhật đều hay nhật triều đều chỉ chiếm diện tích nhỏ v nằm rải rác ở các khu vực khác nhau trong biển
Có thể tóm tắt phân vùng chế độ thuỷ triều v dòng triều cùng độ lớn cực
đại của chúng trong Biển Đông bằng một bảng tổng hợp (bảng 3.4)
3.1.4 Những nhận xét về đặc điểm triều Biển Đông v ven bờ Việt Nam
Biển Đông l một biển lớn ven lục địa của thế giới đồng thời cũng l một vùng biển có lịch sử phong phú Từ nhiều năm nay, Biển Đông luôn l một vùng biển sôi động về hoạt động kinh tế, điều tra thiên nhiên của vùng Châu á-Thái Bình Dơng v của thế giới, m Việt Nam choán gần trọn bờ phía tây của biển Thủy triều ở biển ny nổi tiếng về sự đa dạng v đặc sắc của nó với thnhphần nhật triều đáng kể Vì vậy đã đợc các nh khoa học v các nh hoạt động thực tiễn ở các vùng biển của thế giới chú trọng từ lâu Đã có nhiều công trình nghiên cứu, điều tra về thủy triều của các tác giả trong v ngoi nớc tiến hnh
Trang 22cho biển ny Đã kết hợp đo đạc, phân tích ti liệu với tính toán theo các mô hình số trị thủy động để mô tả đúng đắn đợc các bức tranh phân bố các đặc trng của các sóng triều chính, phân vùng chế độ thủy triều v dòng triều trong ton biển Đã có những kết quả nghiên cứu chuyên đề sâu sắc v đánh giá định lợng về các hiệu ứng đóng góp trong việc hình thnh v biến đổi hiện tợngthủy triều của Biển Đông nh lực gây triều trực tiếp trong Biển Đông, thnhphần ma sát đáy, lực Coriolis, thnh phần gia tốc phi tuyến Đặc biệt đã có nhiều kết quả nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về cơ chế hình thnh hiện tợng triều
đa dạng v đặc sắc của Biển Đông Sự nghiên cứu thủy triều Biển Đông đã tiến hnh những bớc mới quan trọng, nó không dừng lại ở việc phân tích mô tả hiện tợng xảy ra m đã đi sâu vo nghiên cứu giải thích cơ chế hình thnh v biến
đổi của hiện tợng Những kết quả nghiên cứu nhiều mặt của nhóm các tác giả
đề ti cấp nh nớc KT 03.03 (1991-1995) đã lm phong phú thêm rất nhiều về những hiểu biết hiện tợng thủy triều trong Biển Đông
3.1.5 Đặc điểm biến động của mực nớc tổng hợp ven bờ biển Việt Nam
Bên cạnh dao động triều chu kỳ ngắn, mực nớc biển còn chịu sự biến đổi
do các dao động chu kỳ dμi cũng nh các biến động không tuần hoμn chủ yếu
từ nguyên nhân khí tợng, thủy văn nh bão, lũ v biến đổi khí hậu
Kết quả phân tích phổ do Phạm Văn Huấn vμ Nguyễn Tμi Hợi (2007) tiếnhμnh cho thấy có sự hiện diện của những đỉnh phổ tơng ứng với chu kỳ dao độngsynôp vμ nhiều ngμy (bảng 3.5)
Bảng 3.5 Các đỉnh phổ ứng với dao động chu kỳ synôp v nhiều ngy
Các chuỗi mực nớc từng giờ đã đợc loại trừ thủy triều đã đợc tiếp tục phântích thống kê để tìm tần suất lặp lại của các dao động dâng hoặc rút mực nớcvùng ven bờ do tác động của gió vμ những nguyên nhân khác
