Nhìn chung thì các qui luật này được thực hiện tự giác thể hiện khía cạnh lành mạnh văn minh của người Ê Đê.c/ Phong tục tang lễ : Theo quan điểm của các dân tộc thiểu số con người sau k
Trang 1I KHÁI QUÁT VỀ TÂY NGUYÊN:
Tây Nguyên nằm trong một vùng đất cao rộng lớn ở sau lưng vòng cánh cung của vùng núi Trường Sơn Nam Toàn bộ vùng Tây Nguyên gồm có nhiều cao nguyên với những độ cao khác nhau và các tỉnh của Tây Nguyên được phân bố trên các cao nguyên: cao nguyên Kon Tum, Pleiku có độ cao trên 500 – 600m với nhiều dấu tích của núi lửa như biển hồ T’Nưng và ngọn núi Ngọc Linh cao trên 2598m ở phía Bắc Cao nguyên Đắc Lắc có độ cao từ 400 – 500m với hồ Lăk rộng lớn khoảng 600ha và ngọn núi Chư Yang Sin cao 2405m Cao nguyên Lâm Viên có độ cao trên 1500m với đỉnh LangBiang cao 2169m Ngoài ra còn có cao nguyên Bảo Lộc – Di Linh cao gần 800m.
Diện tích: 56.083 km 2 chiếm tới 1 / 6 diện tích lãnh thổ Việt Nam.
Dân số: khoảng 3,6 triệu người(1999) Hiện nay khoảng 4.33 triệu người(2001) chiếm khoảng 1 / 2 dân số cả nước.
Tây Nguyên gồm có 4 tỉnh là Gia Lai, Đắc Lắc , Lâm Đồng và Kon Tum Và được chia thành 2 phần là Nam Tây Nguyên (gồm Lâm Đồng, Đắc Lắc); Bắc Tây Nguyên (gồm Gia Lai, Kon Tum).
Gia Lai : tỉnh lị là thành phố Pleiku Diện tích khoảng 16.212 km 2 , dân số khoảng 1.048.000 người (2001), ngoài dân tộc Kinh còn có dân tộc Ba Na và Gia Rai…
Kon Tum : tỉnh lị là thị xã Kon Tum Diện tích khoảng 9934 km 2 , dân số khoảng 330.700 người, ngoài dân tộc Kinh còn có dân tộc Ba Na, Xơ Đăng sinh sống.
Lâm Đồng : tỉnh lị là thành phố Đà Lạt Diện tích khoảng 10.137 km 2 , dân số khoảng 1.049.900 người, gồm các dân tộc Kinh, M’nông, K’ho.
Đắc Lắc : tỉnh lị là thành phố Buôn Mê Thuột Diện tích khoảng 19.800 km 2 đây là tỉnh có diện tích lớn nhất nước, dân số khoảng 1.901.400 người, gồm các dân tộc Kinh, Êđê, M’nông…
Diện tích rừng ở Tây Nguyên chiếm gần 50% diện tích rừng cả nước, khoảng 0,2 triệu ha tương đương với 20.000 km 2 Rừng Tây Nguyên có các loại gỗ quí như: giáng hương, sao, căm xe, bằng lăng…kèm theo phản thực vật phong phú che phủ tòan bộ diện tích khu vực Các khu rừng quốc gia ở Tây Nguyên là Yook Don, Suối Trai và Năm Căn nằm trong kế hoạnh bảo tồn và phát triển của nhà nước ta.
Khí hậu Tây Nguyên tương đối mát mẻ, nhiệt độ trung bình khoảng 23 0 C Có hai mùa rõ rệt: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 11, mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4 Do chế độ thích hợp nên các loại thực vật phát triển tốt đặc biệt là loại đất đỏ Bazan thuận lợi cho việc phát triển các loại cây công nghiệp như: cà phê, cao su, trà, điều, thuốc lá, tiêu, bông…ngoài ra Tây Nguyên còn có nhiều cây lương thực và có các đồng cỏ lớn để chăn nuôi gia súc.
Trang 2Những con sông lớn ở Tây Nguyên là Krông Nô, Krông Ana, Sêrê Pôk…chảy qua các dãy núi hiểm trở, tạo thành nhiều thác nước đẹp như: thác Drây Sap, Drây H’Linh, Yali…
1 Về kinh tế:
Công nghiệp và lâm nghiệp là 2 thế mạnh của Tây Nguyên Do vùng này có tới 70% đất đỏ Bazan nên phù hợp với việc phát triển cây công nghiệp và phần lớn nó tập trung nhiều ở 2 tỉnh Đắc Lắc và Lâm Đồng Cây chè và cà fê là 2 loại cây công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao với sản lượng hàng triệu tấn mỗi năm Và đây là trung tâm cà fê của cả nước Hiện nay sản lượng cà fê của Việt Nam đứng thứ hai trên thế giới sau Brazil Ngoài ra còn có các loại cây khác như: cao su, điều, thuốc lá…các loại cây gỗ, các loại dược liệu quí cho ngành y.
Tương lai đến năm 2005 theo qui hoạch đây sẽ là trung tâm của cây cao su trên cả nước với diện tích dự kiến trên 30.000ha, cây cao su này tập trung phần lớn ở vùng phía Nam Tây Nguyên.
Nông nghiệp Tây Nguyên nằm trên vùng đồng bằng thung lũng, chân núi và ven sông nên người dân trồng các loại cây lương thực như: lúa, bắp, đậu, khoai…góp phần phát triển nông nghiệp và đẩy mạnh ngành chăn nuôi gia súc, gia cầm.
2 Về giao thông:
Hệ thống đường giao thông của Tây Nguyên với các địa phương khác khá thuận lợi bao gồm các tuyến đường bộ sau:
Đường quốc lộ 14: thành phố HCM – Thủ Dầu Một – Ban Mê Thuột: 353km
Đường quốc lộ 27: thành phố HCM – Đức Trọng – Ban Mê Thuột
Đường quốc lộ 26: Nha Trang – Ban Mê Thuột: 185km
Đường quốc lộ 19: Qui Nhơn – Pleiku: 175km
Đường quốc lộ 25: Tuy Hòa – Pleiku
Ngoài hệ thống đường bộ còn có các sân bay của quân Mỹ trước kia như: sân bay Liên Khương(Lâm Đồng), sân bay Ban Mê Thuột, sân bay Pleiku Hiện nay có nhiều dự án sửa chữa và nâng cấp các tuyến đường giao thông và hệ thống sân bay ở Tây Nguyên để phục vụ cho việc đi lại, thông các miền khác và thu hút khách du lịch.
3 Về địa lý:
Sông ngòi :
Tây Nguyên là nơi phát nguồn của nhiều con sông thế giới:
Sông Đồng Nai: xuất phát từ cao nguyên Lâm Viên điểm kết thúc ở vịnh Gành Rái, đỗ ra biển Đông Tổng chiều dài của sông là 532km.
Sông Mương Mán ( Bình Thuận): xuất phát từ cao nguyên Lâm Viên Sông Cà Ty là một nhánh của sông Mương Mán.
Sông Lũy (Bắc Bình Thuận): sông này bắt nguồn từ cao nguyên Di Linh ở gần núi Tà Cú, một nhánh của sông này đổ ra của Phan Rí.
Sông Cái (Nha Trang): bắt nguồn từ ngọn núi Chư Yang Sin ở Nam Tây Nguyên.
Sông Đà Rằng (Phú Yên): xuất phát từ Man Yang và đèo An Khê.
Sông Trà Bồng, sông Thu Bồn cũng đều xuất phát từ Tây Nguyên.
Trang 3 Sông Poko (1 nhánh) khi hết nhánh thì sông này còn có tên là ĐakBla tên gọi là sông Sê San thuộc tỉnh Gia Lai, Kon Tum, nay cũng là nguồn chảy chính cung cấp nguồn nước cho thủy điện Trị An một trong những công trình thủy điện lớn nhất nước.
Nay là những con sông chảy theo hướng từ Tây sang Đông Nhưng ở Tây Nguyên cũng là kơi khởi nguồn của con sông chảy ngược từ Đông sang Tây như: sông Krông Nô, Krông Ana Hai nhánh sông này hợp thành sông Serepok ở Đắc Lắc.
Dãy Trường Sơn : có đặc điểm dốc về phía Đông, thoai thoải về phía Tây.
Dãy Ngọc Linh : có độ cao là 2596m là ngọn núi cao nhất Bắc Tây Nguyên.
Dãy Ngọc Phan : cao 2295m.
Chư Yang Sin : cao 2406m.
Chơ Hơ Mu : cao 2050m khi qua đèo Phượng Hoàng trên đèo này ta có thể nhìn thấy đỉnh Chơ Hơ Mo.
Dãy Chư Cang La (Bình Phước) : cao 2150m
4 Về nền văn hóa và xã hội :
Tại vùng cao nguyên này tập trung hơn 30 dân tộc thiểu số trong cộng đồng 54 dân tộc anh em ở nước ta Người Việt ở Tây Nguyên chiếm khoảng 50% dân số, còn lại là dân tộc Ba Na, Ê đê, Gia Rai, M’Nông, Cà Tu, Xê Đăng, X’Tiêng, K’Ho sinh sống tại các vùng núi cao hiểm trở và tại các nguồn nước lớn Cho nên đời sống xã hội – văn hóa của Tây Nguyên có sự pha trộn giữa nền văn hóa của dân tộc Việt và nền văn hóa của các dân tộc thiểu số Tuy nhiên về cơ bản các dân tộc miền núi vẫn giữ gìn và phát huy các phong tục - tập quán truyền thống của riêng họ Phần lớn các dân tộc thiểu số theo chế độ mẫu hệ nên vai trò phụ nữ trong gia đình rất quan trọng.
Đơn vị cư trú nhỏ nhất của họ là Buôn (Ban), làng (Phei) Đứng đầu chủ làng là già làng có uy tín nhất trong cộng đồng và quyết định hết mọi việc trong làng Các lễ hội chính như : mừng năm mới, mừng được mùa lúa, tục cưới hỏi, ma chay, đặc biệt là lễ hội đâm trâu được tổ chức rất long trọng mang đậm tính truyền thống văn hóa của người dân tộc.
Từ khi thực dân Pháp áp đặt chế độ bảo hộ ở Việt Nam, họ rất chú trọng đến lực lượng dân tộc thiểu số ở Tây Nguyên Một số giáo sĩ người Pháp đã len lỏi vào cộng đồng người Ê đê, Ba Na, M’Nông, Xê Đăng để truyền đạo và thành lập các tổ chức chính trị riêng biệt Do đó phần đông người Ê đê, H’Mông theo đạo Tin Lành hoặc đạo Thiên Chúa Giáo Tại nơi này còn có nhiều căn cứ quân sự ở Pleiku, An Khê, Ban Mê Thuột
do Pháp xây dựng khi chiếm đóng ở đây.
Trang 41 DÂN TỘC Ê ĐÊ:
Dân tộc Ê Đê là 1 trong 54 dân tộc đang có mặt trên lãnh thổ Việt Nam Người Ê Đê có nguồn gốc từ vùng biển và ngôn từ của họ thuộc hệ Mayalo – Polynenen Trước kia trong việc học tập truyền bá kiến thức họ áp dụng lối làm mẫu, bắt chước, truyền khẩu đến đầu thế kỷ thứ XX, một người dân tộc Ê Đê đã tìm tòi sáng tạo ra chữ viết riêng cho dân tộc mình vào năm 1923 Loại chữ này là sự pha trộn giữa tiếng La Tinh và tiếng Việt nhưng được phát âm theo tiếng Ê Đê, đây là một sự kiện lớn trong đời sống văn hóa đồng bào Ê Đê giúp họ tiến gần hơn đến nền văn minh khoa học kỹ thuật và nền văn minh nhân loại.
Dân tộc Ê Đê hiện nay có khoảng 195.000 người sống tập trung ở tỉnh Đắk Lắk và miền Tây 2 tỉnh Khánh Hòa, Phú Yên Người Ê Đê có các nhóm địa phương như : Ra Đê, Kpa, A Dham, Krung, Krul, Dlie Ruê, Blô, Mdhur, Bíh.
Về hoạt động kinh tế người Ê Đê chủ yếu trồng lúa rẫy trên các sườn đồi cao nguyên Riêng nhóm Bíh làm ruộng nước theo lối cổ sơ dùng trâu dặm đất thay việc cày, cuốc đất Trước kia họ thường đốt rừng làm đất trồng khoai, ngô, đậu, lúa, thuốc lá sau khoảng 5 đến 7 vụ họ bỏ miếng đất đó đi tìm khoảng đất khác và trồng lại rừng Người
Ê Đê còn chăn nuôi gia súc, gia cầm kết hợp với việc dệt vải đan lát làm các vật dụng trong gia đình từ mây, tre, nứa họ còn đánh cá trên sông hồ suối, săn bắt thú trong rừng, hái lượm rau quả để bổ sung nguồn thức ăn.
Y phục cổ truyền mà người Ê Đê thường mặc là màu chàm có điểm những hoa văn rực rỡ Đàn bà mặc áo quấn váy, đàn ông đóng khố mặc áo Và họ ưa dùng các trang sức bằng đồng, bạc hay cườm để trang điểm cho mình.
Trước đây dân tộc Ê Đê theo tín ngưỡng thần giáo, sau này các giáo sĩ người Pháp lên đây truyền bá và hiện nay họ theo đạo Tin Lành, Hồi giáo hoặc Thiên Chúa giáo Tuy nhiên các phong tục tập quán vẫn được giữ nguyên và lưu truyền cho đến ngày nay Người Ê Đê tin có nhiều thần linh nên thực hiện nhiều kiêng cử cúng bái nhằm mong cho mùa màng bội thu, người khỏe mạnh, tránh rủi ro, hỏa hoạn
Người Ê Đê có kho tàng văn học truyền miệng rất phong phú : thần thoại, cổ tích,
ca dao, tục ngữ, đặc biệt là khan ( trường ca, sử thi ) và nổi tiếng với khan Đam San, khan Đam Kteh Mlan
Một số phong tục tập quán của người Ê Đê :
a/ Tục cà răng – cà tai :
Đây là hình thức nghệ thuật theo truyền thống của người Ê Đê đối với những thế hệ mới của cộng đồng Có thể nói đây là cột móc đánh dấu tuổi trưởng thành Đối với những đứa bé giỏi người ta dùng tre, nứa căng vành tai dành cho những gia đình nghèo, còn đối những gia đình giàu thì họ căng bằng ngà voi Phần dái tay càng to càng dài thì chứng tỏ vị trí quan trọng và tài năng của họ.
Còn tục cà răng là một nghi thức sát hạch đánh dấu tuổi trưởng thành của thiếu niên Người ta dùng liền hoặc đá mài cà những răng cửa sát lợi, việc này rất mất vệ sinh và nguy hiểm đến tính mạng của ngững đứa trẻ Ngày nay các tập tục này không còn
Trang 5phù hợp nữa nên cũng dần bị xóa bỏ, thêm vào đó là ý thức của người dân tộc có phần đổi mới theo nếp sống văn minh của người Việt.
b/ Phong tục cưới hỏi :
Người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ nên người phụ nữ có vai trò rất quan trọng trong gia đình và hoàn toàn chủ động trong hôn nhân Thanh niên nam nữ khi đến tuổi trưởng thành được tự do tìm hiểu và lập gia đình với nhau Khi đến tuổi trưởng thành các cô gái phải tự tìm người bạn trăm năm qua các lễ hội, các buổi cúng giỗ, thăm viếng nếu chọn người hợp ý và sau một thời gian qua lại mà chàng trai chấp nhận tiến tới hôn nhân, cô gái sẽ thưa chuyện với cha mẹ mình Bên nhà gái sẽ nhờ một người mai mối qua bên nhà trai hỏi chuyện Bố mẹ của chàng trai sẽ hỏi ý kiến con mình trước khi trả lời.
Lễ trao vòng hay lễ hỏi sẽ được tổ chức khi bên đàn trai đồng ý cho cưới Nhà gái sẽ nhờ một người mai mối đem lễ vật sang nhà trai: gồm một vòng đồng hay vòng hạt cườm hoặc một chén rượu ngon Cũng có trường hợp nhà gái đưa cho nhà trai một chén bằng đồng – tượng trưng cho vú mẹ đã nuôi lớn chàng trai và một tấm chăn tượng trưng cho người mẹ thường bế chàng trai lúc còn bé Sau đó cô gái và chàng trai cùng nắm tay vào chiếc cồng bằng đồng thể hiện ý nghĩa hai người đã là vợ chồng.
