1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet

107 474 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet
Tác giả Hoàng Thanh Vân
Người hướng dẫn Thạc sĩ Lý Anh Tuấn, Thạc sĩ Bùi Đình Tiền
Trường học Trường Đại Học Dân Lập Kỹ Thuật Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Khoa Công Nghệ Thông Tin
Thể loại Luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2023
Thành phố Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 107
Dung lượng 1,01 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương trình ứng dụng đòi hỏi sự tương tác từ nhiều phía người dùng, chia sẻ tài nguyên, triệu gọi từ xa, liên kết giao tác, phân tán dữ liệu … Với những yêu cầu trên mô hình khách/ chủ

Trang 1

Kính gởi các Thầy, các Cô và văn phòng Khoa Khoa Công Nghệ Thông Tin

Trường Đại Học Dân Lập Kỹ Thuật Công Nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh Nhờ có

sự đào tạo, giảng dạy, hướng dẫn nhiệt tình của các Thầy Cô cùng với việc sắp

xếp giờ giấc học tập hợp lý cùng với máy móc thiết bị thực hành hiện đại đã giúp

em có điều kiện thực hành thực tế, làm hành trang cho em bước vào thời đại phát

triển văn minh của ngày nay

Em xin chân thành cảm ơn tất cả các thầy cô trong trường cũng như các thầy cô

của Khoa Công Nghệ Thông Tin đã hết lòng, tận tụy dạy dỗ em trong suốt năm

năm học vừa qua Đặc biệt cảm ơn hai thầy là Thạc sĩ Lý Anh Tuấn và Thạc sĩ

Bùi Đình Tiền đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ em hoàn thành tốt luận văn tốt

nghiệp này

Hoàng Thanh Vân

Trang 2

- Con người đã tiến hành hoạt động thương mại cả ngàn đời nay Song đến cuối thế kỷ XX, con người mới có thể biến những lộ trình giao thương toàn cầu ấy thành

“ảo” và thương mại được trên “không gian điều khiển” Đó là những thành tựu kỳ

vĩ của công nghệ thông tin ngày nay

- Ngày nay với sự phát triển nhanh chóng của Internet, cùng với nó là các hình thức kinh doanh, thương mại điện tử ngày càng tăng cao Từ mục đích phục vụ nghiên cứu đã mở rộng ra cho lĩnh vực toàn cầu về thương mại, việc mua bán trực tuyến trên mạng đã và đang trở nên sôi động trên phạm vi cả thế giới

- Các nhà khoa học có thể sử dụng Internet để tìm kiếm tài liệu và thảo luận với nhau Học sinh, sinh viên có thể tìm kiếm các tài liệu, phần mềm phục vụ cho việc học tập, giải trí Các nhà kinh doanh sử dụng Internet như một phương tiện để quảng cáo, giao dịch thương mại Những người bình thường có thể sử dụng Internet để xem tin tức, giải trí và mua sắm …

- Để nhằm tìm hiểu mô hình hoạt động cũng như quá trình xây dựng một ứng

dụng có tính chất thương mại trực tuyến, em xin giới thiệu đề tài “Xây dựng hệ

bán hàng trên mạng Internet” là đề tài nghiên cứu cho luận văn tốt nghiệp này

- Với lượng thời gian hạn chế, việc tìm hiểu và xây dựng một ứng dụng trên công nghệ Java (một công nghệ hoàn toàn mới) đối với em rất khó khăn Do đó, ứng dụng này chỉ dừng ở mức minh họa, khó có thể áp dụng vào thực tếá Dù vậy, ứng dụng cũng đã triển khai được phần lớn các yêu cầu chính mà một ứng dụng thương mại điện tử cần đáp ứng

- Em hy vọng rằng sẽ học hỏi được nhiều kinh nghiệm hơn sau đề tài này Đồng thời, có được nhiều ý kiến nhận xét quý báu của quý thầy cô và các anh chị đi trước

Trang 3

Giáo viên hướng dẫn (Ký tên)

Họ tên :

Trang 4

NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN

Giáo viên phản biện (Ký tên)

Họ tên :

Trang 5

MỤC LỤC

CHƯƠNG I : MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI

I MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI trang 1

II YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI trang 1

CHƯƠNG II : KHẢO SÁT VÀ LỰA CHỌN GIẢI PHÁP

I TỔNG QUAN trang 2

II MÔ HÌNH GIỮA CÁC MÁY trang 2

1 KHẢO SÁT MÔ HÌNH trang 2

1.1 MÔ HÌNH KHÁCH / CHỦ trang 2

1.2 - MÔ HÌNH 2 LỚP : trang 4

1.3 - MÔ HÌNH 3 LỚP trang 6

2 LỰA CHỌN MÔ HÌNH trang 6

III- CÁC CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ CHO MÔ HÌNH trang 7

1- KHẢO SÁT CÔNG NGHEÄ trang 7

1.1- Lớp 1 (Client tier) trang 7

1.2- Lớp 2 (Server tier) trang 7

1.3- Lớp 3 (Data tier) trang 8

2.1- Giao thức http (Hypertext Transfer Protocol) trang 9

2.2- CGI (Common Gateway Interface) trang 9

2.3- JavaScript trang 11 2.4- ASP (ActiveX Server Pages) trang 11 2.5- COM (Component Object Model) trang 14 2.6- Enterprice Java trang 16 3- SO SÁNH CÔNG NGHỆ trang 17

4 LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ VÀ PHẦN MỀM trang 18 IV- KHẢO SÁT CHI TIẾT VỀ CÔNG NGHỆ trang 21

1- HTML , DHTML trang 21 2- JAVA SERVLET trang 21 3- JSP trang 23

4- So sánh giữa JSP và Servlet trang 24 5- JAVABEANS trang 28

6- EJB trang 30 6.1-Mô hình Enterprise JavaBean trang 30 6.2-Tìm hiểu đối tượng EJB trang 32 6.3- Xây dựng đối tượng EJB trang 34 6.4- Tìm hiểu cách xây dựng EJB của trình đóng gói trang 36

Trang 6

7- So sánh JavaBeans và BEAN trang 40 8- JDBC trang 40

CHƯƠNG III : GIẢI PHÁP LỰA CHỌN

I MÔ HÌNH trang 44

II CÔNG NGHỆ trang 45 III KIẾN TRÚC HỆ THỐNG trang 45 CHƯƠNG IV : ĐẶC TẢ TÍNH NĂNG PHẦN MỀM

I CHỨC NĂNG CỦA QUẢN TRỊ trang 47

II CHỨC NĂNG CỦA KHÁCH HÀNG trang 47

CHƯƠNG V : THIẾT KẾ CƠ SỞ DỮ LIỆU

I GIỚI THIỆU VỀ CƠ SỞ DỮ LIỆU trang 48

1 Dữ liệu được lưu trữ như thế nào trang 48

2 Tập tin cơ sở dữ liệu trang 48

II GIỚI THIỆU VÀ KHÁI NIỆM trang 50

1 Giới thiệu trang 50

2 Khái niệm trang 50 III LƯỢC ĐỒ LỚP trang 50

1 Các đối tượng của thế giới thực trang 50

2 Lược đồ lớp trang 50

IV LƯỢC ĐỒ LOGIC trang 51

1 Phân tích yêu cầu thực tế trang 52

2 Lược đồ logic trang 54

CHƯƠNG VI : THIẾT KẾ XỬ LÝ

I GIỚI THIỆU trang 60

II THIẾT KẾ XỬ LÝ TOÀN CỤC trang 60

1 Các xử lý toàn cục trang 60

2 Xử lý kiểm tra sự đăng nhập của khách hàng thành viên trang 60

3 Xử lý quản trị đăng nhập vào hệ thống trang 61

III THIẾT KẾ XỬ LÝ CHO ĐỐI TƯỢNG KHÁCH HÀNG trang 61

1 Phân tích hành động: trang 61

2 Thiết kế xử lý: trang 61

3 Tổng kết xử lý : trang 64

IV THIẾT KẾ XỬ LÝ CHO ĐỐI TƯỢNG QUẢN TRỊ trang 65

1 Phân tích các hành động trang 65

2 Thiết kế xử lý trang 65

3 Tổng kết xử lý trang 71

CHƯƠNG VII : TRIỂN KHAI CÀI ĐẶT

I DATABASE TIER trang 73

Trang 7

2 Màn hình hiển thị các xử lý trên: trang 82

CHƯƠNG VIII : HẠN CHẾ – HƯỚNG CẢI TIẾN

I HẠN CHẾ trang 97

II HƯỚNG CẢI TIẾN trang 97 TÀI LIỆU THAM KHẢO trang 98

Trang 8

CHƯƠNG I : MỤC ĐÍCH VÀ YÊU CẦU CỦA ĐỀ

TÀII- MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI :

Bài toán “Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet” là thể hiện

những mục đích sau để phục vụ cho xã hội trong tương lai gần đây:

thoải mái chọn lựa các mặt hàng mình thích, các thông tin mình cần ngay tại chỗ

các dịch vụ của mình trên các WEBSITE Điều này sẽ giúp tăng doanh thu, tăng khách hàng và đặc biệt là dễ dàng tìm các đối tác kinh doanh

tiếng ồn, ô nhiễm môi trường…mọi người có thể vừa làm việc vừa mua sắm mà không phải đi đâu cả, điều này phục vụ cho mọi người có thể làm và nghiên cứu đạt kết quả tốt hơn

II YÊU CẦU CỦA ĐỀ TÀI :