Kết quả thống kê đã cho thấy tác động dâng rút mực nớc xảy ra với tần suấtcao chỉ tập trung ở khoảng dới 20 cm Những dao động dâng rút với cỡ hơn nửa mét có tần suất khá hiếm, không vợt quá 1 % ở tất cả các trạm v quá trình dâng, rút thờng có tần suất xấp xỉ nh nhau
Theo tính toán phổ (đề ti KT 03.03) thấy rằng ngoi chu kỳ năm vμ nửa năm, tại hầu hết các trạm có mặt dao động mực biển với chu kỳ khoảng 6 10 năm v di hơn nữa Kết quả phân tích số liệu quan trắc mực nớc tại các trạm khí tợng hải văn ven bờ Việt Nam đã cho thấy trong giai đoạn nửa sau thế kỷ
Trang 23XX, đã thể hiện khá rõ xu thế dâng lên của mực nớc trung bình trong khoảng
từ 1 đến 3mm/năm (32 năm số liệu), trong đó lớn nhất tại trạm Cửa Cấm l2,7mm/năm vμ thấp nhất tại Vũng Tu 0,2mm/năm (15 năm số liệu) Tuy nhiên với số liệu cập nhật đến năm 2005 mực nớc trung bình tại Vũng Tu có
xu thế tăng lên đáng kể
Đối với mực nớc cực trị cao nhất v thấp nhất kết quả nghiên cứu cho thấy trong phạm vi sai số phơng pháp các mực triều cực trị lý thuyết có thể phần no phản ánh mực nớc cực trị thực tế Các mực nớc thấp nhất thu đợc không chênh nhau nhiều, chỉ khoảng 10 cm, trong khi đó các mực cao nhất chênh nhau tới 30 cm, phản ánh các đỉnh lũ vμ hiệu ứng dâng bão v gió mạnh
Ví dụ, đối với trạm Hòn Dấu, ớc lợng các mực nớc cực tiểu v cực đại chu kỳ lặp lại 20 năm theo lý thuyết tơng ứng (10; 397cm), còn theo số liệu quan trắc 35 năm: (6; 410cm)
3.2 Đặc điểm sóng gió trên Biển Đông
Trờng sóng gió trên biển l một trong các yếu tố động lực biển quan trọng tác động lên tu thuyền, các công trình v mọi hoạt động trên biển Trờng sóng vùng ven bờ cũng l nguyên nhân chính gây xói lở bờ biển, biến đổi đáy biển vùng ven bờ tác động đến các công trình bảo vệ bờ, công trình cảng v luồng ra vo cảng Sóng v dòng chảy sóng còn l nhân tố tác động đến các quá trình lan truyền ô nhiễm vùng ven bờ Nớc ta nằm trong vùng tác động của bão v các loại gió mùa Sóng trong gió mùa v bão l yếu tố hải văn cực kỳ nguy hiểm cho các hoạt động trên biển
Những kết quả đánh giá về những đặc điểm cơ bản của trờng sóng vùng biển Việt Nam đợc tổng hợp từ những thông tin tổng quan, các kết quả ứng dụng mô hình tính toán ở trong nớc
3.2.1 Tình hình nghiên cứu sóng ở Việt Nam
Trong thời kỳ trớc 1975, khi nớc ta đang có chiến tranh, đội ngũ cán bộ
điều tra nghiên cứu biển của chúng ta còn quá ít, trang thiết bị đo đạc các yếu tố sóng hầu nh không có ở một số trạm Khí tợng thủy văn (KTTV) ven bờ nhHòn Dấu, Hòn Ng có tiến hnh các quan trắc sóng bằng máy ngắm sóng quang học Ivannov, còn việc điều tra đo đạc các yếu tố sóng vùng nớc sâu hầu nh bị
bỏ trống Một số các công trình nghiên cứu do các tác giả nớc ngoi v trong nớc về chế độ sóng đều ở dạng các tính toán thủ công theo phơng pháp thống