Lễ cưới sẽ được tổ chức sau khi già làng đã chọn được ngày thích hợp và được tổ chức linh đình Nhà gái sẽ tổ chức mổ heo, trâu, gà làm tiệc đãi bên đàng trai, họ hàng hai bên cùng toàn thể khách mời trong buôn Theo sự thách cưới của nhà trai, cha mẹ cô gái sẽ chuẩn bị mấy cái cồng, mấy chén rượu và một đến hai con trâu để trao cho mẹ chú rể, ngoài ra các chị các cô dì của chú rể đều được cúng lễ vật tùy theo thứ bậc và tuổi tác Nều nhà nghèo không đủ tiền cưới cô gái sẽ ở bên nhà trai vài năm để trừ vào tiền sắm lễ vật Nếu không đủ tiền làm đám cưới lớn thì phải sắm đủ lễ và cúng tượng trưng cho ông bà cha mẹ chú rể Sau đó hai vợ chồng mới được phép về nhà ở chung với cha mẹ cô gái Khi rước rễ về thì nhà gái phải đánh trống, cồng chiêng báo tin, sau đó thết đãi rượu cần và ăn tiệc
Theo tập tục từ xưa cả làng sẽ ăn mừng đám cưới trong 2 ngày : ngày đầu nhà gái sẽ làm tiệc chiêu đãi nhà trai và làm lễ rước rễ về nhà mình Đây là buổi lễ long trọng, mọi người ăn uống và hát ca suốt đêm Sáng ngày thứ 2 khi các nghi thức đã xong thì cả buôn mổ bò ăn mừng cho cô dâu chú rể Từ đó trở đi chú rể luôn ở bên nhà vợ và chính thức trở thành một thành viên trong gia đình.
Người Ê Đê có những qui định nghiêm ngặt đối với hôn nhân Do đó trong lễ cưới hai họ thỏa thuận với nhau về mức phạt đối với người phá vỡ hôn nhân Vì nhà gái đã bỏ tốn rất nhiều tiền của để cưới chàng trai nên khi chàng trai ngoại tình hay bỏ vợ thì sẽ
bị phạt rất nặng, có thể bị đuổi vĩnh viễn ra khỏi cộng đồng Mức độ phạt sẽ do già làng và các vị thâm niên quyết định, có sự đồng ý của người dân trong buôn Trong trường hợp nếu người vợ không may chết trước thì người chồng phải lấy người chị hoặc em gái của vợ mình vì cha mẹ nhà gái không muốn chia tài sản cho người ngoài Nếu nhà gái không có người thay thế thì người chồng phải về ở với chị, em gái của ông ta cho đến sau lễ bỏ mã thì mới được quyền tái giá Nếu người chồng chết trước thì người vợ sẽ mang thi thể của anh ta về cho cha mẹ chồng chôn cất Người vợ phải đợi cho qua lễ bỏ mã mới được tái giá, tức là khoảng 3 năm sau khi chồng chết.
Trang 6Nhìn chung thì các qui luật này được thực hiện tự giác thể hiện khía cạnh lành mạnh văn minh của người Ê Đê.
c/ Phong tục tang lễ :
Theo quan điểm của các dân tộc thiểu số con người sau khi chết sẽ đi về một thế giới khác Từ sau cái chết đến lễ bỏ mã, linh hồn của người chết vẫn còn ở lại với hàng xóm và gia đình.
Khi chôn cất gia đình có người chết phải thông báo cho cả buôn biết tin, đồng thời
lo chuẩn bị sẵn tang lễ và làm hòm để chôn cất người quá cố Về cách thức mai táng của người Ê Đê có khác so với mộ số dân tộc khác : có nơi người ta cho vào hòm gỗ chôn cất cẩn thận, có nơi người ta để xác trên sàn cây cho rữa ra rồi lấy chum để bên dưới hứng phần nước thịt đem chôn ngày nay một số phong tục này đã bị cấm, do đó người Ê Đê đã chôn cất người chết trong hòm
Khi có người chết một số thanh niên trong làng kéo nhau lên rừng chọn gỗ lớn về làm áo quan tài, mọi người cùng đến chia buồn cùng tang chủ và giúp tiến hành tang lễ Xác người chết được tẩm liệm cẩn thận trong quan tài sau đó gia đình và cả buôn đem hòm ra nghĩa trang cúng tế rồi chôn xuống huyệt Đặc biệt tại huyệt người ta làm hai cái lỗ thuyên sâu xuống tới quan tài để khi người nhà mang đồ ăn thức uống ra cúng cho người quá cố thì đổ đồ ăn thức uống xuống hai lỗ này Kế tiếp cho dựng một nhà nhỏ ngay bên nấm mộ gia đình ngày ngày đem thức ăn , đồ uống cho người chết trong vòng 3 năm Sau 3 năm gia đình tổ chức lễ bỏ mã, tiễn biệt linh hồn người chết, lúc này người chết mới thực sự rời bỏ trần thế để đi về một thế giới khác Sau lễ bỏ mã thì không ai đến thăm và cúng tế nữa.
Trong gia đình người Ê Đê, tang cha mẹ đều do con gái lớn đứng ra lo liệu và cô ta được hưởng gia tài của người quá cố Trong khi chôn cất người chết, gia đình luôn luôn chia phần vật dụng trong nhà cho người chết và đem để lên mộ phần của họ Do đó khi
du khách vào thăm viếng mộ sẽ thấy ngổn ngang các vật dụng trong mộ.
Nét nghệ thuật trong lễ bỏ mã:
Ở Tây Nguyên có nhiều lễ hội khác nhau nhưng lớn hơn cả là lễ bỏ mã, là lễ cắt đứt hoàn toàn quan hệ giữa người sống với người chết sau một thời gian dài giữ mộ.
Người Tây Nguyên với quan niệm con người sau khi chết hồn sẽ đi về làng ma, trải qua một vài kiếp sống khác thì hồn ma mới được trở lại làm người Để hồn trở lại làng
ma thì người sống phải làm một lễ chia tay lần cuối nhằm báo cho hồn ma biết rằng mọi sự vướng mắc nợ nần phân chia tài sản đã xong và người sống đã hoàn thành xong phận sự của mình.
Đấy là cuộc lễ hội cuối cùng sau những hàng loạt các lễ nghi khác Do đó lễ bỏ mã thường có qui mô lớn Nó huy động một số lượng lớn nhân lực và vật lực cùng tham gia.
Do tính chất của buổi lễ quan trọng như vậy nên hầu như trong lễ hội này đồng bào mang tất cả những sản phẩm văn hóa nghệ thuật đặc sắc, cao giá nhất để phô diễn Đặc biệt là một vài cấm kị trong nghệ thuật cũng được đem ra trình diễn.
Tại nhà mồ gia chủ quét dọn sạch sẽ, sửa sang lại nhà mồ, người ta dựng các cây cộ thờ (kút dao), cột tượng (T’me H’đăng) vẽ lên đấy những hoa văn truyền thống với đủ
Trang 7hết sức phong phú và đa dạng trong lễ hội này Bằng những dụng cụ sinh hoạt hằng ngày dao, rìu các nghệ nhân đã tạc lên đầu mỗi cột lỗ có đường kính 20 – 30 cm những tượng người đứng ngồi giã gạo, cõng con, những anh lính qua các thời kì xã hội, những xe tăng, máy bay, cầm thú đặc biệt loại hình nghệ thuật này chỉ xuất thiện trong lễ hội nhà mồ mà không thấy bất kì ở đâu khác.
Nói đến lễ bỏ mã là phải nói đến dân vũ vì đây là hình thức nghệ thuật được nhiều người tham gia nhất không phân biệt già trẻ gái trai quen lạ tất cả đều có thể nhảy múa chung vui Và họ gọi việc nhảy múa ở nhà mồ là nhảy xoang Múa xoang phải có đông người cùng tham gia, họ nắm tay nhau tạo thành một vòng tròn bao quanh khu mộ và bước nhịp nhàng theo tiếng chiêng Ngoài ra múa xoang còn là dịp nhiều đôi trai gái tìm hiểu yêu đương Vì vậy trong những dịp lễ hội thanh niên thường chọn mặc những bộ đồ đẹp nhất, rực rỡ nhất để trình diễn, các cụ già có dịp để tỉ tê tâm sự với nhau và với hồn người chết thông qua một hình thức gọi là chok.
Chok là hình thức khóc kể lể nhớ thương tâm sự cùng người chết khác với khóc bình thường khi bị đánh đau, khi tức giận, khi tuổi thân mà khóc người ta gọi đó là hea Chok là cách thức vừa khóc vừa nói nhưng có vần điệu có lên bổng xuống trầm người khóc nhớ đến đâu nói đến đấy Cái khó của chok là làm sao khóc có vần giọng lúc cao lúc thấp Người khóc có thể khóc cả ngày.
Một loại hình không thể thiếu trong lễ bỏ mã đó là kể khan Khi đêm đã về khuya người múa đã mỏi, nhạc chiêng đã ngừng người ta kiếm một khoảng đất ngủ ở bên mộ cũng là lúc những người già cất cao giọng ngâm nga về mộ câu chuyện sử thi, anh hùng
ca và lời kể như hóa thân vào cùng nhân vật câu chuyện như ru con người về một thời
xa xâm kể khan cũng gần giống như khóc chok người kể có lúc ngâm nga như hát nhưng ở chok là sự tỉ tê tâm sự, còn ở khan thì người kể phải lên giọng theo từng nhân vật ở mỗi đoạn đối thoại và ngân nga ở những đoạn mô tả cứ thế câu chuyện sẽ kéo dài đến suốt đêm Với những câu chuyện dài người ta phải kể hàng mấy đêm mới hết.
Suốt trong mấy ngày người ta nhảy múa quanh nhà mồ, quanh những chóe rượu và những chảo thức ăn to Họ vừa vui chơi vừa ăn uống và thay nhau nhảy múa Hội không chỉ thu hút tất cả già trẻ trai gái trong buôn làng mà còn thu hút cả những buôn xung quanh Tất cả một vùng vang lên tiếng trống chiêng trầm bổng, tiếng reo hò tạo nên một vùng đất Tây Nguyên tràn đầy sức sống và tình yêu.
d/ Âm nhạc của người Ê Đê :
Đa số người dân tộc rất yêu ca hát, họ có thể ca hát lúc nào cũng được hễ khi nghe thấy có tiếng nhạc và họ hiểu hết các nhạc cụ truyền thống một cách tường tận Các loại nhạc cụ thường có : cồng chiêng các loại trống, khèn, đàn, bộ gõ bằng tre, gỗ khá
đa dạng và có nhiều âm tiết.
Trống của người Ê Đê được làm bằng gỗ tốt, đầu bịt da trâu được gọi là trống đực Khi đánh lớn có âm thanh trầm buồn nên chỉ đánh để báo tin buồn như có ngưòi bệnh nặng, có người chết nếu đầu trống bịt da trâu cái gọi là trống cái Khi đánh có âm thanh trong dùng để báo tin vui như: lễ hội, đám cưới
Sáo, khèn, đàn của người Ê Đê được dùng để bày tỏ tâm sự, tình cảm vui buồn, ước mơ trong cuộc sống đời thường Có nhiều loại sáo khác nhau nên âm tiết của nó
Trang 8cũng khác nhau tạo nên những âm thanh rất đặc biệt làm say lòng người Và có các loại sáo như:
Sáo ding tacta: gọi theo tiếng chim chèo bẻo, một đầu để thổi một đầu để gắn trai bầu Sáo này được thổi trong những dịp lễ hội, những đêm trăng sáng, lúc tờ mờ sáng bắt đầu một ngày lao động các cụ thổi sáo này để răn dạy con cháu, để điều khiển, để tâm sự
Sáo ding vuốt: là một ống tre dài một người thổi một người hát phụ họa Nội dung bản nhạc và bài hát nói lên sự hoài cổ của các cụ dù cuộc sống thay đổi nhiều sung túc hơn Nhưng cá cụ vẫn nhớ về ngày xưa sống nương nhờ vào rau rừng, nước suối, săn bắt, hái lượm, cuộc sống thanh bình gần gũi với thiên nhiên cộng đồng giúp đỡ lẫn nhau Sáo ding năm: là một loại nhạc cụ rất độc đáo, khó chơi gồm năm ống tre ghép lại với nhau Âm thanh của loại sáo này rất vui nhộn nó được thể hiện trong các lễ hội, lúc thu hoạch vụ mùa Trai gái thổi sáo này để trao duyên, trẻ em thổi sáo này để ghẹo nhau, để tiêu khiển.
Sáo ding túc: gồm năm ống sáo riêng biệt một đầu sáo bịt kín có năm người thổi âm thanh vui nhộn.
Trong những nhạc cụ đó đặc sắc với nền văn hóa cồng chiêng Chiêng được đúc bằng đồng ở giữa có núm lồi lên thường được đánh để giữ nhịp, cồng cũng được đúc bằng đồng nhưng không có núm thường để đánh sau chiêng để hòa âm và khi chơi loại nhạc cụ này người Ê Đê ngồi trên ngế Kpan dài rồi dùng dùi cui đánh vào cồng, chiêng
do đó âm thanh nó phát ra rất hùng hồn và mạnh mẽ Loại nhạc cụ này thường được thể hiện vào các dịp lễ hội như: lễ cưới, lễ mừng năm mới, lễ cầu mưa, lễ cúng trăng, lễ cúng được mùa, lễ chào đón quí khách những bài hát từ nhạc cụ cồng chiêng của người
Ê Đê thể hiện rõ bản chất của người cao nguyên: phóng khoáng, mộc mạc và cũng hoang dã dữ dội như rừng sâu thác nước.
e/ Nhà sàn dài của người Ê Đê:
Phân biệt người Ê Đê và một số dân tộc thiểu số khác thì ngoài trang phục và tiếng nói, chữ viết khác nhau thì đặc biệt nổi bật nhất của người Ê Đê là kiến trúc của căn nhà sàn dài Tuy hiện nay chất liệu xây dựng có thay đổi khác trước nhưng người Ê Đê vẫn bảo lưu được truyền thống trong việc tạo dựng các ngôi nhà sàn dài của họ Người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ do đó khi người con gái có chồng sẽ không ra ở riêng nhưng được cha mẹ chia cho một phần trong ngôi nhà để sinh hoạt ăn ở Thông thường thì gia chủ sẽ làm thêm một gian nữa nối tiếp vào phần nhà chính dành cho cô con gái vừa lấy chồng Nhà nào có nhiều con gái thì ngôi nhà sẽ càng dài hơn Trước kia nhà Ê Đê rất dài có khi đến 100m nhiều thế hệ của một gia đình sống chung một nhà Nếu muốn biết căn nhà có bao gian thì đếm số các bếp lửa hoặc số các cửa sổ trong ngôi nhà Tranh là nguyên liệu thích lợp mái hiện nay đã được thay thế bằng tôn hoặc ngói còn cấu trúc ngôi nhà vẫn được giữ nguyên với dàn và cột bằng gỗ tốt để nguyên cây Phía đầu ngôi nhà có đặt 2 cầu thang được đẽo gọt bằng gỗ Một cầu thang dành cho phụ nữ dài hơn và bề ngang lớn hơn Bên đầu trên cầu thang có tạc một bộ ngực của người phụ nữ và một vầng trăng khuyết hoặc ngôi sao Bộ ngực tượng trưng cho đầu vú
Trang 9năng nuôi cả buôn trong vòng 20 ngày trong đầu năm mới thì mới được phép tạc bộ ngực phụ nữ trên đầu cầu thang Còn vầng trăng non tượng trưng cho ước mơ ngày mai tốt đẹp hơn, ngôi sao thể hiện hy vọng và niềm tin vào tương lai Cầu thang người đàn ông gọi là cầu thang đực nhỏ hơn và thô hơn cầu thang cái và không trang trí hoa văn Ngày thường thì cả gia đình chỉ sử dụng cầu thang đực để lên xuống Khi nhà có khách thì người khách khi lên xuống thì phải đặt hai tay lên đầu vú để tỏ ý tôn trọng chủ nhà Khi bước lên nhà sàn thì gian đầu tiên là gian tiếp khách Chính giữa gian này có một cái bếp lửa gọi là bếp đực chỉ dùng đốt lửa để sưởi ấm hoặc nướng thịt đãi khách Bên cạnh là cây nên để cột các ché rượu Nhà giàu thường có những ché rượu quí từ lâu đời được trang trí hoa văn và có màu rất đặt biệt Sát vách có một băng gỗ dài gọi là ghế kpan dành riêng cho các nhạc công ngồi chơi nhạc khi nhà có giỗ, lễ hội
Gian kế là gian ở của ông bà cha mẹ, kế đến là gian của những người con chưa lập gia đình Phần sau là gian của những cô gái đã có chồng cuối căn là nhà bếp chính Cả gia đình nấu ăn ở bếp chính gọi là bếp cái Trên sàn nhà người ta lấy 4 khúc gỗ tạo thành một ô vuông lót lá chuối bên dưới hay tôn rồi đổ một lớp đất dầy bên trên tạo thành cái bếp cái Vào một ngôi nhà sàn ta thấy trần và vách đều nám khói đen bóng vì thế các vật dụng làm bằng gỗ và các kèo nhà ít khi mục nát vì hun khói như là một cách chống mối Thường người Ê Đê làm nhà theo hướng Bắc – Nam sân dưới nhà làm nơi chứa củi, để dụng cụ lao động, chỗ ở của trâu gà hoặc được quét dọn làm nơi dệt vải f/ Rượu cần :
cũng như các dân tộc khác rượu cần là loại thức uống không thể thiếu trong nhà của người Ê Đê Rượu cần thể hiện nét đẹp văn hóa của người dân tộc, một bộ phận cấu thành phong tục – tập quán và những gì tinh túy nhất, thiêng liêng nhất đối với họ Thông thường người ta làm rượu cần từ gạo, khoai, bắp nguyên liệu được nấu chính cho vào cái nia để nguội Sau đó trộn với men rượu rồi tất cả cho vào cái ché rồi ủ lên men sau một thời gian Ché dùng ủ rượu phải rửa sạch và khô ráo, lớp đáp được rải một lớp trấu cho hỗn hợp vào ché rồi cho một số lá chuối đè lên và cuối cùng phủ lên một lớp lá chuối sạch nữa Miệng ché được nút kín lại sau đó ủ lên men trong khoảng hơn 10 ngày là có thể dùng được Người ta đem phơi nắng các ché rượu để rút ngắn thời gian lên men.
