Phương pháp nghiên cứu Để đánh giá tác động của Hội nhập kinh tế khu vực, đề tài nghiên cứu sử du ̣ng các phương pháp sau đây: Phương pháp phân tích chỉ số thương mại: sử dụng các c
Trang 1MẪU 14/KHCN
(Ban hành kèm theo Quyết định số 3839 /QĐ-ĐHQGHN ngày 24 tháng10 năm 2014
của Giám đốc Đại học Quốc gia Hà Nội)
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ THỰC HIỆN ĐỀ TÀI KH&CN
CẤP ĐẠI HỌC QUỐC GIA
Tên đề tài: Tự do hóa thương mại trong Hiệp định đối tác kinh tế khu
vực toàn diện (RCEP): Tác động và các vấn đề chính sách đối với Việt Nam
Mã số đề tài: QG.15.37
Chủ nhiệm đề tài: Nguyễn Tiến Dũng
Hà Nội, Tháng 02/2018
Trang 2PHẦN I THÔNG TIN CHUNG
1.1 Tên đề tài: Tự do hóa thương mại trong Hiệp định đối tác kinh tế khu vực toàn diện
(RCEP): Tác động và các vấn đề chính sách đối với Việt Nam
1.2 Mã số: QG.15.37
1.3 Danh sách chủ trì, thành viên tham gia thực hiện đề tài
TT Chức danh, học vị, họ và tên Đơn vị công tác Vai trò thực hiện đề tài
1 TS Nguyễn Tiến Dũng Khoa Kinh tế và Kinh
doanh Quốc tế, Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
Chủ nhiệm đề tài
2 TS Nguyễn Cẩm Nhung Khoa Kinh tế và Kinh
doanh Quốc tế, Đại học Kinh tế, ĐHQGHN
Thành viên
1.4 Đơn vị chủ trì:
1.5 Thời gian thực hiện:
1.5.1 Theo hợp đồng: từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 02 năm 2017
1.5.2 Gia hạn (nếu có): đến tháng 02 năm 2018
1.5.3 Thực hiện thực tế: từ tháng 02 năm 2015 đến tháng 10 năm 2017
1.6 Những thay đổi so với thuyết minh ban đầu (nếu có): Không có thay đổi
(Về mục tiêu, nội dung, phương pháp, kết quả nghiên cứu và tổ chức thực hiện; Nguyên nhân; Ý
kiến của Cơ quan quản lý)
1.7 Tổng kinh phí được phê duyệt của đề tài: 200 triệu đồng
PHẦN II TỔNG QUAN KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Viết theo cấu trúc một bài báo khoa học tổng quan từ 6-15 trang (báo cáo này sẽ được đăng trên tạp chí khoa học ĐHQGHN sau khi đề tài được nghiệm thu), nội dung gồm các phần:
1 Đặt vấn đề
Quá trình hội nhập kinh tế ở Đông Á đã được đẩy nhanh trong những năm gần đây cùng với việc khởi động quá trình đàm phán xây dựng Hiệp định đối tác kinh tế khu vực toàn diện (Regional Comprehensive Economic Partnership -RCEP) trong khuôn khổ của Hội nghị thượng đỉnh Đông Á vào năm 2012 RCEP đươ ̣c xây dựng với mu ̣c đích thống nhất các hiệp định thương mại tự do hiện
có trong khu vực và thúc đẩy hơn nữa quá trình tự do hóa thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ
và đầu tư giữa các nền kinh tế trong khu vực Với sự tham gia của các nền kinh tế ASEAN, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, New Zealand và Australia (ASEAN+6), khi hình thành, RCEP
sẽ tạo ra một thị trường khu vực rộng lớn chiếm trên 30% GDP toàn cầu, hứa hẹn nhiều cơ hội cho việc thúc đẩy thương mại và đầu tư
Hội nhập trong RCEP với mức đô ̣ tự do hóa thương ma ̣i và đầu tư sâu rô ̣ng và với sự tham gia của các đối tác thương mại và đầu tư lớn của Việt Nam sẽ có tác đô ̣ng lớn hơn , cả tích cực và tiêu cực , đến nền kinh tế Việt Nam RCEP mang la ̣i những cơ hô ̣i nhiều hơn cho các ngành xuất khẩu thông qua viê ̣c mở rô ̣ng thi ̣ trường khu vực, đồng thời cũng tạo ra nhiều thách thức hơn cho các ngành sản
Trang 3xuất nô ̣i đi ̣a do viê ̣c mở cửa thi ̣ trường nô ̣i đi ̣a cho các hàng hóa và di ̣ch vu ̣ từ các nước đối tác Viê ̣c hình thành một thị trường thống nhất trong khuôn khổ RCEP cũng sẽ thúc đẩy hơn nữa sự di chuyển của dòng vốn đầu tư cũng như quá trình phân bổ la ̣i sản xuất trong khu vực và trong mỗi nước thành viên Quá trình này mang đến những cơ hội cũng như ẩn chứa những thách thức mới đối với Viê ̣t Nam
Viê ̣c hình thành mô ̣t khu vực thương ma ̣i tự do trong khuôn khổ RCEP vẫn chưa được nghiên cứu
