1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tiểu Luận Môn Nghệ Thuật Giao Tiếp

23 712 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 203,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

“Một con người có bản lĩnh” đó là một lời khen tặng biểu thị một đánh giá về nhân cách. “Một dân tộc có bản lĩnh” thể hiện trong lịch sử tồn tại và phát triển của dân tộc ấy, là niềm tự hào của những thành viên trong cộng đồng người kết thành dân tộc, và điều đó được thế giới biết đến.” Vì rằng, có những đất nước mà người ta chẳng biết gì ngoài cái tên, và cả cái tên cũng lạ hoắc. Còn với Việt Nam, một đất nước cũng xa xôi, nhưng tôi đã nghe về các bạn qua lịch sử, qua văn hóa lâu đời, những cuộc chiến tranh oanh liệt, và đặc biệt là hình ảnh về một đất nước đang cất cánh. Hình như nhận định của của Philip Kotler, người được xem là chuyên gia lừng danh về marketing ấy, không là một cách marketing về Việt Nam khi ông là khách mời được trân trọng ở đây cách nay không lâu. Chắc đây không chỉ là ý tưởng riêng của Philip KotlerTuy vậy, đừng quên rằng, cũng đã có lúc dân tộc này dường như đã gần biến mất trong cả một mưu đồ đồng hóa suốt hơn nghìn năm Bắc thuộc từ năm 111 trước CN cho đến năm 905 sau CN. Sau gần mười thế kỷ kiên cường đấu tranh để tồn tại vớii tư cách là một quốc gia độc lập, lần lượt đánh tan các đạo quân xâm lược phương Bắc, thì đến nửa đầu thế kỷ XIX, tên của quốc gia ấy bị xóa khỏi bản đồ thế giới trong ngót một trăm năm đô hộ của phương Tây, để rồi người ta chỉ biết đến một bộ phận của xứ Đông Dương thuộc Pháp. Thế là đến cái tên cũng chẳng còn chứ không phải chỉ là lạ hoắc Những hành động tự tin và khẳng định trong giao tiếp được mô tả là: biểu lộ và phát biểu ý tưởng và cảm xúc một cách trực tiếp, thành thật, và đúng mức nhưng không vi phạm đến quyền hạn của người khác.Khi tự tin, bạn cảm thấy tự chủ và có quyền làm hoặc nói những điều cần thiết, và có thể lựa chọn đúng lúc và đúng mức. Nhưng để phát biểu được những cảm tưởng, bạn phải chú tâm và hiểu biết chính mình trước. Như thế bạn mới có thể nhận định được những nhu cầu, mong muốn, và mối quan tâm của bản thân

Trang 1

đã nghe về các bạn qua lịch sử, qua văn hóa lâu đời, những cuộc chiến tranh oanh liệt,

và đặc biệt là hình ảnh về một đất nước đang cất cánh" Hình như nhận định của của Philip Kotler, người được xem là chuyên gia lừng danh về marketing ấy, không là "một cách marketing" về Việt Nam khi ông là khách mời được trân trọng ở đây cách nay

không lâu Chắc đây không chỉ là ý tưởng riêng của Philip Kotler!

Tuy vậy, đừng quên rằng, cũng đã có lúc dân tộc này dường như đã gần biến mất trong cả một mưu đồ đồng hóa suốt hơn nghìn năm Bắc thuộc từ năm 111 trước CN cho đến năm 905 sau CN Sau gần mười thế kỷ kiên cường đấu tranh để tồn tại vớii tư cách

là một quốc gia độc lập, lần lượt đánh tan các đạo quân xâm lược phương Bắc, thì đến nửa đầu thế kỷ XIX, tên của quốc gia ấy bị xóa khỏi bản đồ thế giới trong ngót một trăm năm đô hộ của phương Tây, để rồi người ta chỉ biết đến một bộ phận của xứ Đông Dương thuộc Pháp Thế là đến cái tên cũng chẳng còn chứ không phải chỉ là "lạ hoắc"!