Trang 24sóng vùng khơi biển Đông theo phơng pháp Abuziarov Năm 1989 đã tiến hnhxây dựng phơng pháp dự báo số trị trờng sóng vùng Biển Đông bằng phơngpháp giải phơng trình cân bằng năntg lợng (CBNL) sóng dạng phổ trong đó đã
sử dụng phơng trình CBNL sóng với các thnh phần phổ sóng tách biệt để tính toán v dự báo sóng trong bão Tính sóng trong bão v gió mùa đã đợc đề cập
đến trong nhiều chơng trình nghiên cứu biển nh chơng trình 48B, chơngtrình biển KT03, chơng trình khoa học công nghệ biển KHCN06 Tính sóng vùng ven bờ cũng đợc chú ý phát triển cùng với các yêu cầu về thiết kế các công trình ven biển, bảo vệ bờ biển chống sạt lở, xói lở bờ, bảo vệ các công trình tuyến kênh hng hải ra vo cảng chống sa bồi v quản lý khai thác vùng bờ biển nớc
ta Về các phơng tiện máy v thiết bị đo đạc trờng sóng cũng đợc phát triển rất mạnh trong thời gian từ năm 1975 tới nay Trớc năm 1980 đã sử dựng các loại máy tự ghi sóng ven bờ - sóng ký dây v máy tự ghi sóng vùng nớc sâu - GM16 của Liên Xô Từ 1980 tới nay, nhờ các dự án do nớc ngoi ti trợ, các nguồn kinh phí của các chơng trình điều tra nghiên cứu biển v kinh phí đầu t chiều sâu tại một số các cơ quan nghiên cứu biển nớc ta đã đợc trang bị các loại máy tự ghi sóng của Anh, phao đo sóng của H Lan, Na Uy, máy tự ghi sóng của Mỹ, Nhật vv Tuy nhiên đại đa số các số liệu đo đạc đợc l các số liệu khảo sát trong thời gian ngắn không hon ton đặc trng cho đặc điểm khốc liệt về trờng sóng ở vùng biển nớc ta, đó l trờng sóng trong bão v gió mùa, trừ cố gắng của Tổng cục KTTV bố trí các trạm phao cố định đo sóng định kỳ dọc bờ biển nớc ta trong khuôn khổ dự án trạm phao theo dõi trên biển do Na Uy titrợ Đây có lẽ l một vấn đề tồn tại trong nghiên cứu sóng hiện nay cần đợckhắc phục
Trong những năm gần đây, nhờ sự phát triển mạnh của các phơng tiện đo
đạc, đặc biệt l các máy v phao tự ghi sóng cùng các yếu tố khí tợng cho phép tiến hnh đo đạc thờng xuyên ngay cả trong các điều kiện gió mùa v bão
Đồng thời các phơng tiện đo đạc từ xa, chụp ảnh v viễn thám đợc áp dụng trong đo đạc trờng sóng trên biển đã bổ sung một nguồn số liệu về trờng sóng quan trọng trong nghiên cứu sóng Song song với việc phát triển các phơng tiện
đo đạc l phát triển các công cụ phơng tiện tính toán hiện đại Tình hình nghiên cứu sóng trên thế giới đã đợc phát triển rất mạnh v tiến tới đáp ứng
đợc phần lớn các yêu cầu cung cấp số liệu sóng đủ tin cậy phục vụ cho các mục tiêu khác nhau Nếu nh vo thời kỳ trớc những năm 70 các phơng pháp tính sóng đều dựa trên các toán đồ xây dựng trên cơ sở các tơng quan thực nghiệm giữa các tham số sóng v yếu tố tạo sóng v các tính toán đợc tiến hnh cho các
điểm rời rạc thì hiện nay các tính toán, dự báo sóng nghiệp vụ hng ngy đã đạt