mô ̣t cách thích đáng ở Viê ̣t Nam Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về Cô ̣ng đồng kinh tế ASEAN (AEC) đươ ̣c thực hiê ̣n ở Viê ̣t Nam, hiện vẫn chưa có các nghiên cứu về tác động của quá trình hô ̣i nhâ ̣p trong toàn vùng Đông Á nói chung và RCEP nói riêng t ới Viê ̣t Nam, đặc biệt là các nghiên cứu định lượng Các nghiên cứu ở nước ngoài về hội nhập kinh tế ở Đông Á thường phân tích các tác động của hội nhập và vấn đề chính sách đặt ra cho các nền kinh tế có thu nhập trung bình và cao trong khu vực, nhưng ít đề cập đến các nước kém phát triển hơn, bao gồm cả Việt Nam Trong khi
đó, các nghiên cứu ở trong nước thường ít đưa ra các phân tích định lượng về hội nhập kinh tế khu vực
Nghiên cứu này hướng tới việc trả lời câu hỏi Liệu Việt Nam có lợi từ việc hình thành một khu
vực thương mại rự do cho toàn vùng Đông Á, và đâu là những phí tổn và thách thức mà RCEP đặt ra đối với Việt Nam
2 Mục tiêu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là phân tích tác động của Hiệp định Đối tác kinh tế khu vực toàn diê ̣n RCEP tới Việt Nam
Đề tài nghiên cứu phân tích quá trình tự do hóa thương mại hàng hóa trong khuôn khổ RCEP và tác động của quá trình này tới Việt Nam
Từ mục tiêu này, đề tài hướng đến các nhiệm vụ nghiên cứu chính như sau:
Phân tích quá trình hội nhập khu vực ở Đông Á và sự hình thành Hiệp định đối tác kinh tế khu vực toàn diện (RCEP)
Phân tích các mục tiêu, nội dung và một số vấn đề đàm phán trong hiệp định RCEP
Phân tích sự tăng trưởng, cơ cấu, các đặc điểm và cấu trúc thương mại của Việt Nam với các nước đối tác RCEP
Đánh giá tác động của Hiệp định kinh tế khu vực toàn diện RCEP đến nền kinh tế Việt Nam
sử dụng mô hình cân bằng khả toán toàn cầu (CGE) và mô hình trọng lực
Rút ra một số vấn đề chính sách và khuyến nghị chính sách đối với Việt Nam trong quá trình hội nhập kinh tế khu vực
3 Phương pháp nghiên cứu
Để đánh giá tác động của Hội nhập kinh tế khu vực, đề tài nghiên cứu sử du ̣ng các phương pháp sau đây:
Phương pháp phân tích chỉ số thương mại: sử dụng các chỉ số thương mại như lợi thế so sánh
hiện hữu (RCA), chỉ số tương đồng xuất khẩu, chỉ số bổ sung thương mại hay chỉ số tương quan thứ
Trang 4hạng Spearman để phân tích cấu trúc và đặc điểm của thương mại giữa Việt Nam và các nền kinh tế khu vực
Phân tích sử dụng mô hình cân bằng khả toán: mô hình cân bằng khả toán toàn cầu (Computable
General Equilibrium – CGE) đươ ̣c sử du ̣ng để phân tích tác đô ̣ng tiềm tàng của hô ̣i nhâ ̣p kinh tế trong khuôn khổ RCEP tới Viê ̣t Nam
Phân tích sử du ̣ng mô hình tro ̣ng lực : Mô hình trọng lực được sử dụng để đánh giá tác động của
việc cắt giảm thuế quan tới dòng thương mại hàng hóa giữa Vệt nam và các nền kinh tế khu vực
Cả ba phương pháp này được sử dụng nhằm mục đích đánh giá triển vọng, những lợi ích và phí tổn của quá trình hội nhập kinh tế khu vực trong khuôn khổ RCEP tới Việt Nam Phân tích sử dụng chỉ
số thương mại giúp đánh giá những thay đổi trong cơ cấu và chiều hướng thương mại của Việt Nam với các nền kinh tế khu vực, qua đó làm rõ lợi thế và triển vọng mở rộng thương mại của Việt Nam với các nền kinh tế khu vực trong những năm tới Phân tích sử dụng mô hình cân bằng khả toán giúp đánh giá các tác động tiềm tàng của việc tự do hóa thương mại trong RCEP, cả tác động tích cực và tiêu cực, tới nền kinh tế Việt Nam Cuối cùng, mô hình trọng lực được sử dụng để đánh giá tác động thực tế của quá trình tự do hóa thương mại tới xuất khẩu của Việt Nam Phân tích sử dụng
mô hình trọng lực giúp trả lời câu hỏi liệu ưu đãi thuế quan trên các thị trường khu vực có tác động như thế nào đến xuất khẩu của Việt Nam