Bài toán đòi hỏi hệ thống phải có những khả năng về kỹ thuật như sau:

- Số lượng người truy xuất: không giới hạn

- Số lượng sản phẩm: không giới hạn

Như vậy, trước những yêu cầu của bài toán đặt ra như trên, ta cần khảo sát công nghệ và lựa chọn giải pháp thích hợp để có thể triển khai ứng dụng theo yêu cầu của bài toán

Trang 9

CHƯƠNG II : KHẢO SÁT VÀ LỰA CHỌN GIẢI

PHÁP

I- TỔNG QUAN :

“Xây dựng hệ bán hàng trên mạng” là một chương trình ứng dụng mạng Để xây dựng được hệ thống cần phải nghiên cứu, khảo sát các công nghệ lập trình mạng, từ đó có một lựa chọn giải pháp tốt nhất thoả mãn các yêu cầu của đề tài

Lập trình mạng thường liên quan đến một máy chủ và một hay nhiều máy khách Máy khách gởi yêu cầu đến máy chủ và máy chủ hồi đáp yêu cầu Máy khách bắt đầu bằng cách cố thiết lập nối kết với máy chủ Máy chủ có thể chấp nhận hay từ chối nối kết Máy chủ phải đang chạy khi máy khách khởi động Máy chủ chờ nối kết từ máy khách Có các câu lệnh cần để tạo máy chủ và máy khách cũng như để chúng trao dữ liệu với nhau Các máy giao tiếp với nhau là dựa theo quy ước hay giao thức cốt lõi TCP/IP (Trasmission Control Protocol / Internet Protocol)

II- MÔ HÌNH GIỮA CÁC MÁY :

1- KHẢO SÁT MÔ HÌNH :

1.1- Mô hình khách / chủ :

- Lập trình mạng ngày càng trở nên phức tạp Mô hình lập trình đơn lẻ truyền thống đã bị thay đổi rất nhiều Ngày nay, bạn không còn đơn thuần ngồi viết những ứng dụng để chạy trên một máy duy nhất Chương trình ứng dụng đòi hỏi sự tương tác từ nhiều phía người dùng, chia sẻ tài nguyên, triệu gọi từ xa, liên kết giao tác, phân tán dữ liệu … Với những yêu cầu trên mô hình khách/ chủ đã ra đời và tồn đến ngày nay

- Theo mô hình khách / chủ tất cả các thao tác xử lý phức tạp đều được chuyển giao cho máy chủ xử lý Máy khách chỉ đóng vai trò gửi yêu cầu và hiển thị dữ liệu Điển hình của mô hình này là các ứng dụng cơ sở dữ liệu Máy khách là trình ứng dụng có khả năng kết nối và truy vấn dữ liệu từ một máy chủ ở xa

- Mô hình máy khách /máy chủ ngày càng bị quá tải bởi độ phức tạp và nhu cầu của người dùng Nếu quản lý và phân phối ứng dụng đến 100 máy khách nằm ở nhiều quốc gia khác nhau, điều này gây trở ngại về mặt địa lý Việc cài đặt trình điều khiển kết nối cơ sở dữ liệu MS SQL Server lên từng máy là mất nhiều công sức, đó là chưa

Trang 10

kể khi muốn chuyển hệ cơ sở dữ liệu MS SQL Server sang hệ Oracle và thay cấu hình và kết nối với từng hệ cơ sở dữ liệu xem ra thật khó khăn Hay khi bạn muốn thay đổi mã nguồn của ứng dụng khách Nếu ứng dụng khách là bao gồm nhiều tập tin thực thi exe và các thư viện liên kết động (dll ) lên đến hàng chục MB, thì bạn phải gửi bản cập nhật hàng chục MB này đến 100 máy khách yêu cầu cập nhật lại chương trình Mô hình phát triển ứng dụng đa tầng sẽ giúp giải quyết điều này Các ứng dụng xử lý của bạn không cài đặt trên máy khách nữa mà cài đặt trên ở một máy chủ khác Nhờ vậy mà máy khách trở nên gọn nhẹ, dễ cấu hình, dễ thay đổi phía máy chủ Nếu muốn thay đổi mã nguồn của trình ứng dụng, bạn chỉ cần thay đổi trên một máy chủ

- Có thể nói mô hình máy khách/máy chủ là mô hình có ảnh hưởng nhất đến công nghệ thông tin

Thật vậy, mô hình khách/chủ đã giúp phát triển một phương thức phát triển ứng dụng mới là việc phân chia ứng dụng thành nhiều lớp thực hiện những chức năng chuyên biệt Một ứng dụng thông thường được chia làm 3 tầng :

dùng với ứng dụng, cung cấp những chức năng của ứng dụng cho người dùng và nhận những lệnh từ người dùng cho ứng dụng Lớp này được thiết kế sao cho càng thân thiện với người dùng càng tốt

một chương trình, cung cấp tất cả những chức năng có thể có của chương trình cho lớp giao diện bên trên

của ứng dụng, cung cấp khả năng truy xuất đến Cơ Sở Dữ Liệu cho lớp chức năng nếu cần

- Việc phân chia ứng dụng thành nhiều lớp còn giúp cho ứng dụng trở nên dễ dàng thay đổi, cập nhật và đáng tin cậy hơn

tập tin (do các tổ chức có nhu cầu chia xẻ thông tin giữa các bộ phận trong tổ chức được dễ dàng và nhanh chóng hơn) Trong ứng dụng này, thông tin được chứa trong các tập tin và được đặt tại một máy chủ của một phòng ban Khi một phòng ban khác có nhu cầu trao đổi thông tin với phòng ban này thì sẽ sử dụng một máy khách kết nối với máy chủ và tải những thông tin cần thiết về

lớp (2 – tier), mô hình 3 lớp ( 3-tier) hay còn gọi là mô hình nhiều lớp (n-tier)

Trang 11

1.2 – Mô hình 2 lớp :

- Mô hình 2 lớp là một sự phát triển từ ứng dụng chia xẻ tập tin ở trên Trong ứng dụng chia xẻ tập tin, ta thay thế tập tin của máy chủ bằng một hệ thống quản trị Cơ Sở Dữ Liệu (DBMS) Khi máy khách cần thông tin từ Cơ Sở Dữ Liệu, nó sẽ yêu cầu DBMS thông qua mạng máy tính giữa các phòng ban DBMS xử lý yêu cầu và sau đó trả về cho máy khách những thông tin yêu cầu

- Ưu điểm của mô hình hai mức so với ứng dụng chia xẻ tập tin là làm giảm bớt được lưu thông trên mạng Ở ứng dụng chia xẻ tập tin, đơn vị truyền nhận giữa máy khách và máy chủ là 1 tập tin, do đó khi máy khách yêu cầu thông tin từ máy chủ thì máy chủ sẽ trả về cho máy khách toàn bộ một tập tin có chứa thông tin đó Trong khi ở mô hình hai mức thì máy chủ có thể trả về cho máy khách đúng những gì mà máy khách yêu cầu với đơn vị truyền nhận có thể tính bằng byte Ngoài ra, hiện nay các DBMS còn cung cấp nhiều khả năng khác như hỗ trợ giao dịch, cho phép nhiều người dùng cùng thao tác trên Cơ Sở Dữ Liệu cùng lúc mà vẫn đảm bảo được tính toàn vẹn của dữ liệu Mô hình 2 lớp được chia làm 2 loại:

tầng là giao diện và chức năng, còn máy chủ chỉ làm nhiệm vụ của tầng Cơ Sở Dữ Liệu

Ưu điểm của mô hình loại này là đơn giản, thích hợp cho các ứng dụng nhỏ và vừa Tuy nhiên nó cũng có một số nhược điểm:

Database ServerDBMS

z data access logic

z presentation logic

z business logic

Trang 12

• Do phần tính toán nghiêng về phía máy khách nhiều nên đòi hỏi máy khách phải có cấu hình đủ mạnh

phía máy khách nên khi chương trình cần nâng cấp thì sẽ rất khó khăn vì phải cập nhật lại chương trình nằm ở toàn bộ các máy khách

mạng giữa máy khách và máy chủ nên tốc độ của chương trình sẽ chậm đi

™ Tính toán tập trung ở máy chủ (fat server – thin client) : ở loại này, máy khách chỉ đảm nhiệm phần giao diện còn máy chủ thực hiện chức năng của tầng chức năng và tầng Cơ Sở Dữ Liệu

Ngược lại với loại fat client – thin server thì loại này có ưu điểm là giảm sự lưu thông trên mạng và tốc độ nhanh hơn do lớp chức năng

đó mọi thao tác với CSDL của chương trình đều được thực hiện ngay trên máy chủ và thông tin lưu thông trên mạng chỉ là những kết quả được trả về cho người dùng sau khi được tính toán Mặt khác, do phần lõi của chương trình được đặt tập trung tại máy chủ nên việc cập nhật chương trình sẽ dễ dàng hơn Tuy nhiên, do công việc được tập trung

Database Server DBMS

Stored Procedure

z business logic

z data access logic

z presentation logic

Trang 13

quá nhiều tại máy chủ nên đòi hỏi cấu hình máy chủ phải đủ mạnh, đặc biệt là khi có nhiều máy khách cùng truy xuất tới máy chủ cùng lúc

1.3 - Mô hình 3 lớp :