đợc trình độ mô phỏng đợc từng thnh phần phổ sóng v tính cho ton vùng biển với bớc lới đủ chi tiết phục vụ các mục tiêu khác nhau Ngay trong bản thân các loại mô hình tính sóng dựa trên phơng trình cân bằng năng lợng(CBNL) sóng dạng phổ cũng luôn đợc nâng cao, cập nhật với các đo đạc mới nhất Vo những năm 1970 - 1980 các mô hình tính sóng theo phơng trình CBNL sóng dạng phổ chủ yếu thuộc thế hệ I l loại phơng trình dựa trên giả
Trang 25định các thnh phần phổ sóng hon ton độc lập với nhau trong khi lan truyền Các mô hình tính sóng theo giả định ny gọi l các mô hình phổ sóng truyền độc lập (DP: Decoupled Propagation) Thí dụ về mô hình dự báo sóng điển hình thuộc loại ny l mô hình MRI của Cục Khí tợng Nhật JMA Từ các năm 1980 xuất hiện mô hình tính sóng thế hệ II, có tính đến sự tơng tác giữa các sóng trong khi lan truyền Thuộc loại mô hình thế hệ II ny có mô hình cặp ghép (CH: Coupled Hybrid) v mô hình cặp tách biệt (CD: Coupled Discret) Mô hình CH lloại mô hình tính sóng lừng v sóng gió riêng biệt trong đó sóng lừng đợc tính theo nguyên lý truyền độc lập DP Mô hình cặp tách biệt l mô hình tính đến sự phân bố lại năng lợng sóng đồng thời cho tất cả các thnh phần phổ sóng bao gồm cả sóng gió v sóng lừng dới tác động của gió Một thí dụ về loại mô hình thế hệ II l mô hình MRI-II (JMA) v mô hình GONO của cơ quan khí tợng Malaixia Hiện nay trên thế giới đang sử dụng loại mô hình tính sóng thế hệ sau ny cho phép tính đợc năng lợng phổ bằng cách tích phân trực tiếp phơngtrình CBNL sóng không phụ thuộc vo điều kiện các dạng cho trớc của phổ cả ở vùng nớc sâu v ven bờ (mô hình WAM , SWAN, ) Các loại mô hình tính sóng thế hệ mới mô phỏng khá tốt trờng sóng trong bão, gió mùa Các mô hình tính sóng đợc sử dụng trong nghiệp vụ dự báo sóng hng ngy đồng thời cũng
đợc sử dụng để khôi phục trờng sóng theo các số liệu trờng gió khôi phục vlập thnh các bộ số liệu cho phép tính toán chế độ sóng vùng khơi v ven bờ Hiện nay ở các nớc phát triển trong đó có Mỹ các số liệu sóng nh trên ở dạng các tham số sóng gồm độ cao, chu kỳ, hớng sóng, cho hệ sóng gió v sóng lừng ứng với từng quan trắc (Obs) v theo thời gian yêu cầu (10-20 năm) đợc cung cấp cho tất cả các điểm vùng nớc sâu dọc theo bờ biển theo hai nguồn số liệu:
Số liệu khôi phục của hệ thống t liệu ven bờ (CEDRS),
Số liệu khôi phục của hệ thống phân tích trạng thái mặt biển (SEAS)
Trớc những năm 70 các tính toán sóng ven bờ thờng đợc thực hiện theo phơng pháp thủ công dựa vo các toán đồ khúc xạ, hệ số biến dạng vv G.M Griswold l một trong những ngời đầu tiên sử dụng máy tính để lập các bản đồ tia sóng khúc xạ thông qua việc giải phơng trình vi phân tia sóng Hiện nay phần lớn các tính toán lan truyền sóng từ vùng nớc sâu vo khu vực ven bờ đều dựa trên việc giải số trị phơng trình lan truyền sóng trên vùng biển ven bờ có
