1. Trang chủ
  2. » Văn Hóa - Nghệ Thuật

tuyến điểm củ chi – tây ninh

18 432 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 18
Dung lượng 46,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Năm 1947 hoàn thành công trình Năm 1955 khánh thành tòa thánh CẤU TRÚC Tòa Thánh cất theo kiểu Thiên Đình, cửa chính của Tòa Thánh quay mặt về hướng Đông.. Nghinh Phong Đài: cao Bát Quái

Trang 1

NÚI BÀ ĐEN

Trang 2

Theo lời tục truyền của thiền sư Đạo Trung – Thiện Hiếu (tục gọi là Tổ Bưng Đỉa) là người khai sơn chùa Linh Sơn thời cuối thế kỷ XVIII Song đến năm 1872, trong núi mới được xây dựng thành ngôi đến Bà – gọi là

Điện Bà.

Hàng năm Hội xuân núi Điện Bà thu hút khách hành hương suốt cả 3 tháng đầu năm, lễ hội chính diễn ra từ ngày 15 đến ngày 18 tháng giêng Đây là hoạt động hành hương thực sự vì nó được tiến hành như một chuyến

đi núi để lễ bái và cầu nguyện là nguồn gốc

của nó là tập quán “Đi chùa quanh năm không bằng ngày rằm tháng giêng” một trong

ba ngày rằm lớn gọi là Tam nguyên.

Trang 3

Lễ vía bà hằng năm được tổ chức vào ngày 5 và 6 tháng 5 âm lich lại dường như có liên quan đến lễ Đoan Dương, một trong lễ chính thức “Tứ thời tiết lạp” truyền thống có chức năng “trừ độc” tức tẩy trừ bệnh tật Tuy nhiên với cách nhìn là như vậy, nhưng lễ Vía Bà ở đây lại là một hình thức tổng hợp cả ba nghi lễ Hát Bóng rỗi dân gian và khoa thi

Trai đàn thí thực nhà phật.

TỊA THÁNH CAO ÀI ĐÀI

Trang 4

Dài : 140m Rộng : 42m Cao : 25m Xây dựng : 1936 Hoàng tất: 1947 Khánh thành : 1955 Diện tích : 1Km

VỊ TRÍ Nằm cách thị xã Tây Ninh 4Km về hường Đông, tọa lạc tại huyện Hòa Thành – tỉnh

Tây NInh.

LỊCH SỬ XÂY DỰNG Năm 1931 khởi công đào móng làm nền, đào

hầm bát quái Năm 1933 Lê Văn Trung và Lâm Hương Thanh tiếp nối xây dựng công trình

Năm 1935 vận động tiền xây ầu Hiệp Thiên

Đài Năm 1936 Phạm Công Tắc cho xây tiếp đến khi ông bị đài sang Châu Phi (trên đảo

Madagasca) năm 1941

Trang 5

Năm 1947 hoàn thành công trình Năm 1955 khánh thành tòa thánh

CẤU TRÚC Tòa Thánh cất theo kiểu Thiên Đình, cửa chính của Tòa Thánh quay mặt về hướng

Đông.

Tòa Thánh có hình chữ nhật, kích thước 135m

x 27m trên diện tích 1Km gồm 3 phần:

Hiệp Thiên Đài: cao 25m, hai bên là lầ Chông

và lầu Trống cao 36m xây nối theo Cửu

Trùng Đài, trên có hình vuông mỗi cạnh

2,7m.

Nghinh Phong Đài: cao Bát Quái Đài : cao 30m, hình vuông, mỗi cạnh

dài m, nền cao,,,,,,,m

KIỀN TRÚC Tòa Thánh được xây bằng tổng hợp các kiến trúc của nhiều tôn giáo khác nhau: 2 tháp chuông của nhà thờ, mái cong đỏ của nhà chùa, chóp ngũ hành của thánh đường Hồi

Giáo.

BỐ CỤC – Ý NGHĨA – CÁCH TRANG TRÍ

Cổng chính

Trang 6

Từ cổng vào, phía trên có hàng chữ: “ Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”, cổng chính nằm ở phía

Tây, có 12 cửa trang trí hình, có hình lưỡng

long.

Huy hiệu tượng trưng cho Đại Đạo Tam Kỳ

Phổ Độ:

Sách xuân thu: Tượng trưng cho Nho Giáo –

sơn màu đỏ Cây phất chủ: Tượng trưng cho Lão Giáo –

sơn màu xanh Bình bát du: Tượng trưng cho phật giáo – sơn

màu vàng Đây là 3 bửu bối của 3 đạo lớn.