- Trong mô hình 3 lớp, tầng chức năng của chương trình được tách

ra thành một lớp tạo thành 3 lớp riêng biệt Việc tách lớp này làm cho các phần của chương trình độc lập hơn, đáng tin cậy hơn, chương trình trở nên linh động hơn trong việc thay thế, nâng cấp và do đó mô hình này rất thích hợp với những ứng dụng có yêu cầu thay đổi thường xuyên như ứng dụng Web

2 LỰA CHỌN MÔ HÌNH:

“Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet” sẽ được trình bày theo mô hình 3 lớp Mô hình 3 lớp thuận tiện cho việc thiết kế, làm cho hệ thống hoạt động dễ dàng và dễ thay đổi, nâng cấp theo yêu cầu đề tài Mô hình 3 lớp thường được dùng phổ biến trong các chương trình ứng dụng mạng

Database Server DBMS

Trang 14

• Việc gửi yêu cầu và thể hiện dữ liệu là do phải trình bày giao diện sao cho dễ dàng cho người dùng là lớp 1, thường gọi là Client tier

Application Server tier

• Dữ liệu được lưu trữ ở lớp 3 , gọi là Data Server tier

Ở mỗi lớp có các công nghệ kỹ thuật tương ứng để thiết kế giao diện cũng như thực hiện các chức năng chuyên biệt

III- CÁC CÔNG NGHỆ HỖ TRỢ CHO MÔ HÌNH

1- KHẢO SÁT CÔNG NGHE Ä :

1.1- Lớp 1 (Client tier) :

- Ở máy khách có cài đặt trình duyệt Web ( Web browser ) dùng để truy tìm và đọc các trang Web trên mạng Địa chỉ trang Web sẽ được các trình duyệt gửi đến máy chủ và máy chủ sẽ gửi trả về nội dung trang Web bao gồm các dữ liệu như văn bản, hình ảnh , âm thanh … Trình duyệt sẽ chịu trách nhiệm trình bày kết quả trang Web

ra màn hình với những dữ liệu nhận được này Các trình duyệt thường được sử dụng hiện nay là : Internet Explorer của Microsoft , Netscape Navigator của Netscape Communication Một máy có thể sử dụng cả hai hay nhiều trình duyệt để gửi và nhận dữ liệu

- Trên Client có thể sử dụng các công nghệ như :

Trang 15

• Java Web Server

Trang Web động : Các công nghệ trên chỉ là giúp tạo một trang Web thể hiện được giao diện để nhập dữ liệu và thể hiện kết quả trả về theo giao thức HTTP Còn thực chất việc nhận dữ liệu gửi đi và nhận dữ liệu về là có sự trợ giúp của :

1.3 - Lớp 3 (Data tier) :

Lớp này có thể sử dụng các hệ quản trị cơ sở dữ liệu như :

2- TÓM TẮT SƠ LƯỢC MỘT SỐ CÔNG NGHỆ :

2.1- Giao thức http (Hypertext Transfer Protocol) :

- Thông qua mạng, trình duyệt và máy chủ Web Server sẽ kết nối với nhau và giao tiếp thông qua giao thức HTTP Đây là giao thức phi trạng thái, nó cho phép trình duyệt phía máy khác (client) gửi một yêu cầu ở dạng văn bản (thuần text) lên phía trình chủ (Web Server) Trình chủ nhận được lên sẽ gửi trả về tài liệu tương ứng Tập lệnh của giao thức rất đơn giản, chúng chỉ chứa một số lệnh như sau :

server

DELETE Yêu cầu xoá trang ( ít sử dụng )

Trang 16

- Thường trong giao tiếp giữa trình khách và trình chủ Web Server, chúng ta chỉ dùng GET để lấy kết quả trả về từ trình chủ và POST để đưa dữ liệu từ trình khách lên trình chủ xử lý

- Giao thức HTTP không lưu vết trạng thái trong giao dịch giữa trình khách và trình chủ Mỗi lần trình khách gửi yêu cầu và được trình chủ trả lời thì kết nối chấm dứt Vì lý do này giao thức HTTP còn gọi là giao thức phi trạng thái (stateless protocol )

2.2- CGI (Common Gateway Interface) :

cầu về trang HTML tĩnh của trình duyệt thông qua giao thức HTTP Tuy nhiên các trang Web tĩnh chỉ có khả năng hiển thị thông tin đã được nhập sẵn, Web Server không có khả năng thêm bớt nội dung tài liệu một cách tự động Để có một hệ thống xử lý linh hoạt hơn, mô hình CGI đã ra đời

khách, trình chủ có thể thực thi một chương trình và chương trình này sẽ tự động sản sinh ra nội dung tập tin trả về cho trình khách Như vậy lúc này tập tin trả về cho trình khách sẽ không tồn tại trên đĩa cứng của trình chủ, nó được tạo ra từ một chương trình Chương trình này thường được gọi là CGI Một chương trình CGI của trình chủ có thể sản sinh ra hàng ngàn trang Web theo yêu cầu của trình khách Thật ra chương trình CGI đơn thuần là một chương trình exe (trên Windows hoặc chương trình được thực thi (trên Unix) bình thường

như : C, Pascal, Visual Basic … Ích lợi của chương trình CGI là tạo được những trang Web tuỳ biến

- Chương trình CGI được viết sao cho có thể tính toán, kết nối truy vấn cơ sở dữ liệu, lưu các thông tin do trình khách chuyển đến Do đó nội dung dữ liệu do trình CGI trả về cho máy khách sẽ phong phú và

đa dạng hơn

Trang 17

Sơ đồ minh hoạ cơ chế làm việc của CGI :

server

(4) Truy xuất và xử lý dữ liệu

Như vậy so với việc tìm nội dung trang Web trên máy chủ rồi trả về cho trình duyệt thì cơ chế làm việc của chương trình CGI tỏ ra rất hiệu quả trong các ứng dụng truy xuất Web trên Internet

- Tuy ngày nay có nhiều công nghệ cao hơn hỗ trợ cho trình chủ Web Server nhưng CGI vẫn còn được dùng rộng rãi trên các trình Web Server chạy trên máy chủ Unix và Linux

- CGI có nhược điểm là tiêu tốn tài nguyên và bị giới hạn về tốc độ thực thi Nghĩa là mỗi khi có yêu cầu gửi đến từ máy khách thì trình chủ Web Server lại phải triệu gọi ứng dụng CGI các bước :

Đĩa cứng chứa trang Web.html

(4)

(3) (5) (2)

(6) (1)

Trang 18

- Do CGI bị giải phóng khỏi bộ nhớ lúc thực hiện xong công việc nên việc lưu trạng thái trong kết nối giữa trình khách và trình chủ của ứng dụng Web khó mà được quản lý

- Chương trình CGI được viết bởi ngôn ngữ lập trình C, Pascal … nên cần có một trình biên dịch và thực thi các lệnh cho chương trình Ngôn ngữ kịch bản Perl là trình thông dịch CGI mang tính năng này

- Sau khi viết các lệnh Script bằng ngôn ngữ Perl và lưu thành tập

tin có phần mở là pl Khi trình khách phát yêu cầu về tập tin pl trên

gửi đến máy chủ thì trình chủ Web Server được cấu hình để gọi

chương trình CGI Perl.exe Chương trình Perl.exe sẽ đọc tập tin kịch bản pl đó và thực thi các lệnh chứa trong kịch bản rồi trả kết quả cho

trình khách

2.3- JavaScript :

- JavaScript là ngôn ngữ kịch bản ít phức tạp, là một phần của mã HTML, nó làm cho các trang Web sinh động hơn Mặc dù JavaScript làm việc trực tiếp với HTML từ bên trong các trang Web, nhưng JavaScript hoàn toàn không phải là phần mở rộng của HTML JavaScript là phần lõi của những gì Netscape gọi là Dynamic HTML (HTML động )

- Bạn không cần dùng công cụ đặc biệt nào để thêm JavaScript vào tài liệu HTML, đơn giản chỉ cần một trình soạn thảo văn bản

- Và bạn có thể sử dụng Netscape Navigator hay Internet Explorer để kiểm tra phần mã

- Thẻ <SCRIPT> được dùng để thêm các lệnh JavaScript vào trang HTML

- Ở góc độ lập trình thì JavaScript dùng cú pháp khá giống Java

2.4- ASP (ActiveX Server Pages) :

- Nhằm đem lại sự tiện lợi và dễ dàng trong việc xây dựng một ứng dụng trên Web, Hãng Microsoft cung cấp công nghệ ASP(Active Server Page) giúp tạo trang Web động đồng thời đảm nhận chức năng gửi và nhận dữ liệu giữa máy khách và máy chủ ASP đã xây dựng sẵn 6 đối tượng rất mạnh Các đối tượng này không quan hệ với nhau theo mô hình phân cấp, cha con, chúng liên hệ nhau dựa trên vai trò và tính năng mà chúng cung cấp Các đối tượng này bao gồm Server, Appliaction, Session, Request, Response và ObjectContext xây dựng nên môi trường cho các ứng dụng Active Server

Trang 19

Mô hình các đối tượng trong ASP :

- Trong mô hình trên, đối tượng Application được dùng để chia sẻ thông tin giữa các user trong cùng một ứng dụng Mỗi Application bao gồm nhiều phiên làm việc của user khác nhau mà đại diện cho mỗi phiên làm việc là một đối tượng Session Chúng ta dùng đối tượng Session này để lưu trữ những thông tin riêng chỉ dành cho user đó mà thôi Các biến trong đối tượng Session vẫn tồn tại khi user nhảy qua lại giữa các trang Web trong ứng dụng đó