Những hành động tự tin và khẳng định trong giao tiếp được mô tả là: "biểu lộ và

phát biểu ý tưởng và cảm xúc một cách trực tiếp, thành thật, và đúng mức nhưng không

vi phạm đến quyền hạn của người khác"

Khi tự tin, bạn cảm thấy tự chủ và có quyền làm hoặc nói những điều cần thiết,

và có thể lựa chọn đúng lúc và đúng mức Nhưng để phát biểu được những cảm tưởng, bạn phải chú tâm và hiểu biết chính mình trước Như thế bạn mới có thể nhận định được những nhu cầu, mong muốn, và mối quan tâm của bản thân

Ngược lại, có những hành vi giao tiếp thiếu sự tự tin và không khẳng định được nhu cầu của cá nhân như những hành vi sau:

I HÀNH VI THỤ ĐỘNG:

Khi bạn hành động theo ý muốn của người khác, mặc dù bạn không nhất thiết đồng ý với họ Lúc đó, bạn phủ nhận chính quyền hạn cá nhân của mình, và không dám

Trang 2

lên tiếng phản đối Trong trường hợp này, bạn cũng không dám khẳng định và lựa chọn theo ý bản thân vì không cảm thấy được tự chủ và sợ người khác phật lòng Nếu để tình trạng này kéo dài lâu ngày, bạn sẽ có nhiều nỗi bực dọc, uất ức vì cứ bị kiềm chế ý muốn của mình.

Hành vi này có một số đặc điểm như sau:

 Hy vọng đối tác sẽ đoán hiểu được ý muốn của mình Vì vậy, có những câu nói như: "Không sao đâu, tôi không nề hà, bạn có thể lựa", "Bạn cứ quyết định - tôi sẽ theo ý bạn", "Bạn làm sao cũng được"

 Không muốn có bất đồng mâu thuẫn, luôn luôn tìm cách giữ hoà thuận, không dám đối nghịch, và thường không đạt được những mong muốn

 Qua thời gian, sẽ mất tự tin, hay ngại và sợ không dám nói ý nghĩ thật, mọi người sẽ coi thường và không để ý đến

 Vì phải đè nén cảm xúc và ý muốn, dễ nổi giận và nổi xung đột xuất

 Có thể tạo vấn đề về tâm thể, đau đầu, đau lưng, mệt mỏi

II HÀNH VI LẤN ÁT:

Khi bạn hành động lấn át và vi phạm đến quyền cá nhân của người khác, nhất là với những hành động và lời nói quá khích, đe doạ Trong lúc này, bạn tỏ vẻ oai quyền, đòi hỏi người khác phải chiều theo ý của mình Sau mỗi lẫn biểu lộ hung hăng, hay cảm thấy thắng lợi và đắc chí Nhưng bởi vì những hành vi này thường biểu hiện cho những nỗi bực dọc uẩt ức và hay xảy ra đột xuất và không đúng mức nên sau đó có thể bạn vẫn cảm thấy bực bội, như vẫn chưa tự chủ được

Hành vi này có những đặc điểm sau:

 Hay có những hành vi và lời nói quá đáng

 Có những hành động như: mắng chửi, la lối, chỉ tay, nhìn đe doạ, chồm đến, đứng hoặc ngồi sát đối tác, giọng nói gằn

 Có những lời nói như: "Anh luôn luôn quên mang tài liệu", "Anh không bao giờ

Trang 3

dễ bị cô lập, cảm thấy cô đơn, và quen phải hung hăng mới đạt được ý muốn, không biết kiềm chế.

III HÀNH VI GIÁN TIẾP:

(Đôi khi còn được gọi là sự mạnh bạo lấn át giao tiếp)

Khi bạn không thẳng thắn phát biểu ý muốn của mình và phải giả bộ chiều theo ý

người khác, bạn đang hành động một cách gián tiếp, không khẳng định tự tin Trong trường hợp này, bạn không dám tỏ bất đồng, nhưng bạn không chịu nhượng bộ, bạn giả

bộ tỏ vẻ nhượng bộ, nhưng khi không có mặt đối tác, bạn thể hiện sự đối nghịch một cách rõ ràng và phát biểu cảm tưởng của mình

Hành vi này có những đặc điểm:

 Chỉ dám ngỏ ý gián tiếp, và hy vọng đối tác sẽ hiểu ý mình Đòi hỏi người khác phải hiểu ý của mình

