1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

Hội chứng ruột kích thích (IBS) doc

55 546 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 55
Dung lượng 718,16 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Hội Chứng Ruột Kích Thích IBS H1- Hệ tiêu hoá: Thực quản, dạ dày, ruột non, đại tràng, trực tràng, gan, túi mật, tuyến tuỵ Hội chứng ruột kích thích HCRKT=Irritable Bowel Syndrome=IBS là

Trang 1

Hội chứng ruột kích thích

(IBS)



Trang 2

Hội Chứng Ruột Kích Thích (IBS)

H1- Hệ tiêu hoá: Thực quản, dạ dày, ruột non, đại tràng, trực tràng, gan, túi mật, tuyến tuỵ

Hội chứng ruột kích thích (HCRKT=Irritable Bowel Syndrome=IBS) là một rối loạn tiêu hoá chức năng đặc trưng bởi triệu chứng đau bụng và thay đổi thói quen

đi tiêu mà không tìm thấy tổn thương thực thể nào Osler đặt ra tên gọi “viêm đại

Trang 3

tràng nhầy” vào năm 1892 khi ông viết về một rối loạn bao gồm đau bụng và tiêu phân nhày xảy ra với một tỷ lệ cao ở những bệnh nhân có bệnh tâm lý đi kèm Kể

từ đó, hội chứng này đã được gọi bằng nhiều thuật ngữ khác nhau như đại tràng co thắt, đại tràng kích thích, đại tràng thần kinh v.v…

Theo truyền thống, hội chứng ruột kích thích là một chẩn đoán loại trừ Không có biểu hiện cụ thể nào về rối loạn nhu động hoặc rối loạn cấu trúc, do đó hội chứng ruột kích thích vẫn là một bệnh lý chủ yếu được xác định bằng lâm sàng

Manning và các cộng sự đưa ra 6 tiêu chí để phân biệt hội chứng ruột kích thích với các bệnh đường ruột có thương tổn thực thể Mặc dù quan trọng về mặt lịch

sử, các tiêu chí này thường không nhạy (58%), không đặc hiệu (74%), và ít đáng tin cậy, nhất là ở nam giới Các tiêu chí Manning để phân biệt hội chứng ruột kích thích với các bệnh thực thể gồm:

• Các cơn đau khởi phát có liên quan với việc đi tiêu thường xuyên hơn

• Các cơn đau khởi phát có liên quan với đi tiêu lỏng nhiều hơn

• Giảm đau sau khi đi tiêu

• Bụng đầy hơi nhận thấy được

• Cảm giác chủ quan đi tiêu không sạch ruột ở 25% trường hợp

• Tiêu phân nhày >25% trường hợp

Trang 4

Gần đây, đã có đồng thuận cập nhật các tiêu chuẩn Rome để cung cấp một tiêu chuẩn chẩn đoán HCRKT giúp cho việc nghiên cứu và thực hành lâm sàng Các tiêu chuẩn Rome III (2006) để chẩn đoán hội chứng ruột kích thích yêu cầu bệnh nhân phải có đau bụng thường xuyên hay khó chịu ít nhất 3 ngày/tháng trong 3 tháng trước đó và kết hợp với 2 hoặc nhiều hơn các điểm sau đây:

• Bớt đau sau khi đi tiêu

• Khởi phát liên quan đến thay đổi về số lần đi tiêu

• Khởi phát liên quan đến thay đổi về hình thức và hình dạng của phân

Các triệu chứng hỗ trợ chẩn đoán bao gồm:

• Thay đổi về số lần đi tiêu

• Thay đổi về hình thức của phân

• Thay đổi về kiểu cách đi tiêu (mót đi tiêu và/hoặc mót rặn)

• Tiêu phân nhày

• Trướng bụng hoặc đầy hơi chủ quan

Có thể thấy bốn mô hình hội chứng ruột kích thích, bao gồm IBS-D (tiêu chảy chiếm ưu thế), IBS-C (táo bón chiếm ưu thế), IBS-M (hỗn hợp tiêu chảy và táo bón), và IBS-A (xen kẽ giữa tiêu chảy và táo bón) Tính hữu ích của các phân

Trang 5

nhóm này đang được tranh luận Điều đáng chú ý là trong vòng 1 năm, có 75% bệnh nhân thay đổi về phân nhóm, và 29% chuyển đổi giữa IBS-C và IBS-D