Đề tài nghiên cứu sử dụng số liệu từ nhiều nguồng khác nhau như cơ sở dữ liệu thống kê của Tổng cục thống kê, Ngân hàng Thế giới và ngân hàng Phát triển Châu Á Số liệu về thương mại song phương giữa Việt Nam và các nước đối tác được lấy từ cơ sở dữ liệu COMTRADE của Liên Hợp Quốc Chúng tôi cũng sử dụng cơ sở dữ liệu thuế quan TRAINS của UNCTAD để thu thập các số liệu về thuế quan và các hàng rào ưu đãi thuế quan Cơ sở dữ liệu GTAP được sử dụng cho phân
tích cân bằng khả toán
4 Tổng kết kết quả nghiên cứu
4.1 Phân tích thương mại giữa Việt Nam và các nước RCEP sử dụng chỉ số thương mại
Tăng trưởng và cơ cấu thương
Trong hai thập kỷ vừa qua Việt Nam đã phát triển các mối liên hệ thương mại và đầu tư sâu rộng với các nền kinh tế ở khu vực Đông Á Các nền kinh tế Đông Á đã trở thành những thị trường xuất khẩu quan trọng cũng như nguồn cung ứng chủ chốt về máy móc thiết bị và nguyên vật liệu sản xuất cho Việt Nam, Nhiều nền kinh tế ở Đông Á là những nước đầu tư hàng đầu vào Việt Nam Thương mại và đầu tư với các nền kinh tế trong khu vực đã đóng góp quan trọng vào quá trình tăng trưởng và hiện đại hóa nền kinh tế Việt Nam
Xuất khẩu tới các nước RCEP đã tăng 4.4 lần, từ 13.1 tỷ đô-la vào năm 2004 lên 58.1 tỷ đô-la vào năm 2013 Nhập khẩu từ các nền kinh tế RCEP cũng tăng 4.7 lần, từ 20.4 tỷ đô-la lên 95.3 tỷ đô-la trong cùng thời kỳ Tăng trưởng thương mại nhanh đã diễn ra đồng thời với những thay đổi trong cơ cấu và chiều hướng thương mại Thương mại của Việt Nam với Nhật Bản và Singapore, vốn là những đối tác thương mại lớn của Việt Nam trước đây, có chiều hướng giảm sút tương đối trong những năm gần đây Trong khi đó, thương mại song phương có xu hướng gia tăng giữa Việt Nam với Trung Quốc, Hàn Quốc, Ấn Độ và một số nước ASEAN có thu nhập trung bình
Trang 5Mối liên hệ đầu tư giữa Việt Nam và các nước thành viên RCEP cũng phát triển nhanh chóng Sáu trong số mười nước đầu tư lớn nhất ở Việt Nam là các nước thành viên của RCEP, với Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore là ba nước đầu tư lớn nhất Tính lũy tích trong giai đoạn từ năm 1988 đến
2014, các nước RCEP đã đầu tư vào Việt Nam 138.9 tỷ đô-la Mỹ, tương đương với 60% tổng số vốn FDI đã đăng ký
Cũng có những thay đổi rõ rệt trong cơ cấu xuất khẩu đến thị trường RCEP trong những năm vừa qua Trong những năm trước đây, Việt Nam chủ yếu xuất khẩu nông sản, dầu thô và khoáng sản, và các loại nguyên liệu thô tới thị trường khu vực Trong khi đó, các mặt hàng chế tạo sử dụng nhiều lao động như dệt may và da gầy chủ yếu được xuất khẩu ra ngoài khu vực, đặc biệt là tới thị trường
Mỹ và EU Tuy nhiên, xuất khẩu sản phẩm chế tạo tới các nước RCEP có xu hướng gia tăng trong những năm gần đây
Tỷ trọng của nông sản, dầu thô và khoáng sản trong xuất khẩu tới thị trường RCEP đã giảm xuống 32.5% vào năm 2013 từ mức trên 60% vào năm 2004 Xuất khẩu các sản phẩm chế tạo, bao gồm cả các sản phẩm chế tạo sử dụng nhiều lao động như dệt may và da giầy tới thị trường khu vực đã có
sự phát triển đáng kể Vào năm 2013, hơn nửa xuất khẩu của Việt Nam tới thị trường RCEP là các sản phẩm dệt may, da giầy (nhóm sản phẩm HS 50 đến HS 67) và máy móc và thiết bị điện (nhóm
HS 84 và HS 85) Sự dịch chuyển từ nông sản và nhiên liệu tới các sản phẩm chế tạo sử dụng nhiều lao động cũng được quan sát trong các thị trường RCEP quan trọng như ASEAN, Nhật Bản, Hàn Quốc và Trung Quốc
Dựa trên phân loại theo mục đích sử dụng của UNCTAD, có thể thấy xu hướng dịch chuyển rõ rệt trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam từ nhiên liệu và nguyên liệu thô tới hàng tiêu dùng và hàng hóa đầu tư Tỷ trọng xuất khẩu nguyên liệu thô đã sụt giảm mạnh, đồng thời tỷ trọng xuất khẩu hàng tiêu dùng và hàng hóa vốn đã gia tăng nhanh chóng Cũng có sự cải thiện rõ rệt của nhóm nguyên vật liệu sản xuất trong cơ cấu xuất khẩu đến các nước RCEP Sự dịch chuyển cơ cấu xuất khẩu từ nguyên vật liệu thô tới hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa vốn diễn ra trong hầu hết các thị trường RCEP ngay cả ở những thị trường mà Việt Nam thường có khuynh hướng xuất khẩu nhiều