 Hay phải giả bộ yếu đuối, lo sợ, e dè, ngại ngùng

 Phụ thuộc vào người khác vì không độc lập tự chủ

 Lúc tức thời thì có thể đạt được ý muốn gián tiếp, nhưng dễ bị hiểu lầm và dễ trở nên bực tức vì người khác không làm theo ý

 Qua thời gian thì sẽ dễ mất lòng tin của người khác, mất tự tin và không dám trực tiếp đòi hỏi Vì giả bộ nhiều nên dễ bị vướng mắc vào trường hợp khó xử

Vì vậy, hành vi tự tin khẳng định là khi bạn tự tin phát biểu ý muốn và cảm tưởng của

mình đúng lúc và đúng mức Bạn có thể phát biểu một cách bình tĩnh, rõ ràng và đủ quyền lực Ngay cả lúc có nhiều áp chế, bạn vẫn giữ mức tự tin đủ để khẳng định lập trường và cảm nghĩ của mình Mặc dù bạn tỏ ra tự chủ, bạn không vi phạm hoặc lấn át quyền hạn của người khác, và vẫn bảo vệ quyền lợi của mình

HÀNH VI TỰ TIN KHẲNG ĐỊNH :

Có một số đặc điểm như sau:

 Trực tiếp : truyền đạt ý một cách rõ ràng đến đúng đối tác.

 Thành thật : thông tin phản ánh đúng cảm tưởng và ý muốn.

 Chừng mực : đúng lúc và đúng mức.

Lúc mới đầu thì có thể là: những người khác khi chưa quen giao tiếp có thể giận hoặc chỉ trích, bạn cảm thấy hơi áy náy về việc khẳng định trực tiếp Nhưng bạn sẽ cảm thấy thoải mái khi phát biểu được những ý muốn của mình, và khi thành công trong giao tiếp

Trang 4

Những thành quả lâu dài có thể là: giao tiếp thật tình và mối quan hệ chặt chẽ, tín tưởng, cảm thấy tự tin và tự chủ, và mọi người để ý nghe lời của bạn

Để đạt được sự tự tin khẳng định trong giao tiếp, chúng ta đều phải có một số quyền cơ bản:

CÁC QUYỀN CƠ BẢN TRONG GIAO TIẾP

 Quyền được hành động theo ý muốn

 Quyền tự chủ và tự trọng

 Quyền được đối xử tử tế

 Quyền từ chối không điều kiện

 Quyền được cảm nhận và phát biểu cảm xúc

 Quyền tư duy

 Quyền thay đổi ý kiến

 Quyền đòi hỏi mong muốn cá nhân

 Quyền hạn chế các hoạt động tuỳ ý

 Quyền đòi hỏi thông tin

 Quyền mắc lỗi

 Quyền tự hào

Những hành vi tự tin khẳng định trong giao tiếp:

 Nhìn trực tiếp

 Nói rõ ràng, đủ câu, không bỏ dở

 Giọng vừa đủ nghe, nhưng vững chắc

 Không la lối, không lí nhí

 Nói đúng vấn đề, không rào trước đón sau

 Phát biểu hết ý, không để người khác đoán ý

 Cử chỉ, phong thái, dáng điệu bình thường, không thu hẹp, không đe doạ

 Trong lúc phát biểu không nên phân tán tư tưởng

Cách nói tự tin khẳng định trong giao tiếp:

 Phát biểu những ý, mong muốn, cảm tưởng của "tôi" Sử dụng "tôi" nhiều trong giao tiếp Ví dụ: "Tôi e công việc sẽ không xong kịp nếu anh nghỉ nhiều" thay vì "Anh nghỉ nhiều việc sẽ không làm xong"

 Khi đặt câu hỏi, sử dụng những câu như "Cái gì", "Làm thế nào" thay vì "Tại sao"

Trang 5

Tránh nói một cách tổng quát như "Anh không bao giờ đến họp" Nói một cách cụ thể như "Ba bốn tuần rồi không thấy anh đến họp".