I- Sinh bệnh học

• Lý thuyết kinh điển về sinh bệnh học có thể được hình dung như một phức hợp gồm 3 yếu tố: thay đổi nhu động ruột, tăng cảm giác đau của nội tạng, và yếu tố bệnh tâm lý Một cơ chế thống nhất vẫn chưa được chứng minh

A-Biến đổi nhu động ruột bao gồm các sai biệt trong nhu động của ruột non và đại tràng

• Hoạt động điện cơ của đại tràng bao gồm những sóng chậm nền tảng kết hợp với các sóng nhọn chồng lên Rối loạn nhu động đại tràng trong HCRKT biểu hiện bởi các biến đổi trong tần số sóng chậm và một sóng nhọn cuối đỉnh, phản ứng sau khi

ăn Bệnh nhân thể tiêu chảy (IBS-D) có sự chênh lệch này ở mức độ cao hơn so với bệnh nhân thể táo bón (IBS-C)

• Rối loạn nhu động ruột non biểu hiện bằng sự di chuyển thức ăn chậm hơn ở những bệnh nhân IBS-C và di chuyển thức ăn nhanh hơn ở những bệnh nhân IBS-

D

• Lý thuyết hiện tại tích hợp các thay đổi lan toả về nhu động và đưa ra giả thuyết

về tính tăng đáp ứng tổng thể của hệ cơ trơn Các chuyên gia mô tả thêm các triệu

Trang 6

chứng của hệ tiết niệu, bao gồm tiểu lắt nhắt, tiểu són, tiểu đêm và tính tăng đáp ứng với thử nghiệm methacholine

B- Tăng nhạy cảm nội tạng là yếu tố thứ hai của phức hợp 3 yếu tố kinh điển đặc trưng cho hội chứng ruột kích thích

• Tăng cường cảm nhận về nhu động ruột bình thường và cảm giác đau nội tạng là đặc trưng của hội chứng ruột kích thích Cơn đau ở mức độ nhẹ gặp nhiều hơn ở nhóm bệnh nhân HCRKT so với nhóm đối chứng sau khi bơm căng đại tràng sigmoid và ruột non Đáng chú ý là cảm giác đau này rõ rệt hơn khi bơm căng ruột đột ngột so với bơm căng từ từ

• Bệnh nhân mô tả đau lan rộng hơn so với những khoanh da (dermatomes) tương ứng

• Tăng nhạy cảm của các chùm thần kinh cảm giác ở đường ruột hướng tâm kết nối tại các synáp thần kinh trong sừng lưng của tủy sống theo một cơ chế thống nhất

C- Khía cạnh thứ ba: Yếu tố tâm lý

• Mối liên quan sinh bệnh học giữa rối loạn tâm thần và hội chứng ruột kích thích chưa được xác định rõ ràng

Trang 7

• Những bệnh nhân có rối loạn tâm lý thường bị HCRKT thường xuyên và ở mức

độ nặng hơn so với nhóm dân số đối chứng

• Bệnh nhân HCRKT thường có tỷ lệ mắc các chứng rối loạn hoảng sợ, trầm cảm nặng, rối loạn lo âu, và hoang tưởng nghi bệnh nhiều hơn so với nhóm dân số đối chứng

• Một rối loạn tâm thần thuộc nhóm Axis I (như trầm cảm, rối loạn lo âu, rối loạn lưỡng cực, rối loạn tăng động kém chú ý ở trẻ em, rối loạn tự kỷ, biếng ăn tâm lý,

ăn vô độ, và tâm thần phân liệt) thường xảy ra trùng hợp với các triệu chứng tiêu hoá trong khoảng 77% bệnh nhân IBS

• Đã chứng minh được rằng bệnh nhân HCRKT chiếm tỷ lệ bị lạm dụng về thể chất và tình dục cao hơn

• Bệnh tâm thần có thúc đẩy sự phát triển của hội chứng ruột kích thích hoặc ngược lại hay không vẫn chưa được xác định rõ ràng

• Viêm ở dạng vi thể đã được ghi nhận ở một số bệnh nhân Khái niệm này là đột phá vì trước đây HCRKT được xem là không có sự thay đổi nào về mặt giải phẫu bệnh