nguyên liệu thô như Trung Quốc
Xét về phía nhập khẩu, các nước thành viên RCEP là nguồn cung cấp chủ yếu nguyên vật liệu và máy móc thiết bị cho Việt Nam Trên 80% nhập khẩu của Việt Nam từ các nước RCEP là máy móc, thiết bị và nguyên vật liệu sản xuất Tỷ trọng nhập khẩu máy móc và nguyên vật liệu sản xuất từ các nước RCEP có xu hướng gia tăng trong những năm vừa qua, trong khi tỷ trọng nhập khẩu hàng tiêu dùng có xu hướng giảm Mức nhập khẩu nguyên vật liệu và hàng hóa đầu tư lớn từ các nước RCEP một phần xuất phát từ dòng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài từ các nướcnày vào Việt Nam Nhập khẩu nông sản có xu hướng tăng nhẹ trong cơ cấu nhập khẩu từ các thị trường RCEP, trong khi nhập khẩu nhiên liệu và năng lượng có xu hướng sụt giảm
Lợi thế so sánh, tính cạnh tranh và bổ sung thương mại
Chúng tôi phân tích tương quan về lợi thế so sánh giữa Việt Nam và các nước RCEP sử dụng các phương pháp khác nhau Phân tích lợi thế so sánh sử dụng phân ngành HS ở mức hai chữ số cho thấy Việt Nam có lợi thế so sánh đối với 32 sản phẩm, bao gồm nông sản, năng lượng, nhiên liệu, các mặt hàng chế tạo sử dụng nhiều lao động như dệt may và da giầy Trong lĩnh vực nông sản, Việt
Trang 6Nam có lợi thế so sánh đối với cà phê và chè, thủy sản, chế biến thịt và thủy sản, ngũ cốc, rau và hoa qủa Cấu trúc lợi thế so sánh của Việt Nam ít có sự trùng lặp với cấu trúc lợi thế so sánh của các nước thu nhập cao trong RCEP nhưng có nhiều sự tương đồng hơn với các nước ASEAN có thu nhập trung bình như Thái Lan, Indonesia, Philippines, hay với Trung Quốc và Ấn Độ
Phân tích chi tiết ở phân ngành HS 6 chữ số cho thấy sự tương đồng lợi thế so sánh giữa Việt Nam với nhiều nước RCEP có xu hướng giảm xuống trong những năm qua, bao gồm các nước ASEAN
và Trung Quốc Ví dụ, số lượng sản phẩm mà Việt Nam và Trung Quốc cùng có lợi thế so sánh đã giảm nhẹ từ 491 vào năm 2004 xuống 483 sản phẩm vào năm 2013 Số lượng sản phẩm có sự trùng lặp về lợi thế so sánh cũng giảm từ 343 xuống 252 giữa năm 2004 và 2013 giữa Việt Nam và Thái Lan, từ 370 xuống còn 298 giữa Việt Nam và Ấn Độ
Hệ số tương quan Spearman cũng cho thấy mức độ tương quan thấp giữa Việt Nam và các nền kinh
tế RCEP có thu nhập cao nhưng mức độ tương quan cao hơn với các nước đang phát triển trong RCEP Kết quả tính toán cho thấy mức tương quan thứ hạng Spearman âm giữa Việt Nam với các nước thu nhập cao trong RCEP như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore hay Australia Điều này hàm ý rằng các nước RCEP có thu nhập cao thường có thứ hạng lợi thế so sánh (RCA) cao trong những sản phẩm mà Việt Nam có thứ hạng RCA thấp Chỉ số tương quan thứ hạng là dương với Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN có thu nhập trung bình, cho thấy sự tương đồng về lợi thế so sánh giữa Việt Nam với các nước này Tuy nhiên, chỉ số tương quan thứ hạng có xu hướng giảm xuống giữa Việt Nam với Trung Quốc, Ấn Độ hay Thái Lan
Phân tích sử dụng chỉ số tương đồng xuất khẩu cho kết quả tương tự Mức độ tương đồng xuất khẩu tương đối thấp giữa Việt Nam với các nước thu nhập cao trong RCEP như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Australia hay New Zealand Tuy vậy, có sự tương đồng xuất khẩu lớn hơn giữa Việt Nam với các nước thu nhập trung bình trong ASEAN, Trung Quốc và Ấn Độ
