1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Các ngành kinh tế khu vực ASEAN

40 326 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Các ngành kinh tế khu vực ASEAN
Trường học Trường Đại học Kinh tế Quốc dân
Chuyên ngành Kinh tế học
Thể loại Báo cáo
Năm xuất bản 2023
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 40
Dung lượng 3,76 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Nông nghiệp Đông Nam Á tạo ra một khối lượng sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi khá lớn, không chỉ đáp ứng được nhu cầu trong khu vực mà còn xuất khẩu ra nước ngoài nhờ có công nghiệp ch

Trang 2

I.Nông nghiệp:

1 Vai trò:

- Nông nghiệp là ngành có vai trò quan trọng trong nền kinh tế các nước Đông Nam Á Những năm gần đây, giá trị sản lượng nông nghiệp trong tỉ trọng GDP của các nước đều

có xu hướng giảm, nhưng vẫn chiếm tỉ trọng đáng kể trong GDP ( Thái Lan là 11,7%, Philippines là 13,7%, Malaysia là 11,3%, Indonesia là 13,8%, Việt Nam là 21,8%, Mianma là 50%, Campuchia là 31%, Lào : 41,3% năm 2007)

- Nông nghiệp Đông Nam Á tạo ra một khối lượng sản phẩm trồng trọt và chăn nuôi khá lớn, không chỉ đáp ứng được nhu cầu trong khu vực mà còn xuất khẩu ra nước ngoài nhờ có công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm, làm cho giá trị sản phẩm nông nghiệp tăng lên, mang lại nguồn ngoại

tệ lớn, nhất là lúa gạo và các sản phẩm cây công nghiệp

Trang 3

2 Đặc điểm:

- Nền nông nghiệp Đông Nam Á có quy mô ruộng đất nhỏ, biểu hiện ró tính chất tiểu nông Ví dụ: Ở Philippin dưới 3 ha/hộ, ở Việt Nam : miền Bắc là 0,5 ha/hộ, ĐBSCL từ 0,6-1 ha/hộ

- Sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên, cơ sở vật chất – kĩ thuật còn nghèo nàn và lạc hậu

- Sản xuất nông nghiệp ở Đông Nam Á được tổ chức theo hình thức hộ gia đình và đồn điền Trong các đồn điền, thường sản xuất các cây xuất khẩu như: cao su, chè, cọ dầu, cà phê…Điển hình:

+Hình thức hộ gia đình: Ở Việt Nam có mô hình sản xuất chuyên canh trong nông nghiệp ( chuyên chăn nuôi bò sữa, tôm, trăn, rắn… mô hình này đang phát triển ở ĐBSCL và ĐBSH, ven biển miền Trung và chuyên trồng trọt: chè, cà phê, cao su…), mô hình sản xuất lúa nước-nuôi cá nước ngọt-chăn nuôi gia cầm

+Hình thức đồn điền Hiện nay ở Đông Nam Á, đặc biệt

ở Malaysia, Indonesia , người ta đã chuyển đổi những cánh rừng tự nhiên rộng lớn thành các đồn điền cọ

Trang 4

Ngoài ra, còn có các chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp, đã khuyến khích sự mở rộng nhanh chóng diện tích các đồn điền trồng cao su trên hơn 500 000 ha rừng thuộc Lào, Thái Lan, Việt Nam, Campuchia và Myanma

- Khu vực Đông Nam Á phần lớn mang khí hậu nhiệt đới gió mùa nên nền nông nghiệp mang tính chất nhiệt đới( như: lúa gạo, cao su, cà phê…các cây ăn quả nhiệt đới: dừa, xoài, chuối…) Trong trồng trọt, lúa gạo là cây lương thực quan trọng nhất trong vùng Trong chăn nuôi, có nhiều theo đổi về hình thức từ chăn thả ngoài đồng cỏ sang chăn nuôi chuồng trại theo hướng công nghiệp và chuyên môn hóa

Trang 5

3 Các nhân tố ảnh hưởng:

a Nhân tố tự nhiên:

- Có đất đai màu mỡ: ở phần Đông Nam Á lục địa có sông Mê Kông chảy qua, mang đến lượng phù sa lớn, bồi đắp nên các đồng bằng màu mỡ, phì nhiêu Ở phần Đông Nam Á biển đảo, có tro bụi từ núi lửa làm cho đất đai màu mỡ thuận lợi cho phát triển nông nghiệp

- Khu vực Đông Nam Á nằm trong khu vực khí hậu nhiệt đới gió mùa và khí hậu xích đạo, có lượng nhiệt ẩm và lượng mưa lớn, thích hợp cho nông nghiệp phát triển