• Viêm đại tràng, viêm ruột non đã được phát hiện ở một số ít bệnh nhân HCRKT

và những bệnh nhân khởi phát HCRKT sau nhiễm trùng đường ruột (hội chứng ruột kích thích sau nhiễm trùng) Các yếu tố nguy cơ phát sinh HCRKT sau nhiễm

Trang 8

trùng bao gồm: giới tính nữ, thời gian mắc bệnh kéo dài hơn, loại mầm bệnh có liên quan, không bị nôn trong thời gian bị bệnh nhiễm trùng và trẻ tuổi

• Các mẫu sinh thiết sâu qua nội soi cho thấy có thâm nhập tế bào lympho vào đám rối Auerbach (myenteric plexus) cùng với các tế bào lympho nội biểu bì (intraepithelial lymphocytes) ở một nhóm nhỏ bệnh nhân Thoái hoá neuron tại đám rối Auerbach cũng hiện diện ở một số người bệnh

• Bệnh nhân HCRKT sau nhiễm trùng có tăng số lượng tế bào lympho niêm mạc đại tràng và tế bào nội tiết ruột (enteroendocrine cells)

• Tế bào nội tiết ruột trong HCRKT xuất hiện sau nhiễm trùng tiết serotonin ở mức

độ cao, làm tăng bài tiết ruột có thể dẫn đến tiêu chảy

• Sự phát triển quá mức của vi khuẩn ở ruột non đã được báo trước như là cơ chế của các triệu chứng đầy hơi và trướng bụng phổ biến ở bệnh nhân HCRKT Điều này đã dẫn đến việc đề xuất phương pháp điều trị với kháng sinh và men vi sinh

• Vi sinh vật trong phân cũng khác nhau giữa bệnh nhân HCRKT so với nhóm chứng Một phân tích chuyên sâu về phân tử đã cho thấy có sự thay đổi trong các mẫu và bản chất vi khuẩn trong ruột của người bệnh HCRKT

Trang 9

H2- Co thắt đại tràng trong HCDTKT

II- Tần số

Tại Hoa Kỳ, nghiên cứu dựa trên dân số ước tính tỷ lệ mắc HCRKT vào khoảng 10-20% và xuất độ (incidence) khoảng 1-2%/năm Trong số những bệnh nhân HCRKT, khoảng 10-20% sẽ cần đến chăm sóc y tế

Ước tính 20-50% số bệnh nhân đến khám chuyên khoa tiêu hóa có liên quan đến bệnh lý phức tạp này

Trên bình diện quốc tế, tỷ lệ này thay đổi rõ rệt giữa các quốc gia

III- Tỷ lệ tử vong / Bệnh trạng

• Hội chứng ruột kích thích là một tình trạng mạn tính, hay tái phát Thầy thuốc lâm sàng cần giải thích cặn kẽ cho bệnh nhân vì kiến thức y khoa có thể giúp họ bớt nỗi sợ hãi quá mức khi bệnh cứ tái đi tái lại Hội chứng ruột kích thích không làm tăng tỉ lệ tử vong hoặc nguy cơ mắc viêm loét hoặc ung thư đại tràng

• Bệnh trạng chủ yếu của hội chứng ruột kích thích bao gồm đau bụng và thay đổi lối sống, hậu quả của thay đổi thói quen đi tiêu

• Bệnh nhân HCRKT thường xuyên nghỉ việc và hay bị giảm lương hơn

Trang 10

IV- Chủng tộc

• Tại Mỹ và châu Âu, tần số HCRKT bằng nhau giữa các chủng tộc và sắc tộc Tuy nhiên, tại Mỹ, bảng câu hỏi điều tra cho thấy tỷ lệ HCRKT thấp hơn ở người gốc Tây Ban Nha tại Texas và người châu Á tại California

• Tỷ lệ HCRKT có thể thấp hơn ở người dân châu Á và châu Phi

• Không thấy có sự khác biệt rõ nét về ảnh hưởng của các nền văn hóa và cách thức chăm sóc sức khỏe trên tỷ lệ mắc HCRKT

V- Giới tính

Ở các nước phương Tây, phụ nữ có nguy cơ bị HCRKT cao hơn nam giới gấp 2-3 lần, nhưng nam giới lại chiếm 70-80% trường hợp HCRKT ở tiểu lục địa Ấn Độ Phụ nữ đi khám bệnh thường xuyên hơn, tuy nhiên ảnh hưởng cụ thể của HCRKT lên điều này vẫn chưa được biết rõ Các yếu tố khác, như tỷ lệ phụ nữ bị lạm dụng cao hơn chẳng hạn, có thể làm rối các số liệu thống kê