- Đối tượng Request cho phép nắm bắt các thông tin được yêu cầu từ user và cho phép các ứng dụng chạy trên server xử lý chúng Server sẽ nhận những giá trị được đưa đến qua yêu cầu HTTP và đặt chúng trong đối tượng Request này

- Ngược lại, để gửi dữ liệu lại cho trình duyệt trên máy client ta có đối tượng Response Các hàm và thuộc tính của nó cho phép ta tạo và sửa đổi thông tin phản hồi về cho client

- Đối tượng ObjectContext được xây dựng nhằm quản lý các giao dịch dựa trên lệnh gọi ASP Script đến Microsoft Transaction Server (MTS)

- Tóm tắt chức năng của các đối tượng trong ASP :

Đối tượng Request

Đối tượng Request cung cấp những thông tin được chuyển đến cùng với các yêu cầu HTTP Những thông tin này gồm có các tham số của Form khi được submit dùng phương thức POST hoặc GET hay các tham số được ghi cùng với trang ASP trong lời gọi đến trang đó

Client

Server

Server Object

Application Object Session Object

Response Object

Request Object

ObjectContext Object

Trang 20

Dùng đối tượng Request có thể chia sẻ thông tin qua lại giữa các trang ASP trong một ứng dụng và để lấy giá trị các cookie lưu trữ trên máy client

Đối tượng Response

Trong hệ thống các đối tượng xây dựng sẵn của ASP thì đối tượng Response đóng vai trò rất quan trọng Khi mà đối tượng Request bao gồm những thông tin gửi đến Web server từ trình duyệt thì đối tượng Response nắm giữ những gì mà Web server phải gửi trả lại cho trình duyệt Tóm lại, ta dùng đối tượng Response để gửi thông tin ra user, gồm có ghi thông tin trực tiếp ra Browser, chuyển Browser đến địa chỉ URL khác hay để thiết lập các cookie trên máy client

Đối tượng Server

Đối tượng Server cung cấp những thuộc tính và các phương thức cơ bản trên server được dùng trong hầu hết các trang ASP

Đối tượng Application

Đối tượng Application được dùng để chia sẻ thông tin giữa các user trong cùng một ứng dụng Ngoài ra còn có thể dùng để đếm số lần truy cập đến ứng dụng của user

Đối tượng ObjectContext

Đối tượng ObjectContext dùng quản lý các giao dịch dựa trên lệnh gọi ASP script đến Microsoft Transaction Server (MTS) Dùng để chấp thuận hoặc hủy bỏ transaction được khởi tạo bởi một ASP script

Đối tượng Session

Đối tượng Session được dùng trong trường hợp cần chia sẻ dữ liệu giữa các trang nhưng giữa các client khác nhau thì không Mỗi client yêu cầu một trang trong ứng dụng sẽ được gán bởi một Session object Vậy một phiên làm việc (session) được tạo ra khi client lần đầu tiên yêu cầu dữ liệu và mặc định sau 20 phút mà client không yêu cầu gì nữa thì mất

- Trên đây là trình bày các đối tượng mà ASP đã xây dựng sẵn Mỗi đối tượng có những thuộc tính riêng cung cấp các tính năng hoạt động nhằm phục vụ cho ứng dụng

- Như vậy ưÙng dụng ASP là một ứng dụng trên Web mà nội dung của nó sẽ tương tác và được tạo ra một cách linh động Do đó ứng dụng chỉ thật sự bắt đầu chạy khi có một yêu cầu đầu tiên nào của client đến trang tài liệu nằm trong thư mục của ứng dụng trên Web server

- Ứng dụng ASP kết thúc khi Web server ngưng hoạt động và kịch bản trong sự kiện onend sẽ được thực thi Trong trường hợp Web

Trang 21

server bị hỏng thì ứng dụng vẫn kết thúc nhưng kịch bản onend không thực thi

2.5- COM (Component Object Model) :

- COM là một cách thức để viết các thành phần phần mềm (software component) cung cấp các chức năng phục vụ cho các ứng dụng, các hệ điều hành cũng như những thành phần khác Viết một thành phần COM cũng như viết một hàm API động, hướng đối tượng Các thành phần COM có thể được nối kết với các ứng dụng cũng như với các hệ thống các thành phần COM khác

- Các thành phần COM có thể được thêm vào hoặc thay đổi ngay lúc chương trình đang chạy mà không phải liên kết lại hoặc biên dịch lại chương trình COM còn là nền tảng của các công nghệ của Microsoft như OLE, ActiveX và DirectX Hầu hết các ứng dụng của Microsoft được phát triển trên các thành phần COM

™ Các thành phần (Components) :

- Các ứng dụng thông thường thường được viết dưới dạng đơn thể (monolithic) có nghĩa là ứng dụng được biên dịch thành một file thực thi duy nhất Các ứng dụng này thường không thể tùy biến hoặc không thể nâng cấp các chức năng bên trong nó một cách “động” được Nó cần phải được sửa đổi chương trình nguồn và biên dịch lại

- Do đó, để chương trình đơn giản hơn trong việc sửa đổi cũng như nâng cấp, người ta thường chia chương trình chính ra thành nhiều thành phần nhỏ chạy tương đối độc lập nhau

- Lợi ích của việc phân chia ứng dụng thành các thành phần:

thành phần có sẵn Các thành phần có sẵn thường đă được biên dịch và được chứa trong các thư viện các thành phần như DLL, EXE hoặc các ActiveX …

ứng dụng phân bố có thể sử dụng các thành phần được phân bố trên mạng

- Để có được các tính năng trên, một thành phần cần phải thỏa mãn

2 điều kiện:

phải được hỗ trợ bởi hệ điều hành Do đó, ta thường dùng

Trang 22

file DLL hoặc EXE như là một phương tiện để chứa các thành phần

thực bên trong thành phần phải được giấu đi Nếu một thành phần có thể được sử dụng trực tiếp vào bên trong sự hiện thực của nó mà không thông qua một giao diện chính thức thì sẽ rất khó để thay thế nó

- Yêu cầu đóng bao tạo ra một số ràng buộc cho thành phần:

Một thành phần nếu được hiện thực bởi ngôn ngữ C thì không thể sử dụng được đối với các ứng dụng viết bằng Pascal

phải được sử dụng ở dạng nhị phân

ứng dụng Một thành phần mới có thể chạy tốt với cả ứng dụng cũ và mới

dụng đối xử với các thành phần nằm trong cùng quá trình, khác quá trình hoặc nằm ở một máy khác đều như nhau

™ Giao diện (Interface)

- Giao diện là tất cả đối với COM Các ứng dụng chỉ có thể nhìn thấy và truy xuất đến các thành phần COM thông qua giao diện của nó

- Một giao diện được hỗ trợ bởi một thành phần thì luôn có thể được yêu cầu từ bất kì giao diện nào được hỗ trợ bởi thành phần đó

- Quan hệ giữa thành phần và giao diện là quan hệ n:n Một thành phần có thể có nhiều giao diện và ngược lại, một giao diện có thể được hiện thực bởi nhiều thành phần

™ Lợi ích của giao diện:

thành phần COM Nhờ có giao diện mà một thành phần COM có thể được thay thế động mà không ảnh hưởng đến ứng dụng đang chạy

Trang 23

• Giao diện làm cho các thành phần khác nhau có thể được đối xử như nhau bởi ứng dụng Đặc tính này chính là sự đa hình (polymorphism)

™ Đặc điểm của giao diện:

thay đổi thì ứng dụng phải được sửa đổi và biên dịch lại nếu còn muốn sử dụng các thành phần tương ứng Nếu muốn thay đổi hoặc nâng cấp một giao diện có sẵn thì COM chỉ cho phép tạo ra một giao diện mới tồn tại song song với giao diện củ

chúng có thể được sử dụng như nhau ở ứng dụng Đây là đặc điểm quan trọng của giao diện Nó cho phép một ứng dụng có thể được dùng lại cho nhiều thành phần khác nhau (dĩ nhiên là cùng hỗ trợ một giao diện) Hay nói một cách khác, ứng dụng có thể tùy biến (customize) các thành phần được

- Một giao diện được hỗ trợ bởi một thành phần thì luôn có thể được yêu cầu từ bất kì giao diện nào được hỗ trợ bởi thành phần đó

2.6- Enterprise Java :

- Lập trình mạng Java của Sun MicroSystem cung cấp các công nghệ tương đương về chức năng với các công nghệ mà Microsoft đã

đưa ra Tương ứng với công nghệ ASP là công nghệ JSP :

- JSP sử dụng các thẻ đặc biệt quy định gần giống với các thẻ của ngôn ngữ HTML để tạo ra trang Web động

- JSP đưa mã lệnh Java vào trong thẻ HTML để lấy dữ liệu từ Client gửi về cho Server, sau khi Server xử lý xong thì JSP sẽ gửi trả kết quả về cho trình khách

- Trong Java , khi dữ liệu gửi về máy chủ thì trình chủ Web Server

sẽ tiếp nhận và triệu gọi các thành phần đối tượng Bean trong mô hình EJB mà Java hỗ trợ

- EJB là mô hình phân tầng và lập trình đối tượng rất hiệu quả cho các ứng dụng mạng Java EJB cung cấp trình chứa để các đối tượng (được gọi là thành phần Bean) hoạt động bên trong đó Trình chứa đóng vai trò điều khiển và làm trung gian trong giao tiếp giữa thành phần Bean và trình khách Có 2 loại thành phần Bean : Bean thao tác(session Bean ) và Bean thực thể ( entity Bean ) Bean thao tác có Bean phi trạng thái (stateless Bean) và Bean lưu vết trạng thái