 Tránh sử dụng những từ làm giảm bớt ý như: "Cũng như", "ahhh", "Anh biết

Khi nói về vấn đề, tránh đặt giả thuyết vô cớ

Một tình huống đặc biệt trong giao tiếp là yêu cầu sự thay đổi Trong trường hợp

này, chúng ta thường có một mong muốn nào, và đòi hỏi đối tác phải thay đổi để thích ứng với ý muốn của mình Thay vì có những hành vi tiêu cực như đe doạ hoặc châm biếm, chúng ta có thể đưa ra yêu cầu một cách trực tiếp và thẳng thắn, nhưng đúng mức và tôn trọng đối tác

Trang 6

B-NỘI DUNG

I/Khái niệm giao tiếp

Giao tiếp là một trong những phạm trù trung tâm của tâm lý học Tư tưởng về giao tiếp được đề cập đến từ thời cổ đại qua thời kỳ phục hưng và đến giữa thế kỷ XX thì hình thành nên một chuyên ngành Tâm lý học giao tiếp Ngay từ khi cịn là các tư tưởng

về giao tiếp đến khi xuất hiện Tâm lý học giao tiếp thì khái niệm, bản chất giao tiếp chưa bao giờ thống nhất hồn tồn Mỗi tác giả đề cập đến một mặt, một khía cạnh của hoạt động giao tiếp

1.1.Trên thế giới

Nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E cho rằng giao tiếp bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thơng tin và tiếp nhận thơng tin Theo ơng, giao tiếp là một quá trình hai mặt: Liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau Tuy nhiên ơng chưa đưa ra được nội hàm cụ thể của liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau Sau ơng, nhà tâm lý học người Anh M.Argyle đã mơ tả quá trình ảnh hưởng lẫn nhau qua các hình thức tiếp xúc khác nhau

Ơng coi giao tiếp thơng tin mà nĩ được biểu hiện bằng ngơn ngữ hay khơng bằng ngơn ngữ giống với việc tiếp xúc thân thể của con người trong quá trình tác động qua lại về mặt vật lý và chuyển dịch khơng gian Đồng thời, nhà tâm lý học Mỹ T.Sibutanhi cũng làm rõ khái niệm liên lạcnhư là một hoạt động mà nĩ chế định sự phối hợp lẫn nhau và sự thích ứng hành vi của các cá thể tham gia vào quá trình giao tiếp hay như là sự trao đổi hoạt động đảm bảo cho sự giúp đỡ lẫn nhau và phối hợp hành động Ơng viết: “Liên lạc trước hết là phương pháp hoạt động làm giản đơn hố sự thích ứng hành vi lẫn nhau của con người Những cử chỉ và âm điệu khác nhau trở thành liên lạc khi con người sử dụng vào các tình thế tác động qua lại”

Các tác giả trên mới chỉ dừng lại ở sự mơ tả bề ngồi của hiện tượng giao tiếp Cũng cĩ nhiều ý kiến phản đối những cách hiểu trên, chẳng hạn như nhà nghiên cứu người Ba Lan Sepanski đưa ra sự phân biệt giữa tiếp xúc xã hội và tiếp xúc tâm lý (khơng được phép đồng nhất giữa liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau) Đồng quan điểm với ơng cĩ một số nhà nghiên cứu khác như P.M.Blau, X.R.Scott…

Các nhà tâm lý học Liên Xơ cũ cũng rất quan tâm tập trung vào nghiên cứu hiện tượng giao tiếp Cĩ một số khái niệm được đưa ra như giao tiếp là sự liên hệ và đối xử

Trang 7

lẫn nhau (Từ điển tiếng Nga văn học hiện đại tập 8, trang 523 của Nxb Matxcơva); giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc (L.X.V¬gôtxki) Còn X.L.Rubinstein lại khảo sát giao tiếp dưới góc độ hiểu biết lẫn nhau giữa người với người.

Trường phái hoạt động trong tâm lý học Xô Viết cũng đưa ra một số khái niệm về giao tiếp như là một trong ba dạng cơ bản của hoạt động con người, ngang với lao động và nhận thức (B.G.Ananhev); giao tiếp và lao động là hai dạng cơ bản của hoạt động của con ngöời (A.N.Lêônchep); và giao tiếp là một hình thức tồn tại song song cùng hoạt

Một nhà tâm lý học nổi tiếng khác, Fischer cũng đưa ra khái niệm về giao tiếp của mình: Giao tiếp là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các dạng thức ứng xử rất khác nhau: Lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn; theo quan điểm ấy, không có sự đối lập giữa giao tiếp bằng lời và giao tiếp không bằng lời: giao tiếp là một tổng thể toàn vẹn