Trang 11

• Sự xuất hiện của các triệu chứng ở người trên 40 tuổi không loại trừ hội chứng ruột kích thích, nhưng cần chú ý tìm kiếm thêm nguyên nhân thực thể

VII- Lâm sàng

Click this bar to view the full image

Trang 12

H3- Đau quặn bụng ở bệnh nhân HCDTKT

1-Bệnh sử

Bệnh sử tỉ mỉ là chìa khóa để thiết lập chẩn đoán hội chứng ruột kích thích Các tiêu chí Rome cung cấp nền tảng cho việc hỏi bệnh

Triệu chứng phù hợp với hội chứng ruột kích thích bao gồm:

• Thay đổi thói quen đi tiêu

+Táo bón khiến phân cứng và nhỏ, đại tiện đau, không giảm khi dùng thuốc nhuận trường

+Tiêu chảy, phân lỏng, ít, mót đi tiêu, tiêu són, tiêu nhiều lần

+Mót đi tiêu sau khi ăn

+Tiêu bón và tiêu chảy xen kẽ, thường có một thể chiếm ưu thế, nhưng cũng có thay đổi đáng kể ở từng bệnh nhân

• Đau bụng

+Thường đa dạng và lan toả Các vị trí đau thường gặp là vùng bụng dưới, cụ thể

là ở góc phần tư dưới trái

+Những cơn đau cấp tính xảy ra trên nền đau âm ỉ thường xuyên

Trang 13

+Ăn có thể khởi phát cơn đau Đi tiêu có thể giảm bớt cơn đau, tuy không hoàn toàn

+Đau được xem là từ túi hơi ở góc lách có thể gây nhầm lẫn với đau ở vùng trước ngực và đau vùng góc tư bụng trên trái Cần chú ý chẩn đoán phân biệt với các bệnh lý có biểu hiện đau trước ngực hoặc đau góc tư bụng trên trái

• Tiêu phân đàm nhớt trong hoặc trắng không do nguyên nhân viêm nhiễm thường được báo cáo

• Các triệu chứng không do đại tràng và ngoài ruột

+Khó tiêu, ợ nóng, buồn nôn, nôn, rối loạn chức năng tình dục (kể cả giao hợp đau

và giảm ham muốn tình dục), tiểu nhiều và mót tiểu đã được ghi nhận

+Các triệu chứng có thể nặng hơn khi gần chu kỳ kinh nguyệt

Trang 14

+Đau xơ cơ (fibromyalgia) là một bệnh lý khác thường đi kèm

• Các triệu chứng liên quan đến tình trạng căng thẳng

+Những triệu chứng này có thể được người bệnh tiết lộ khi thầy thuốc hỏi bệnh kỹ lưỡng

+Cần lưu ý việc tránh các yếu tố gây căng thẳng

• Các triệu chứng bất thường có thể cảnh báo cho một bệnh lý thực thể

Những triệu chứng không phù hợp với HCRKT bao gồm:

+Khởi phát ở tuổi trung niên hoặc lớn hơn

+Các triệu chứng cấp tính: hội chứng ruột kích thích thường mang tính chất mạn tính

+Triệu chứng tiến triển nặng hơn

+Triệu chứng xảy ra về đêm

+Chán ăn hoặc giảm cân

+Sốt

+Chảy máu trực tràng

Trang 15

+Tiêu chảy không kèm đau bụng

+Tiêu mỡ

+Không dung nạp lactose và/hoặc fructose

+Không dung nạp Gluten

2-Khám thực thể

• Thể trạng khỏe mạnh

• Có thể có vẻ mặt căng thẳng hoặc lo lắng

• Có thể có đau khi ấn vùng đại tràng sigmoid hoặc sờ thấy thừng sigmoid

VIII- Nguyên nhân

Nguyên nhân gây HCRKT vẫn chưa được xác định, tuy nhiên các nghiên cứu về phương diện này đang được khẩn trương tiến hành

• Các nguyên nhân gây HCRKT đã mặc nhiên được công nhận:

+Bất thường trong di chuyển của thức ăn qua ống tiêu hoá và tăng cảm nhận về nhu động bình thường của ruột