Sân Trước]

Có 3 bảo tháp Bảo tháp của Đức Hộ Pháp ở giữa dành cho

đức hộ pháp Phạm Công Tắc.

Bảo tháp của Đức Thượng Sanh – Cao Huỳnh

Cư nằm bên trái Bảo tháp của Đức Thượng Phẩm – Cao Hoài

Sang nằm bên phải.

Trang 7

Sau 3 bảo tháp, bước vào sân là tượng đài của

Thái tử Sidharta (Phật thích ca) Thái tử cỡi

ngựa đi tìm đạo và theo sau là người đầy tớ

trung thành Sa Nặc.

Mặc dù sống tronh nhung lụa nhưng Thái tử cho rằng sống kiếp này chỉ là tạm bợ, ông tin rằng con người ở kiếp khác Từ đó ông quyết tâm tìm đạo để giải thoát chúng sinh khỏi cảnh Sinh – Lão –Bệnh – Tử Sau bao năm

gian khổ ông đã đắc đạo.

Tiếp theo là bệ cao 9 tầng là Cửu Trùng Thiên, có cấu trúc Bát giác (8 cạnh), là nơi thiêu xác những vị chức sắc có đầy đủ công đức (hỏa thiêu ở đài trên cùng) Dưới Cửu Trùng Thiên là bậc thềm sơn 3 màu Tượng

trưng cho tam giáo đồng nguyên:

Màu đỏ: Nho giáo Màu xanh: Lão giáo Màu vàng: Phật giáo Tiếp theo là cột Phướng cao 36m KIẾN TRÚC BÊN NGOÀI TÒA THÁNH

HIỆP THIÊN ĐÀI

Trang 8

Bên tả là Bạch Ngọc Chuông Đài (lầu

Chuông): hình ông Lê Văn Trung

Bên hữu là Lôi Âm Cổ Đài (lầu Trống): Hình

nữ Đầu Sư Lâm Thanh Hương Thánh Thất chia ra làm 3 phần:

Hai tháp hai bên là phần điện nằm giữa.

Hai tháp mỗi tháp cao 6 tầng Tầng dưới cùng: cả hai tháp là hai bông thông

gió mỗi bên có chữ”Cao Đài”

Tầng hai: Tháp bên trái có tượng Huỳnh giáo tông Lên Văn Trung, tháp bên phải có tượng

Nữ đầu sư Lâm Thanh Hương.

Tầng ba: cả 2 tháp có mái ngói và hai thông

gió mỗi bên.

Tầng bốn: hai bên tháp, mỗi bên có phù điêu (một bên là chùm hoa rơi xuống đại dương

vào lúc bình minh) Tầng năm, sáu: có ban công và bông thông

gió Phần giữa hai tòa tháp có 3 tầng Tầng 1:Là Tịnh Tâm Điện có hai cột rồng hai

bên

Trang 9

Tầng 2: Nhị Thiên Đài gồm:Hai cột rồng ở ngoài và hai cột hoa ở bên trong, có hình hình

tượng ông Thiện và ông Ác.

Tầng 3: Phi Tưởng Đài Trên đỉnh có tượng Phật Di Lặc cưỡi trên lưng cọp theo cơ bút là cứu cánh của “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ”, là đưa nhân loại đến với hội Long Hoa do phật Di Lặc chấn chưởng và làm giáo chủ Nền “Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ” khai sinh năm Bính Dần (1926)nên phật ngồi trên lưng cọp kỉ niệm năm khai đạo Tịnh Tâm Điện có 8 phù điêu trên ban công tượng trưng cho 8 cấp trong xã hội: Ngư – Tiều – Sỹ – Nông – Công – Thương – Canh –

Mục.

Phần bên trái của Tịnh Tâm Điện là ông Thiện đứng trên Đài sen và bên phải là ông

Ác đứng trên hỏa đài.

Bàn thờ của Hiệp Thiên Đài thờ Hộ Pháp – Thượng Sanh – Thập nhị thời quân Trên

cùng Giữa có hình Thiên Nhãn.

NGHINH PHONG ĐÀI

Trang 10

Trên nóc có hình Long Mã, chạy về hướng Đông, đầu quay về hướng Tây Long Mã đứng

trên quả địa cầu.