độ dốc thoải của Berkhof (1972) có tính đến hiệu ứng nhiễu xạ giữa bản thân các sóng tại vùng ven bờ Mô hình lan truyền sóng vùng ven bờ RCPWAVE dựa theo phơng trình trên của Trung Tâm Công nghệ Ven bờ thuộc Hải quân Mỹ (CERC) l một mô hình đợc sử dụng rộng rãi để mô phỏng trờng sóng ven bờ trong các tính toán phục vụ xây dựng các công trình ven biển v bảo vệ bờ biển Mô hình SWAN của viện Thủy lực H Lan đợc sử dụng để tính toán sóng vùng khơi v lan truyền các thnh phần phổ sóng vo vùng ven bờ
3.2.2 Các đặc trng chế độ sóng Biển Đông v ven bờ Việt Nam
Trang 26Những kết quả trình by trong mục ny chủ yếu dựa vo bi viết của Nguyễn Mạnh Hùng trong chuyên khảo Biển Đông, quyển II (2004)
a Troờng sóng Biển Đông
Để có đợc trờng sóng trên Biển Đông theo các tháng v trung bình năm
đã tiến hnh đồng thời thu thập số liệu sóng từ bản đồ quan trắc tu biển (Obship) do các tầu biển phát báo trong thời gian 20 năm v tính toán theo phơng pháp phổ tham số dựa trên các số liệu trờng gió tính toán theo các hình thế sinop nhận đợc từ phơng pháp nhận dạng trong thời gian 10 năm Kết quả phân tích nguồn số liệu đầu cho thấy các số liệu sóng thu thập theo Obship rất tản mạn v đặc biệt trong các điều kiện thời tiết xấu v trong bão hầu nhkhông có số liệu Ngoi ra ở hai khu vực vịnh Bắc Bộ v vịnh Thái Lan có rất ít
số liệu Với đặc điểm số liệu hạn chế nh vậy, trờng sóng trên vùng khơi Biển
Đông chủ yếu đợc mô tả dựa trên kết quả mô hình sóng
b Troờng sóng vùng ven bờ biển Việt Nam
Để đa ra các số liệu về chế độ sóng vùng ven bờ đã sử dụng các số liệu độ cao sóng thực đo tại các trạm ven bờ dọc bờ biển nớc ta gồm 12 trạm
Bảng 3.6: Độ cao sóng trung bình H [m], chu kỳ sóng trung bìnhW [s] v tốc độ gió V [m/s] tại các
trạm hải văn ven bờ
Bảng 3.6 đa ra các kết quả thống kê độ cao, chu kỳ sóng v tốc độ gió trung bình theo 4 thời kỳ trong năm v trung bình năm cho các trạm hải văn ven bờ biển v hải đảo nớc ta Cần thiết nhấn mạnh rằng do đặc điểm trờng sóng vùng ven bờ thay đổi rất mạnh theo địa hình đáy biển v đờng bờ nên các
số liệu trên hon ton mang tính địa phơng tại vị trí đặt phao ngắm sóng tại các trạm hải văn
c Troờng sóng cực đại trong bão vùng biển ven bờ Việt nam
Trang 27Trờng sóng cực đại cũng có thể thống kê từ các số liệu quan trắc sóng Obship ở vùng khơi v quan trắc sóng tại các trạm ven bờ, tuy nhiên nh đã nêu tại phần phân tích các số liệu Obship, các số liệu sóng cực đại theo Obship không thể đặc trng cho trờng sóng trong bão vùng ngoi khơi biển Đông vì khi có bão
đại đa số các tầu thuyền đều không hoạt động trên biển Tuy nhiên các số liệu sóng cực đại đo đợc tại các trạm ven bờ có thể đặc trng cho sóng bão vùng ven
bờ nớc ta vì tại các trạm ny đo đạc đợc tiến hnh định kỳ theo các obs kể cả thời gian có bão Bảng 3.7 đa ra các kết quả đo đạc sóng cực đại tại các trạm hải văn dọc ven bờ nớc ta