- Có mạng lưới sông ngòi khá dày đặc, lượng nước dồi dào

-Tuy nhiên, các yếu tố tự nhiên cũng có ảnh hưởng xấu đến sự phát triển nông nghiệp ở khu vực Đông Nam Á như: hay xảy ra bão, lũ lụt, động đất, núi lửa, sóng thần …

Trang 6

b Nhân tố xã hội:

- Đông Nam Á là khu vực đông dân nên có nguồn lao động dồi dào Ở một số nước: Việt Nam, Campuchia, Lào, Mianma, Indonesia, tỉ lệ dân cư nông nghiệp trong dân số gần 70%

- Đông Nam Á là cái noi của nền văn minh lúa nước nên có nhiều kinh nghiệm trong sản xuất, có chính sách phát triển hợp lí , tiến hành áp dụng KHKT vào sản xuất nông nghiệp

- Bên cạnh đó, trình độ tay nghề của lao động còn kém, áp dụng KHKT còn nhiều hạn chế, chưa đồng bộ có sự khác nhau giữa các nước, cơ sở vật chất và kĩ thuật còn nghèo nàn, lạc hậu, lao động trong nông nghiệp đang giảm sút

Trang 7

Trong những năm gần đây, Thái Lan và Việt Nam là 2 trong 3 nước xuất khẩu lúa gạo đứng đầu thế giới Năm 2007, Thái Lan sản xuất 23,8 triệu tấn và xuất khẩu 10 triệu tấn ; Việt Nam sản xuất 35,86 triệu tấn và xuất khẩu 4 triệu tấn Indonexia do dân số đông nên sản xuất lúa gạo chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước Philippin và Malaysia, sản xuất lương thực không đáp ứng đủ nhu cầu cầu trong nước.

Theo Hiệp hội lương thực Việt Nam (VFA), từ đầu năm đến ngày

18.3, các doanh nghiệp đã xuất khẩu 983.275 tấn gạo, giá trị trên 465 triệu USD (xuất dạng FOB, giao hàng tại cảng xuất) So với cùng kỳ năm 2009 thì số lượng gạo xuất khẩu giảm 25,98% và 12,87% giá trị.

Trang 8

Thu hoạch lúa ở Việt Nam Thu Hoạch Lúa Ở Thái Lan

Xuất khẩu gạo ở Thái Lan

Trang 9

Lượng xuất khẩu gạo Thái Lan trong năm 2009 giảm xuống 8,5 triệu tấn và quốc gia này sẽ chỉ kiếm về 4,65 tỷ USD, giảm 16,8% và 25% lượng gạo và giá tương ứng so với năm 2008.

Theo Hiệp hội xuất khẩu gạo của Thái Lan cũng cho rằng lượng gạo xuất khẩu của Thái Lan trong năm 2010 có thể cao hơn 10 triệu tấn nếu Chính phủ nước này quản lý tốt số lượng gạo dự trữ trong nước, đưa ra thị trường một cách từ từ chứ không phải tung ra thị trường một cách ồ ạt

Hiện nay xuất khẩu gạo từ các quốc gia như Mianma và Campuchia cũng tăng mạnh do sự gia tăng của sản lượng gạo đầu ra của các quốc gia này) Tuy nhiên, sự dư thừa gạo vừa qua đã nhanh chóng làm giá gạo xuất khẩu của nước này giảm khoảng 25% xuống còn 400 USD/tấn hoặc thấp hơn nữa

Trang 10

Ngoài ra, Các nước khu vực Đông Nam Á còn trồng khoai, ngô, sắn, đậu…

+ Ngô: là cây lương thực quan trọng thứ hai, ở Indonesia đạt khoảng 10 triệu tấn; philippin: 4,6 triệu tấn; Thái Lan: 4,1 triệu tấn…

+ Sắn: Thái Lan và Indonesia là 2 nước sản xuất sắn nhiều nhất ( Thái Lan : 20,5 triệu tấn, Indonesia: 16,5 triệu tấn năm 2004)

Trang 11

Cây công nghiệp: Các nước Đông Nam Á còn nổi tiếng về trồng các loại cây công nghiệp và cây ăn quả nhiệt đới.

Cây lấy nhựa:

+ Cao su: Các đồn điền cao su ở đây được thành lập từ đầu thế kỉ

XX Cây cao su được trồng nhiều nhất ở các nước: Thái Lan, Malaysia, Indonesia, Việt Nam trên những vùng đất đỏ badan Hiện nay, các nước Đông Nam Á cung cấp 90% sản lượng cao su tự nhiên của thế giới, trong đó Thái Lan là nước sản xuất và xuất khẩu cao su đứng đầu trên thế giới Năm 2004, Thái Lan sản xuất khoảng 2,6 triệu tấn.