Phân tích tính bổ sung thương mại cho thấy, mức độ bổ sung cao hơn giữa xuất khẩu của Việt Nam với nhập khẩu của các nước thu nhập cao trong RCEP so với mức độ bổ sung giữa xuất khẩu của Việt Nam với nhập khẩu của Trung Quốc, Ấn Độ và các nước ASEAN Kết quả tính toán cũng cho thấy sự gia tăng tính bổ sung thương mại đối với hầu hết các nước đối tác RCEP Tính bổ sung giữa xuất khẩu của Việt Nam và nhập khẩu của các nước đối tác tăng từ 21.4 lên 26.1 giữa năm 2004 và
2013 đối với Trung Quốc, từ 28 lên 30.9 đối với Thái Lan, 18.5 lên 30.2 đối với Malaysia
4.2 Phân tích tác động của RCEP sử dụng mô hình cân bằng khả toán
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi sử dụng mô hình cân bằng khả toán toàn cầu (Global Computable General Equlibrium Model - CGE) để phân tích tác động của RCEP tới nền kinh tế Việt Nam Mô hình cân bằng khả toán gồm nhiều mô hình nước được liên kết thông qua các mối liên hệ về thương mại và đầu tư quốc tế
Mô hình cân bằng khả toán gồm 21 nước và 18 ngành sản xuất Các nước và vùng gồm có 8 nước ASEAN (Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Lào, Campuchia, Philippines, Thái Lan, Singapore), sáu nước đối tác của ASEAN trong hiệp định RCEP (Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Australia và New Zealand), Liên minh Châu Âu, Mỹ, Canada, Mexico, Chile, Peru và các nước khác Các ngành kinh tế được sử dụng trong phân tích gồm có 04 ngành nông lâm nghiệp (trồng
Trang 7trọt, chăn nuôi, lâm nghiệp và thủy sản), 09 ngành chế tạo (chế biến lương thực – thực phẩm, dệt và may mặc, da giầy, vật liệu phi kim, luyện kim, máy móc và thiết bị điện – điện tử, phương tiện vận tải, hóa chất, và các ngành chế tạo khác), khai khoáng, điện nước, xây dựng, dịch vụ công và các dịch vụ khác
Chúng tôi sử dụng mô hình cân bằng khả toán toàn cầu để phân tích mô phỏng tác động của quá trình tự do hóa thương mại trong khuôn khổ khu vực thương mại tự do ASEAN và Cộng đồng kinh
tế ASEAN (AFTA/AEC), các khu vực thương mại tự do ASEAN+1 giữa các nước thành viên ASEAN với Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ, Australia và New Zealand, và Hiệp định RCEP Với mục đích đánh giá tác động tiềm tàng của các khu vực thương mại tự do, chúng tôi giả thiết là thuế quan đánh vào thương mại giữa các nước thành viên được xóa bỏ hoàn toàn trong tất cả các mô phỏng
Có thể thấy là các khu vực thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia đều có tác động tích cực đến nền kinh tế Việt Nam Trong tất cả các khu vực thương mại tự do, việc cắt giảm thuế quan đều làm tăng xuất khẩu, đầu tư và sản lượng của Việt Nam Tuy nhiên, có sự khác biệt đáng kể về mức độ tác động hay lợi ích tiềm tàng giữa các khu vực thương mại tự do Tự do hóa thương mại trong khuôn khổ các khu vực thương mại tự do ASEAN (AFTA) và các khu vực thương mại tự do ASEAN+1 giữa các nước ASEAN với Ấn Độ (AIFTA) hay với Australia và New Zealand (AANZFTA) chỉ có tác động tương đối nhỏ đến Việt Nam Các khu vực thương mại tự do ASEAN+1 giữa ASEAN với Trung Quốc (ACFTA), Hàn Quốc (AKFTA) và Nhật Bản (AJFTA) có tác động mạnh hơn tới Việt Nam Điều này phản ánh thực tế là cả ba nước Đông Bắc Á đều là
những đối tác thương mại lớn của Việt Nam
Một khu vực thương mại tự do cho toàn vùng mang lại lợi ích lớn hơn nhiều so với từng khu vực thương mại tự do riêng rẽ Lợi ích của RCEP cũng lớn hơn lợi ích có được từ việc tự do hóa thương mại trong từng nước thành viên gộp lại Kết quả mô phỏng cho thấy, tự do hóa thương mại trong RCEP làm tăng GDP của Việt Nam lên gần 3% Xuất khẩu cũng như tiêu dùng tư nhân cũng tăng mạnh hơn so với các khu vực thương mại tự do ASEAN+1, với mức tăng tương ứng là 13.4% và 9.4% so với phương án cơ sở
Lợi ích của quá trình tự do hóa thương mại phụ thuộc đáng kể vào sự di chuyển của dòng vốn đầu