Cần để uống rượu là những ống mây dài rỗng ruột, rửa sạch và cắm vào ché rượu Khi uống thì người có địa vị cao nhất hay người cao niên sẽ được mời uống trước Trong lúc uống nếu rượu cần vơi dần thì đổ nước lạnh vào thêm, cho đến khi nước nhạt rồi đổi ché khác.
Người dân tộc nói chung là rất hiếu khách, họ tiếp đãi khách rất ân cần và chu đáo Nếu khách thân quen với gia đình thì họ có thể mỏ tiệc lớn, tổ chức đánh cồng chiêng để chào mừng.
2 DÂN TỘC GIA RAI:
Dân tộc Gia Rai sống rải rác ở phía Nam tỉnh Kon Tum, phía Tây và Nam của Pleiku (tập trung ở huyện Chưpăh, Đức Cơ, Chưsê, Ayunha, Krông pa thuộc tỉnh Gia Rai) một bộ phận ít hơn sống ở phía Bắc tỉnh Đăk Lăk, phía Tây tỉnh Phú Yên Ngoài ra
Trang 10còn một số người Gia Rai sống ở Bo Kham (Lào), Natrakini (Campuchia) Dân tộc Gia Rai bao gồm những nhánh nhỏ và cư trú ở nhiều vùng như :
Gia Rai Pleiku sống ở chung quanh thành phố Pleiku
Gia Rai Chao Reo sống ở Ayuba (Phú Bổn)
Gia Rai A Rap sống ở Đông Bắc Pleiku, Đông Nam Kon Tum
Gia Rai Tbuan ở Pleiku
Ngoài ra còn một số nhóm người Gia Rai khác:
Gia Rai Hro ở Tây Phú Yên, đây là nhóm Gia Rai hòa huyết giữa người Ê Đê và Gia Rai nhưng có nhiều huyết thống Gia Rai hơn.
Gia Rai M’Dhu ở Nam Phú Yên, đây cũng là nhóm Gia Rai hòa huyết với người Ê Đê nhưng người Ê Đê có phần trội hơn.
Người Gia Rai gọi đơi vị cư trú của mình là Play hoặc Buôn tức là làng Ranh giới tự nhiên giữa các Play là những ngọn núi hay quả đồi, khúc sông hay con suối do các Play qui định với nhau và có sự tôn trọng giữa các Play.
Mỗi Play đều có những tên riêng mang những tên gọi nhất định có những Play đặt tên của một dòng sông như : Play Phin (suối Iaphin), Buôn Broai (có mỏ nước broai) cũng như một số dân tộc khác ở Tây Nguyên và việc đặt tên người là hình thức phổ biến như : Play của Pa Tau La (vua nước), Pa Tau Pui (vua lửa), Play Bạc làng ông Bạc Lại có những trường hợp đặt tên làng theo cách nói “ông bà cha mẹ” như : buôn a
ma hơ bư (làng của cha nàng hơ bư), buôn a ma dương ( làng của cha chàng dương).
Có những Play mang tên một người và giữ mãi tên đó nhưng cũng có những Play mang tên cha sau khi chết thì truyền sang tên con rễ do đặc điểm của mẫu hệ.
Nét văn hóa trong quá trình thành lập Play của người Gia Rai :
Khi thành lập một làng mới thì công việc đầu tiên của họ là tìm một vùng đất mới Người Gia Rai bói tìm vùng đất mới bằng cách đặt trứng gà trên ngọn lửa rồi đục một lỗ phía trên nếu lòng trứng trào ra ngoài lỗ nhỏ là không được chấp thuận, ngược lại chỉ sủi bọt trong lòng trứng tức là thần đất (Janlang) đã cho phép Khi được thần đất cho phép thì dân làng đánh chiêng, đánh trống, múa hát suốt 3 ngày đêm để làm đất thức dậy Họ dựng tạm những cái lều nơi vùng đất mới sau đó già làng mang 7 hạt gạo bỏ xuống mặt đất rồi lấy cái bát bằng đồng úp lên để bói xin ý thần đất một lần nữa Sau 3 ngày đêm tiếp theo nếu 7 hạt gạo còn nguyên tức là được thần chấp nhận, nếu mất đi một hạt thì phải đi tìm vùng đất mới Khi bói được đất dựng nhà thì già làng được xây dựng trước sau đó là các gia đình trong làng.
Play của người Gia Rai thường tập trung đông theo từng dòng họ và xây dựng theo các thung lũng, dọc theo đường giao thông hay ven các sườn đồi gần nguồn nước Play thường để cửa chính mở ra quay về hướng Bắc, hai cửa phụ để ra bến nước hay ra vườn hoặc lên rẫy Trước đây xung quanh làng thường có hàng rào bao bọc.
Ngày nay khi ta đến với làng Gia Rai ta thấy đã khác xưa một chút như nhà ở được sắp xếp theo dãy, mỗi ngôi nhà cách nhau một cự li nhất định khoảng 10 – 15m hình thức làm vườn xung quanh nhà để tạo ra một khuôn viên của từng gia đình.
Trong làng rất ít trồng cây cao chỉ có cây còn hay còn gọi là cây dung làm cây cột
Trang 11Gia đình – dòng họ – nét văn hóa đặc trưng của tiểu gia đình mẫu hệ của người Gia Rai :
Gia đình :
Gia đình người Gia Rai là tiểu gia đình mẫu hệ, mỗi gia đình là một đơn vị kinh tế cá thể, có tư liệu sản xuất riêng do người sở hữu đất đai được đảm bảo do có luật tục Vì vậy khi cần thiết có thể bỏ làng ra đi một cách dễ dàng Họ không bị ràng buộc một cách sâu sắc về quan hệ dòng họ, thân thuộc, xóm làng
Mỗi một nếp nhà của người Gia Rai chỉ có hai vợ chồng, con cái chưa lấy vợ lấy chồng sau khi lập gia đình con trai về ở nhà vợ con gái chỉ rước rể về ở tạm thời sau đó tách ra riêng Lúc tuổi già thì cha mẹ chọn riêng cho mình một đôi vợ chồng về ở chung thường là con gái út.
Khi con trai đi lấy vợ không được chia một phần tài sản nào còn các cô gái khi ra ở riêng đều được chia tài sản.
Đôi vợ chồng được chọn nuôi cha mẹ thì thừa kế toàn bộ tài sản cha mẹ để lại Phụ nữ Gia Rai là người quản lý mọi tài sản và phân chia công việc trong gia đình Ngược lại người đàn ông là lực lượng sản xuất chủ yếu đóng vai trò quyết định mọi công việc ngoài xã hội Do đó tuy người Gia Rai cũng có đặc trưng mẫu hệ nhưng quyền làm cha đã được xác nhập
Dòng họ :
Con cái người Gia Rai hoàn toàn tính theo dòng họ mê Theo thống kê không đầy đủ thì người Gia Rai thường có các họ sau : rehom, ksor, rơ ô, rah lan, ramah, nay, kpa, hieu, pui.
Nhìn chung những tên họ đều trùng tên với những cây hay vật như :
Ksor : cây bỏ hóa
Rơ ô : cây tre
Ran lan : đường đi
Ksor : rẫy bỏ hoang
Theo sử tích sở dĩ có tên gọi đó là vì đều là con của Hbia Hlrang Đây là cơ sở để người Gia Rai cho rằng họ có chung một cội nguồn.
Mỗi người tự kiêng ăn những con vật khác nhau và mỗi họ đều có truyền thuyết kể về sự kiêng kị đó, ví dụ :
Họ reehom kiêng ăn thịt bò
Họ nay trong kiêng ăn chim niăc
Họ siuđec kiêng ăn loài chim khưu bạc sâu đó chính là dấu ấn của tín ngưỡng totem Trong các dòng họ của người Gia Rai họ Siu giữ địa vị làm Ptao (Pơtao Ia, Pơtao Pui) chỉ phụ nữ họ Rchom mới được lấy Pơtao làm chồng Vì vậy Rchom cũng là dòng họ được xã hôi tôn trọng.
Tập tục hôn lễ, ma chay của dân tộc Gia Rai :
Hôn lễ :
Người Gia Rai theo chế độ ngoại hôn nên hôn nhân với người cùng họ bị luật tục nghiêm cấm Trên cơ sở chế độ ngoại hôn đó những qui định có tính chất tập quán đặt
Trang 12Tập quán hôn nhân hôn lễ của người Gia Rai cho phép con cái của con cô con cậu được phép lấy nhau và cấm việc kết hôn giữa các chị em gái (vì cùng được sinh ra từ bà Tô) và giữ a những người con của anh em trai.
Tập quán cho phép người vợ lấy anh em chồng nếu chồng chết và ngược lại Người chồng cũng được lấy chị em vợ nếu vợ chết.
Đến tuổi trưởng thành trai gái được lựa chọn người yêu Con gái chủ động lựa chọn cho mình người chồng tương lai bằng cách nhờ ông mối đưa tặng vòng cho người con trai đó Nếu ưng thuận thì người con trai nhận vòng Nếu không thì người con gái vẫn theo đuổi nhờ ông mối trao 3 lần nữa đến khi hết hy vọng mới thôi.
Để chuẩn bị cưới chồng cho con thì nhà gái phải chuẩn bị một ché rượu cần cho ông mối, một ché rượu cho người chồng tương lai và một ché rượu cho mình Còn bên nhà trai thì chuẩn bị một con lợn.
Hôn lễ được tiến hành bên nhà gái và trải qua 3 bước sau :
Lễ thành vợ thành chồng :
Ché rượu được đặt ở giữa nhà, đôi lứa ngồi song song quay mặt về phía cửa ra vào ông mối ngồi bên cạnh và nói “đây là lúc đôi bên nín thở để hắt hơi” ngụ ý nam nữ chung đụng nhau lần đầu Sau khi ông mối đổi vòng cho đôi lứa và giao ước “nếu cô gái bỏ chồng phải bắt em gái thay thế, nếu con trai bỏ vợ thì phải đền 4 trâu” tiếp đến là tục lệ đổi còng gò cho nhau.
Đoán phận trong giấc mơ :
Đêm đó hai bên mơ điềm dữ lành đều phải báo cho ông mối biết Nếu mơ đi lấy nước là lành, mơ bắt cá bỏ vào bầu là có con Nếu mơ cầm dây hay cắt cỏ tranh, chặt tre là điềm dữ, 2 vợ chồng phải ly thân, ly dị Ông báo sẽ có lời thần báo mộng để hoãn điềm gỡ trong vòng 1 năm Nếu mơ gặp giấc mơ dữ họ phải chia tay nhau bất chấp có chuyện
gì xảy ra.
Trở lại nhà mẹ :
Và hôm sau khi cưới người chồng bỏ về nhà mẹ mình Người vợ đặt một ché rượu, mổ một con gà mang sang mời chồng trở lại nhà mình Theo tục lệ người chồng sẽ khước từ Một tháng sau thì vợ lại sang nhà chồng biếu mẹ mình cái váy mà mình đã dệt, biếu chồng một con gà Cô gái ở lại nhà chồng 3 ngày làm phận sự con dâu Sau đó 2 người xin phép đưa nhau về ở hẳn bên nhà vợ và hôn lễ kết thúc.
Ở người Gia Lai luật tục hôn nhân gia đình không ghi thành văn bản, nó chỉ tồn tại và qui định bằng miệng Nhưng buộc mọi người phải biết tôn trọng và thực hiện Các trường hợp vi phạm bị phạt rất nặng, bị cộng đồng lên án, nhất là tội ngoại tình sẽ bị phạt 1 con lợn để cúng danh dự cho dòng họ.
Người chồng bỏ vợ sẽ bồi thường 2 con bò, nếu có con chung thì một người con bồi thường 2 con bò ( trợ cấp nuôi con), nếu không có tài sản thì phải thế chấp đất đai.
Người vợ ngoại tình thì cũng bị phạt rất nặng thậm chí còn nặng hơn.
Trường hợp vợ hoặc chồng bị bệnh hiểm nghèo, ly hôn thì không bị phạt.
Trường hợp vi phạm lời hứa hôn mà không có lý do thì bên vi phạm bị phạt 1 chiếc ghè, 1 con lợn và chi phí ăn hỏi.
Trang 13Hiện nay người Gia Rai vẫn còn tồn tại các thủ tục lạc hậu với luật hôn nhân gia đình của nước ta Do không qui định tuổi kết hôn nên thường kết hôn ở tuổi vị thành niên Có nơi chỉ nhìn vào ngoại hình, làm được việc, đảm nhận được vai trò của người cha, người mẹ thì được kết hôn Đa số các cuộc hôn nhân đều do cha mẹ sắp đặt Bên cạnh đó họ thường không đăng ký kết hôn trước chính quyền mà chỉ cần mai mối và có già làng tổ chức làm lễ cưới thì đôi trai gái nên duyên vợ chồng.
Ma chay :
Trong xã hội người Gia Rai việc tang ma không phải là việc riêng trong gia đình, mà là việc chung của cả cộng đồng Khi có người chết người sống thương tiếc và phải cố tạo hết điều kiện để cho linh hồn của người đó biến thành ma vĩnh viễn ở thế giới bên kia Người ta tổ chức tang lễ để linh hồn sau khi thành ma sẽ không trở lại quấy rầy Người Gia Rai xưa có tục chôn tất cả ngững người chết theo dòng họ mẹ chung 1 huyệt Người đàn ông chết phải khiêng về chôn ở làng mẹ Hiện nay người chồng được cùng chôn chung với họ nhà vợ Khi huyệt chung đã nhiều đất đắp mồ đã cao thì tiến hành lễ bỏ mã Sau lễ này thì quan hệ của người sống và người chết không còn
Trước khi hạ huyệt thì người thân bỏ một vài hạt gạo với ngụ ý để cho người chết trước đó ăn sau đó sẽ hạ huyệt và lắm đất Phần thức ăn của người chết bao gồm: cơm, thịt, gà, lợn, thuốc lá được bỏ vào gùi đặt trên nhà mồ Từ đó ngày nào người nhà cũng mang cơm cho ma ăn vào lúc xế chiều và tiến hành một số nghi thức khác.
Sau một tháng sẽ làm lễ giỗ gọi là Hoomnơi (giỗ 1 tháng) sẽ mổ lợn, ché rượu và ăn uống tại mồ Sau đó đánh chiêng uống rượu nhảy múa suốt đêm Sau lễ này sẽ hết lệ đem cơm cúng cho ma vào buổi chiều hằng ngày.
3 DÂN TỘC M’NÔNG :
Dân tộc M’Nông có 67.300 người gồm nhiều nhóm địa phương : Preh, Gar, Prâng, Nong, Kuyên Đồng bào cư trú ở phía Nam tỉnh Đăk Lăk một phần tỉnh Lâm Đồøng và Bình Phước.
Tiếng nói của người M’Nông thuộc nhóm ngôn ngữ Môn – Khmer
Người M’Nông làm ruộng là chính, ruộng nước chỉ có ở vùng ven hồ, đầm, sông Những con vật nuôi thông thường trong gia đình là trâu, chó, dê, lợn, gà và một số nhà nuôi cả voi Người M’Nông ở Bản Đôn có nghề săn bắt và thuần dưỡng voi nổi tiếng Nghề thủ công của người M’Nông có dệt vải sợi bông do người phụ nữ đảm nhiệm và đan lát các dụng cụ như : gùi, giõ, mũng do đàn ông làm.
Người M’Nông có cả nhà sàn và nhà trệt Ngôi nhà trệt của người M’Nông khá đặt biệt bởi chân mái thường gần đất nên cửa ra vào có cấu trúcvòm như tổ tò vò.
Mỗi làng thường có vài chục nóc nhà, ông trưởng làng đóng vai trò quan trọng trong dân làng Mỗi người sống trong kinh nghiệm và tập tục truyền lại từ nhiều đời Nam nữ, già trẻ ai cũng thích rượu cần và thuốc lá cuốn.
Đàn ông M’Nông thường đóng khố ở trần Đàn bà mặc váy quấn buông dài trên mắt cá chân Thanh niên nam nữ thường mặc áo chui đầu, khố, váy, áo màu chàm thẫm trang trí hoa văn đẹp mắt
Trang 14Người M’Nông cũng như người Ê Đê theo chế độ mẫu hệ, con cái mang họ mẹ, trong gia đình người vợ giữ vị trí chính nhưng người chồng không bị phân biệt đối xử, họ sống tôn trọng nhau Cha mẹ về già thường sống với con gái út.
Theo nếp cũ đến tuổi trưởng thành người M’Nông phải cà răng mới được yêu thương lấy vợ, lấy chồng Phong tục cưới xin gồm 3 bước chính là dạm hỏi, lễ đính hôn, lễ cưới chàng rể thường về nhà vợ ở Nhưng cũng có nơi đôi vợ chồng trẻ ở phía nào là tùy thỏa thuận giữa 2 gia đình Người M’Nông thích nhất là con gái sinh con sau 1 năm mới đặt tên chính thức.