Hiện nay, Indonesia có chương trình phát triển cây cao su ( năm

2004, Indonesia đạt 1,8 triệu tấn), Malaysia còn đưa cao su vào dự án trồng rừng Ở Việt Nam, Đông Nam Bộ là vùng trồng nhiều cao su nhất khoảng 70% diện tích, chiếm 90% sản lượng cả nước, theo sau là Tây Nguyên và trung du miền núi phía Bắc Diện tích trồng cao su ở Việt Nam ngày càng được mở rộng, hiện nay diện tích là 500 nghìn ha

và theo dự đoán đến năm 2015 diện tích sẽ tăng lên 600 nghìn ha Năm

2006, tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 1,27 tỉ USD và đây là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ 2 ở Việt Nam sau lúa gạo.

+ Dầu cọ: chiếm 60% dầu cọ thế giới, được trồng nhiều và trở thành cây công nghiệp quan trọng ở Malaysia, Indonesia, Thái Lan, Mianma Malaysia có sản lượng xuất khẩu dầu cọ đứng đầu thế giới năm 2005 đạt 14,7 triệu tấn.

Trang 12

Cây cho chất kích thích:

+ Cà phê: được trồng nhiều ở Indonesia, Việt Nam, Philippin

Ở Indonesia đạt 0,75 triệu tấn Ở Việt Nam, sản xuất 1.194 nghìn tấn cà phê và xuất khẩu 1094 nghìn tấn Hiện nay, Việt Nam có 500 nghìn ha trồng cà phê, trong đó Tây Nguyên chiếm tới 434 nghìn

ha, chiếm tới 80% diện tích và sản lượng cả nước

+ Cây chè: được trồng nhiều ở Indonesia, Việt Nam Ở Việt Nam, năm 2007 sản xuất 705 nghìn tấn chè và xuất khẩu 114.000 tấn Hằng năm, nước ta trồng khoảng 100 nghìn ha chè, đứng hàng thứ 7 trong 45 nước trồng chè và đứng thứ 8 về xuất khẩu chè Các vùng trồng chè nổi tiếng là vùng Đông Bắc và Tây Nguyên ( với chè xanh-Tân Cương, chè Bảo Lộc-Lâm Đồng…)

+Hồ tiêu: Đông Nam Á còn là khu vực trồng nhiều cây hồ tiêu, điển hình như: ở Indonesia, Thái Lan, Việt Nam, Malaysia Trong nhiều năm gần đây, giá hồ tiêu xuống thấp nên diện tích trồng hồ tiêu của khu vực giảm nhiều

Trang 13

Mía

Trang 14

Cây lấy sợi: Được trồng ở khu vực gồm đay ( có ở Thái Lan,

Việt Nam, Indonesia…), gai ( Philippin, Thái Lan…), bông ( Indonesia, Thái Lan)

 Cây lấy đường:

Mía được trồng và xuất khẩu nhiều nhất ở Thái lan, sau đó là Indonesia, philippin và Việt Nam Sản xuất đường của các nước Đông Nam Á chiếm khoảng 20% sản lượng đường mía thế giới, trong đó nhiều nhất là Thái Lan ( năm 2007, Thái Lan xuất khẩu 5,6 triệu tấn đường)

Ở Việt Nam, diện tích và sản lượng có xu hướng giảm trong thời gian gần đây, theo niên vụ 2008-2009 diện tích khoảng 271 nghìn ha, giảm 7,6% so với vụ 2007-2008, nguyên nhân là do: biến động của giá cả thị trường ( Phân bón, thuốc trừ sâu, giá nhân công cao…), ảnh hưởng của thời tiết nhiều sâu bệnh, phát triển không theo qui hoạch…

- Các loại cây ăn quả nhiệt đới như: dừa, xoài, chuối, bưởi, cam, đu đủ, nhãn được trông nhiều nhất ở: Thái Lan, Việt Nam và Indonesia Năm 2004, hoa quả của khu vực đạt 38 triệu tấn, trong

đó Philippin đạt 11 triệu tấn, Indonesia 9 triệu tấn, Thái Lan 7,5 triệu tấn, Malaysia 2,4 triệu tấn và Việt Nam 5 triệu tấn

Trang 15

2003, là 2,8 triệu con, có xu hướng giảm và không ổn định do sức kéo được thay thế, nuôi tập trung ở Đông Bắc và Bắc Trung Bộ