tư giữa các nước Với giả thiết là vốn không di chuyển giữa các ngành sản xuất và giữa các nước, cắt giảm thuế quan trong RCEP chỉ tăng GDP của Việt Nam 1.1% so với giá trị cơ sở Khi vốn di chuyển giữa các ngành sản xuất nhưng không di chuyển giữa các nước, xóa bỏ thuế quan trong RCEP làm tăng GDP của Việt Nam thêm gần 2% so với giá trị cơ sở Tác động của việc xóa bỏ thuế quan tăng cao hơn so với trường hợp vốn không di chuyển giữa các nước và các ngành sản xuất nhưng vẫn thấp hơn đáng kể so với trường hợp vốn di chuyển giữa các ngành sản xuất và giữa
các nước
Việc xóa bỏ thuế quan trong RCEP có tác động mạnh đến quá trình phân bổ nguồn lực trong nền kinh tế Một số ngành sản xuất được hưởng lợi từ việc tự do hóa thuế quan trên các thị trường khu vực, trong khi một số ngành sản xuất khác sẽ bị thu hẹp Trong nông nghiệp, sản xuất mở rộng trong ngành thủy sản và ở mức độ ít hơn trong ngành trồng trọt, nhưng sản lượng giảm trong ngành chăn nuôi và lâm nghiệp Trong các ngành chế tạo, kết quả mô phỏng cho thấy việc xóa bỏ thuế quan có thể tác động tiêu cực đến các ngành các ngành công nghiệp có mức thâm dụng vốn cao như
Trang 8hóa chất, luyện kim hay phương tiện vận tải Ngược lại, các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như may mặc và da giầy được hưởng lợi đáng kể từ việc cắt giảm thuế quan trên các thị trường khu vực với sản lượng tăng trên 50% đến 70% so với giá trị cơ sở
4.3 Phân tích tác động của thuế quan ưu đãi đối với xuất khẩu của Việt Nam
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi phân tích tác động của việc cắt giảm thuế quan thực tế trong các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và các nước thành viên RCEP và ước lượng tác động của việc cắt giảm thuế quan tới 20 nhóm hàng xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam được xác định theo phân ngành HS ở mức độ hai chữ số Thay vì sử dụng các biến giả để đại diện cho các khu vực thương mại tự do, chúng tôi tính mức độ ưu đãi thuế quan và sử dụng mức độ ưu đãi thuế quan để
đo lường mức độ tự do hóa thương mại giữa Việt Nam và các nước RCEP Bên cạnh thuế quan ưu đãi trong các khu vực thương mại tự do, chúng tôi cũng phân tích tác động của ưu đãi thuế trong các chương trình ưu đãi thuế quan phổ quát (GSP) Biến ưu đãi thuế quan được xác định là chênh lệch giữa bình quân quyền số của thuế quan tối huệ quốc (MFN) và thuế quan ưu đãi trong các hiệp định thương mại tự do (FTA) hay thuế quan ưu đãi phổ quát (GSP)
Các mô hình trọng lực thường được tuyến tính hóa và ước tính sử dụng phương pháp bình quân tối thiểu (OLS) Tuy nhiên, việc ước tính phương trình trọng lực dưới dạng logarith sử dụng OLS có thể dẫn tới các ước tính sai lệch nếu phương sai của sai số hồi quy trong phương trình gốc là không đồng nhất Ước tính sử dụng dạng tuyến tính hóa cũng tạo ra vấn đề khi có các số liệu thương mại bằng 0 và dẫn đến vấn đề lựa chọn sai lệch Phương pháp ước tính PPML (Poisson pseudo-maximum likelihood) là một phương pháp hữu hiệu để giải quyết vấn đề đặt ra do phương sai không đồng nhất và các dòng thương mại bằng 0 Phương pháp PPML cũng được chứng tỏ thông qua các mô phỏng Monte-Carlo là nhất quán ngay cả trong trường hợp có nhiều dòng thương mại bằng 0 và số liệu thương mại phân tán
Để khắc phục vấn đề phương sai không đồng nhất, chúng tôi cũng ước tính phương trình trọng lực
sử dụng phương pháp PPML Vấn đề thương mại bằng 0 không được đề cập đến trong phân tích của chúng tôi vì khi thương mại bằng 0, bình quân quyền số của ưu đãi thuế quan cũng bằng 0 và không giải thích dòng thương mại song phương Sử dụng phương pháp PPML, chúng tôi ước tính phương trình trọng lực dưới đây:
Ở đây là khối lượng nhập khẩu của nước đối tác i từ Việt Nam vào năm t
và tương ứng là GDP thực của Việt Nam và nước đối tác i vào năm t;
và tương ứng là dân số của Việt Nam và nước đối tác i vào năm t;