Bảng 3.7 Độ cao sóng hữu hiệu cực đại v chu kỳ sóng tơng ứng theo số liệu thống kê nhiều năm tại
d Phân vùng troờng sóng vùng ven biển Việt nam
Trên cơ sở các đặc điểm chung về độ cao chu kỳ v hớng sóng đã phân thnh 5 vùng dọc theo dải ven bờ biển nớc ta đó l các vùng sau đây (bảng 3.8): Vùng 1 từ khu vực ven bờ Móng Cái - Quảng Ninh đến khu vực ven bờ Cửa Vạn vịnh Diễn Châu Với hai vùng phụ:
Vùng phụ 1.1 từ Móng Cái đến Cửa Hới Thanh Hóa
Vùng phụ 1.2 từ Cửa Hới đến Cửa Vạn
Vùng 2 từ Cửa Vạn - Thanh Hóa đến vịnh Dung Quất - Quảng Ngãi Tại vùng ny cũng đa ra hai vùng phụ:
Vùng phụ 2.1 từ Cửa Vạn đến Cửa Tùng - Quảng Trị
Vùng phụ 2.2 từ cửa Tùng - Quảng Trị đến Dung Quất - Quảng Ngãi
Vùng 3 từ Vịnh Dung Quất - Quảng Ngãi đến vịnh Phan Rang - Ninh Thuận
Vùng 4 từ Vịnh Phan Rang - Ninh Thuận đến đông mũi C Mâu với hai vùng phụ:
Vùng phụ 4.1 từ vịnh Phan Rang đến Cửa Định An
Vùng phụ 4.2 từ Nam Cửa Định An đến đông mũi C Mâu
Vùng 5 l vùng ven bờ vịnh Thái Lan có hai vùng phụ:
Vùng phụ 5.1 gồm khu vực từ H Tiên đến Rạch Giá
Trang 28Vùng phụ 5.2 gồm khu vực ven bờ phía tây Phú Quốc ( trạm số 2) v khu vực từ rạch Cá Ngát đến Vũng C Mâu
e Các đặc điểm sóng tại các vùng
Vùng 1: Đặc điểm đờng bờ của vùng 1 l có hớng chính đông bắc-tây nam Trờng sóng trong gió mùa đông bắc ở đây thịnh hnh v chiếm tần suất rất lớn nhng không mạnh do ảnh hởng che chắn của bờ biển phía bắc (ven bờ Trung Quốc) Sóng cực đại năm theo hớng đông bắc đạt khoảng 2,5-3m trong khi đó sóng theo hớng nam, đông nam khoảng 3-3.5m Sóng trong gió mùa
đông bắc chiếm 45%, trong gió mùa tây nam (với hớng thịnh hnh l hớngnam, đông nam) chiếm 29% còn lại 26% tổng số trờng hợp l lặng sóng Các hớng sóng nguy hiểm l các hớng NE, ENE, SE v SSE Trờng sóng trung bình thịnh hnh trong các hình thế gió mùa ứng với độ cao 1-1.5m v chu kỳ sóng 5-7s Trờng sóng bão tại vùng 1 không lớn do bão thờng bị yếu khi đi qua khu vực đảo Hải Nam v bị đ sóng hạn chế Sóng có chu kỳ lặp 20 năm 1 lần khoảng 5,5 đến 6.5m với chu kỳ trung bình l 10s Sóng trong bão tại vùng nythờng hay gặp vo tháng VII, tháng VIII
Có sự khác biệt rõ rng về đặc điểm trờng sóng tại hai vùng phụ 1.1 v1.2 Tại vùng phụ 1.1 trờng sóng hớng đông bắc yếu hơn nhiều so với vùng phụ 1.2 Trong khi đó tại vùng 1.1 sóng hớng nam lại rất mạnh thờng đạt tới 3-3.5m Tại vùng phụ 1.2 do đặc điểm hớng đờng bờ quay gần theo bắc - nam nên sóng hớng đông bắc tăng đáng kể (đạt tới 3.5-4m) trong khi đó sóng thịnh hnh vo mùa hè lại giảm v có hớng SE thay cho hớng S nh ở vùng 1.1 Vùng 2: Bắt đầu từ khu vực đảo vịnh Diễn Châu v kết thúc tại vịnh Dung Quất với định hớng cơ bản cửa đờng bờ theo hớng tây bắc đông nam lhớng vuông góc với hớng năng lợng chính trên ton dải ven bờ do gió hớng