Trong tang lễ đồng bào có tập quán ca hát, gõ chiêng trống bên quan tài suốt ngày đêm Sau khi hạ huyệt đồng bào dùng gậy, que và cây trải kín miệng hố rồi lắp đất lên trên Qua 7 ngày hoặc 1 tháng thì gia chủ làm lễ đoạn tang.
Người M’Nông có rất nhiều thần linh liên quan đến cuộc sống của mình trong đó thần lúa giữ vai trò đặc biệt hàng năm cùng với việc canh tác người M’Nông thực hiện những nghi thức nhằm giữ gìn thần lúa cầu mong mùa màng bội thu.
Lễ hội đâm trâu của người M’Nông :
Vào mùa xuân khi ta lên Tây Nguyên du khách có thể bị thu hút bởi cảnh quan thiên nhiên của núi rừng hùng vĩ Nhưng độc đáo nhất là lễ hội đâm trâu, một trong những lễ hội hay trong hàng chục lễ hội khác của người M’Nông trên cao nguyên đất đỏ Lễ hội đâm trâu thực ra là cách gọi dễ hiểu chính xác hơn là một hình thức sinh hoạt văn hóa của một số lễ hội như lễ cúng thần kèn G’let, lễ cầu sức khỏe, lễ báo 100 gùi lúa trong đó lễ cúng thần kèn bao giờ cũng phải tiến hành nghi thức đâm trâu Các lễ hội nói trên nghi thức đâm trâu theo quan niệm tâm linh của người M’Nông là để hiến tế thần linh, bày tỏ lòng biết ơn và cầu mong thần linh ban cho sự ấm no, hạnh phúc.
Tục đâm trâu có từ xa xưa, tục này là sự biểu hiện cụ thể, trực tiếp và sinh động về dấu ấn văn hóa và phong tục từ thuở xa xưa của người M’Nông Ngày nay người ta vẫn còn giữ lại phong tục này của tộc người M’Nông, người Nông, người Prông ở Đak Nông, người Pleh ở Đak R’lấp Khi bông mai vàng trên núi nở rộ thì lễ hội đâm trâu đây đó trong các buôn làng M’Nông cũng tưng bừng náo nhiệt.
Lễ hội đâm trâu là lễ hội qui mô mang tính chất cộng đồng nên để tiến hành lễ hội người ta phải chuẩn bị trước đó vài ngày Trong đó việc chính phải tập trung là vào rừng tìm cây gai gòn chặt đem về để làm cây nêu Cây nêu là biển hiện chính của ngày hội, cây nêu cao vút từ 8-9m, với nhiều nét trang trí hoa văn truyền thống của người M’Nông Cây nêu là một công trình sáng tạo tập thể, biểu hiện nét nghệ thuật tạo hình điêu khắc của người M’Nông.
Ngày thứ nhất dựng xong cây nêu, sang ngày thứ 2 những thanh niên khỏe mạnh của buôn làng mang những cuộn dây thừng bện bằng vỏ cây rừng lên nương rẫy tìm bắt trâu Sau khi bắt được trâu thì đem trâu cột vào cây cột đã được chọn sẵn đặt ngay trung tâm lễ hội Chủ nhà và một số thành viên quyến thuộc trong y phục cổ truyền, tay cầm chuông đi đón khách, vừa đi họ vừa đánh chuông âm thanh vang vọng náo nức cả núi rừng.
Trang 15Chiều tà khi màn đêm buông xuống lũ làng gồm già trẻ, trai gái kéo nhau đến tập trung bên cây nêu để vui chơi và xem bà chủ nhà làm lễ cúng cột trâu Khi phần lễ trịnh trọng bắt đầu, tiếng nhạc cồng chiêng nổi lên trầm đục, hòa âm trong tiếng nhạc kèn G’let réo rắt Trong không khí thiêng liêng huyền bí bà chủ nhà đứng bên con trâu lầm rầm khấn và hát bài khóc trâu trong giai điệu thống thiết an ủi con trâu trước lúc hiến sinh Phần nghi thức xong, dân làng vui vẻ hòa vào trong bài hát, điệu nhảy múa cổ truyền cùng với tiếng nhạc của khèn, chiêng cuồng nhiệt và các ché rượu cần được mở
ra để uống.
Tảng sáng thứ 3 phần nghi thức khác lại tiếp tục Chủ nhà làm lễ giao trâu cho khách mời đặc biệt sau đó tiến hành nghi thức đâm trâu Một người đàn ông khỏe mạnh cởi trần mặc khố được trao một chiếc lao, đầu bịt sắt nhọn sau một vài động tác ma thuật lạ lùng bất thần dồn hết sức mạnh đâm lao vào tim con trâu, tiếp theo anh ta lấy gươm chặt vào 2 khủy chân con trâu Khi con trâu chết người ta lấy một chiêng úp lên đầu trâu Sau đó lấy máu trâu bôi lên cây nêu, cột đâm trâu và kèn G’let Lễ cúng tiếp theo được cúng trên kho lúa Người ta lấy sợi chỉ buộc từ kho lúa đến chỗ đặt đầu trâu, một biểu tượng cho lối đi của hồn lúa Người chủ nhà lấy huyết trâu hòa vào trong ché rượu rồi đổ vào ngững chậu nước và sau đó tưới lên kho lúa để mong tắm mát cho hồn lúa, vừa tưới nước mọi người vừa rửa tay làm như vậy họ tin rằng hồn lúa sẽ được mát mẻ, mọi điều xấu tai ương sẽ qua đi, gia đình ngày càng thêm no đủ, hạnh phúc Xong điều đó người khác mổ trâu và sẻ thịt chia cho các gia đình trong buôn làng thể hiện sự yêu thương, bình đẳng với nhau giữa các thành viên chung sống trong cộng đồng buôn làng.
Nghi lễ với lễ hội đâm trâu với qui mô lớn đã khẳng định vai trò uy tín của gia chủ trong buôn làng Lễ đâm trâu đã trở thành ngày hội sinh hoạt văn hóa tinh thần của dân M’Nông Mọi người đến để chiêm ngưỡng những nghi lễ, uống rượu cần, cùng vui chơi một cách hồn nhiên cùng nhau say sưa trong hơi ấm cộng đồng, của mùa xuân, của mai vàng trên vách núi, của xứ sở hoang sơ, hùng vĩ đầy màu sắc huyền thoại.
Lễ cúng Voi :
Con Voi là vật nuôi cũng là tài sản quí của người M’Nông Khi đi săn, mua được voi hoặc voi bị ốm đều phải cúng Lễ cúng voi được tiến hành trong ngày mua voi.
Khi voi được đưa về nhà, chủ nhà phải cúng một con heo và một ché rượu Lễ vật bao gồm: một chén cơm, một chén gạo có cắm đèn sáp, một lá trầu có vôi, một quả trứng, một chén thịt băm cùng gan, lòng, lá lách.
Người nài chăn voi đánh voi đến trước cửa nhà, chủ nhà đặt lễ vật vào cái nia đưa lên đầu voi để cúng, sau đó ông ta đứng trước con voi, tay cầm chén rượu có cắm đèn sáp, một quả trứng, một ly rượu hòa vào với huyết heo và đọc lời khấn Sau đó người nài đánh voi, cột vào cây trong rừng, chủ nhà đợi nài về để cúng tại ché rượu Người nài được mời ngồi, lấy cây dùi điều khiển voi cắm bên cạnh ché rượu.
Lễ vật cúng tại ché rượu gồm: một chén thịt băm, một chén lòng heo, một chén cơm Ông chủ lấy mỗi thứ một tí và rót vào rượu giao cho người nài Người nài phải nhận lễ vật bằng hai tay, trước khi ăn phải đọc lời cúng voi, lúc này người nài được xem như là
Trang 16người thay thế con voi để nghe lời căn dặn, khuyên nhủ của người nhà Sau đó người nhà lấy cơm còn rượu dành lại cho chủ nhà Người trong buôn đến tham gia vui chơi cùng gia đình, đánh chiêng lên để mừng vui.
Lễ cúng cắt ngà Voi:
Người M’Nông thích nuôi voi đực hơn voi cái Nuôi voi đực cắt được ngà, vài ba năm cắt được cặp ngà, một cặp ngà đổi được một con voi con Một đời voi đực cắt được hàng chục lần ngà ngoài ra nó còn tham gia đi săn bắt voi rừng và vận chuyển thay sức người.
Khi cắt ngà voi phải cúng xin phép thần Nguach Ngual, đây là vị thần linh thiêng cai quản loài voi theo tín ngưỡng của người M’Nông Buổi chiều hôm trước ngày cắt ngà voi, chủ lấy một bát gạo, đốt một cây đèn sáp ong khấn nơi đầu con voi để xin cắt ngà, người cúng vừa đọc lời cúng vừa bốc nắm gạo rẩy lên trên ngọn đèn sáp Nếu hạt gạo dính dựng đứng trên đèn sáp đến 3 lần tức là voi đồng ý cho ngà, còn không dính hạt nào hoặc có dính nhưng hạt gạo nằm ngang, nằm nghiêng thì không được Khi được rồi, chủ voi lấy sợi chỉ buộc vào ngà voi để tối hôm đó con voi “tự điều chỉnh” định mức cắt dài ngắn đến đâu thì mới cắt đến đó Người cắt ngà voi cũng phải có nghề, nếu cứ cắt ẩu tả sẽ làm long ngà bị hư và không mọc ra nữa Cắt ngà xong phải “cúng” tạ thần voi một con lợn, một ché rượu, trầu cau, thuốc, cơm nếp, chuối, mía, lễ cúng này cũng như lễ cúng mừng voi mới mua Nếu nhà cắt ngà nhiều con một lúc thì phải cúng tạ một con trâu
PHẦN I:
TỔNG THỂ TỈNH DAKLAK
A ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN:
Trang 172- Địa hình:
Địa hình DakLak tương đối bằng phẳng, độ cao trung bình từ 500 - 800 mét so với mặt biển thấp dần từ Đơng Nam sang Tây Bắc.
Địa hình của tỉnh chia thành bốn kiểu chính:
• Kiểu địa hình núi
B TÀI NGUYÊN THIÊN NHIÊN:
1- Vị trí địa lý:
Tỉnh DakLak nằm giữa cao nguyên Nam Trung Bộ, cĩ các trục đường giao thơng quan trọng nối liền với nhiều tỉnh, thành phố như: Quốc lộ 14 nối Tp Đà Nẵng - Gia Lai, Ban Mê Thuột, đến Bình Phước-Bình Dương và TP Hồ Chí Minh; Quốc lộ 26 nối Buơn Ma Thuột -
Tp Nha Trang; quốc lộ 27 nối Buơn Ma Thuột - Đà Lạt; Quốc lộ 28 từ Gia Nghĩa nối với thị xã Phan Thiết và một số tuyến đường khác nối liền với vùng Đơng Bắc Campuchia Bên cạnh đĩ, Daklak cịn cĩ cảng hàng khơng nối với Thành phố Hồ Chí Minh, thành phố
Đà Nẵng và thủ đô Hà Nội
Cùng với các điều kiện thuận lợi về đất, rừng, tài nguyên khống sản, đây chính là một lợi thế quan trọng về phát triển kinh tế, xã hội, khoa học - cơng nghệ, mơi trường, an ninh quốc phịng và giao lưu hàng hĩa, giữa Daklak với các thị trường trong nước và quốc tế, cho phép tỉnh xây dựng và phát triển một nền kinh tế mở
2- Tài nguyên đất:
Một trong những tài nguyên lớn được thiên nhiên ưu đãi cho Daklak, đĩ là tài nguyên đất Tồn tỉnh cĩ diện tích tự nhiên là 1.959.950 ha, trong đĩ chủ yếu là nhĩm đất xám, đất đỏ bazan và một số nhĩm khác như: đất phù sa, đất gley, đất đen
Trang 18- Nhĩm đất đỏ (Ferrasol, trong đĩ chủ yếu là đất đỏ bazan)
Là nhĩm đất chiếm diện tích lớn thứ hai (sau đất xám) với 704.494ha, tương đương 36,02% diện tích tự nhiên tồn tỉnh và chiếm tới 55,6% diện tích đất đỏ bazan tồn Tây Nguyên Trong 704.494ha đất đỏ, cĩ tới 542.815ha cĩ độ dốc dưới 150 (tương đương 75% diện tích nhĩm) và 595.824ha cĩ tầng đất dày trên 120 cm (tương đương 82, 4% diện tích của nhĩm) Khơng những thế, đất đỏ bazan cịn cĩ tính chất cơ lý tốt, kết cấu viên cục độ xốp bình quân 62 - 65%, khả năng giữ nước và hấp thu dinh dưỡng cao rất thích hợp với các loại cây cơng nghiệp cĩ giá trị kinh tế như cà phê, cao su, chè, hồ tiêu và nhiều loại cây ăn quả, cây cơng nghiệp ngắn ngày khác Đây là một lợi thế rất quan trọng về điều kiện phát triển nơng nghiệp của tỉnh Daklak
3- Tài nguyên nước
- Nguồn nước mặt
Với những đặc điểm về khí hậu-thủy văn và với 3 hệ thống sơng ngịi phân bố tương đối đều trên lãnh thổ (hệ thống sơng Srepok; hệ thống sơng Ba, hệ thống sơng Đồng Nai) cùng với hàng trăm hồ chứa và 833 con suối cĩ độ dài trên 10 km, đã tạo cho Daklak một mạng lưới sơng hồ khá dày đặc Vì vậy, nhiều vùng trong tỉnh cĩ khả năng khai thác nguồn nước mặt thuận lợi để phục vụ sản xuất và đời sống, nhất là các địa bàn phân bố dọc theo hai bên sơng Krơng Ana thuộc các huyện:Krơng Ana, Krơng Pắc, Lăk và Krơng Knơ
Nguồn nước ngầm:
Tập trung chủ yếu trong các thành tạo BaZan & Trầm tích Neogen đệ tứ, tồn tại chủ yếu dưới 2 dạng: Nước lỗ hổng và nước khe nứt Tổng trữ lượng ước tính:
Chất lượng nước thuộc loại nước siêu nhạt, độ khống hố M= 0,1 - 0,5, pH = 7-9 Loại hình hố học thường là Bicacbonat Clorua - Magie, Can xi hay Natri.
C.HÀNH CHÍNH-CÁC DÂN TỘC DÂN CƯ
1- Hành chính:
Tỉnh Daklak bao gồm 18 huyện và thành phố Buơn Ma Thuột; 207 đơn vị hành chính cấp
xã (13 phường, 18 thị trấn, 176 xã) và 2.308 thơn buơn, khối phố
2- Dân tộc - Dân cư:
- Dân số Daklak 1.948.012 người (Theo thống kê năm 2001), bao gồm 44 dân tộc anh em cùng định cư, sinh sống Trong đĩ:
Trang 19dân tộc tại chỗ hiện nay là 355.266 người; trong đĩ dân tộc Êđê chiếm đến 70.1%, dân tộc Mnơng chiếm 17%, các dân tộc khác như Ba na, Gia rai, Sê đăng chiếm 18,5%.
+ Trong những năm chống Mỹ cứu nước, đặc biệt là từ sau ngày miền Nam hồn tồn giải phĩng (1975) đến nay, một bộ phận đồng bào các dân tộc ít người từ miền Trung và Bắc di
cư đến đây sinh cơ lập nghiệp, làm cho cơ cấu thành phần dân tộc trong tỉnh thay đổi nhanh chĩng Trong số 44 dân tộc anh em cĩ mặt trên địa bàn Daklak, một số dân tộc cĩ số dân lớn là:
Dân tộc Kinh chiếm 70,65% dân số,
D KINH TẾ XÃ HỘI:
1 Nơng - Lâm nghiệp
Nơng - Lâm nghiệp: chiếm 62,9%
Giá trị sản xuất tăng bình quân hàng năm là 9,8 %
Tổng giá trị sản xuất nơng nghiệp đạt 7.012.499 triệu đồng.
Hoạt động sản xuất lâm nghiệp tập trung chủ yếu vào lĩnh vực như khai thác chế biến lâm sản, nuơi trồng rừng Năm 1995 đạt 154.009 triệu đồng, năm 2000 đạt 836.559 triệu đồng.
Daklak là tỉnh cĩ diện tích rừng chiếm 51,44 % diện tích tự nhiên trong tồn tỉnh, phân chia sau:
Trang 20(Nếu tính cả độ che phủ của 300.000 ha cây cơng nghiệp lâu năm (cà phê, cao su ) độ che phủ của tồn tỉnh đạt xấp xỉ 70%)
2- Cơng nghiệp - Tiểu thủ cơng nghiệp và xây dựng
Giai đoạn 1995 - 2000, cơng nghiệp - tiểu thủ cơng nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng 8,8% nền kinh tế tỉnh
Cơng nghiệp (đến năm 2000): số cơ sở sản xuất cơng nghiệp 5.342
3- Thương mại - Dịch vụ và du lịch
Thương mại
Xuất khẩu (1996 - 2000) đã thực hiện 1.300 triệu USD, tăng gấp 5 lần so với giai đoạn
1991-1995 Tốc độ tăng trưởng bình quân đạt 13,3%/năm Thị trường xuất khẩu mở rộng trên
50 nước và vùng lãnh thổ Các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là cà phê (970.000 tấn), cao su (30.400 tấn), tiêu (3.200 tấn), hạt điều (920 tấn)
Nhập khẩu (1996 - 2000) đạt 81 triệu USD, tăng 32% so với giai đoạn 1991 - 1995 Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là phân bĩn, hạt nhựa
Mạng lưới thương mại quốc doanh đến nay đã phát triển hơn 380 điểm mua bán hàng hố, gồm:
vùng III với tổng số vốn ngân sách đầu tư cho cơ sở vật chất là 2152 triệu đồng)
Doanh thu du lịch đạt trên dưới 30 tỷ đồng mỗi năm
E CƠ SỞ HẠ TẦNG:
1- Giao thơng
Trang 21Mạng lưới giao thông của tỉnh bao gồm 2 loại chính là giao thông hàng không và giao thông đường bộ.
a- Giao thông đường bộ.