- Chăn nuôi lợn để cung cấp thực phẩm được phát triển ở nhiều nước, trừ những nước có nhiều người theo đạo Hồi, có khoảng 60 triệu con lợn ( năm 2004) Ở Việt Nam, có khoảng 27 triệu con (năm 2005) được nuôi nhiều ở ĐBSCL và ĐBSH

Trang 16

- Ở ĐNA, 4 nước sản xuất thịt lợn lớn nhất trong vùng Việt Nam, Philipin, Indonesia và Thái Lan Hệ thống chăn nuôi lợn ở Đông nam

á chủ yếu dựa vào nuôi nhốt kết hợp với chăn thả Trang trại có thể được chia làm 2 loại, những đơn vị chăn nuôi thâm canh mức độ lớn hơn và những đơn vị chăn nuôi nuôi thâm canh nhỏ hơn, 2 hình thức này có tỷ lệ khác nhau ở mỗi nước, ví dụ: Tỷ lệ 80:20 ở Thái Lan và

tỷ lệ 20:80 ở Việt Nam

Trang 17

Nước Số lượng lợn ở

trang trại (x1000)

Số lượng lợn giết thịt mỗi năm (x1000)

Sản lượng thịt lợn mỗi năm (x1000 tấn)

Bảng Số lượng lợn ở trang trại, số lợn giết thịt/năm và sản lượng thịt

lợn ở các nước Đông Nam á

Trang 18

- Chăn nuôi gia cầm: có khoảng 1680 triệu con (năm 2004) nhưng những năm gần đây việc chăn nuôi gặp nhiều khó khăn, do xuất hiện dịch cúm gia cầm H5N1…Hiện nay, tổng đàn gia cầm của Việt Nam đạt 215,8 triệu con (năm 2001), 233,3 triệu con (2002), với tốc độ tăng bình quân 7,19%/năm Sản lượng thịt cũng tăng nhanh qua các năm (338.000 tấn), số lượng trứng là 4,53 tỷ quả (2002)

Theo dự báo của FAO, từ nay đến 2030, Đông Nam Á, trong đó

có Việt Nam, vẫn là khu vực có tốc độ tăng liên tục và tăng nhanh về chăn nuôi gia cầm (trên 20%)

- Nuôi trồng thủy sản: đóng vai trò đáng kể trong sản xuất nông nghiệp dó có mạng lưới sông ngòi và bờ biển dài, Ở một số nước: Việt Nam, Thái Lan, Indonesia… còn phát triển nuôi trồng thủy sản, cá sấu, trăn…

Trang 19

Cá tra và ba sa phân bố ở một số nước Ðông Nam Á như Campuchia, Thái Lan, Indonexia và Việt Nam, là hai loài cá nuôi có giá trị kinh tế cao Ở Campuchia, tỷ lệ cá tra thả nuôi chiếm 98% , chỉ có 2% là cá ba sa, Một số nước trong khu vực như Malaysia, Indonesia cũng đã nuôi cá tra có hiệu quả từ những thập niên 70-80

Trang 20

6 Xu hướng:

- Cơ cấu kinh tế của các nước Đông Nam Á đã và đang có sự chuyển dịch, giảm tỉ trọng ngành nông nghiệp trong GDP Nhưng ngành nông nghiệp vẫn có ý nghĩa quan trọng đối với hầu hết các nước Đông Nam Á chủ yếu hướng vào xuất khẩu các nông phẩm nhiệt đới có giá trị kinh tế cao

- Trong những năm gần đây, các nước ASEAN sẽ hợp tác nông-lâm nghiệp Đó là việc sử dụng chính sách nông nghiệp chung nhằm tăng cường chất lượng cuộc sống thông qua chương trình phát triển nông nghiệp bền vững, đảm bảo an ninh lương thực, quy hoạch chiến lược, mạng lưới sản xuất và phân phối lương thực toàn khu vực Phấn đấu dưa ASEAN trở thành khu vực sản xuất lương thực, thực phẩm lớn trên thế giới, áp dụng công nghệ KHKT để tăng tính cạnh tranh toàn cầu

Trang 21

II Ngành công nghiệp:

1 Vai trò:

Góp phần tăng tỷ trọng GDP cho khu vực Đông Nam Á

2 Điều kiện phát triển:

- Tài nguyên thiên nhiên phong phú, đa dạng đặc biệt là

tài nguyên khoáng sản.

- Nguồn lao động dồi dào, trình độ ngày càng cao, thị

trường tiêu thụ rộng lớn.