I.2.1 Ở Việt Nam

Theo “Từ điển Tâm lý học” của Vũ Dũng Giao tiếp là quá trình thiết lập và phát triển tiếp xúc giữa cá nhân, xuất phát từ nhu cầu phối hợp hành động Giao tiếp bao gồm hàng loạt các yếu tố như trao đổi thông tin, xây dựng chiến lược hoạt động thống nhất, tri giác và tìm hiểu người khác Giao tiếp có ba khía cạnh chính: Giao lưu, tác động tương

hỗ và tri giác

Theo “Từ điển Tâm lý học” của Nguyễn Khắc Viện Giao tiếp là quá trình truyền đi, phát đi một thông tin từ một người hay một nhóm cho một người hay một nhóm khác, trong mối quan hệ tác động lẫn nhau (tương tác) Thông tin hay thông điệp được nguồn phát mà người nhận phải giải mã, cả hai bên đều vận dụng một mã chung

Theo “Tâm lý học đại cương” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên) Giao tiếp là quá trình tiếp xúc giữa con người với con người nhằm mục đích nhận thức, thông qua sự trao đổi với nhau về thông tin, về cảm xúc, sự ảnh hưởng tác động qua lại lẫn nhau.Theo “Tâm lý học xã hội” của Trần Thị Minh Đức (chủ biên) Giao tiếp là sự tiếp xúc trao đổi thông tin giữa người với người thông qua ngôn ngữ, cử chỉ, tư thế, trang phục…

Như vậy, có rất nhiều đinh nghĩa khác nhau về giao tiếp, mỗi tác giả tuỳ theo phương diện nghiên cứu của mình đã rút ra một định nghĩa giao tiếp theo cách riêng và làm nổi bật khía cạnh nào đó Tuy vậy, số đông các tác giả đều hiểu giao tiếp là sự tiếp xúc tâm lý giữa người với người nhằm trao đổi thông tin, tư tưởng tình cảm…Giao tiếp

là phương thức tồn tại của con người

Trang 8

Nĩi tĩm lại : cĩ rất nhiều cách định nghĩa khác nhau về giao tiếp, và như vậy

dẫn đến rất nhiều phương pháp tiếp cận, nghiên cứu các vấn đề về giao tiếp Các quan điểm trên đây cịn nhiều điểm khác nhau nhưng đã phần nào phác họa nên diện mạo bề ngồi của giao tiếp Giao tiếp và hoạt động khơng tồn tại song song hay tồn tại độc lập,

mà chúng tồn tại thống nhất, chúng là hai mặt của sự tồn tại xã hội của con người

Giao tiếp được coi như:

 Qúa trình trao đổi thơng tin

 Sự tác động qua lại giữa người với người

 -Sự tri giác con người bởi con người

II/ Các yếu tố nhận thức ảnh hưởng quá trình giao tiếp

Với sự nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác nhau như tâm lý học, xã hội học, kinh tế học, ngơn ngữ học, y học…đặc biệt với sự phát triển của tin học và điều khiển học, khái niệm giao tiếp khơng chỉ đơn thuần như một quá trình truyền đạt thơng tin từ một điểm phát tới một điểm thu Để quá trình giao tiếp phát huy được hiệu quả cao nhất thì phải tính đến các yếu tố tham gia trong giao tiếp

Theo “Giáo trình tâm lý học xã hội” - PGS.TS Trần Thị Minh Đức chủ biên thì

cĩ bẩy yếu tố tham gia vào quá trình giao tiếp Chúng tơi điểm qua và chỉ đi sâu vào nội dung giao tiếp

2.1 Chủ thể giao tiếp

Là con người cụ thể tham gia vào quá trình giao tiếp: một người hay nhiều người

- đĩ là ai - với những đặc điểm sinh lý, tâm lý và xã hội ra sao? Tri thức và trình độ hiểu biết…như thế nào? Tất cả các đặc điểm của chủ thể giao tiếp đều ảnh hưởng đến hiệu

Giao tiếp người - người thì cả hai đều là chủ thể giao tiếp và đều là đối tượng giao tiếp, vai trị này được chuyển đổi linh hoạt thường xuyên trong quá trình giao tiếp