Trang 24

(stateful Bean ) Bean thực thể có Bean thực thể tự quản lý tự kết nối dữ liệu (Bean-Manager) và Bean thực thể quản lý bởi trình chứa (container-manager Bean )

- Công nghệ lập trình phân tán đối tượng mà Java cung cấp là :

RMI RMI là kỹ thuật lập trình phân tán triệu gọi đối tượng từ xa Để xây dựng đối tượng ở xa thì phải thiết lập một giao tiếp của đối tượng Sau đó tạo ra các lớp trung gian _Stub (giao tiếp ở trình khách với đối tượng chủ) , _Skel (giao tiếp giữa đối tượng chủ với trình khách ) tương ứng Trước khi hoạt động đối tượng chủ phải đăng ký tên với trình rmiregistry để trình khách có thể truy tìm tham chiếu của đối tượng từ xa

- RMI không phải là lập trình phân tán đối tượng tối ưu so với CORBA

3- SO SÁNH CÔNG NGHỆ :

- Trên máy Client , HTML , JScript … cho phép trình bày trang Web là giao diện giữa người dùng và ứng dụng Người dùng theo đó nhập thông tin cần truy cập CGI, ASP hay JSP nhận dữ liệu từ trang Web gửi đến máy Server Trình chủ có Web server để nhận những dữ liệu ấy và gọi chương trình xử lý hoặc chuyển quyền xử lý các thao tác như tính toán, truy xuất dữ liệu đến các thành phần khác sau đó trả kết quả về cho trình khách (quá trình này đi ngược lại với quá trình truyền dữ liệu đi ) Khi thực hiện các thao tác xử lý thì các chương trình sẽ truy xuất dữ liệu từ lớp 3 thông qua kỹ thuật JDBC, ODBC hay JDBC- ODBC Bridge

- Như vậy có nhiều công nghệ hỗ trợ trong quá trình này Các công nghệ đều giúp truyền dữ liệu đi và nhận dữ liệu về nhưng cách xử lý thì khác nhau

- Khi đi sâu hơn nữa về cách hoạt động của ASP và JSP thì thấy rằng :

công nghệ ASP của hãng Microsoft ASP và JSP đều là các trang Web thực hiện cơ chế diễn dịch

trúc triệu gọi đối tượng thành phần BEAN Trong khi ASP dùng các lệnh Visual Basic kết hợp với kiến trúc triệu gọi đối tượng thành phần COM/DCOM

thể chạy trên nhiều hệ điều hành khác (Unix, Linux …) không riêng gì Hệ điều hành của Microsoft

Trang 25

4 LỰA CHỌN CÔNG NGHỆ VÀ PHẦN MỀM :

Sau thời gian khảo sát các công nghệ có thể dùng để thiết kế và căn cứ vào yêu cầu của đề tài, điều kiện về phần mềm em quyết định lựa chọn ngôn ngữ Lập trình mạng Java các công nghệ mà Java cung cấp sau tương ứng với mô hình 3 lớp đã chọn ở trên

™ Lớp 1 (client tier):

Công nghệ JSP trợ giúp phát triển trang Web linh động vì JSP là một cách đơn giản để người dùng (nhất là lập trình viên không chuyên) tiếp cận được hướng lập trình Web phía máy chủ hiệu quả và nhanh hơn Hơn nữa JSP xét về mặt tốc độ nhanh hơn các trang web thực hiện diễn dịch theo cơ chế khác

™ Lớp 2 (server tier ):

- Do yêu cầu đề tài là ứng dụng có thể chạy trên nhiều hệ điều hành nên kỹ thuật hỗ trợ cho lớp này sẽ là: JSP, JDBC , JDBC – ODBC Bridge ( do một số thành phần dữ liệu của Microsoft không cho phép dùng kỹ thuật JDBC )

- Đối với Web Server , thì công nghệ JRun đem lại nhiều hiệu quả cũng như các công nghệ khác như Web Logic, Apache, Web Sphere Để hỗ trợ cho việc truy xuất dữ liệu từ lớp 3, đề tài sử dụng kỹ thuật JDBC và JDBC-ODBC Bridge

™ Lớp 3 (data tier ):

- Dữ liệu ở lớp này được xây dựng trên mô hình dữ liệu quan hệ và được lưu trữ quản lý dưới sự trợ giúp của hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server

- Như vậy đề tài này sử dụng ngôn ngữ Lập trình Java để thiết kế “Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet” Tiêu chuẩn để phát triển ứng dụng trên Web dựa vào Java 2 platform Enterprise Edition (J2EE) Một trong những công cụ hỗ trợ lập trình là JRun JRun cung cấp mô hình ứng dụng J2EE và môi trường để thi hành ứng dụng J2EE

- Mô hình 3 lớp mà J2EE hỗ trợ có những đặc tính sau :

truy cập vào Middle tier qua kết nối HTTP như Internet Lớp này bao gồm bất cứ Applet nào chạy trên máy khách

cả phần giao diện và các quy định về chức năng để tạo một

Trang 26

trang Web JRun được dùng để thi hành các ứng dụng ở lớp này

đựng những dữ liệu về chức năng của trang Web

- Java hỗ trợ cho người lập trình 3 kiến trúc của mô hình 3 lớp, đó là :

Servlet, Java JSP Bean

Servlet, JSP, EJB JavaBean

Trang 27

- Độ phức tạp, tính linh hoạt của mỗi kiến trúc được biễu diễn như sau :

Kiến trúc thứ 3 dễ dàng thay đổi, nâng cấp khi cần thiết

- Như vậy kiến trúc thứ 3 là phức tạp nhất nhưng lại linh hoạt nhất

do đó có hiệu quả cao hơn kiến trúc thứ 1 và kiến trúc thứ 2

- Do kiến thức cũng như việc nghiên cứu tìm hiểu chưa đạt cho nên Đề tài em sử dụng kiến trúc thứ 2 để thiết kế hệ thống

- Mô hình 3 lớp này mang lại nhiều thuận lợi cho các nhà phát triển trang Web :

được phân phối vào hệ thống phần cứng phức tạp để cải thiện sự hoạt động và tính có thể biến đổi của hệ thống

truy xuất vào kho dữ liệu Xí nghiệp

các ứng dụng Web (Web Applications) gồm có Java servlet, trang JSP (Java Server Page), HTML … JRun làm cho máy chủ Web có thể thực thi các ứng dụng Web

toàn cho phép nhiều ứng dụng có thể sử dụng lại nhiều lần để chia sẻ việc truy xuất dữ liệu Các ứng dụng Web có thể truy xuất vào EJB hoặc là máy khách có thể trực tiếp truy xuất vào đó

việc này với nhóm làm việc khác Ví dụ như các nhà phát triển JSP thì thường quan tâm đến giao diện hơn là việc thi hành các lệnh chức năng Ngược lại , các nhà phát triển EJB thì quan tâm đến dữ liệu và các thao tác làm việc với dữ liệu hơn là sữ thể hiện giao diện của hệ thống

Trang 28

IV- KHẢO SÁT CHI TIẾT VỀ CÔNG NGHỆ

1- HTML , DHTML :

- HTML ( HyperText Markup Language ) là hàng loạt các đoạn mã chuẩn với các quy ước được thiết kế để tạo ra trang Web, giúp tạo và chia sẻ các tài liệu điện tử tích hợp đa phương tiện qua Internet và được hiển thị bởi những trình duyệt Web HTML cho phép áp dụng siêu liên kết cho tài liệu và trình bày tài liệu với phông chữ, hình ảnh, kiểu gióng hàng phù hợp với hệ thống hiển thị văn bản

- Có nhiều công cụ được dùng để tạo trang Web Ví dụ : có thể tạo tập tin HTML bằng Microsoft Word, NotePad trên Windows Internet Explorer và Netscape Navigator có công cụ soạn thảo đơn giản, cho phép tạo và hiệu chỉnh tập tin HTML

- HTML tạo trang Web bằng cách sử dụng các thẻ quy ước sau :

• Thẻ cấu trúc : Định rõ cấu trúc của tài liệu

• Thẻ hình thức văn bản : Định rõ dạng hiển thị văn bản

• Có hai loại : thẻ nội dung và thẻ vật lý

dòng

không theo thứ tự ,và danh sách định nghĩa

đến tài liệu khác

• Thẻ hình ảnh : Định rõ vị trí truy cập hình ảnh và cách hiển thị hình ảnh

2- JAVA SERVLET :

- Servlet có thể được sử dụng trong bất kỳ một ứng dụng nào liên quan đến Web Mã nguồn của Servlet được biên dịch ra mã byte-code của Java Servlet dễ sử dụng và phát triển những ứng dụng Web nhanh hơn CGI Servlet chạy tự động khi chúng được gọi từ trình chủ (Web Server) Servlet chạy toàn bộ trên máy ảo của Java, xử lý và sinh mã HTML trả về trình khách Bằng cách này, Servlet có thể chạy trên rất nhiều trình chủ hiểu Java và chúng không phụ thuộc vào trình duyệt ( Browser)

- Một trình chủ Web Server sẽ trả về một tài nguyên theo yêu cầu của máy khách Tài nguyên do Web Server trả về có thể là tĩnh ( ở dạng tập tin tồn tại trên đĩa ), có thể là động (sinh ra do chương trình) Việc sinh ra các tài nguyên động bằng chương trình là dựa vào JSP ,