+Một phần ba số bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích có thể có thay đổi vận tốc

di chuyển của thức ăn qua đại tràng Nhu động ruột chậm trễ xảy ra ở bệnh nhân

Trang 16

HCRKT thể táo bón (IBS-C) thường xuyên hơn so với người khỏe mạnh Tương

tự, tăng vận tốc nhu động ruột xảy ra ở bệnh nhân HCRKT thể tiêu lỏng (IBS-D) thường xuyên hơn so với người khỏe mạnh

+Nhạy cảm tại chỗ với histamin của các tế bào thần kinh hướng tâm có thể gây ra

+Các bệnh tâm lý đi kèm khiến bệnh nhân dễ mắc HCRKT sau nhiễm trùng

+Các bệnh tâm lý có thể tạo ra một môi trường cytokine tiền viêm, dẫn đến hội chứng ruột kích thích sau nhiễm trùng cấp tính qua một cơ chế chưa được xác định

• Cơ chế thần kinh nội tiết trung ương

+Đã quan sát thấy có kích hoạt bất thường glutamate của thụ thể aspartate (NMDA), kích hoạt synthetase nitric oxide, kích hoạt các thụ thể neurokinin, và cảm ứng của peptide calcitonin có liên quan đến gene

Trang 17

N-methyl-D-+Ở những bệnh nhân HCRKT, các đáp ứng thần kinh tự trị và cảm xúc qua trung gian của hệ thống hệ thống limbic gây tăng nhu động ruột và giảm nhu động dạ dày ở mức độ cao hơn so với nhóm bệnh nhân đối chứng Bằng phương pháp chụp cắt lớp phát xạ positron (PET), đã chứng minh được những bệnh nhân hội chứng ruột kích thích và những người trầm cảm nặng có hệ thống limbic bất thường

+Trục hạ đồi-tuyến yên có thể liên quan mật thiết đến nguồn gốc của bệnh Rối loạn nhu động ruột tương ứng với sự gia tăng sản xuất yếu tố giải phóng corticotropin (CRF) ở hạ đồi để đáp ứng với stress Các chất đối kháng CRF loại

bỏ những biến đổi này

• Như đã bàn luận trong phần sinh lý bệnh học, Pimentel và đồng sự đã đề xuất rằng tình trạng vi khuẩn phát triển quá mức ở ruột non là yếu tố gây ra các triệu chứng trướng bụng và đầy hơi thường gặp ở những bệnh nhân HCRKT

• Đầy hơi và trướng bụng còn có thể do không dung nạp các chất béo trong khẩu phần ăn Ở bệnh nhân HCRKT, đào thải khí qua trung gian phản xạ ở ruột non sau khi ăn chất béo kém hơn so với nhóm đối chứng

• Chế độ ăn có carbohydrates chuỗi ngắn, dưới dạng đường fructose và fructans khó hấp thu, có thể gây ra các triệu chứng ở bệnh nhân hội chứng ruột kích thích

IX- Chẩn Đoán Phân Biệt

+Đau thắt bụng (abdominal angina)

Trang 18

+Suy giáp

+Rối loạn lo âu

+Vi khuẩn phát triển quá mức

+Không dung nạp lactose

Trang 19

+Lạc nội mạc tửi cung

+Porphyria cấp tính

+Dị ứng thực phẩm

+Hội chứng sau cắt túi mật +Viêm dạ dày ruột do vi khuẩn +Viêm dạ dày ruột do virus +U somatostatin

+Nhiễm chì

+Viêm loét đại tràng

+Tăng calci huyết

Trang 20

+Công thức máu để tầm soát thiếu máu, viêm nhiễm

+Các xét nghiệm về chuyển hóa để đánh giá toàn diện các rối loạn chuyển hóa và loại trừ tình trạng mất nước/điện giải ở bệnh nhân tiêu chảy

• Nên loại trừ chảy máu đường tiêu hóa Xét nghiệm máu ẩn trong phân có thể giúp ích

• Xét nghiệm vi sinh bao gồm việc kiểm tra phân:

+Tìm trứng và ký sinh trùng Xem xét việc tìm kháng nguyên Giardia

+Các vi sinh vật gây bệnh đường ruột

Trang 21

+Bạch cầu

+Độc tố Clostridium difficile

• Thực hiện thêm các xét nghiệm sau tùy theo bệnh sử:

+Thử nghiệm hơi thở: tầm soát không dung nạp lactose và/ hoặc không dung nạp fructose