Long tượng trưng cho rồng bay, tượng trưng

cho trời = Dương.

Mã Tương trưng cho âm vì ngựa chạy trên

đất là thế gian.

Trên lưng Long Mã có bức Hà Đồ và thanh

gươm.

Đầu Long Mã quay về hướng Tây vì đạo lớn xuất phát từ hướng Tây Đời Phục Hy khi đi ngang qua sông, thấy Long Mã hiện lên, sóng

to, gió lớn Trên lưng Long Mã có bức Hà Đồ và thanh gươm trao cho ông trời sau đó đi

xuống biển.

BÁT QUÁI ĐÀI

Bát Quái Đài, trên nóc có kiến trúc bát giác Bát Quái tượng trưng cho thế giới siêu hình,

nơi thần thánh ngự tại.

Trên cùng có tam thế phật (theo đạo

Balamôn)

Trang 11

Siva: Cỡi trên Thất đầu xà, mặt quay về hướng Bắc Diệt thất tình, thổi sáo kêu gọi chúng sinh Đây là phật Hủy diệt và sáng tạo Brahma: Cỡi trên thiên nga bay khắp toàn cầu, mặt quay về hướng Tây Đây là phật hủy

diệt và phát sinh cái mới.

Visnu: Cỡi trên giao long, mặt quay về hướng Nam Đây là phật tượng trưng cho sự bảo tồn,

là hóa thân thứ chín của thần Visnu.

BỐ CỤC NÊN TRONG TÒA THÁNH

Từ cửa đi vào Tịnh Tâm Điện Bức ảnh “Tam thánh ký hòa ước”

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1492 – 1587)

Cụ là nhà tiên tri danh tiếng, ở đời Mạc Lê Cụ thi đậu trạng nguyên, tước vị là Trình Quốc Công, tục gọi là Trạng Trình Gián cơ tự xưng là Thánh Sơn Đạo Sĩ, tức là vị sư phó

của Bạch Vân Động.

Trang 12

Victo Hugo (1802 – 1885) Victo Hugo, nhà Thi gia trứ danh của Pháp Quốc Ông gián cơ tự xưng là Nguyệt Tâm Chơn Nhơn, tức là đệ tử của cụ Nguyễn Bình

Khiêm ở Bạch Vân Động Tôn Dật Tiên (1866 – 1925) Cụ là Đại cách Mạng Gia nhà nước Trung Hoa, nhũ văn là Tôn Văn Cụ gián cơ tự xưng là Trung Sơn Chơn Nhơn, tức là đệ tứ của cụ Nguyễn Bỉnh Khiêm ở Bạch Vân Động.

Ba vị thánh nhơn trên là thiên sứ đắc linh làm hướng đạo cho nhân loại để thực hành đệ tam

thiên nhơn hòa ước.

Tuy ba vị thánh ở ba thế hệ khác nhau nhưng khi chết họ gặp nhau và cùng gián cơ vào đạo

cao đài.

Bước vào bên trong Bức tranh tam thánh

Trang 13

Ở giữa có bức tượng của ông Phạm Công Tắc

– Đức Hộ Pháp dưới chân có 7 đầu rắn là

thất tình, tượng trưng cho tình cả con người là: Hỉ – Nộ – Ái – Ố – Ai – Lạc – Dục (vui, phấn chấn, yêu, sợ, phẫn nộ, dục dã, buồn).

Ba đầu rắn hướng lên tượng trưng cho 3 đức tính tốt: Hỉ – Ái – Lạc Bốn đầu rắn quay xuống mà ông Phạm Công Tắc đạp lên ý nói bài trừ những điều xấu của con người, giú con người nuôi dưỡng những đức tính tốt đáng

trân trọng.

Bên phải là tượng của Cao Thượng Phẩm – Cao Huỳnh Cư, tay cầm quạt ba tiêu.

Bên trái là tượng của Cao Thượng Sanh – Cao Hoài Sang, tay cầm cây phất trần.

VaØo chánh điện ta đi qua Cửu Trùng Đài –

Phía dưới có 9 bặc thềm

1 Giáo Tông (cao nhất)2 Chưởng pháp

3 Đầu sư 4 Phối sư

5 Giáo sư 6 Giáo hữu

7 Lễ sanh8 Chức viện

Trang 14

9 Tín hữu Giữa chánh điện có 18 cột rồng tượng trưng cho Thập Nhị Bát Tú Thánh – thần – tiên –

phật chầu thượng đế.