Trang 29

Servlet Để cho JSP và Servlet hoạt động, phải cài đặt một môi trường tức là một trình chủ Web Server “hiểu Java”, nghĩa là trình chủ phải có khả năng thông dịch và thực thi được các đơn thể Java theo đặc tả của Sun Cụ thể trong đề tài là JRun

Java được trình chủ Web triệu gọi sản sinh ra kết quả kết xuất phù hợp trả về cho trình khách

™ Cơ chế hoạt động của Servlet :

- Trình khách gửi lệnh HTTP GET (hay POST ) lên máy chủ yêu cầu dịch vụ Web (HTTP Web Service ) cung cấp một tài nguyên Tài nguyên mà trình khách yêu cầu có thể là một tập tin (.html hay hình ảnh) Tài nguyên cũng có thể ở dạng thông tin động do Servlet sinh

ra

- Trình chủ Web Server “ hiểu Java” JRun phục vụ hoàn toàn dựa vào Servlet Nếu bạn yêu cầu tài nguyên là một tập tin, trình chủ sẽ dùng một chương trình Servlet nhỏ gọi là File Servlet đọc nội dung tập tin trên đĩa cứng sau đó trả về cho trình khách Nếu bạn yêu cầu một trình Servlet khác (user servlet ) thực thi để sinh ra thông tin động thì JRun sẽ sử dụng Invoker Servlet triệu gọi Servlet mà bạn mong muốn Kết quả sinh ra sau đó cũng sẽ được gửi về trình khách tương tự như cơ chế đọc tài nguyên trên đĩa cứng mà File Servlet thực hiện

Web

Brower

HTTP Web Service

File Servlet

Invoker Servlet

User Servlet

HTML File

Trang 30

™ Phương thức xử lý cơ bản của Servlet :

Phương thức khởi tạo init() : Phương thức khởi tạo này được

gọi khi lần đầu tiên trình chủ Web Server nạp mã thực thi của Servlet từ tập tin class vào bộ nhớ và bắt đầu cho phép

Servlet hoạt động Thường trong phương thức init() ta khởi

tạo giá trị mảng,tạo sẳn kết nối với cơ sở dữ liệu, nạp các

lớp thư viện cần thiết …

Phương thức phục vụ service() : Sau khi phương thức init()

hoàn tất, trình chủ Web Server sẽ triệu gọi đến phương thức phục vụ service() Phương thức này được xem là trung tâm xử lý của Servlet mà bạn cần phải cài đặt Khi trình chủ nạp Servlet vào bộ nhớ, phương thức init() chỉ được gọi duy nhất một lần trong khi phương thức service() có thể được triệu gọi nhiều lần ứng với mỗi yêu cầu Servlet phát sinh từ trình duyệt phía máy khách Bên trong phương thức service() ta có thể sử dụng đối tượng tham số ServletRequest và ServletResponse để tiếp nhận dữ liệu từ trình khách chuyển lên và kết xuất kết quả trở lại trình

khách

Phương thức hủy destroy() : Khi Servlet không còn dùng

đến nữa hoặc hết thời gian qui định lưu giữ trong bộ nhớ của trình chủ Web Server, nó sẽ bị trình chủ giải phóng Trước khi Servlet bị hủy phương thức destroy() sẽ được gọi Nếu dùng phương thức init() để khởi tạo biến cho Servlet thì phương thức destroy() ngược lại có thể dùng để dọn dẹp tài nguyên mà các biến chiếm giữ , đóng các kết nối mà

phương thức init() đã mở …

Phương thức getServletConfig() và getServletInfo() : Hai

phương thức này nhằm mục đích cung cấp thông tin Phương thức getServletConfig() giúp người sử dụng có được đối tượng ServletConfig chứa các thông tin khởi tạo từ môi trường ngoài đưa vào Servlet getServletInfo() trả về một chuỗi thông tin mô tả ý nghĩa và mục đích của Servlet

3- JSP :

JSP ( Java Server Page ) là công nghệ lập trình Web phía máy chủ của Java JSP viết mã Java tương tự Servlet nhưng cho phép trộn lẫn Java với các thẻ định dạng HTML Trình diễn dịch JSP sẽ chịu trách nhiệm kết hợp mã Java và thẻ HTML để tạo ra Servlet xử lý các yêu cầu mà trình khác gửi đến

Trang 31

™ Cơ chế hoạt động của JSP :

JSP chứa các thẻ đặc biệt qui định gần giống như thẻ của ngôn ngữ HTML

đĩa cứng ,bộ diễn dịch JSP ( JSP Page Compiler) sẽ diễn dịch mã lệnh Java chứa trong trang JSP thành một servlet

thuần HTML về cho trình khách

phía máy khách chuyển lên trình chủ xử lý sau đó gửi trả kết quả về cho trình khách

4- So sánh giữa JSP và Servlet :

- Đặc tả JSP cung cấp rất nhiều thẻ cho phép người dùng tuỳ biến khi nhúng lệnh Java trong trang JSP Các thẻ này sẽ kết hợp với các lệnh hay thẻ chuẩn HTML để tạo ra kết xuất cuối cùng trả về trình khách

- Các chức năng của trang JSP hoàn toàn giống với Servlet tuy nhiên ta không cần phải biên dịch trang JSP bằng tay Trình chủ Web server sẽ thực công việc này cho mình Như vậy, viết trang JSP đơn giản hơn viết servlet Nếu đem so sánh ta sẽ thấy rằng, khi viết servlet ta phải tự tạo đối tượng luồng xuất

java.io.PrintWriter out = resp.getWriter ( ) ; để kết xuất kết quả trả về cho trình khách Trong khi đó nếu viết trang JSP thì không cần phải thực hiện điều này Bộ diễn dịch JSP đã tạo sẵn đối tượng out cho ta sử dụng Thật ra thì trang JSP được biên dịch thành servlet phía sau hậu trường, kết xuất của trang JSP thật ra là kết xuất của

Web

Browser

HTTP

Trình diễn dịch JSP

Servlet tạm JRUN

Trang JSPKết xuất

Yêu cầu

Trang 32

servlet Tuỳ theo mỗi trình chủ khác nhau ( như JRun, Web Logic ….)

mà sẽ có các tập tin diễn dịch jsp ra servlet khác nhau Theo cơ chế

của JSP, ta không cần phải quan tâm đến những tập tin phụ này Nếu

ta xoá các tập tin này đi, trình chủ sẽ tự động tạo mới lại Theo cơ chế này thì trang JSP có thể phải thực hiện chậm hơn servlet thuần tuý, nhưng chỉ là lần đầu khi trang JSP được biên dịch Ở lần triệu gọi kế tiếp từ máy khách, trình chủ không cần dịch lại trang JSP nữa ( trừ khi có thay đổi nội dung trang JSP ) Mã JSP lúc này là mã Java nhị phân (byte-code) được gọi thực thi trực tiếp Chính vì lý do này,

trang jsp xét về tốc độ sẽ nhanh hơn hẳn các trang web thực hiện cơ chế diễn dịch như asp (Active Server Page ) cuả Microsoft hay pl

của trình CGI Perl Đây là lý do mà đề tài chọn công nghệ JSP

- Viết trang JSP đơn giản hơn viết Servlet và ta hoàn toàn có thể tận dụng mọi chức năng của Servlet bên trong trang JSP Tuy nhiên, Servlet thường được xem như những đối tượng thành phần (component ) nhúng vào trình chủ (tương tự đối tượng ActiveX hay COM của Microsoft ) Chính vì vậy Servlet thường được dùng cho các chức năng xử lý phức tạp như : giao tiếp với Applet phía trình khách, thực hiện bảo vệ tài nguyên, chứng thực mật khẩu … Trong khi đó trang JSP được dùng cho các thao tác truy xuất hay xử lý đơn giản như trình bày giao diện, định dạng trang HTML, triệu gọi các thành phần JavaBean hay servlet khác Như vậy, kết hợp JSP và Servlet là cách tốt nhất khi bạn chọn phát triển ứng dụng Web bằng Java phía máy chủ

™ Các thẻ lệnh của JSP :

JSP cung cấp các thẻ lệnh giúp tạo trang web Cũng tương tự như thẻ HTML , thẻ lệnh JSP bao gồm thẻ mở và thẻ đóng Thực sự các thẻ JSP được xây dựng theo đặc tả và chuẩn XML ( Extension Markup Language ) nên có hơi khác với thẻ HTML vì chuẩn XML không xem chữ hoa và chữ thường giống nhau Mỗi thẻ có các thuộc tính quy định cách dùng thẻ

a- Thẻ <jsp:scriptlet> hay <% %>

Thẻ này cho phép đặt các đoạn mã lệnh Java ở giữa cặp thẻ tương tự một chương trình java thông thường

b- Thẻ khai báo và thực hiện biểu thức <%! , <%=

Thẻ này dùng để khai báo một biến dùng cho toàn trang jsp Biến khai báo phải đúng theo cú pháp của ngôn ngữ Java Thẻ <%= được dùng để hiển thị một biểu thức

Trang 33

c- Thẻ nhúng mã nguồn <%@ include file %>

Với thẻ này có thể nhúng một trang html vào trang jsp hiện hành

Thẻ này tương tự chỉ dẫn #include trong ngôn ngữ C Cú pháp đầy đủ của thẻ này là :