+Xét nghiệm chức năng tuyến giáp: Tầm soát cường giáp hoặc suy giáp

+Canxi huyết thanh: Tầm soát cường cận giáp

+Tốc độ lắng hồng cầu hoặc CRP: Xét nghiệm không đặc hiệu cho tình trạng viêm nhiễm

+Các xét nghiệm huyết thanh hoặc sinh thiết ruột non để tầm soát bệnh celiac, đặc biệt là trong HCRKT thể tiêu chảy chiếm ưu thế

• Xét nghiệm H2 hơi thở để loại trừ tình trạng vi khuẩn phát triển quá mức ở những bệnh nhân tiêu chảy

2-Chẩn đoán hình ảnh

• Lựa chọn các thử nghiệm sau đây tùy theo bệnh sử:

+Chụp dạ dày ruột non: Tầm soát khối u, viêm nhiễm, tắc nghẽn, và bệnh Crohn

Trang 22

+Chụp đại tràng cản quang kép: Tầm soát khối u và viêm

+Siêu âm túi mật: Khi bệnh nhân bị khó tiêu tái diễn hoặc đau sau ăn đặc trưng +CT scan bụng: Tầm soát khối u, tắc nghẽn, và bệnh lý tuyến tụy

3-Các xét nghiệm khác

• Thực hiện một chế độ ăn uống không lactose trong 1 tuần kết hợp với bổ sung lactase Nếu tình trạng cải thiện, chứng tỏ bệnh nhân có bất dung nạp đường lactose, dù rằng bệnh sử và đáp ứng với thử nghiệm này có thể chưa hoàn toàn đáng tin cậy Do đó, một số bác sĩ chuyên khoa tiêu hóa thường chỉ định xét nghiệm hydrogen hơi thở Cũng cần xem xét thêm tình trạng không dung nạp fructose

• Chỉ định nhịn ăn trong 48-giờ Nếu tiếp tục tiêu chảy chứng tỏ có nguyên nhân tăng tiết

• Đo áp lực hậu môn có thể thấy phản ứng co thắt với tình trạng trướng trực tràng, hoặc những vấn đề khác

4-Thủ thuật

• Nội soi đại tràng sigmoid bằng ống mềm ở bệnh nhân hội chứng ruột kích thích

để xác định tình trạng viêm hoặc tắc nghẽn xa

Trang 23

• Các thủ thuật sau đây được lựa chọn tùy theo bệnh sử:

+ Có thể chỉ định nội soi thực quản dạ dày tá tràng kèm sinh thiết cho một bệnh nhân rối loạn tiêu hóa kéo dài, sụt cân, có các triệu chứng kém hấp thu hoặc nếu nghi ngờ bệnh celiac

+Nội soi đại tràng ở những bệnh nhân có dấu hiệu cảnh báo như chảy máu, thiếu máu, tiêu chảy mãn tính, lớn tuổi, tiền sử polyp đại tràng, tiền sử ung thư trong gia đình, giảm cân hoặc chán ăn

Cần thực hiện nội soi kiểm tra theo các hướng dẫn đã công bố

5-Giải phẫu bệnh

Nghiên cứu cho thấy có sự thoái hóa thần kinh và tẩm nhuận tế bào lympho tại đám rối thần kinh cơ-ruột (myenteric plexus lymphocytosis) ở vùng hỗng tràng gần Ngoài ra, tăng lympho ở đại tràng và tăng sản tế bào nội tiết-ruột (enteroendocrine) đã được chứng minh ở một số bệnh nhân

XI- Điều trị

A-Chăm sóc y tế

• Thành công trong điều trị dựa trên mối quan hệ chặt chẽ giữa thầy thuốc và bệnh nhân

Trang 24

• Trấn an bệnh nhân rằng nếu không có tổn thương thực thể thì tuổi thọ của bệnh nhân HCRKT sẽ là bình thường

• Nhấn mạnh về tính chất mạn tính của các triệu chứng với những đợt cấp định kỳ

• Hướng dẫn cho bệnh nhân biết cách xác định những yếu tố gây căng thẳng và các kỹ thuật phòng tránh chúng

B-Hội Chẩn

• Xem xét giới thiệu đến chuyên khoa tâm thần Đa có những bằng chứng cải thiện các triệu chứng tiêu hóa khi điều trị thành công bệnh tâm thần đi kèm Tuy nhiên 2 nghiên cứu khác lại cho thấy nên thận trọng khi diễn giải các dữ liệu đó