Cấp thứ năm có giảng đài: có 2 giảng đài, khi hành lễ các đầu sư đứng trên giảng đài để giảng đạo, có 7 ghế là 7 chiếc ngai (ngai sơn

son thiết vàng) có 3 cấp vị

Đầu sư Chưởng pháp Giáo tông Tát cả không ai còn sống nên để trống 7 ghế, hai bên hàng ghế có cây tán, những cây lọng

và bát bửu.

Tấm Bao Lam  8 vị Tiên – Thánh – Thần:

Quang âm Khổng tử Phật thích ca Lý thái bạch Thánh Jesu Khương tử nha

Lão tử Quang công

Trang 15

Bàn thờ bố trí ở hướng Nam, trình bày theo hướng Đông Bình – Tây quả Ở giữa có ngọn đèn gọi là Quang Minh, dưới có 3 chung rượu, bên phải có ba tách nước bên trái có ba tách trà Bên dưới, ở giữa có lư hương thấp nhang,

hai bên có hai ngọn nến.

Trên bàn thờ chính có tam bửu Hoa: Tượng trưng cho Tinh Rượu: Tượng trưng cho Khí Trà: Tượng trưng cho Thần Người ta quan niềm mỗi ngươi đều có ba món báo vật, người theo đạo luyện được Tinh – Khí – Thần, hòa lại, hiệp nhất sẽ thoát khỏi dòng sinh tử Hay nói cách khác luyện Tinh hóa Khí – luyện Khí hóa Thần – luyện Thần

hóa Hư.

Năm cây nhang tượng trương cho:

Cây nhang 1: Cây giải hương = giải thoát

Cây nhang 2: Định hương Cây nhang 3: Huệ hương = tài đức

Cây nhang 4: Chánh hương = nâng cao tài đức

Cây nhang 5: Giải thoát hương

Trang 16

Ngọn đèn luôn được thắp sáng: Vì theo quan niệm của đạo thì hai vầng Nhật – Nguyệt luôn

thay phiên nhau ẩn hiện

Trên cao nhất là Quả Càn Không với hình Thiên Nhãn ở giữa có tổng cộng 3.072 ngôi

sao VÁCH HÔNG TÒA THÁNH Trên các vách của tòa thánh có:

Hai búp sen tượng trương cho lưỡng nghi (âm

– dương) Bốn cánh sen là tượng trưng cho tứ tượng (bốn hướng: Đông – tây – nam – bắc)

Tám cánh sen tượng trưng cho bát quái: Càn – Khảm – Cấn – Chấn – Tốn – Ly – Khôn –

Đoài Mười hai ngó sen tượng trưng cho 12 con

giáp:

Trang 17

TÊN GỌI CỤC R

Trước đây chưa có Trung Ương Cục, ở miền Nam có xứ ủy Nam Kỳ chánh văn phòng là ông Nguyễn Hữu Thế (rất giỏi chữ Hán – tiếng Pháp)

Sau khi lên nắm chính quyền Ngô Đình đàn áp cách mạng Việt Nam cũng như truy tìm những người nông dân theo cách mạng rất gắt gao và luật 10.1959 ra đời ông cho đem máy chém

đi khắp vùng Nam bộ và xử tử những người chống lại chính quyền của ông.

Năm 1960 Chính Phủ Cách Mạng Lâm Thời Miền Nam Việt Nam ra đời thay cho Xứ Uûy Nguyễn Hữu Thế trong thời gian hoạt động ông đã dùng những ký tự trong bản chữ cái tiếng Pháp để quản lý (che mắt địch)

Trang 18

CĂN CỨ TRUNG ƯƠNG CỤC MIỀN NAM

Cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam – Việt Nam, tên gọi đầu tiên là văn phòng Xứ Ủy

Nam Kỳ.

Năm 1951 sau đại hội đảng toàn quốc lần thứ

2, khu Trung Ương Cục được di chuyển đến căn cứ Đồng ở huyện Dương Minh Châu Sau đại hội đảng lần 3, chuyển về phía Bắc Tây Ninh và trong giai đoạn 1954 – 1975 đã nhiều lần thay đổi nơi làm việc, thậm chí chuyển sang

đất bạn Capuchia Đại Tướng: Nguyễn chí Thanh Bí Thư

Phạm Hùng Lê Văn SỹBí Thư Căn cứ TW cục

Trần Nam Trung

Ngày đăng: 16/07/2014, 21:39

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w