đông bắc Độ cao sóng cực đại năm trung bình trong gió mùa đông bắc tại vùng 2 l 5-5.5m v trong gió mùa tây nam l 3.5-4m Các hớng sóng nguy hiểm chính l N, NE,E trong mùa đông v SE trong mùa hè Tần suất các hớng sóng nêu trên trong gió mùa đông bắc l 47%, trong gió mùa tây nam l 20% v lặng sóng l 33% trong đó một phần thời gian trong gió mùa tây nam cũng tạo ra lặng sóng vì mùa ny gió thờng thổi từ bờ ra Phân bố hai chiều giữa độ cao v chu
kỳ sóng trong các hình thế gió mùa nằm trong khoảng 1.5-2m ứng với chu kỳ sóng 5-7s Vùng ny cũng l vùng chịu ảnh hởng mạnh nhất của sóng bão với tần suất trung bình chế độ khoảng 1 cơn bão trong 1 năm v thời gian thờnghay xảy ra nhất l vo tháng 9 cho khu vực vùng phụ 2.1 v tháng 10 cho khu vực vùng phụ 2.2 Sóng cực đại với chu kỳ lặp 20 năm 1 lần l 6.5m -7.5m với chu kỳ 11s - 13s
Khác biệt lớn nhất giữa hai vùng phụ 2.1 v 2.2 của vùng ny l sự thay
đổi tần suất của các hớng gió thịnh hnh trong mùa gió đông bắc Nếu nh ở vùng phụ 2.1 hớng gió thịnh hnh trong mùa gió đông bắc l hớng NNE, NE thì xuống đến vùng phụ 2.2 hớng gió thịnh hnh chuyển dần thnh hớng N, NNE v thậm chí tần suất của sóng hớng NNW cũng trở nên đáng kể Độ cao
Trang 29sóng cực đại trong gió mùa đông bắc v gió mùa tây nam đều tăng khi chuyển từ vùng phụ 2.1 sang 2.2 Nếu chi tiết hơn có thể phân vùng phụ 2.2 thnh 2 vùng nhỏ trong đó lu ý đến vùng từ bán đảo Sơn tr xuống phía nam với độ cao sóng trong gió mùa đông bắc tăng đáng kể vì đã thoát khỏi vùng ảnh hởng của đảo Hải Nam
Vùng 3: Có định hớng đờng bờ theo hớng bắc nam, nhìn thẳng ra Biển
Đông không bị giới hạn đờng bờ theo các hớng NE, E, SE v địa hình đáy khá dốc Đây l vùng có động lực sóng khốc liệt nhất so với các vùng ven bờ khác Sóng cực đại năm trong mùa gió đông bắc l khoảng 6-7m v trong mùa gió tây nam l 5-6m Các hớng sóng nguy hiểm trong vùng ny l hớng N, NE v S,
SE Tần suất tơng ứng sóng trong gió mùa đông bắc l 40%, gió mùa tây nam l 23% còn lại tần suất lặng sóng chiểm 37% tổng số trờng hợp Tần suất hai chiều giữa độ cao v chu kỳ sóng trung bình của vùng ny khoảng 2-3m với chu
kỳ 5-7s Tần suất bão tại vùng ny khoảng 0,5 cơn bão trong một năm, tuy không nhiều bằng vùng số 2 nhng độ cao sóng trong bão lớn hơn nhiều do không bị ảnh hởng của khu vực vịnh Bắc Bộ (với độ sâu 50-60m của vịnh Bắc
Bộ, sóng bão có chu kỳ lớn hơn 10s đã bị tác động của các hiệu ứng biển nông nh hiệu ứng biến dạng, khúc xạ) Sóng trong bão thờng xuất hiện vo tháng X v tháng XI Độ cao sóng hữu hiệu v chu kỳ sóng với chu kỳ lặp 20 năm một lần khoảng 8 - 9m v chu kỳ 12-14s
Vùng 4: Hớng đờng bờ của vùng ny gần nh tơng tự nh đối với vùng
1 đó l theo hớng đông bắc-tây nam do vậy động lực sóng trong các hình thế gió mùa giảm đáng kể so với vùng số 3 nhng so với vùng số 1 thì vẫn lớn hơn vì vùng ny l vùng ven bờ biển khơi không bị giới hạn đ sóng Độ cao sóng trung bình trong mùa gió đông bắc l 4-4.5m v trong mùa gió tây nam l 3.5-4m Các hớng sóng nguy hiểm l hớng NNE, ESE vo mùa đông v SE, SSW vo mùa