là mức độ ưu đãi thuế quan trong các hiệp định thương mại tự do áp dụng đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam vào nước đối tác i;
là mức độ ưu đãi thuế quan trong các chương trình ưu đãi thuế quan phổ quát mà nước đối tác i áp dụng đối với hàng nhập khẩu từ Việt Nam;
Trang 9và tương ứng là các biến giả (dummy variables) được xác định theo năm và các nước đối tác thương mại;
GDP và dân số là các biến thường được sử dụng trong các phương trình trọng lực GDP của nước xuất khẩu thể hiện năng lực sản xuất của nước xuất khẩu và GDP của nước nhập khẩu thể hiện nhu cầu hay chi tiêu trong nước nhập khẩu Cả hai biến số này đều có tác động tích cực đến thương mại Khác với GDP, biến dân số có thể tương quan âm hay dương với xuất khẩu Trong khi ước tính phương trình trọng lực, chúng tôi sử dụng các các biến giả cho nước và thời gian Các biến giả thời gian được sử dụng để đại diện cho những biến động theo thời gian ảnh hưởng đến xuất khẩu của Việt Nam Trong khi đó, việc sử dụng các biến giả cho nước để tính tới các đặc điểm không quan sát được của các nước đối tác thương mại có thể ảnh hưởng đến thương mại giữa Việt Nam và các nước này
Mô hình trọng lực của Việt Nam bao gồm 54 nước đối tác thương mại chủ chốt của Việt Nam Các
nước đối tác này chiếm trên 90% kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào năm 2013 Số liệu về GDP, dân số các chỉ số giá được thu thập từ cơ sở dữ liệu của Ngân hàng thế giới.Thuế quan ưu đãi
và thuế MFN được thu thập từ cơ sở dữ liệu Trade Analysis Information System (TRAINS) của UNCTAD Chúng tôi thu thập số liệu về thuế quan ưu đãi trong các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và các nước RCEP và thuế quan ưu đãi trong các chương trình ưu đãi thuế quan phổ quát (GSP) Thuế quan ưu đãi trong các hiệp định thương mại tự do giữa Việt Nam và các nước RCEP gồm có thuế quan ưu đãi trong trong khu vực thương mại tự do ASEAN, thuế quan ưu đãi trong các khu vực thương mại tự do ASEAN+1, và thuế quan ưu đãi trong hiệp định thương mại tự
do giữa Việt Nam và Nhật Bản
Kết quả ước tính cho thấy tác động thuế quan ưu đãi thay đổi đáng kể giữa các nhóm sản phẩm và dạng ưu đãi thuế quan Ưu đãi thuế quan phổ quát thường có tác động tích cực đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam, trong khi đó lại thường tương quan âm với các sản phẩm chế tạo Cụ thể hơn, thuế quan ưu đãi chung GSP có tác động tích cực đối với thủy hải sản (HS 03), chè và cà phê (HS 09), ngũ cốc (HS 10) và thịt và cá chế biến (HS 16) Thuế ưu đãi GSP cũng có tác động tích cực đối với một vài sản phẩm chế tạo những không có ý nghĩa thống kê
Khác với thuế quan ưu đãi GSP, thuế quan ưu đãi trong các hiệp định thương mại tự do có tác động mạnh hơn tới xuất khẩu các sản phẩm chế tạo đến thị trường RCEP Thuế quan ưu đãi trong các khu vực thương mại tự do tương quan dương với xuất khẩu đối với 9 nhóm sản phẩm trong tổng số 20 nhóm sản phẩm được xem xét Thuế quan ưu đãi trong các khu vực thương mại tự do cho thấy tác động tích cực đối với xuất khẩu nhiều sản phẩm chế tạo bao gồm may mặc (HS 61 và HS 62), da giầy (HS 64), nhựa và các sản phẩm nhựa (HS 39), da (HS 42), gỗ (HS 44), thép (HS 73), và phương tiện vận tải (HS 87) Tác động lớn nhất của ưu đãi thuế quan trong các khu vực thương mại
tự do là với sản phẩm may mặc (HS61)
Thuế quan ưu đãi trong các khu vực thương mại tự do không cho thấy tác động tích cực đối với xuất khẩu nông sản của Việt Nam Biến số này có hệ số âm đối với các nhóm hàng nông sản Tác động hạn chế của ưu đãi thuế quan đối với nhóm hàng nông sản phản ánh tính cạnh tranh thấp của hàng nông sản Việt Nam Năng lực sản xuất hạn chế của ngành nông nghiệp Việt Nam vốn vẫn dựa vào sản xuất nhỏ và phương thức sản xuất truyền thống là một trở ngại đối với việc hiện thực hóa