• Ford và cộng sự đã đạt những kết luận tương tự về việc sử dụng các can thiệp tâm lý đối với bệnh nhân HCDTKT Họ cũng thực hiện một đánh giá có hệ thống

và phân tích thử nghiệm meta ngẫu nhiên có đối chứng (tháng 5/2008) ở bệnh nhân người lớn bị HCDTKT, tuy nhiên, tiêu chí của họ lựa chọn bao gồm thử nghiệm so sánh giả dược với thuốc chống trầm cảm cũng như so sánh những liệu pháp tâm lý với các liệu pháp đối chứng hay chăm sóc thông thường Các nhà nghiên cứu ghi nhận rằng chất lượng nghiên cứu nhìn chung là tốt cho những thuốc chống trầm cảm có liên quan nhưng lại kém cho những liệu pháp tâm lý Ford và cộng sự kết luận rằng thuốc chống trầm cảm có hiệu quả trong điều trị IBS, nhưng bất chấp thực tế là các dữ liệu sẵn có cho thấy liệu pháp tâm lý có thể

Trang 25

có hiệu quả tương đương, ít có bằng chứng chất lượng hỗ trợ cho việc sử dụng thường xuyên các liệu pháp tâm lý ở bệnh nhân HCRKT

C- Chế độ ăn uống

• Bổ sung chất xơ có thể cải thiện triệu chứng táo bón và tiêu chảy Tuy nhiên, bệnh nhân ít kinh nghiệm có thể khiến tình trạng trướng bụng đầy hơi thêm trầm trọng với chế độ ăn nhiều chất xơ Hợp chất polycarbophil (Citrucel, FiberCon) có thể ít gây đầy hơi hơn so với các hợp chất psyllium (như Metamucil)

• Các dữ liệu về hiệu quả của chất xơ còn gây tranh cãi vì 40-70% bệnh nhân vẫn được cải thiện với giả dược

• Khuyến khích uống nước hợp lý ở những bệnh nhân HCRKT thể táo bón

• Tránh dùng caffeine có thể giúp hạn chế lo âu, giảm độ trầm trọng của các triệu chứng

• Giảm bớt rau củ quả có thể giúp giảm đầy hơi trướng bụng

• Nên hạn chế hoặc tránh lactose và/hoặc fructose ở bệnh nhân có các rối loạn này Chú ý bổ sung canxi ở những bệnh nhân cần hạn chế sử dụng đường lactose D-Hoạt động

Không hạn chế

Trang 26

E-Thuốc Men

Việc lựa chọn thuốc để điều trị vẫn còn dựa trên các triệu chứng

Không được hấp thu qua đường ruột (<0,4%), Rifaximin là một kháng sinh phổ rộng đối với các tác nhân gây bệnh đường ruột (gram dương, gram âm, hiếu khí và

kỵ khí) Rifaximin liên kết với RNA polymerase–phụ thuộc DNA của vi khuẩn, do

đó ức chế tổng hợp RNA Chỉ định dùng cho Escherichia coli gây chứng tiêu chảy

lữ hành Rifaximin đã được nghiên cứu ở những bệnh nhân bị hội chứng ruột kích thích và được xem là có cải thiện các triệu chứng đầy hơi, tiêu chảy, đau bụng và táo bón

1-Thuốc kháng cholinergic

Là các thuốc chống co thắt, ức chế khử cực cơ trơn của ruột tại thụ thể muscarinic

a-Dicyclomin hydrochloride (Bentyl)

This image has been resized Click this bar to view the full image The original image is sized 600x419

Trang 27

H4- Viên Bentyl (Dicyclomin hydrochloride)

Thuốc làm giảm đau và triệu chứng mót đi tiêu Rất hữu ích đối với HCRKT thể tiêu chảy chiếm ưu thế Ngăn chặn tác động của acetylcholin ở các thụ thể đối giao cảm tại các tuyến tiết, cơ trơn, và thần kinh trung ương Các tác dụng phụ tuỳ thuộc liều dùng

+Liều lượng

Dành cho người lớn

10-40 mg uống ngày 4 lần trước khi ăn hoặc khi khởi phát cơn đau

Ngày đăng: 22/07/2014, 14:21

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w