hè Sóng trong gió mùa đông bắc chiếm 42%, tây nam chiếm 15% v 43% số trờng hợp l lặng sóng Tần suất hai chiều giữa độ cao v chu kỳ sóng trung bình của vùng ny khoảng 1.5-2m với chu kỳ 5-7s Tần suất sóng bão trung bình tại vùng 4 rất nhỏ, trong năm năm mới có một đợt sóng bão v thờng hay xảy
ra vo tháng XI, tháng XII
Bảng 3.8: Bảng tổng kết phân vùng trờng sóng biển dải ven bờ việt nam
Vùng
Địa
danh,
Độ cao sóng hữu hiệu cực
đại năm [m]
Tần suất xuất hiện [P%], Hớng sóng nguy hiểm
Phân bố hai chiều
Sóng bão 1/20 năm Vùng phụ vμ các đặc điểm hớng
đờng
bờ
Gió mùa NE
Gió mùa
SW
Gió mùa NE
Gió mùa SW
Lặng sóng
H [m]
T [s]
Hsig [m]
3.0- 3.5
45 NE,EN E
29 S,SE
26 1.0-1.5 5-7
5.5-6.5 10
Hai vùng phụ 1.1 vμ 1.2 1.1: Móng Cái - cửa Thới Sóng hớng nam mạnh với hớng thịnh hμnh lμ hớng S 1.2: Cửa Thới - cửa Vạn Sóng hớng đông bắc tăng đáng kể trong khi sóng hớng nam
Trang 30giảm vμ chuyển dần sang hớng SE
3.5- 4.0
47 N,NE, E
20 SE
33 1.5-2.0
5 - 7
6.5-7.5 11- 13
Hai vùng phụ 2.1 vμ 2.2 2.1: Cửa Vạn - cửa Tùng Hớng sóng thịnh hμnh lμ NNE, NE
2.2: Cửa Tùng - Dung Quất Hớng sóng thịnh hμnh chuyển sang N, NNE, NW, độ cao sóng tăng đáng kể
5.0- 6.0
Vùng có động lực sóng mạnh nhất trên toμn dải ven bờ VN
3.5- 4.0
42 NNE,SE
15 SE,SSW
43 1.5-2.0
5 - 7
5.5-6.0 11
Hai vùng phụ 4.1 vμ 4.2 4.1: Từ Phan Rang đến Định
An Độ cao sóng giảm dần từ bắc xuống nam Hớng sóng thịnh hμnh lμ hớng NNE, NE 4.2: Từ Định An đến Cμ Mâu
Độ cao sóng tăng đáng kể từ bắc xuống nam, hớng thịnh hμnh chuyển sang hớng E,
2.5-39
SW 19 NW
42 0.5-0.75
3 - 5
4.0-4.5 10
đặc biệt lμ hớng sóng NW
Độ cao sóng hữu hiệu v chu kỳ sóng với chu kỳ lặp 20 năm 1 lần l khoảng 5.5-6m v chu kỳ l 11s Sự khác biệt giữa hai vùng phụ 4.1 v 4.2 l ở xu thế biến đổi của độ cao sóng ở vùng phụ 4.1 độ cao sóng giảm dần từ phía bắc xuống phía nam do ảnh hởng của khu vực ven bờ các cửa sông Cửu Long, nhng tại khu vực vùng phụ 4.2, từ Gnh Ho đến đông Mũi C Mau, độ cao sóng tăng đáng kể Hớng sóng thịnh hnh tại vùng phụ 4.2 cũng chuyển thnhENE, ESE thay vì cho hớng NNE, NE nh tại vùng phụ 4.1
Vùng 5: Đặc điểm trờng sóng của vùng ven bờ vịnh Thái Lan khác hẳn so với các vùng ven bờ Biển Đông v vịnh Bắc Bộ ở hai điểm sau:
Tại vùng ny không chịu ảnh hởng của trờng sóng trong gió mùa đông bắc Gió mùa tây nam v bão l hai nguồn động lực sóng cơ bản tác động đến vùng ven bờ vịnh Thái Lan
Độ cao sóng hữu hiệu cực đại khoảng 2.5-3m với hai hớng sóng nguy hiểm l hớng SW v NW Hai tháng có sóng mạnh nhất l tháng VII v tháng VIII Tần suất các sóng trong khoảng hớng S-W chiếm 39% v theo các hớng WNW-
N chiếm 19% còn lại 42% tổng số trờng hợp l lặng sóng Phân bố hai chiều