Hiện nay trong tỉnh có 8614km đường các loại, bao gồm 5 tuyến quốc lộ, 16 tuyến tỉnh lộ,
77 tuyến đường huyện, trên 4400km đường xã, thôn và gần 110 km đường đô thị Bình quân mật độ đường ô tô trên diện tích tự nhiên đạt 0,435 km/km2; bình quân đường ô tô đạt 0,506km/1000dân Hệ thống đường bộ nói chung đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân
b- Giao thông hàng không.
Sân b ay Buôn Ma Thuột với các tuyến:
c- Thuỷ lợi
Toàn tỉnh có 560 công trình thuỷ lợi vừa và nhỏ (trong đó có 440 hồ chứa, còn lại chủ yếu
là đập dâng và các trạm bơm), với khoảng 1100km kênh mương Trong số các hồ chứa, có
16 hồ dung tích trên 3 triệu m 3 nước, 23 hồ có dung tích từ 1-3 triệu m 3 nước 401 hồ có dung tích dưới 1 triệu m 3 nước.
d- Điện năng
DakLak có hệ thống lưới điện phát triển nhanh, đến năm 2000 có 19/19 huyện, thành phố
có lưới điện quốc gia 147/207 số xã, phường, thị trấn sử dụng điện lưới quốc gia.
e- Bưu chính viễn thông
Toàn tỉnh có 57 bưu cục, trong đó 54 bưu cục có tổng đài, 26 ki ốt, 13 đại lý thuộc các xã (không kể ki ốt, đại lý ở địa phương và thị trấn)
Mạng lưới bưu chính viễn thông phục phụ cho 13 phường, 18 thị trấn, 153/207 xã, 3 đồn biên phòng và một cửa khẩu
Trang 22khu vực với 40 giường và 18 đội vệ sinh phịng dịch sốt rét, 18 UBDS KHHGĐ Các đơn
vị cơ sở cĩ 207 trạm y tế, phịng khám đa khoa trên tổng số 207 xã, phường, thị trấn.
3- Văn hố - thơng tin
• Số trung tâm văn hố tỉnh, thành phố: 2
• Số đơn vị nghệ thuật: 2
• Số thư viện: 17
4- Giáo dục - đào tạo
T ồn tỉnh cĩ 608 trường (trong đĩ 365 trường tiểu học, 53 trường tiểu học và trung học
cơ sở, 153 trường trung học cơ sở, 15 trường trung học cơ sở và phổ thơng trung học,
22 trường phổ thơng trung)
G VĂN HOÁ ĐĂKLĂK:
Nĩi đến văn hĩa truyền thống ở Daklak, trước hết phải nĩi đến nền văn hĩa mang đậm nét đặc trưng của cư dân bản địa, từ bao đời nay đã tạo dựng nên một nền văn hĩa vơ cùng phong phú và đa dạng, với những di sản văn hĩa vật thể cũng như phi vật thể độc đáo và
đồ sộ
Nĩi đến các di sản văn hĩa dân tộc, khơng quên các di sản văn hố vật thể nổi tiếng như đàn đá, nhạc cụ, cồng chiêng, kiến trúc nhà dài, kiến trúc nhà mồ, cơng cụ lao động dệt cẩm thổ tạc tượng cùng các di sản văn hố phi vật thể như luật tục, các lễ hội, các tập tục
và các sinh họat văn hĩa, sinh họat cộng đồng.
Đồ sộ và phong phú hơn cả là kho tàng văn học dân gian với những bản sử thi (Dân tộc Eđê gọi là Khan, dân tộc Mnơng gọi là át Nrơng), thần thoại, truyền thuyết, truyện cổ tích, truyện ngụ ngơn, lời nĩi vần đậm đà bản sắc dân tộc lưu truyền qua bao thế hệ Ngịai ra dân tộc Ê Đê cịn cĩ cả chữ viết mà sau này được phiên âm sử dụng phổ biến từ thời Pháp,
Mỹ cho đến nay.
Điểm nổi bật của văn hố bản địa Daklak là: Văn hố lễ hội nhà dài, văn hố cồng chiêng, văn hố mẫu hệ, văn hố ẩm thực, văn hố sử thi, văn hố luật tục, văn hố cộng đồng .độc đáo, phong phú giàu bản sắc dân tộc.
Trước đây cũng như hiện nay, quan hệ xã hội cơ bản của đồng bào các dân tộc vẫn cịn mang đậm tính huyết thống và tính cộng đồng bền chặt Nĩi chung, đồng bào các dân tộc Ê
Trang 23những mối quan hệ xã hội cổ truyền tốt đẹp được hình thành qua các thời kỳ lịch sử lâu dài.
Tinh thần cộng đồng, dân chủ, bình đẳng, tương thân tương ái Bên cạnh đĩ, tinh thần thượng võ, nhân ái, yêu thiên nhiên, yêu chuộng hịa bình, cần cù sáng tạo cũng là những đặc trưng nổi bật của đồng bào các dân tộc Nổi bật hơn cả là ý chí đấu tranh bất khuất chống chọi với thiên nhiên và truyền thống đấu tranh bảo vệ buơn làng, bảo vệ quê hương đất nước Truyền thống đĩ đã được phát huy cao độ trong những năm nhân dân Daklak đứng lên theo Đảng làm cách mạng, chiến đấu chống thực dân Pháp và Đế quốc Mỹ xâm lược.
Điểm tơ thêm nền văn hĩa truyền thống của các dân tộc bản địa, DakLak cịn cĩ sự du nhập nền văn hĩa của các dân tộc thiểu số phía Bắc và nền văn hĩa của người Kinh với đủ sắc thái của ba miền Trung - Nam - Bắc Tất cả đều được gìn giữ và phát triển, hịa quyện trong quá trình xây dựng nền văn hĩa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc.
* Ngồi ra, nĩi đến văn hĩa ở Daklak cũng khơng thể khơng nĩi đến các danh thắng, các di tích lịch sử văn hĩa mang dấu ấn của lịch sử Trên địa bàn Daklak đã tìm thấy một số di chỉ khảo cổ học mang dấu tích của người tiền sử Đĩ là các di chỉ ở Drai Si (huyện Cư Mgar), xã Ea Tiêu, Quảng Điền (huyện Krơng Ana), thị trấn DakRLấp, xã Quảng Trực (huyện DakRLấp), xã Buơn Triết, hồ Lak (huyện Lak), xã Trường Xuân, Dak Rung, thị trấn Gia Nghĩa (huyện Dak Nơng), xã Dak Rồ (huyện Krơng Knơ), xã Ea Păn, xã Xuân Phú (huyện Ea Kar).
Qua các di chỉ trên, đã tìm thấy những cơng cụ, khí cụ, đồ trang sức bằng đá; đồ gốm và bàn dập, bàn mài hoa văn trên gốm Nguyên liệu chế tác đều lấy từ đá bazan và đá biến chất, vốn là đặc trưng của Tây Nguyên Kiểu dáng và kỹ thuật chế tác cĩ nhiều điểm tương đồng với văn hĩa Biển Hồ (Gia Lai) và văn hĩa Sa Huỳnh (Quảng Ngãi) Thời đại đồ đồng cũng đã phát hiện được 7 chiếc trống đồng ở huyện Ea Súp, Ea HLeo, Krơng Pac Ea Kar
và TP Buơn Ma Thuột
Đặc biệt trên mảnh đất này cịn cĩ những dấu tích của người Chăm để lại, đĩ là tháp Yang Prong (Thần vĩ đại) ở xã Chư MLanh (huyện Ea Súp), những Rasungbatau (thùng lớn đựng nước) ở Buơn Ma Thuơt, khu mộ cổ thuộc địa phận xã Ea Ktur và xã Cư Ewy
(huyện Krơng Ana), giếng Chăm ở xã Yang Mao, khu phế tích ở xã Hịa Thành (huyện Krơng Bơng) Trong đĩ, tháp Yang Prong được xây dựng vào cuối thế kỷ XIII dưới thời vua Sinhavarman III (Chế Mân), thờ thần Sinva Đây là tháp Chăm cổ duy nhất cịn lại ở Tây Nguyên.
Thời kỳ hiện đại, chúng ta cĩ hàng chục di tích nổi tiếng như: nhà tù Buơn Ma Thuột, Đình Lạc Giao - nơi biểu hiện cho sự hiện diện của nền văn minh lúa nước của cộng đồng người Việt ở Daklak, Đồn điền CADA, Biệt điện Bảo Đại - dấu ấn của triều đại phong kến cuối cùng của Việt Nam, hang đá Dak Tuơr và rất nhiều di tích lịch sử, văn hĩa khác.
H LỄ HỘI ĐĂKLĂK:
1.Hội đua voi Tây Nguyên:
Trang 24Nhìn chung trong cả nước, voi tập trung nhiều nhất ở tỉnh Đác Lắc (hơn 400 con voi nhà), trong đó huyện Ea Súp có đàn voi đông nhất Bản Đôn thuộc huyện Ea Súp, nơi quy tụ nhiều tộc người M'nông, Êđê, Lào không những nổi tiếng với đàn voi nhà hàng trăm con,
mà còn là xử sở của nghề săn bắt và nuôi dạy voi từ lâu đời.
Săn bắt voi là một nghề vô cùng lý thú, nhưng đầy gian lao nguy hiểm, đòi hỏi sự thông minh, lòng dũng cảm tuyệt vời và sự phản ứng nhanh nhạy của nghề thợ săn trong mọi tình huống.
Hội đua voi thường diễn ra vào mùa xuân, cụ thể hơn vào dịp tháng ba âm lịch, đó là tháng đẹp nhất trong năm ở đây: trời nắng dịu, đất rừng khô ráo, dọc bên các bờ sông, bờ suối, các loại hoa rừng đua nhau khoe sắc, trắng, vàng, tím, hồng Người Tây Nguyên thường ví von đó là mùa con ong đi lấy mật, mùa con voi xuống sông uống nước; mùa em đi phát rẫy làm nương; anh vào rừng đặt bẫy gài chông.
Để chuẩn bị cho ngày hội, từ vài tháng trước đó, những chàng trai trong buôn cũng như những mơgát (người quản tượng) đưa voi đến những cụm rừng có nhiều cây cỏ làm thức
ăn cho voi để chúng được ăn uống no nê Họ còn bồi dưỡng thêm chuối chín, đu đủ chín, mía cây, bắp ngô, khoai lang, cám gạo và hầu như không bắt voi phải làm những việc nặng nhọc để giữ sức.
Đến ngày hội, những đàn voi từ các buôn làng xa gần nườm nượp kéo về buôn Đôn, tập trung ở một số bãi, hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêrêpốc Cùng với những đàn voi, dân chúng khắp nơi đổ về dự hội với những bộ áo quần màu sắc rực rỡ.
Bãi đua là một dải đất tương đối bằng phẳng (thường là khu rừng bằng, ít cây to) bề ngang
đủ để 10 con voi giăng hàng đi một lúc, bề dài từ một đến 2km.
Một hồi tù và rúc lên, đàn voi dưới sự điều khiển của những chàng mơgát lần lượt tiến vào khoảng đất bằng, dàn thành hàng ngang ngay ngắn Nhiều con rống vang, như để
báo hiệu rằng chúng sắp bước vào một cuộc thi tài quan trọng Theo lệnh điều khiển, từng tốp voi đi vào đứng ở tuyến xuất phát Con đầu đàn bước lên phía trước, trong tư thế uy nghi, hai chân trước đứng thẳng, ngẩng cao, quay cái vòi mấy vòng rồi cúi đầu chào khán giả hai bên, xong lại lùi vào vị trí cũ Tiếng hoan hô cùng những tràng vỗ tay cổ vũ vang dậy, trong khi tiếng chiêng, tiếng trống dóng lên từng hồi rộn rã như thúc, như giục Không khí trường đua lúc này lặng im, căng thẳng, mọi người hồi hộp chờ đợi Trên mỗi con voi có hai chàng mơgát dũng mãnh, trong bộ trang phục sặc sỡ kiểu tướng lĩnh ngày xưa đang trong tư thế sẵn sàng chờ lệnh Một tiếng tù và rúc to báo lệnh xuất phát Những chiếc chân voi to như cây cột nhà, thường ngày nhấc lên từng bước ung dung, uể oải, thẳng tuột, đột nhiên bật lên như những chiếc lò xo phóng về phía trước trong tiếng hò reo, la hét của khán giả cùng tiếng chiêng, tiếng trống âm vang cả núi rừng Chàng mơgát ngồi phía trước đầu voi cúi rạp mình, ngẩng đầu quan sát và điều khiển voi bằng một thanh sắt nhọn dài độ một mét gọi là kreo (tiếng M'nông là gậy điều khiển) dùng để đâm mạnh vào da, thúc voi tăng tốc độ, còn anh chàng mơgát thứ hai ngồi ở phía sau thì dùng chiếc búa gỗ kốc nện mạnh vào mông voi để voi chạy nhanh và thẳng đường Trên đường đua, bụi đất,
lá cây khô bốc lên, tiếng gió rít, tiếng cành lá bị va quật xen lẫn với tiếng rậm rịch của những bước chân voi.
Trang 25quay trở về đích, thì tiếng reo hị của khán giả vang lên như sấm Tiếng trống, tiếng chiêng giục giã liên hồi Tiếp theo là tiếng hoan hơ những người thắng cuộc Những chú voi được giải, giơ cao chiếc vịi vẫy chào mọi người, rồi ngoan ngỗn bước đi ung dung, đơi tai phe phẩy, mắt lim dim đưa vịi nhận những khúc mía màu tím hay ống đường của bà con các nơi mang đến ủng hộ.
Cuộc đua voi kết thúc, những chú voi dự thi lần lượt trở lại các buơn làng xa xơi, mang theo tiếng hát, lời ca và khơng khí rộn ràng của ngày hội, khi về buơn làng, lại một lần nữa được dân chúng kéo nhau ra tận đầu buơn để hân hoắm chào đĩn, thưởng quà như những người chiến thắng Thường thường những con voi thắng cuộc vẫn thuộc về buơn Đơn, một buơn của người M'nơng cĩ nhiều voi nhất và cĩ truyền thống chăm sĩc, huấn luyện voi giỏi nhất trong vùng.
Ngày hội đua voi là ngày vui lớn ở Tây Nguyên, nĩ phản ánh tinh thần thượng võ của người M'nơng, một dân tộc giàu đức tính dũng cảm, đã từng quen với tốc độ, từng đối diện với bao tình huống hiểm nguy căng thẳng trong những cuộc săn bắt voi rừng Chính cái khung cảnh hùng vĩ của thiên nhiên Tây Nguyên - nơi diễn ra cuộc đua đặc sắc - đã làm tăng lên bội phần chất hùng tráng của ngày hội cổ truyền của họ.
2.Hội xuân Tây Nguyên:
Tháng 3 là tháng đẹp nhất trong năm ở Tây Nguyên Trong thời gian này, hoa rừng nở khắp nơi thu hút ong rừng đi tìm mật và bắt đầu một mùa vụ mới Ðây cũng là mùa lễ hội của các dân tộc
Tây Nguyên là vùng rộng đất rộng lớn của Việt Nam bao gồm 3 cao nguyên lớn nhất của Lâm Ðồng: Di Linh, Ðăk Lắk và Gia Lai - Kon Tum Nguồn tài nguyên thiên nhiên giàu cĩ với những khu rừng nguyên thuỷ và hệ động thực vật phong phú Nơi đây cũng hội tụ nhiều lồi động vật quý hiếm.
Ở đây, các dân tộc thiểu số khác nhau như Gia Rai, Ba na, Xêđăng, Gié Chiêng, K'hor, Ktu, Eđê đang sinh sống Mỗi dân tộc cĩ phong tục và văn hố riêng Chính vì vây, ở nơi đây lễ hội văn hĩa là lớn và rầm rộ nhất Ơng Krơng Y Tuyên - Giám đốc của phịng Văn hố Thơng tin của Ðắk Lắk cho biết thêm: "Vào tháng ba, các dân tộc như £đê, Mnơng và Gia Lai tổ chức các lễ hội khác nhau, bao gồm lễ bỏ mả, lễ cầu sức khoẻ, lễ vụ mùa, lễ ăn trâu, cầu mưa và hội đua voi" Những lễ hội này được tổ chức ở buơn, làng và tại các dịng
họ Ðây cũng là hoạt động văn hố cộng đồng thu hút rát nhiều khách tham gia.