những lợi ích tiềm tàng của hội nhập kinh tế khu vực
Trang 105 Đánh giá về các kết quả đã đạt được và kết luận
Trong đề tài nghiên cứu này, chúng tôi đã phân tích tăng trưởng thương mại và những thay đổi trong cơ cấu thương mại của Việt Nam với các nước thành viên RCEP sau một thập kỷ hội nhập sâu rộng với nền kinh tế khu vực Chúng tôi cũng đã sử dụng các phương pháp phân tích định lượng, cụ thể là mô hình cân bằng khả toán và mô hình trọng lực để dánh giá tác động của việc tự do hóa thương mại trong các nước thành viên RCEP đến Việt Nam Những kết quả phân tích chính được tóm tắt lại dưới đây
Thương mại của Việt Nam với các nền kinh tế khu vực đã được tăng cường đáng kể trong những năm vừa qua, đặc biệt là thương mại nông sản và các sản phẩm chế tạo Tăng trưởng nhanh của xuất khẩu tới thị trường khu vực đã đi kèm với những thay đổi nhanh chóng trong cơ cấu và chiều hướng thương mại Xuất khẩu tới thị trường khu vực đang dịch chuyển từ các đối tác truyền thống như Nhật Bản hay Singapore tới Hàn Quốc, Trung Quốc và các nước thu nhập trung bình trong ASEAN Cũng có sự dịch chuyển rõ rệt trong cơ cấu xuất khẩu của Việt Nam từ nhiên liệu và nguyên liệu thô tới các sản phẩm chế tạo Thị trường RCEP đang trở nên ngày càng quan trọng đối với các sản phẩm chế tạo xuất khẩu của Việt Nam, bao gồm cả dệt may và điện tử
Việt Nam tiếp tục duy trì lợi thế so sánh trong nhiều mặt hàng nông sản, may mặc, giầy dép, và các sản phẩm điện tử gia dụng Mặc dù có sự trùng lặp nhất định trong cấu trúc lợi thế so sánh giữa Việt Nam với các nước thành viên đang phát triển trong RCEP, sự trùng lặp về lợi thế so sánh có xu hướng giảm xuống trong những năm gần đây Bên cạnh đó tính bổ sung thương mại có xu hướng gia tăng giữa Việt Nam với nhiều nước thành viên RCEP, bao gồm cả Trung Quốc và các nước thu nhập trung bình trong ASEAN Tính bổ sung cao hơn và mức độ cạnh tranh ít hơn mang lại triển vọng mở rộng thương mại lớn hơn khi thuế quan và các hàng rào phi thuế quan bị dỡ bỏ
Tự do hóa thương mại trong RCEP có thể mang lại những lợi ích đáng kể cho Việt Nam, được thể hiện thông qua sự gia tăng trong GDP, tiêu dùng tư nhân, đầu tư và xuất khẩu Những lợi ích mà RCEP mang lại là lớn hơn so với các khu vực thương mại tự do ASEAN+1 hiện có RCEP cũng có tác động thúc đẩy xuất khẩu và mở rộng sản xuất trong các ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động của Việt Nam Phân tích mô phỏng sử dụng mô hình cân bằng khả toán toàn cầu cũng chỉ ra rằng việc tạo lập một môi trường đầu tư thuận lợi có vài trò quan trọng trong việc hiện thực hóa các lợi ích tiềm tàng của RCEP
Phân tích sử dụng mô hình trọng lực cũng cho thấy tác động tích cực của tự do hóa thương mại trong các thị trường RCEP tới xuất khẩu các sản phẩm sử dụng nhiều lao động của Việt Nam Tuy nhiên, kết quả tính toán không cho thấy tác động tích cực của các ưu đãi thuế quan trong các Hiệp định thương mại tự do tới xuất khẩu nông sản của Việt Nam Nói cách khác, kết quả nghiên cứu cho thấy ngành nông nghiệp Việt Nam chưa tận dụng tốt những cơ hội mở ra trên thị trường khu vực khi thuế quan bị bãi bỏ Tính cạnh tranh thấp của sản xuất nông nghiệp, vốn dựa nhiều vào sản xuất quy mô nhỏ sử dụng phương pháp sản xuất truyền thống, có thể là một trở ngại đối với ngành sản xuất này trong việc hiện thực hóa những lợi ích tiềm tàng của tự do hóa thương mại
Cùng với quá trình tự do hóa thương mại và hội nhập kinh tế khu vực, Việt Nam cần có những chính sách thích hợp để đẩy mạnh việc thu hút đầu tư Cần thiết cải thiện hơn nữa môi trường đầu
tư cũng như duy trì một môi trường kinh tế vĩ mô ổn định Cũng cần có các chính sách thúc đẩy sự