Họ khơng chỉ là người nĩi và người nghe vì mọi giác quan đều tham gia vào quá trình này, từ dáng điệu, cử chỉ, ánh mắt, vẻ mặt, thậm chí cả mùi nước hoa…

2.2 Mục đích giao tiế

Nhằm thoả mãn nhu cầu nào - nhu cầu trao đổi thơng tin, nhu cầu chia sẻ tình cảm, nhu cầu tiếp xúc giải trí, nhu cầu được khẳng định trước người khác…

Trang 9

2.3 Nội dung giao tiếp

Nội dung giao tiếp là những vấn đề mà chủ thể đề cập đến khi giao tiếp với

Đây là yếu tố quan trọng nhất trong quá trình giao tiếp thể hiện ở thông tin cần truyền đạt Thông tin cần phải được cấu trúc như thế nào để nó phản ánh được đúng nội dung cần truyền đạt, cũng như đến được người thu với kết quả cao nhất Đối với các chủ thể giao tiếp, thông tin có thể đã biết hoặc chưa biết, muốn biết hoặc không muốn biết Nội dung thông tin có thể đem lại điều tốt lành hoặc gây thất thiệt hoặc chỉ đơn giản là một điều thông báo…

Trong nội dung giao tiếp người ta thường chia ra hai loại: nội dung tâm lý và nội dung công việc

2.3.1 Nội dung tâm lý trong giao tiếp

Nội dung tâm lý trong giao tiếp bao gồm các thành phần cơ bản là nhận thức, thái độ xúc cảm và hành vi

Ở bất kỳ một cuộc giao tiếp nào giữa con người với con người đều để lại trong chủ thể và đối tượng giao tiếp một phẩm chất nhất định về nhận thức Nội dung nhận thức trong giao tiếp rất phong phú, đa dạng và sinh động Thông qua giao tiếp để người

ta trao đổi vốn kinh nghiệm, tranh luận về quan điểm, thái độ Sau mỗi lần giao tiếp mọi thành viên đều nhận thức thêm được những điều mới mẻ Thông qua giao tiếp để người

ta truyền đạt và lĩnh hội những tri thức về tự nhiên, xã hội Cũng chính thông qua giao tiếp để người ta hiểu biết lẫn nhau

Như vậy, nội dung nhân thức có thể xảy ra trong suốt cả quá trình giao tiếp hoặc chỉ xẩy ra mạnh mẽ tại thời điểm gặp gỡ Dù ở thời điểm nào thì kết thúc quá trình giao tiếp cũng đưa lại cho con người một nhận thức, một hiểu biết mới

Thành phần thái độ cảm xúc: Từ thời điểm bắt đầu, qua diễn biến rồi đến kết thúc của một quá trình giao tiếp đều biểu hiện một trạng thái xúc cảm nhất định của chủ thể và đối tượng giao tiếp Trong giao tiếp, ngoài sự định hướng về hình thể, nội dung giao tiếp, con người bao giờ cũng thể hiện thái độ của mình trước khi bắt đầu tiếp xúc: Thiện chí, hữu nghị hay lãnh đạm, thiếu quan tâm…Những thái độ cảm xúc này mang tính định hướng cho quá trình giao tiếp, chúng thay đổi cùng với nội dung và hoàn cảnh giao tiếp, có thể từ thiện chí đến không thiện chí, từ thờ ơ đến quan tâm…

Trang 10

Hành vi, một nội dung tâm lý quan trọng trong quá trình giao tiếp Nó được biểu hiện qua hệ thống những vận động của đầu, chân tay, nét mặt, ánh mắt, miệng, ngôn ngữ…sự vận động của toàn bộ những bộ phận trên hợp thành hành vi giao tiếp Tất cả những hành vi đó đều chứa đựng một nội dung tâm lý nhất định trong một hoàn cảnh cụ thể.