Năm nay, lễ hội tháng Ba sẽ được tổ chức ở Buơn Ðơn nới nổi tiếng về hội đua voi Trước khi vào cuộc đua, một hồi tù và vút lên, theo lệnh điều kiển của nài voi, lần lượt các chú voi nối đua nhau rồi xếp thành hàng trước mặt Ban giám khảo, từ từ quỳ phục xuống chào Sau đĩ từng tốp voi vào vị trí xuất phát Khi cĩ hiệu lệnh, các chú voi bật lên, phĩng về phía trước trong tiếng chiêng, trống, tiếng hị reo của khán giả âm vang núi rừng Cuộc đua qua nhiều vịng , đến khi chọn được một chú voi chiến thắng về đích trước Voi thắng cuộc được đeo một vịng nguyệt quế, nĩ giơ cao chiếc vịi chào khán giả, đơi tai phe phẩy, mắt lim dim đĩn nhận những khúc mía, những trái chuối và những người dự hội.
Nhạc khí truyền thống của các dân tộc là niềm tự hào của người Tây Nguyên Họ cĩ gồng,
Trang 26chiêng, T'rưng, Krơngpút, đàn mơi Âm nhạc là một trong những yếu tố hấp dẫn các du khách tới đây.
Cứ mùa xuân tới, vùng đất Tây nguyên lại trở nên rộn ràng với các âm thanh của núi rừng, của âm nhạc đã làm say đắm biết các du khách khi đến nơi đây
3.Lễ ăn cơm mới:
Các dân tộc ít người ở Tây Nguyên, nhìn chung theo đa thần giáo Với tâm hồn thuần phác cịn in đậm dấu ấn của tư duy con người thời nguyên thuỷ, họ cho rằng các vị thần linh, từ các vị thần lớn giữ chức năng cai quản đến các vị thần nhỏ hơn cũng đều cĩ tình cảm như con người, cũng vui buồn, giận ghét, yêu thương Cúng thần nhiều lễ vật, và nhất là tấm lịng trung thành, thì sẽ nhận lại sự giúp đỡ, chở che, ủng hộ, bênh vực tương ứng Trong các thần (Yang) được tơn thờ, thì thần lúa được tơn trọng khơng kém thần nước, thần núi, thần cây Do đĩ, nương rẫy là nơi thiêng liêng, hạt lúa sinh ra từ nương rẫy là sản phẩm được các thần ban phát để nuơi sống con người
Hằng năm, sau khi thu hoạch, người ta tổ chức lễ ăn cơm mới, vừa để tạ ơn thần, vừa để vui mừng chung hưởng kết quả của một quá trình lao động nhọc nhằn, vất vả Tuy cách tổ chức cùng vài nghi thức tiến hành của từng tộc người cĩ những nét khác nhau, nhưng đều mang chung một ý nghĩa : tạ ơn thần sau khi kết thúc một chu kỳ sản xuất chính của năm
Ở người Mạ, lễ mừng thu hoạch xong (Nhu R'he) là lễ hội lớn nhất của năm ở trong buơn,
và thường kéo dài 7 ngày Lễ ăn cơm mới của người Êđê (Hma Ngắt) cũng cĩ ý nghĩa tương tự như lễ cúng Mpan Bar của người M'nơng sau mùa lúa về kho khơng chỉ đơn thuần là việc lao động cụ thể, mà coi như một cách "thu hồn lúa về nhà", và "kho chứa lúa
là nơi trú ngụ của hồn lúa", một "chốn thiêng liêng trong gia đình" Cũng chỉ từ sau lễ cúng này, mọi kiêng kỵ trong thư hoạch mùa mới chấm dứt Trong khi đĩ lễ ăn cốm mới (Samớk) của người Bana diễn ra trong 3 ngày, khi bắt đầu thu hoạch, để rồi tiếp đến cĩ lễ Sơmắh Kek khi đi vào suốt lúa đại trà, sau hết đến lễ đĩng cửa kho (Sơmăh Teng Amăng) khi gùi lúa cuối cùng được về kho.
Số người Bana theo đạo Thiên Chúa, tuy khơng cúng bái vẫn giết heo, gà, dê trong lễ cúng cơm mới, cịn những người Giarai theo đạo Tin Lành thì chỉ bỏ tục uống rượu, khơng cúng thần mà tạ ơn Chúa.
Giống như người Kinh ăn tết Nguyên đán, ở các dân tộc vùng Tây Nguyên sau mùa thu hoạch, cũng trùng vào dịp cuối năm âm lịch, tổ chức lễ ăn cơm mới Cĩ điều là cách tổ chức khơng diễn ra đồng loạt, mà tuần tự hết nhà này sang nhà khác trong buơn làng theo một trật tự đã thoả thuận trước Việc tổ chức lễ ăn mừng lớn hay nhỏ là tuỳ thuộc vào khả năng thu hoạch nhiều hay ít của từng gia đình, và cũng tuỳ theo đĩ mà thời gian cĩ thể kéo dài một hay nhiều ngày Đây cũng là dịp gia chủ mời bà con, họ hàng, bạn bè các buơn lân cận cùng vui chơi, ăn uống Nhà nào cĩ đơng khách coi như là niềm vinh dự Vì thế, ngồi việc cúng thần, hồn lúa và tổ tiên cùng với việc cầu mong sức khoẻ cho gia đình, người ta đánh cồng, chiêng, trống, vui chơi ca hát suốt nhiều ngày đêm liền.
Trang 27Khi lúa trên rẫy đã được gùi về đổ đầy các kho để lúa (Sang mđiê), gia chủ bắt tay vào việc
tổ chức lễ cúng cơm mới Lễ không tổ chức cho toàn buôn một lúc, mà lần lượt từng nhà Phụ nữ lo việc bếp núc, nấu nướng Đàn ông thì lo rượu cần, chuẩn bị heo, gà để giết thịt, vào rừng chặt cây, đẽo cột gơng (cột để buộc ché rượu cần trong lễ) Khách mời, họ hàng
từ các buôn xa gần được báo Con trai lo chặt củi, con gái lo giã gạo; tiếng chày trong buôn vọng lên từ sáng sớm đến lúc ông mặt trời đi ngủ Đám trẻ con háo hức chơi đùa, hoặc vây quanh các bà già đang soạn từ các gùi dliêng lớn những áo, váy, khố đẹp, những tấm chăn đen, đỏ rực rỡ dùng cho ngày lễ Nếu gia chủ là trưởng tộc, thì họ hàng trong buôn phải mang thêm đồ cúng đến đóng góp.
Mọi việc đã chuẩn bị đầy đủ Cột gơng đã dựng, các ché rượu đã buộc vào dây, chiêng Ana, chiêng Sar đã treo lên xà nhà Nước từ suối đã đem về đổ đầy các nồi năm, nồi mười Heo
đã mổ, gà đã thui, các lễ vật đã bày ra ở sàn nhà
Thầy cúng trong bộ lễ phục chỉnh tề bước ra, hút rượu cần vào một cái bát hoà với tiết heo, trân trọng mời nữ chủ nhân (cao tuổi nhất) ngồi trước mâm, chân đặt lên lưỡi rìu nhận lễ Tiếng chiêng với nhịp điệu vừa trầm hùng, vừa náo nức nổi lên Thầy cúng đọc lời khấn nguyện tỏ lòng biết ơn các thần:
Ơ Yang phía đông, Ơ Yang phía tây, Ơ Yang mây, Yang đất, Yang mưa, Yang núi Nay lúa dã suốt về, heo đực đã mổ, rượu đã đầy ché Xin mời các Yang hãy cầm cần rượu, ăn miếng thịt heo, bát cơm mới đầu mùa Mong Yang cho mùa sau lúa ngoài rẫy sai bông, mẩy hạt, đến kỳ thu hoạch đầy gùi, ngập kho ”
Khấn xong, thầy đi vẩy rượu chúc phúc nơi bếp lửa, dàn chiêng, cầu thang, kho lúa Tiếp theo phần nghi lễ, bắt đầu cuộc tiệc vui Ông bà, cha mẹ trong buôn, khách khứa xa gần, bạn bè ăn uống no say, tự nhiên, thoải mái.
Người nữ chủ nhà được mời vít cần rượu đầu tiên, rồi lần lượt người già, người trẻ, trong
họ trước, trong buôn sau Mọi người vừa ăn uống, vừa vui chơi, ca hát cho đến khi ai không thích nữa thì về Người ở lại được mời nối tay trên cần rượu, nghe chiêng, nghe hát Aday (một loại dân ca trữ tình) giãi bày tâm sự Khách đến dự lễ còn được gia chủ trao tay mỗi người một gói nhỏ thức ăn khi ra về, như để cùng chia đều sự may mắn cho mọi bếp.
Về khuya, một ông già từng trải và giỏi giang, được mời kể Khan-khúc tráng ca truyền thống của người Êđê Cả người kể và người nghe như chìm đắm trong không khí cổ xưa của những bản anh hùng ca trác tuyệt với hình ảnh những dũng sĩ như Đăm San, Đăm Di,
mà những chiến công của họ mãi mãi là niềm tự hào của bộ tộc.
Giọng kể của nghệ nhân khi trầm hùng như dòng sông chảy bên vách núi, lúc dồn dập, ồ ạt như băng qua thác ghềnh hiểm trở khi thầm thì như gió thoảng, lúc nhẹ nhàng như tiếng lá rơi giữa rừng khuya.
Cứ thế, lễ ăn cơm mới kéo dài từ nhà này sang nhà khác, suốt tháng chạp sang tháng giêng
Lễ ăn cơm mới của người Êđê mang đậm nét dấu ấn của tục "ăn năm, uống tháng", nhàn
Trang 28hạ trong khơng khí mùa xuân núi rừng Họ vui say thoả thích, ca hát thâu đêm, để rồi sau
đĩ lại hăng hái chuẩn bị cho mùa trồng tỉa mới với nhiều hy vọng mới.
4.Lễ lớn khôn:
Lễ lớn khôn của dân tộc Êdê Lễ kéo dài hai ngày đêm để xác nhận chàng trai Êdê đã đến tuổi trưởng thành Lễ tổ chức ở các suối nước, trên đường và tại nhà của chàng trai Nhiều nghi lễ dân tộc được tiến hành cùng với sinh hoạt văn hoá và kể chuyện dân gian.
5 Lễ hội đâm trâu:
Khi trong làng có những lễ hội lớn như: lễ mứng được mùa, lễ cầu sức khoẻ, lễ nhà rông mới được dựng xong hay mừng cả làng qua cơn dịch bệnh,…Họ hay tổ chức ăn mừng rất long trọng, luôn tiến hành các nghi thức đâm trâu cúng Yàng trước sân nhà rông, lễ hội đâm trâu thường diển ra trong 3 ngày:
Ngày thứ nhất: Họ dựng cây nêu, là biểu tượng chính của lễ hội, cao 1,8m, trang trí nhiều hoa văn truyền thống của dân tộc họ, cây nêu phải luôn dựng trước nhà rông và sống tốt.
Ngày thứ hai: Chọn bắt trâu tế thần ngày xưa thường lên bắt trâu rừng nhưng ngày nay
đa số là trâu được nuôi trong gia đình Buổi lễ diển ra trịnh trong cùng với tiếng cồng chiêng, tiếng reo hò, tiếng kèn, tiếng ca hát… tạo thành không khí vừa huyền bí vừa sôi động Khi làm xong phần lễ nghi mọi người cùng nhau múa hát và uống rượu cần ăn mừng.
Ngày thứ ba: chọn ngừơi khỏe mạnh để đâm trâu, người được chọn đâm trâu đóng khố cởi trần, già làng đưa một cây lao sắc bén và sau khi làm lễ xong chàng trai đó cầm lao xông vào đâm ngay tim hạ gục con trâu trong tiếng cồng chiêng , tiếng reo hò, sau đó 2 thanh niên cầm dao chặt vào khuỷ chân để con trâu không còn vùng vẫy được nửa, mọi người cùng xúm lại làm thịt con trâu, sau khi làm thịt xong , mọi người cùng nhau nấu nướng nhảy múa trong tiếng cống chiêng vây quanh bếp lửa.
Sau cùng họ cắt thịt chia cho từng người thể hiện sự đoàn kết thương yêu của mọi người trong làng.
Ngoài các lễ hội kể trên, Đăklăk còn có các lễ hội khác như: lễ Bỏ Mã như các tỉnh bạn trên đất tây Nguyên.
Trang 29LỊCH SỮ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN
Từ giữa thế kỷ XII, đồng bào dân tộc ở miền Trung Tây Nguyên đã từng đứng dậy đấu tranh chống sự xâm lược của Chiêm Thành Đến năm 1470, khi Chiêm Thành xâm lấn biên giới phía nam của nước Đại Việt, bị quan quân nhà Lê đánh tan Sau khi đánh thắng Chiêm Thành, nhà Lê một mặt tơn trọng đường ranh giới giữa vùng cư trú của đồng bào các dân tộc Tây Nguyên với đồng bằng; mặt khác đã cĩ những chính sách nhằm duy trì mối quan hệ giữa người Kinh và đồng bào các dân tộc thiểu số.
Năm 1540, khi Bùi Tá Hán được triều đình cử làm Tuần Tiết xứ Nam Ngãi, kiêm cả các vùng dân tộc miền núi phía Tây Ơng đã cho di dân lên lập ấp trên miền núi, mở mang buơn bán giữa người Kinh và người dân tộc thiểu số, tiến cử các vị tù, tộc trưởng ở địa phương và tấn phong vua Hỏa Xá và Thủy Xá Từ đĩ cho đến các đời vua nhà Nguyễn sau này, địa bàn Tây Nguyên-Daklak được gọi là trấn Man, do triều đình gián tiếp quản lý Về hành chính, trấn Man chia thành 4 nguyên và 5 đạo và về quân sự, nhà Nguyễn lập ra một
số đồn lính, tiến hành tuần tra, canh phịng biên giới và ngăn chặn sự xâm lược của quân Xiêm.
Vào những năm cuối thế kỷ XIX, thực dân Pháp đã đẩy mạnh các họat động do thám, nắm tình hình dưới nhiều danh nghĩa khác nhau, nhằm phục vụ cho âm mưu xâm lược Tây Nguyên, Daklak Đến năm 1898, chúng tập trung lực lượng đánh chiếm Buơn Đơn và lần lượt mở rộng chiến tranh đánh chiếm tồn bộ cao nguyên Daklak.
Sau khi chiếm Daklak, thực dân Pháp bắt tay xây dựng bộ máy thống trị, thành lập đơn vị hành chính tỉnh Daklak vào năm 1904 theo Nghị định của Tịan quyền Đơng Dương Chúng chia Daklak làm 5 quận, áp đặt chế độ trực trị, thực hiện chính sách "chia để trị" Nhưng cũng chính từ sự áp bức, bĩc lột hà khắc đĩ, đồng bào các dân tộc Daklak đã liên tục và anh dũng đứng lên chống thực dân Pháp, dưới sự lãnh đạo của các vị Tù trưởng Trong những năm cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX, trong tỉnh liên tục nổ ra các cuộc khởi nghĩa và đấu tranh vũ trang; như cuộc khởi nghĩa của Ama Jhao (1890-1904), cuộc đấu tranh của N’Trang Gưh (1900 -1914), cuộc khởi nghĩa của Oi H’Mai (1903 - 1909 Tiêu biểu hơn cả là cuộc nổi dậy của đồng bào M’nơng do N’Trang Lơng lãnh đạo, cuộc khởi nghĩa này kéo dài 23 năm (1912-1935) lơi cuốn đồng bào các dân tộc, khơng chỉ ở cao nguyên Dak Nơng, mà cả Tây Nguyên và Cam pu chia hưởng ứng.
Cùng với các cuộc đấu tranh và khởi nghĩa vũ trang do các vị tù trưởng lãnh đạo, trong tỉnh cũng đã xuất hiện một số phong trào đấu tranh chính trị hợp pháp của tầng lớp cơng chức, viên chức, trí thức, học sinh chống chính sách chia để trị của thực dân Pháp, chống chính sách ngu dân, khinh miệt đồng bào các dân tộc bản xứ Tiêu biểu là cuộc đấu tranh
do hai giáo chức yêu nước người Ê đê là Y Jút và Y út lãnh đạo (1925 - 1926).
Cũng trong thời kỳ này, do chính sách lập đồn điền khai thác thuộc địa, ở Daklak đã xuất hiện một tầng lớp cơng nhân làm thuê cho các đồn điền bĩt lột và hành hạ Để chống lại sự
áp bức bĩc lột tàn bạo của thực dân Pháp, cơng nhân các đồn điền đã nhiều lần tổ chức các cuộc đấu tranh dưới nhiều hình thức khác nhau Tiêu biểu cho phong trào đấu tranh của cơng nhân thời kỳ này là cuộc đấu tranh của cơng nhân đồn điền Mai ơ (Maillot) năm
1927, cuộc đấu tranh của cơng nhân đồn điền Rossi, CHPI năm 1933, cơng nhân cầu đường Buơn Hồ 1935 và sau này là cơng nhân đồn điền CADA
Trang 30Khi cuộc chiến tranh thế giới lần thứ hai đi vào giai đọan kết thúc, nhất là sau sự kiện Nhật đảo chính Pháp ngày 9/3/1945, tình hình phong trào Cách mạng trong tỉnh phát triển sôi nổi Các tổ chức đòan thể, các Hội quần chúng lần lượt ra đời, lôi cuốn lực lượng công nông, trí thức, thanh niên, phụ nữ tham gia họat động Việt Minh Ngày 24 tháng 8 năm
1945, sau cuộc khởi nghĩa ở đồn điền CADA, cuộc tổng khởi nghĩa giành chính quyền nổ ra thắng lợi ở Buôn Ma Thuột: hàng vạn quần chúng đã đồng lọat đứng lên ủng hộ ủy ban khởi nghĩa, giành chính quyền về tay nhân dân, thành lập chính quyền cách mạng, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do và nhân dân làm chủ vận mệnh của mình.