<%@ include file = “URL or FilePath “ %>

Thẻ này chỉ dẫn một số tính chất biên dịch áp dụng cho toàn trang jsp Có thể sử dụng thẻ này để khai báo các thư viện import của java, chỉ định tuỳ chọn trang jsp có cần giữ trên cache bộ nhớ của trình chủ để tăng tốc hay không …

e- Thẻ chuyển hướng <jsp:forward>

Thẻ này giúp chuyển hướng trang Web sang địa chỉ khác Ví dụ, khi xử lý trang nhận dữ liệu đăng nhập (login page ) bạn kiểm tra mật khẩu, nếu hợp lệ ta chuyển người dùng đến trang tài nguyên cho phép truy cập Nếu không hợp lệ, ta chuyển người dùng đến trang thông báo lỗi

f- Thẻ sử dụng thành phần Bean <jsp:useBean>

Ta có thể tự tạo các lớp đối tượng Java và triệu gọi chúng từ bên trong trang jsp Hướng theo công nghệ thành phần (component ) Java gọi những đối tượng có thể gắn vào những ứng dụng là thành phần Bean

g- Thẻ đặt thuộc tính cho Bean <jsp:setProperty>

Thẻ này được sử dụng để triệu gọi một phương thức nào đó của Bean

h- Thẻ lấy thuộc tính của Bean <jsp:getProperty>

Ngược với thẻ <jsp:setProperty , thẻ <jsp:getProperty> dùng để lấy về nội dung của một thuộc tính

™ Các đối tượng mặc định của trang JSP :

Trong JSP, ta có thể truy cập một đối tượng nào đó của JSP mà không cần phải khai báo Những đối tượng này được dịch bởi trình dịch JSP và tạo ra trang Servlet để thực thi Điều này giúp viết mã lệnh trong trang JSP nhanh hơn Servlet

Đối tượng out : dùng ghi kết xuất gửi về trình duyệt Đối tượng out xuất phát từ lớp PrintWriter Bạn có thể sử dụng đối

tượng này để định dạng kết xuất gửi về máy khách

Ví dụ:<% out.println(“Result”+7*3;%>

tượng này giúp lấy về các tham số hay dữ liệu do trình khách chuyển lên Một trong những ứng dụng thông thường nhất của

Trang 34

đối tượng request là nắm giữ các tham số Ta có thể thấy điều này bằng cách gọi phương thức getParameter() của request Phương thức này kế thừa từ lớp cha là javax.servlet.ServletRequest Phương thức này nhận tên tham

số và trả vế giá trị chuỗi tương ứng với tên của tham số đó

response dùng để đưa kết xuất trả về trình khách Tuy nhiên,

đối tượng out được dùng thường xuyên hơn out hỗ trợ thêm

luồng đệm để tăng tốc kết xuất Hầu hết ứng dụng thông thường của đối tượng response là dùng để xuất HTML ra trình duyệt khách (client browser) Thực ra đối tượng response thường gọi phương thức response.getWriter() để thực hiện kết

xuất

tượng session để theo dõi kết nối và lưu vết một phiên làm

việc giữa trình khách và trình chủ Đối tượng session được khởi tạo bằng cách gọi phương thức pageContext.getSession() để

tạo ra trang Servlet

javax.servlet ServletContext cho phép lưu giữ cấu hình toàn cục của Servlet và JSP Ta có thể tạo ra một Servlet đơn giản để tham chiếu đến ServletContext hiện tại và đưa vào đối tượng application Đối tượng application có phạm vi hoạt động

ở cấp ứng dụng, nghĩa là cógiữ giá trị của tất cả các trang JSP

ở những session khác nhau cho đến khi trình dịch JSP engine bị

đóng lại

Tương tự session, ta có thể gọi phương thức application.getAttribute() để lấy về giá trị lưu giữ trong application Phương thức application.setAttribute() được dùng để đặt trị cho biến cần chứa trong application

định nghĩa là đối tượng tạo bởi Servlet chứa các thông tin cấu hình của Servlet Với thông tin này Servlet sẽ truy cập đối tượng ServletContext

(errorPage) Nó dùng để tham chiếu đến nguêyn nhân gây ra lỗi mà trang error có liên quan

Trang 35

™ Truy xuất cơ sở dữ liệu trong trang JSP :

Có thể dễ dàng dùng trình JDBC để truy xuất cơ sở dữ liệu của hệ quản trị cơ sở dữ liệu SQL Server

™ Trang JSP triệu gọi đối tượng RMI ,CORBA :

Bởi vì trang JSP chứa hầu như toàn bộ mã Java cho nên bạn có thể triệu gọi đối tượng phân tán như RMI hay CORBA theo cách rất tự nhiên Nghĩa là sau khi thiết lập được đối tượng RMI

Trên đây đã giới thiệu kỹ thuật lập trình Web bằng trang JSP Có thể dùng các công cụ như : NotePad , DreamWaver, Frontpage … để viết trang JSP Với JSP ta có thể nhúng lệnh Java vào trang Web kết hợp với các thẻ HTML truyền thống JSP thay cho Servlet và dễ sử dụng hơn Servlet Tuy nhiên kết hợp giữa trang jsp và công nghệ component của Servlet là cách tốt nhất để xây dựng những ứng dụng web mạnh mẽ phát huy tác dụng ở cả hai phía khách / chủ

5- JAVABEANS :

- JavaBeans là một thành phần đối tượng xây dựng từ ngôn ngữ Java JavaBeans có thể làm việc và chạy trên mọi máy ảo Java và có thể sử dụng các phương thức get/set để lấy về và đặt thuộc tính cho đối tượng Bean mà nó thể hiện

JavaBeans là kiến trúc thành phần phần mềm giúp tăng cường sức mạnh của ngôn ngữ Java

- JavaBean là một đối tượng Java bất kỳ cài đặt interface Serializable Ta thường truy xuất các đối tượng Java thông qua thuộc tính của nó, với JavaBean điều này cũng hoàn toàn tương tự nhưng thường JavaBean không dùng trực tiếp cú pháp Java để truy xuất thuộc tính JavaBean sử dụng các thẻ tương tự như HTML, để định nghĩa Bean, thiết lập hoặc lấy về các giá trị của Bean

- JavaBean cho phép thao tác các đối tượng đã được tạo hoàn chỉnh một cách trực quan nhớ một công cụ thiết kế nào đó, chẳng hạn như JBuilder Những đối tượng như vậy gọi là JavaBeans hay đơn giản là bean

- Các lớp định nghĩa bean được tham chiếu với tên là JavaBeans Component hay bean component hoặc chỉ là component Các lớp này phải tuân theo yêu cầu của mô hình thành phần JavaBeans :

định ( là phương thức tạo dựng không kèm theo đối số ) mặc dù nó có thể có phương thức tạo dựng khác nếu cần

Trang 36

™ Thành phần bean bắt buộc phải ứng dụng giao diện

java.io.Serializable hoặc java.io.Externalizable để duy trì trạng

thái tồn tại thường trực Có thể dùng JavaBeans trong nhiều công cụ khác như : MS Visual Basic , MS Word … Nếu sử dụng JavaBeans trong công cụ khác thì đòi hỏi thành phần bean phải tồn tại lâu năm, nhằm bảo đảm công cụ có thể tái lập các thuộc tính và hành vi nhất quán của bean đối với trạng thái công cụ trước khi chúng được lưu

phương thức truy cập công cộng có cấu trúc thích hợp, cho phép công cụ thiết kế xem và cập nhật thuộc tính một cách trực quan

thức đăng ký công cộng có cấu trúc thích hợp, cho phép thành phần bean bổ sung và loại bỏ đối tượng lắng nghe Nếu thành phần bean đóng vai trò nguồn biến cố, nó phải cung cấp phương thức để đăng ký đối tượng lắng nghe

buộc phải tuân thủ theo Hai yêu cầu sau cùng còn tuỳ thuộc vào cách thức thực thi Có thể viết thành phần bean mà không dùng phương thức đăng ký biến cố

kế Java nhằm thiết kế nhanh ứng dụng mạng

™ Các thẻ chuẩn của JAVABEANS trong trang JSP :Khi ta

nhúng JavaBean vào trang JSP, có ba thẻ chuẩn được định nghĩa để kết hợp JavaBean

phạm vi và định danh id (identify) nhận dạng bean Thẻ này khá linh động, ngữ nghĩa chính xác phụ thuộc vào giá trị được đưa ra

• < jsp : setProperty > : dùng gán giá trị vào thuộc tính cho Bean Thuộc tính tên của Bean chỉ định cho đối tượng phải được định nghĩa và nằm trong phạm vi cho phép

• < jsp :getProperty> : dùng để lấy giá trị của thuộc tính Bean và chuyển giá trị thành kiểu chuỗi

- Nếu sử dụng JavaBean trong trang JSP, mã trang sẽ trở nên trong sáng dễ bảo trì hơn JavaBean thể hiện tính đóng gói cao, che được mã Java

Trang 37

6- EJB :

6.1- Mô hình Enterprise JavaBean :

Trước tiên là các khái niệm cơ bản trong ứng dụng phân tầng EJB :

trong nền Java 2

trình con được gọi bởi trình chủ web (trang jsp, servlet, trang html )