2.3.2 Nội dung công việc.

Nội dung công việc trong giao tiếp chỉ tính chất mối quan hệ xã hội Nội dung công việc trong giao tiếp chỉ tính chất mối quan hệ xã hội Nội dung công việc mang tính chất tạm thời, vụ việc xẩy ra trong quan hệ con người với con người Bất kỳ một tiếp xúc nào giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp đều tìm thấy một.nội dung nhất định Ngay trong nội dung công việc cũng phải có nội dung tâm lý biểu hiện Công việclà sự biểu hiện bên ngoài, công việc thực hiện tốt hay không tốt được các nội dung tâm lý hướng dẫn, kích thích như là động lực thúc đẩy hoặc kìm hãm trực tiếp

Giao tiếp trong công việc bao giờ cũng mang tính chất hoàn cảnh, tình huống, xảy ra trong thời gian ngắn, nhưng chính thái độ và hành vi ứng xử của chủ thể và đối tượng giao tiếp ở những tình huống này chứa đựng một bản chất thực vốn có của mọi người

Như vậy, nội dung giao tiếp có thể luôn được thể hiện ở bất kỳ một quá trình giao tiếp nào, đó là một trong những đặc trưng của giao tiếp

Nội dung giao tiếp chịu ảnh hưởng của lứa tuổi, nghề nghiệp, giới tính…của các chủ thể giao tiếp Ngoài ra nó còn chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh, điều kiện giao tiếp cũng như trạng thái tâm lý của chủ thể Phương tiện giao tiếp được thể hiện thông qua các hệ thống tín hiệu giao tiếp ngôn ngữ (gồm tiếng nói và chữ viết) và giao tiếp phi ngôn ngữ (nét mặt, giọng nói, cử chỉ, tư thế…)

2.4 Hoàn cảnh giao tiếp

Là bối cảnh trong đó diễn ra quá trình giao tiếp, bao gồm cả khía cạnh vật chất

và khía cạnh xã hội

Khía cạnh vật chất thí dụ như địa điểm, kích thước không gian gặp gỡ, số người hiện diện, khí hậu, ánh sáng, tiếng ồn, màu sắc đồ vật xung quanh…Đây là những khía cạnh nằm bên ngoài các đối tượng đang giao tiếp

Khía cạnh xã hội ví dụ như mục đích giao tiếp, quan hệ giao tiếp

Trang 11

2.5 Kênh giao tiếp

Là đường liên lạc giữa chủ thể và đối tượng giao tiếp Vì vậy phải tổ chức kênh sao cho quá trình giao tiếp đạt được hiệu quả nhất Thí dụ: Kênh giao tiếp là thị giác thì cần phải cấu trúc bài viết ra sao và làm thế nào để đối tượng giao tiếp nhìn thấy rõ các

2.6 Quan hệ giao tiếp

Thể hiện mối tương quan giữa các chủ thể giao tiếp Chẳng hạn như mức độ thân

sơ, vai vế, uy tín, địa vị xã hội, tuổi tác… giữa họ

2.7.Giao tiếp Phi Ngôn Ngữ !

Chủ đề Giao Tiếp Phi Ngôn Ngữ là một chủ đề rộng và sâu về những cách thức giao tiếp ngoài lời nói ; nhiều nhà ngôn ngữ học trên Thế Giới đã nghiên cứu và nhận định : Lời nói có thể không phải là tất cả …

Chúng ta không thể phủ nhận tầm quan trọng của giao tiếp bằng lời nhưng những buổi diễn thuyết, bữa tiệc hay chỉ đơn thuần là các buổi nói chuyện sẽ trở nên kém hấp dẫn nếu như không có giao tiếp bằng cử chỉ

Không phải lúc nào con người ta cũng có thể dùng lời nói để diễn đạt suy nghĩ của mình Một chàng trai đã từng viết "chỉ cần nắm tay, hai mắt gặp nhau và một nụ hôn nhẹ là đã có ý nghĩa với anh hơn cả ngàn lời nói"

Chỉ cần tinh tế một chút trong giao tiếp chúng ta sẽ nhận ra ngay chúng ta không chỉ giao tiếp bằng lời nói mà bằng cả ngôn ngữ của cơ thể Martin Luther đã từng nói

"đừng nghe những gì anh ta nói mà hãy nghe những gì bàn tay anh ta nói"

Phải đến thế kỉ 20 giao tiếp phi ngôn ngữ mới được quan tâm một cách thực sự Giao tiếp phi ngôn ngữ là giao tiếp thông qua các cử chỉ hành động của cơ thể như nét mặt, cách nhìn, điệu bộ,và khoảng cách giao tiếp Có rất nhiều học thuyết nghiên cứu về

Ngày đăng: 18/07/2014, 13:38

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w