Sau khi xóa bỏ bộ máy cai trị của thực dân phát xít, đồng bào các dân tộc đã đòan kết, chung sức chung lòng bắt tay xây dựng chế độ mới Dưới sự lãnh đạo của Đảng và ủy ban Việt Minh, nhân dân Daklak hăng hái tham gia củng cố chính quyền, xây dựng lực lượng
vũ trang, chống giặc đói, giặc dốt, thực hiện các quyền và nghĩa vụ thiêng liêng mà cách mạng đã mang lại.
Ngày 30 tháng 12 năm 1945 quân đội Pháp quay lại xâm lược lần thứ hai Quân dân Buôn
Ma Thuột và quân dân các dân tộc trong tỉnh đã đứng dậy đấu tranh Cuộc kháng chiến 9 năm trường kỳ, gian khổ và ác liệt cuối cùng đã giành được thắng lợi.
Nhưng khi cuộc kháng chiến chống Pháp vừa kết thúc, đế quốc Mỹ nhảy vào miền Nam, với âm mưu xâm chiếm miền Nam chia cắt lâu dài đất nước ta Cùng với nhân dân cả nước đồng bào các dân tộc Daklak tiếp tục bước vào cuộc chiến đấu chống lại những kẻ thù nguy hiểm hơn, độc ác hơn đó là đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai.
Trong hơn 20 năm chiến chiếm đóng, đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai đã tập trung biết bao tiềm lực quân sự và chính trị, nhằm xây dựng Dak Lak thành một địa bàn chiến lược trọng yếu, với nhiều thủ đoạn hòng đè bẹp ý chí cách mạng của đồng bào các dân tộc Dak Lak.Nhưng vượt lên trên mọi hy sinh tổn thất to lớn và nặng nề nhất, quân dân các dân tộc
đã kề vai sát cánh bên nhau, bền bĩ đấu tranh, lần lượt đập tan các âm mưu, thủ đọan của
kẻ thù, lập nên những chiến công oanh liệt: đồng khởi phá kềm 1960-1961, phá ấp giành dân giải phóng nông thôn 1964-1965, tổng tấn công và nổi dậy tết Mậu thân 1968, đánh bại chương trình bình định cấp tốc của Mỹ Ngụy 1969-1972 Cuối cùng đã làm nên chiến thắng Buôn Ma Thuột (Ngày 10/03/1975), mở đầu cho cuộc Tổng tiến công và nổi dậy giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, mở ra một kỷ nguyên mới: kỷ nguyên độc lập, tự do, thống nhất, cả nước đi lên Chủ nghĩa xã hội.
Trang 31
Có diện tích 265,6 km2 với Dân số 230.000 người (1999) là trung tâm hành chánh tỉnh Daklak Độ cao trung bình 484m so với mực nước biển, nhiệt độ trung bình là 25 độ
C , thấp nhất là 18 độ C, cao nhất là 34 độ C Có 20 dân tộc sinh sống Gồm có 13 phướng 5 xã, 180 thôn, buôn, khối phố Về Kinh tế chủ yếu là nông nghiệp, có giá trị như: cà phê, tiêu, cao su….Ngoài ra còn có các nghề phụ như chăn nuôi nai, bò, trâu, voi…
II ĐỊA DANH BUÔN MA THUỘT:
Xưa kia đã có lúc TP miền cao ở Tây Nguyên này còn gọi là Ban Mê Thuột, theo phiên âm của người Pháp Tuyên truyền rằng xưa kia có những anh hùng bất khuất kiên dũng, đứng đầu là Ama Thuột vào Thế kỷ XIX Người Êđê không gọi chính danh một người mà thường gọi ghép với tên con, nhất là những người được kính trọng Ama có nghĩa là Cha-Bố-Ba nhưng để đơn giản người ta gọi là Ma nên bỏ chữ A, mặt khác người ÊĐê không đọc được chữ A nên chữ AMa chỉ đọc thành Ma Thuột là người có công xây dựng nên vùng này Như vậy, Buôn Ama Thuột có nghĩa là làng của Cha Thuột Buôn Ama Thuột đựơc gọi gom lại là Buôn Ma Thuột, giữ nguyên tên cho thành phố trung tâm tỉnh Đăklăk.
Tuy nhiên đôi khi Buôn Ma Thuột còn được gọi với tên Ban Ma Thuột Có hai cách giải thích:Thứ nhất: Đó là người Lào không đọc được chữ BUÔN đọc thành chữ BAN.Thứ hai: Do người Pháp phiên âm ra ngôn ngữ của họ thành BAN.
III LỊCH SỮ HÌNH THÀNH BUÔN MÊ THUỘT:
TP.BMT ngày xưa là một vùng đất hoang, rừng rậm nằm trên Cao Nguyên cùng tên là Cao Nguyên rộng 367 km2, độ cao trung bình của Cao Nguyên khoảng 400-500 , bề mặt Cao Nguyên bao phủ một lớp đất đỏ Bazan
Thành phố được thành lập vào 22.11.1904 do bọn Thực dân Pháp, lúc đầu tỉnh lỵ tại Bản Đôn (Thị trấn Buôn Đôn ngày nay) 1899 Song do gặp một lực lượng chống đối khác của Cộng đồng Dân tộc M’nông, tình thế gay go căng thẳng giữa cộng đồng dân tộc, bọn thực dân cảm thấy khó mà thu phục được lòng dân nơi đây, nên đành tạm chuyển tỉnh lỵ về Buôn Ma Thuột Năm 1920 người Pháp bắt đầu thành lập một số đồn điền cà phê ở Đắk Lắk và thuê một số người ÊĐê làm việc trong các đồn điền, lúc này đồn điền chỉ có người dân tộc và người Pháp.
Năm 1924 làng người Kinh đầu tiên được thành lập ở Buôn Ma Thuột với khoảng 20-30 người với tên gọi thôn Nam Bang Cùng với sự phát triển Kinh tế, chiến tranh
Trang 32Buôn Ma Thuột ngày càng đông hơn và phát triển hơn Ngày 05-06-1930 Khâm Sứ Trung Kì ra nghị định thành lập thị xã Buôn Ma Thuột Trong thời Pháp rồi Mỹ Buôn
Ma Thuột vẫn là Tỉnh lị của tỉnh Đắk Lắk, có lúc là thị xã, có lúc là quận
Sau Hiệp định Giơnevơ 1954, chế độ chính quyền Diệm và Mỹ Nguỵ đã xây dựng nơi đây một chiến lược quân sự Nhưng vào mùa xuân năm 1975, chiến dịch Hồ Chí Minh đã chôn Buôn Ma Thuột làm mục tiêu tấn công và giải phóng thị xã Buôn Ma Thuột vào 10/03/1975, mở đường cho bộ đội Cụ Hồ tiến thẳng vào giải phóng miền nam 30/04.
Trong dịp kỷ niệm giải phóng Buôn Ma Thuột và chiến dịch Hồ Chí Minh, nhà nước nâng cấp thị xã Buôn Ma Thuột lên thành Thành phố Buôn Ma Thuột, TP trực thuộc Tỉnh TP cấp III (ngày 21.06.1995 chính phủ ra nghị định 08/CP thành lập TP Buôn
Ma Thuột), là Trung tâm văn hoá chính trị Kinh tế của vùng Tây Nguyên, của Tỉnh Đắk Lắk Cuối năm 2001 TP Buôn Ma Thuột đã được nâng cấp thành TP Cấp II.
Đây là một TP nhiều nổ lực vươn lên ở miền cao và nay triển vọng Bên cạnh những vết tích của thời Phong kiến xưa như biệt điện nguy nga to rộng mà vua Bảo Đại từng dùng để trú ngụ trong những ngày hưởng lạc, ngày nay người dân Buôn Ma Thuột tích cực xây dựng những công trình kiến trúc mới, phát triển đời sống qua những kế hoạch công nghiệp, nông lâm nghiệp sản xuất, mở rộng hệ thống giao thông và cũng mở rộng đầu tư xuất khẩu nông sản các loại.Tập thể Quần chúng Buôn Ma Thuột bao gồm người dân địa phương phần lớn là người sắc tộc ÊĐê, người Kinh ba miền đang cật lực lao động tăng gia sản xuất.Sản phẩm Buôn Ma Thuột nổi danh có các loại cà phê (Robusta, Aribica, Cherry), cao su, trà, các loại khoai đậu, trái cây Đất đỏ màu mỡ, trái giống đều tốt Bắp Buôn Ma Thuột lớn trái to hột, nhiều màu: tím, vàng, trắng, hồng rất đẹp Ngoài ra còn có mãng cầu dai và măng mạnh tông, măng le rất ngon.
Thác ở cách thị xã Buơn Ma Thuột 30 km Từ thành phố Buơn
Ma Thuột theo quốc lộ 14 đi về hướng Đơng-Nam đến km 17 rẽ
trái 12km nữa du khách sẽ gặp một thắng cảnh nổi tiếng, đĩ là
thác Draysap Thác nằm trên dịng sơng Sê-rê-pốc thuộc xã Nam
Trang 33Draysap theo tiếng Ê Đê cĩ nghĩa là dịng Thác Khĩi bởi quanh năm hơi nước từ chân thác
cứ bốc lên bay là là làm hư ảo cả một khoảng khơng gian ơm ấp câu chuyện huyền thoại về một tình yêu chung thủy đau thương Chuyện kể rằng: Ngày xưa, cĩ một nàng thiếu nữ Ê
Đê xinh đẹp tên là H'Mi, nhiều chàng trai quyền quý từ khắp các buơn Ê Đê, M' Nơng đến cầu hơn nhưng nàng đều từ chối Bởi nàng đã yêu một chàng trai cùng buơn tuy nghèo nhưng hiền lành, chịu khĩ làm ăn Một hơm, H'Mi cùng người yêu đi thăm rẫy Đường xa
hai người dừng chân nghỉ lại bên một tảng đá lớn, bỗng cĩ một con quái vật xuất hiện, đầu
nĩ to như một quả núi, mắt nĩ đỏ như lửa, tồn thân quái vật sáng lĩa lên, với những vẩy vàng, vẩy bạc Từ trên cao quái vật lao xuống nhúng mỏ vào dịng nước, sau đĩ một cột nước khổng lồ dâng cao quét về phía cơ gái, cịn chàng trai bị nước ném xa lên bờ, ngất đi
Khi tỉnh dậy thì người yêu đã bị bắt đi mất Quá đau khổ chàng trai hĩa thành một cây to,
rễ cây đâm sâu vào tảng đá, tồn thân cây phát ra những tiếng kêu than vãn, đau thương, nhung nhớ Chỗ chàng trai đứng bây giờ là rừng cây trên bờ đá, cịn chỗ quái vật lao xuống đá lở thành thác Draysap ngày nay
Thác Draysap nằm giữa một cánh rừng nguyên sinh xa vùng dân cư nên khơng khí trong lành, với một vẻ đẹp tự nhiên quyến rũ Ngọn thác hùng vĩ đổ ầm ầm, tung bọt trắng xĩa, rồi bốc lên thành những làn hơi nước mong manh gặp nắng mặt trời tạo thành cầu vồng bảy sắc Xa xa trên đỉnh thác dịng nước phẳng lặng êm đềm trơng tựa gương soi, du khách sẽ cĩ được những phút giây sảng khối ngâm mình trong dịng Sê-rê-pốc mát lạnh hoặc ngồi hàng giờ đọc sách, câu cá dưới làn "khĩi" mát dịu mơn man bên chân thác, bao nỗi vất vả, nhọc nhằn bon chen giữa đời thường như tan biến vào làn khĩi hư vơ mờ ảo
Sau bữa cơm trưa, thả bộ trong rừng du khách sẽ được nghe tiếng hĩt của chim bồ chao, hay tiếng gõ tìm mồi của những chú chim gõ kiến Mùa xuân về, du khách cịn bắt gặp những tán
lá non mơn mởn hay đỏ tươi, những cánh mai rừng màu vàng, những hoa bằng lăng nở trắng, tím Mặt trời xuống núi, cảnh thác rừng như một bức tranh thủy mặc, là lúc du khách phải nhổ trại lưu luyến chia tay với thác Draysap - hẹn gặp lại trong mùa du lịch năm sau.
Bảo tàng văn hoá các dân tộc Tây Nguyên toạ lạc tại số 4 Nguyễn Du, TP Buôn
Ma Thuột, thời kỳ Pháp thuộc nơi này nguyên là nhà làm việc của Công sứ Pháp Lúc đấy ngôi nhà được dựng bằng các vật liệu: gỗ, tranh, tre, nứa.
Năm 1926 Bảo tàng được xây dựng bằng xi măng gạch ngói kiên cố và được hoàn thành năm 1927, mang tên Toà Công Sứ Pháp Sau Cách mạng Tháng Tám năm 1948
Trang 34thành công, chính quyền Pháp đã sử dụng toà nhà này làm trụ sở của hội động cố vấn Cách Mạng Khi Pháp quay trở lại xâm lựơc Việt Nam,Vua Bảo Đại đã đến đây làm việc nghỉ ngơi và săn bắn nên có tên là Biệt điện Bảo Đại và được quen gọi cho đến nay Sau năm 1975, ngày đất nước thống nhất, một phần toà nhà đã làm nhà tiếp khách tỉnh ĐắkLắk, một phần làm Bảo tàng văn hoá dân tộc Tây Nguyên Trước sân có hai cây long não rất to.
Do ý nghĩa và tính chất lịch sữ của công trình, ngày 26/01/1999 Bộ Văn Hoá ThôngTin đã ra quyết định 02/1999/QĐ-BVTT công nhận là nhà số 4 Nguyễn Du là di tích Lịch sử Quốc gia thuộc quyền quản lý của Nhà Nước.
Bảo tàng văn hoá dân tộc hiện nay phần lớn trưng bày các hiện vậy của 2 dân tộc chính
ở đây là ÊĐê và M’Nông Từ ngoài vào đã thấy chiếc ghế Kpal dài vài mét, được làm nguyên từ một khối gỗ Ghế trông rất đơn giản nhưng đối với người ÊĐê nó là một gia tài sản quí giá đặc biệt, họ phải tốn nhiều buổi cúng lễ mới được rước về nha.ø Chiếc ghế dùng để các nhạc công ngồi, qui định mặt ghế dày 1 gang, rộng 3 gang, dài 56 gang
Bên trong có 5 phòng trưng bày:
Phòng 1: trưng bày các trang phục dân tộc, một số đồ trang sức như vòng, bông đeo tai, thắt lưng, vòng đeo chân, nó được làm bằng ngà voi và thân cây gổ Ngoài ra còn có các vật khác nhau như tẩu thuốc…còn có những thứ được làm bằng đồng.
Khi bước vào phòng đầu tiên đó là phòng trưng bày các bộ trang phục truyền thống của người Tù Trưởng, còn gọi là già làng ÊĐê rất đa năng, với nét đặc trưng trên áo rất truyền thống Bộ trang phục truyền thống này chỉ có ở những vị Tù Trưởng, đó là cánh chim Đại bàng ngang ngực rất lớn so với dân thường, quanh tá áo có nhiều đốm trắng kể cả sau cổ và đế áo, chỉ có Tù Trưởng mới được may đốm trắng trên áo, còn gọi là Krông Blắk, theo tiếng phổ thông là áo lốm đốm, như quân hàm để phân biệt giữaTù trưởng và các dân thường khác, khố của Tù Trưởng cũng dài hơn áo của dân thường, dài trên 7m
Theo người ÊĐê thì màu sắc rất được coi trọng trong việc lựa chọn, màu sắc là tượng trưng cho sức mạnh oai nghiêm như: màu đỏ tượng trưng cho màu máu, màu lửa, màu sắc của ánh mặt trời , màu đen tượng cho vùng núi.
Bộ trang phục truyền thống của người ÊĐê đều do họ trồng bông tự se chỉ làm lấy, họ xem bộ trang phục này như báu vật Do người ÊĐê có tục chôn của theo người chết nên những bộ trang phục này hiện nay rất hiếm, họ chỉ mặt trong lễ hội.
Phòng 2: trưng bày mô hình nhà dài Êđê, các bình ché rượu
Bộ sưu tập ché rượu: Trong đời sống của các dân tộc tiểu số ở Tây Nguyên, các loại ché rượu là đồ bảo của gia đình, rất có ý nghĩa trong dịp lễ hội và nó cũng thể hiện sự giàu có của gia đình Theo họ một cái ché có hể đổi được 5-7 co trâu hay bò, cũng có loại ché đổi được voi như ché mẹ bồng con ở Bảo Tàng phụ nữ nam Bộ Họ có một thức uống rất ngon và đặc biệt đó là rượu cần, rượu cần không chỉ là thức uống về nhu cầu
Trang 35những nhà uống rượu cần thay nước Đặc trưng uống rượu cần là khi uống chỉ dùng cần duy nhất, trong các lễ cưới thì phải có hai cần Khi uống rượu cần ta không được buông cần khi không có người đến tiếp cần, do đó tiệc rượu của người ÊĐê có thể kéo dài từ mgày này sang ngày khác, hết tối này sang tối khác.