- Cơ sở vật chất kỹ thuật ngày càng hoàn thiện.

3 Thực trạng phát triển:

- Cơ cấu ngành công nghiệp của các nước Đông Nam

Á thòi kỳ này theo hướng đa ngành , đa dạng sản phẩm, theo hướng mở rộng và tăng cường phát triển các ngành công nghiệp chế biến như: luyện kim,cơ khí chế tạo,hóa chất, dệt may,da giày,chế biến thực phẩm, sản xuất hàng tiêu dùng…

Trang 22

- Giai đoạn đầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,các nước trong khu vực thực hiện thay thế hàng nhập khẩu, phát triển các ngành công nghiệp chế biến, ưu tiên phát triển những ngành sử dụng nguồn nguyên liệu,thu hút nhiều lao động,vốn ít không yêu cầu công nghệ cao, sản phẩm tiêu thụ trong thị trường nội địa như: công nghiệp thực phẩm, dệt may, sản xuất hàng tiêu dùng.

- Tiếp theo là thực hiện chiền lược hướng ra xuất khẩu, thu hút đầu tư nước ngoài,thực hiện chuyển giao công nghệ, nâng cao chất lượng của người lao động, học hỏi kinh nghiệm quản lí kinh doanh,tiếp cận với thị trường thế giới,sản xuất nhiều hàng hóa xuất khẩu có chất lượng cao, được thị trường thế giới ưa chuộng: dệt may, da giày,hàng tiêu dùng, công nghiệp chế biến thực phẩm, hàng điện tử,thiết bị điện,luyện kim,gia công lắp ráp

ô tô,thiết bị khoan dầu( Xingapo).

Trang 23

-Từ nửa thập kỷ 80, một số nước như: Xingapo,Malaixia chú trọng phát triển các ngành công nghệ sinh học,sản xuất máy tính điện tử,thiết bị viễn thông,chế tạo ô tô,giàn khoan dầu,thiết bị lọc dầu, bước đầu phát triển ngành hàng không vũ trụ ( Xingapo).

- Trong số các nước Đông Nam Á,Xingapo những thập

kỷ vừa qua đã đạt được nhiều kì tích trong phát triển kinh tế và công nghiệp Xingapo đã khẳng định vị trí của mình trên thị trường thế giới với những sản phẩm công nghệ cao, chất lượng tốt, uy tín như: phần mềm máy tính,thiết bị điện tử,giàn khoan dầu,thiết bị lọc dầu,sản phẩm cao cấp Xingapo từ lâu đã trở thành nước công nghiệp mới đạt nhiều chỉ tiêu kinh tế- xã hội của một nước công nghiệp phát triển.

Trang 24

- Thái Lan,Indonexia,Việt Nam và nhiều nước khác cũng đang đẩy nhanh sự nghiệp công nghiệp hóa,phấn đấu trở thành những nước công nghiệp mới.

- Hoạt động khai khoáng được tập trung chủ yếu vào một số loại khoáng sản có trữ lượng cao để đáp ứng nhu cầu nội địa và xuất khẩu

- Công nghiệp khai thác thiếc được phát triển sớm và có quy

mô lớn ở một số nước như: Malaixia,Indonexia, Thái Lan,( chiếm khoảng 95% sản lượng thiếc của khu vực).Trong năm 2003, sản lượng thiếc của Malaixia đạt khoảng 8 vạn tấn/năm và có sản lượng lớn nhất thế giới Sản lượng thiếc của Thái Lan từ thập niên tới nay có xu hướng suy giảm

- Malaixia cũng trở thành nước kiểu mẫu về những thành tựu phát triển công nghiệp,với quá trình công nghiệp hóa nhanh

và thành công Malaixia hiện đã là nước công nghiệp mới, với mục tiêu phấn đấu đến năm 2015 sẽ trở thành nước công nghiệp phát triển

Ngày đăng: 19/07/2014, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình  thức  từ  chăn  thả  ngoài  đồng  cỏ  sang  chăn  nuôi  chuồng  trại theo hướng công nghiệp và chuyên môn hóa - Các ngành kinh tế khu vực ASEAN
nh thức từ chăn thả ngoài đồng cỏ sang chăn nuôi chuồng trại theo hướng công nghiệp và chuyên môn hóa (Trang 4)
Bảng Số lượng lợn ở trang trại, số lợn giết thịt/năm và sản lượng thịt - Các ngành kinh tế khu vực ASEAN
ng Số lượng lợn ở trang trại, số lợn giết thịt/năm và sản lượng thịt (Trang 17)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w