EJB Trình chủ sẽ kiểm soát quá trình kiến tạo, hoạt động và huỷ đối tượng Trình chứa sẽ triệu gọi các đối tượng EJB

chứa container và tuân theo đặc tả EJB

chứa

Để xây dựng các ứng dụng đa tầng thì cần phải có cơ sở hạ tầng như : sự hỗ trợ của hệ thống mạng, hệ điều hành, ngôn ngữ lập trình, các công cụ phát triển, môi trường mà ứng dụng hoạt động … Một trang jsp hay servlet có thể triệu gọi đối tượng phân tán RMI hay CORBA, truy xuất cơ sở dữ liệu từ nhiều máy chủ khác nhau Các đối tượng phân tán hoạt động độc lập, không có sự kết hợp ràng buộc nào với các đối tượng khác RMI chỉ là cơ sở hạ tầng để phát triển các đối tượng triệu gọi nhau từ xa Các đối tượng muốn hoạt động tốt và hiệu quả hơn cần tồn tại trong một môi trường có khả năng kiểm soát chúng Hãng Sun xây dựng mô hình trong đó các đối tượng được sự hỗ trợ tối đa của môi trường mà nó tồn tại Đó là mô hình Enterprise JavaBean (EJB) EJB là mô hình giúp các đối tượng Bean hoạt động kết hợp với nhau một cách có định hướng và hiệu quả hơn

Trang 38

Hình vẽ minh hoạ mô hình ứng dụng phân tầng EJB :

- Sun đưa ra đặc tả về môi trường mà các đối tượng Bean sẽ hoạt động gọi là trình chứa (container ) Các trình chứa sẽ kiểm soát việc khởi tạo, cung cấp tài nguyên cho đối tượng, lưu trữ, phục hồi đối tượng … Bên cạnh đó, các trình chứa hoạt động bên trong một môi trường dịch vụ khác cao hơn đó là EJB Java gọi môi trường bao trùm sự tương tác của các thành phần này là nền chủ J2EE (Java 2 Platform Enterprise Edition )

- Trình chủ kết nối với dịch vụ web Dịch vụ web sẽ thay mặt trình khách triệu gọi các ứng dụng web như Servlet hoặc trang web điều khiển jsp Các thành phần điều khiển web này (web componet) sẽ triệu gọi đối tượng trong môi trường EJB Các đối tượng này sẽ thực thi những yêu cầu như : xử lý các tính toán phức tạp, triệu gọi những đối tượng phân tán khác, truy xuất cơ sở dữ liệu Các đối tượng hoạt động dưới sự điều khiển hay bên trong một trình chứa Nhiệm vụ của trình chứa là bảo vệ và thực hiện các tác vụ kiểm soát đối tượng EJB (khởi tạo, cấp tài nguyên, huỷ đối tượng…) Như vậy trình chứa quản

J2EE Server

Mạng

J D

B

C

Môi trường EJB

object object

Mạng

Trang 39

lyù ñoâi töôïng ôû möùc cao hôn maùy ạo Java Bôûi vì, maùy ạo Java táo ra ñoâi töôïng chư ñôn giạn laø caâp phaùt boô nhôù cho ñoâi töôïng trong khi trình chöùa container táo ra ñoâi töôïng ngoaøi vieôc gói maùy ạo Java caâp phaùt boô nhôù coøn thođng baùo söï hieôn dieôn cụa ñoâi töôïng EJB vôùi caùc ñoâi töôïng khaùc

- Trình chöùa hoát ñoông beđn trong mođi tröôøng EJB Mođi tröôøng EJB laø nôi cung caâp caùc dòch vú cụa Java nhö : dòch vú quạn lyù giao dòch JTS(Java Transaction Service), dòch vú chuyeơn giao thođng ñieôp (Java Message Service ), dòch vú keât noâi cô sôû döõ lieôu JDBC … Trình chöùa seõ thay maịt ñoâi töôïng trieôu gói caùc chöùc naíng giao dòch cụa mođi tröôøng EJB Trong moôt mođi tröôøng EJB coù theơ coù nhieău trình chöùa cuøng hoát ñoông

6.2- Tìm hieơu ñoâi töôïng EJB :

1- Bean thao taùc ( Session Bean ) :

Bean thao taùc laø moôt ñoâi töôïng Bean chư thöïc hieôn caùc haønh vi xöû lyù, tính toaùn ñôn thuaăn Bean thao taùc chư coù nhieôm vú phúc vú trình khaùch (nôi trieôu gói ñoâi töôïng ) trong moôt phieđn keât noâi (session) Nhöõng thao taùc nhaât thôøi khođng ñoøi hoûi ñeẫn vieôc theơ hieôn döõ lieôu thöôøng bao goăm : tính toaùn, phađn tích, thoâng keđ, ñöa ra giại phaùp töø moôt taôp döõ lieôu maêu tám naøo ñoù Thao taùc phúc vú trình khaùch cụa ñoâi töôïng Bean thöôøng ñöôïc theơ hieôn thođng qua phöông thöùc cho pheùp trieôu gói Ñoâi vôùi Bean thao taùc, ñoâi töôïng lái ñöôïc chia laøm hai loái khaùc, ñoù laø :

phaăn Bean khođng löu lái tráng thaùi cụa giao dòch tröôùc ñoù ñeơ söû dúng cho laăn giao dòch sau Ví dú, trình khaùch trieôu gói ñoâi töôïng Bean yeđu caău cho bieât thođng tin veă maịt haøng Ñoâi töôïng Bean trạ veă caùc maịt haøng hieôn haønh vaø chaâm döùt quan heô vôùi trình khaùch Bean thao taùc phi tráng thaùi laø ñoâi töôïng Bean ñôn giạn, deê duøng, deê thieât keâ vaø deê quạn lyù nhaât trong taât cạ caùc loái ñoâi töôïng EJB

phaăn Bean caăn löu lái keât quạ hay vò trí giao dòch tröôùc ñoù ñeơ phúc vú cho caùc laăn giao dòch tieâp theo Caùc Bean naøy thöôøng phúc vú cho nhöõng thao taùc ñoøi hoûi phại qua nhieău böôùc trieôu gói tröôùc khi trạ veă keât quạ cuoâi cuøng Ví dú, neâu ñoâi töôïng Bean phúc vú cho vieôc thanh toaùn tieăn sau khi mua haøng thì

Trang 40

Bean phải lưu lại các giá của các mặt hàng khách hàng đã chọn mua

2- Bean thực thể ( Entity Bean ) :

- Đối tượng thường mô phỏng một thực thể (entity ) nào đó trong cuộc sống thực Trong các hệ quản trị cơ sở dữ liệu bạn có thể lưu trữ thông tin ở dạng bảng Mỗi hàng dữ liệu trong bảng là thông tin về đối tượng EJB cho phép ánh xạ dữ liệu trong mô hình quan hệ thành các đối tượng Java Và từ đó thay vì phải truy xuất vào cơ sở dữ liệu để thay đổi giá trị của từng dòng thì có thể trực tiếp thay đổi ngay trong giá trị thể hiện của Bean Một khi đã ánh xạ từng dòng dữ liệu thành đối tượng Bean chúng được gọi là các Bean thực thể ( Entity Bean )

- Các Bean thao tác sẽ tương tác với Bean thực thể, nhằm thay đổi và truy vấn dữ liệu của Bean thực thể Khi dữ liệu của Bean thực thể thay đổi gián tiếp dòng dữ liệu mà Bean thực thể ánh xạ trong bảng dữ liệu cũng thay đổi theo Bằng cách này, mô hình EJB cho phép đối tượng hoá hoàn toàn từ thao tác xử lý đến dữ liệu thể hiện Do vậy không phụ thuộc vào mô hình phẳng của các bảng dữ liệu nữa

- Bởi vì đối tượng Bean thực thể là ánh xạ từ dữ liệu của các hệ cơ sở dữ liệu nên phải có một cách nào đó đưa được dữ liệu từ các hệ cơ sở dữ liệu này vào bên trong đối tượng Bean Việc quản lý dữ liệu của Bean thực thể vì thế được chia làm hai loại :

Bean có khả năng tự truy vấn các hệ cơ sở dữ liệu để lấy về dữ liệu mà nó thể hiện Ví dụ trong phương thức khởi động Bean thực thể có thể dùng các câu lệnh SQL như SECLECT, INSERT (thông qua JDBC ) để tự tìm hoặc thêm mới dữ liệu mà nó thể hiện vào các bảng trong cơ sở dữ liệu

Thành phần Bean có thể không cần phải sử dụng lệnh SQL để tự tìm kiếm hay tạo mới dữ liệu mà nó thể hiện Thay vào đó, đối tượng Bean chỉ cần khai báo các tên trường (field) hay cột dữ liệu tương ứng với các bảng (table) trong hệ cơ sở dữ liệu Trình chứa sẽ tự động thực hiện công việc truy vấn dữ liệu giúp thành phần Bean Đối tượng Bean thể hiện dữ liệu theo kiểu này được gọi là Bean thực thể quản lý bởi trình chứa

Ngày đăng: 19/07/2014, 12:18

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Sơ đồ minh hoạ cơ chế làm việc của CGI : - Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet
Sơ đồ minh hoạ cơ chế làm việc của CGI : (Trang 17)
Hình vẽ minh hoạ mô hình ứng dụng phân tầng EJB : - Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet
Hình v ẽ minh hoạ mô hình ứng dụng phân tầng EJB : (Trang 38)
Hình 10. Use case quản trị - Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet
Hình 10. Use case quản trị (Trang 54)
Hình 11. Use case Khách Hàng  Khi ghé thăm web site, khách hàng có thể thực hiện các chức năng sau : - Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet
Hình 11. Use case Khách Hàng Khi ghé thăm web site, khách hàng có thể thực hiện các chức năng sau : (Trang 56)
Bảng dưới đây sẽ chú thích các khối xử lý : - Xây dựng hệ bán hàng trên mạng Internet
Bảng d ưới đây sẽ chú thích các khối xử lý : (Trang 73)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w