Nhà dài Êđê: Dân tộc ÊĐê có rất nhiều căn nhà dài trên vài chục mét, những căn nhà dài từ 50-70 m là thông thường, có một số nhà dài trên một trăm mét và thậm chí có cái dài trên 200 m Họ thuộc chế độ mẫu hệ và truyền thống nối dài nhà sàn từ thế hệ này sang thế hệ khác trong một gia đình nên nhà của họ càng kéo dài ra Khi trong đại gia đình có gia đình nhỏ thì xây nối tiếp, nên trong một đại gia đình thường có nhều gia đình nhỏ.
Nhà dài ÊĐê xây theo lối kiến trúc vì cột, không vì kèo, có hình dáng mô phỏng thuyền với 2 đặc trưng cơ bản vách dọc đứng “thượng thác-hạ thu”, hai đầu mái nhô ra, cầu thang bắt lên nhà cũng khá đặc biệt cầu thang đực đặt bên phải mặt trước của nhà, bên trái là cầu thang cái , đầu cầu thang có tạc hình bầu vú thể hiện sự sinh sôi nẩy nở, ngoài ra trên đầu cầu thang còn trang trí hình vầng trăng khuyết, thể hiện sự thiêng liêng Bên trong nhà khách của nhà dài đặt hai cái nồi đồng trên sàn, nóc nhà trang trí hoa văn rất đẹp với hình con thằn lằn tượng trưng cho thần lửa, hình con ba ba tượng trưng cho thần nước vì nước và lửa tượng trựng cho âm dương, tạo nên kế tục hàng đầu trong cuộc sống con người và vạn vật Phòng khách được chia làm hai phần, phía trước dùng để ngồi nghỉ ngơi và dùng để làm nơi phơi thổ sản thu hoạch về, phần bên trong là đại sảnh dùng để tiếp khách, bên trái luôn có Kpal và 1 trống cái ở trên Kpal, bên phải là cột cái là chổ ngồi của chủ nhà trong khi tiếp khách Chính giữa trung tâm nhà là nơi để bếp đực, dùng đốt lửa sưởi ấm và nướng thịt đãi khách, bên cạnh đó cắm một cây nêu, để ché rượu cần sát cây nêu và coat chặt giữ cho ché rượu đứng vững Tất cả những thứ này ta chỉ bắt gặp trong buổi tối đang diển ra lễ Kế tiếp là những căn phòng sinh hoạt của từng cặp vợ chồng cá nhân và những người chưa có gia đình Còn căn sát bên kế sân sau là phòng sinh hoạt của vợ chồng chủ nhà, sân sau cũng có một cầu thang dùng để lên xuống Các cầu thang đều được làm từ loại gỗ tốt, còn nguyên vẹn, chỉ đẻo những mắc Trong phòng ngủ của họ đều đặt chổ ngủ ở Phía Đông, có một cửa sổ, phía Tây dùng để đặt bếp nấu Muốn biết trong nhà dài có bao nhiêu gia đình nhỏ thì chỉ cần đếm các ô cửa sổ, có bao nhiêu cửa sổ thì có bao nhiêu gia đình nhỏ sinh sống.
Đặc biệt còn có ché rượu mẹ bồng con được mang về từ nhiều nơi (Lào, Thái Lan…) Một số ghế dài trong nhà,bộ cồng chiêng của người Êđê (6 chiên dẹp, 3 núm, 1 sa),1 trống HơRo được làm bằng da trâu,một mặt là da trâu đực,một mặt là da trâu cái, khi đánh thì đánh vào mặt da đực.
Phòng 3: trưng bày thuyền độc mộc, khung dệt, các dụng cụ dùng trong sinh hoạt đời sống…
Trang 36Thuyền độc mộc: Thuyền này được sử dụng nhiều bởi nhóm dân tộc M’Nông vì họ ở gần Hố Lắk Cách làm thuyền đối với họ không tốn bao nhiêu do nguyên vật liệu sẳn có ở trong rừng Họ vào rừng tìm những cây to rộng, đường kính khoảng 50-60 cm, ngay và dài khoảng 5-6cm, tiếp đến dùng cây khô để trên mặt bằng gỗ đã đẻo đốt cho than lửa ăn sâu vào trong gỗ rối đẻo bỏ than còn bám trên lõi gỗ thuyền, sau đó cho voi vào rừng kéo ra hồ hoặc nhờ anh em trong làng khiêng ra Chủ yếu dùng thuyền độc mộc để vận chuyển hàng hoá trên vùng ven hồ, suối ,
Khung dệt: nguyên liệu dệt chính của người ÊĐê là vỏ cây.
Phòng 4: trưng bày các dụng cụ săn bắt voi và các bộ quần áo làm bằng vỏ cây Bộ áo vỏ cây: Những bộ áo vỏ cây hiện giờ đang trưng bày là của dân tộc M’Nông và ÊĐê tự làm lấy để mặc trong mùa lạnh Bộ áo vỏ cây đều là màu nguyên vẹn của vỏ cây Cách làm bộ áo này là đốn lấy vỏ cây rồi đem về dùng rìu đập cho mếm thành sợi, se kết thành sợi đều đặn và sau cùng là dệt kết thành từng mãnh ghép thành áo.
Bộ sưu tập các loại vũ khí như: lao, cung… có thể hạ các loại thú dữ như cọp, beo.
Phòng 5: trưng bày các nhạc cụ dân tộc.
Bộ sưu tập các loại mõ: Bộ sưu tập này dùng để đuổi muôn thú phá hoại vườn rẫy Đa số đều sử dụng gió thổi quay cánh quạt gây tiếng gõ hoặc là loại đặt dưới suối dùng nước quay Cuối cùng là loại mõ dùng để đeo trên cổ trâu, bò, lợn…
Lắc - vùng đất huyền thoại đã làm say lịng
khơng biết bao nhiêu du khách Lắc
Hồ Lak nằm trên tuyến đường giao thơng
giữa Buơn Ma Thuột và Ðà Lạt, cách thị xã
Buơn Ma Thuột khoảng 56 km về phía nam
theo quốc lộ 27, qua đèo Lạc Thiện khoảng
10 km đến thị trấn Lạc Thiện rẽ tay phải vài
trăm mét đã thấy ngơi nghà nghỉ mát của
cựu hồng đế Bảo Ðại ngày xưa Ðây là nơi
Trang 37còn được biết như là một
vùng Bộ đàn đá cổ được tìm thấy đầu tiên ở Việt Nam do nhà dân tộc học người Pháp Condominas phát hiện ở làng Ndúc Liêng Cơ- ran Lắc ngày 5-2-1949, được công
bố ngày 21-6-1950 ở Paris Hiện nay, bộ đàn đá được lưu giữ ở bảo tàng Louvre (Pháp).
Huyền thoại về Lắc không chỉ hiện ra trước mắt chúng ta, nó còn được thể hiện qua
Lắc một lần, bất cứ người dân nào cũng có thể kể cho chúng ta nghe về những cuộc giao tranh ác liệt giữa rồng và lươn từ ngày xửa ngày xưa.
Câu chuyện bắt đầu từ một sự bất hòa giữa nước và lửa, chúng đánh nhau dữ dội suốt bảy mùa rẫy mà vẫn bất phân thắng bại Khi chúng rút đi, hạn hán kéo dài, con người không
có nước để uống, không có lửa để nướng thức ăn, hạn hán cứ thế kéo dài qua nhiều mùa rẫy Tại các buôn làng, ngày nào cũng có các chàng trai khỏe mạnh đi vào rừng sâu tìm nước Trong đoàn người đi tìm đó có hai anh em tên là Y Lắc và Y Liêng Cha mẹ họ đã mất từ lâu, được dân làng giúp đỡ giờ đây họ là con em của buôn làng, nên họ quyết tâm tìm cho được nước Nhờ sự giúp đỡ của Yang (thần), họ đi tìm cây mơ ô và những dòng nước đã xuất hiện, kèm theo nước là một chú lươn nhỏ Họ mang nước và lươn về nhà nuôi, lươn lớn rất nhanh, từ chỗ nó ở trong nồi đất, rồi chuyển sang ở nồi đồng, tiếp đó chuyển sang ở chiếc ché lớn Nó lớn đến nỗi hai anh em phải đào hố cho lươn ở Nhưng rồi
hố cứ phải đào rộng ra mãi, hố càng rộng thì nước lại càng nhiều, dân làng tha hồ dùng nước, nỗi vui mừng hiện ra trên khuôn mặt của người già, của lũ con trai, con gái.
Biết được điều ấy, lươn nói với hai anh em làm giúp cho mình một cặp sừng để mình có thể đào hố rộng thêm nữa Nhờ có cặp sừng, lươn đào được một cái hố rộng, nước trong xanh, dân làng vui mừng bao nhiêu thì lươn cũng được bơi lội thỏa thích bấy nhiêu Một hôm, có một con rồng bay ngang hố nước của lươn và lũ làng, trông thấy hồ nước rộng, rồng nảy sinh ý định muốn chiếm hồ Một trận giao tranh ác liệt giữa rồng và lươn đã diễn
ra làm nước trong hồ cuồn cuộn nổi lên, mù mịt cả bầu trời Rừng núi ầm ầm rung chuyển Trận giao chiến xảy ra bảy ngày, bảy đêm ấy đã để lại một cái hồ rộng, với đồi, núi và đất, và những hòn cù lao lúc chìm, lúc nổi giữa mặt hồ Sau cùng nhờ sức của hai anh em Y Lắc và Y Liêng, con rồng đã bị giết, và lươn đã được cứu Hồ nước trở lại trong xanh Tên của người anh từ đó được dân làng đặt tên cho hồ là hồ Lắc.
Hồ Lak dài uốn khúc hệt như một dải lụa thiên thanh bao quanh thị trấn Lạc Thiện
Hồ rộng trên 500 ha, được thông với con sông Kơ Rông Ana Mặt hồ luôn xanh thắm in bóng rừng thông trên các ngọn đồi ven hồ Xung quanh hồ là các cánh rừng nguyên sinh rộng lớn với hệ động thực vật phong phú.Về mùa mưa, hàng trăm con suối, ngọn thác đổ nước về làm cho mặt hồ rộng thêm, sóng cồn lên như biển và dâng ngập hết cả các cánh đồng cỏ xung quanh Ra xa, nước sâu hơn là nơi ngự trị của các loài sen, súng Sen ở hồ Lắk đẹp, che kín một dải dài trên mặt nước làm cho cảnh hồ thêm thơ mộng.
Trang 38Hồ Lak là một thắng cảnh đẹp của vùng Tây Nguyên Hồ vừa là nơi cung cấp nhiều cá, vừa là hồ chứa nước ngọt khổng lồ cung cấp nước cho hàng trăm ha ruộng nương, đồng thời cịn làm cho khí hậu ở đây thêm phần mát hơn.
Về bên hồ Lắc, bạn nghe kể chuyện xưa, du thuyền độc mộc trên hồ, hay đủng đỉnh cưỡi voi dạo quanh hồ, rồi một đêm bên ché rượu cần, nghe các chàng trai cơ gái múa hát, người già kể khan, ăn cơm dẻo thơm, thưởng thức mĩn chả cá đặc sản, mĩn ốc hấp gừng cay thật thú vị Nếu cĩ thêm âm thanh của đàn đá chắc cĩ lẽ vùng đất huyền thoại này càng trở nên kỳ ảo.Lắc - quê hương của những "đinh puốc pá", các điệu múa "cơng tua" trữ tình, các điệu khan, các bài "tăm pớt"; quê hương của những câu chuyện cổ và nhiều truyền thuyết, huyền thoại của cư dân bản địa Rừng mai vàng ở Lắc được nhiều người biết một thời đẹp đến ngút mắt; những buơn làng tựa dáng hình cổ tích Hồ Lắc non xanh nước biếc làm xao động bao lứa đơi, bao nghệ sĩ, nhà thơ, nhạc sĩ
Bên Hồ Lak cĩ bản Jun, một buơn làng tiêu biểu của dân tộc M'nơng Ðến đây du khách
cĩ dịp ngao du trên lưng voi để ngắm buơn làng, tham quan núi rừng Tây Nguyên Nếu nghỉ qua đêm sẽ được thưởng thức văn nghệ cồng chiêng của người M'nơng
Cùng với biệt thự tuổi hơn nửa thế kỷ trên đồi đất cao, điểm du lịch buơn Jun, rồi căn cứ cách mạng Ðác Phơi, những nét văn hĩa truyền thống của cư dân Ê Ðê, M’nơng đã thu hút ngày càng đơng du khách
NHÀ DÀI CỦA NGƯỜI DÂN TỘC M’NÔNG Ở BUÔN JUN
Trang 39Cách Buơn Ma Thuột gần 50 km về phía tây-bắc cĩ một vùng đất từ lâu nổi tiếng về nghề săn bắn và thuần dưỡng voi rừng Ðĩ là Buơn Ðơn, nơi chung sống của cộng đồng các sắc tộc: Ê Ðê, Mnơng, Gia rai, Lào, Thái Buơn Ðơn cũng đã và đang trở thành một "thương hiệu" riêng biệt của du lịch Dak-Lak và Tây Nguyên.Buơn Ðơn là huyện biên giới của tỉnh Ðắc Lắc, được Chính phủ thành lập vào năm 1995 với tổng diện tích tự nhiên 141.787 ha,
cĩ 43 km đường biên giới giáp với Campuchia Huyện cĩ 6 xã và 1 thị trấn.
Buơn Ðơn là tên gọi theo tiếng Lào, nghĩa là làng Ðảo, vì luơn được lập bên cạnh con sơng Sêrêpốk cĩ nhiều đảo nhỏ nổi giữa dịng nước ngày đêm cuồn cuộn chảy Một bên sơng là cuộc sống cộng đồng buơn làng êm ả, một bên là rừng đại ngàn Yok Ðơn đầy bí ẩn, kỳ thú
và như cịn vang vọng những âm thanh hào hùng của các cuộc săn voi từ xa xưa Dưới con mắt những nhà chuyên mơn, Buơn Ðơn cĩ nhiều điều kiện thuận lợi để khai thác cả hai loại du lịch: du lịch sinh thái và du lịch văn hĩa Nơi đây cĩ Vườn quốc gia Yok Ðơn rộng hơn 100 ngàn ha là bảo tàng phong phú về động thực vật tự nhiên.
Từ lâu, Buơn Ðơn được xem là một điểm du lịch hứa hẹn nhiều hấp dẫn vào bậc nhất của cả Tây Nguyên, nhưng đến năm 1998 mới được một doanh nghiệp chú ý khai thác là Cơng ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ - Du lịch Ban mê (Banmeco) Trung tâm Du lịch Buơn Ðơn đã được hình thành và cĩ doanh thu hơn 1 tỷ đồng mỗi năm với sản phẩm du lịch khai thác từ voi nhà, vốn văn hoa truyền thống đặc sắc nơi đây Tuy nhiên, việc "đánh thức" tiềm năng du lịch ở Buơn Ðơn thực sự đem lại những tín hiệu lạc quan chỉ khi quy hoạch xây dựng Dự án phát triển Khu du lịch văn hĩa-sinh thái Buơn Ðơn Khu vực phía bắc Buơn Ðơn trong vùng dự án cĩ diện tích đưa vào khai thác du lịch gần 1.600 ha Trong khu vực này cĩ các tổ hợp du lịch gồm: làng du lịch-văn hĩa, khu du lịch lâm sinh, khu chăn thả động vật hoang dã, khu giải trí hồ Dak Min, khu lưu trú sinh thái, khu dã ngoại rừng cảnh quan, khu sản xuất và du lịch nơng nghiệp…
Đến Bản Đôn khi muốn tìm hiểu lịch sử mảnh đất này hằn không thể không ghé thăm khu nhà mồ Buôn Đôn, một chứng tích bất biến của quá trình hình thành và phát triển cùa vùng đất vốn nổi tiếng về nghề săn bắt và thuần dưỡng voi rừng Nghĩa trang Buôn Đôn còn là nơi an nghĩ cuối cùng của vị tù trưởng Khunjunop và những người lãnh đạo buôn thuộc thế hệ kế tiếp.
Khunjunop tên thật là Y Thu K’Nul Sinh năm 1828 thọ 110 tuổi, tuy gốc gác của ông ở tận Mundunkiri (Lào) trôi dạt sang cao nguyên Đaklak (cha ông là một tù trưởng thuộc vùng Bản Đôn ngày nay).Ông là một vị tù trưởng đầy quyền lực và được nhân dân khắp vùng kính phục, người đã khai sinh ra Buôn Đôn, có công lớn trong buổi đầu tạo lâp và phát triển nghề săn bắt voi rừng nơi đây.Từ nhỏ ông đã là một cậu bé ngang ngược, táo bạo, hay tập trung trẻ con vào rừng xem voi Lớn lên Y Thu có sức khoẻ phi thường, nhanh nhẹn, mưu trí và có tài bắn cung nỏ Thời Y Thu lên làm tù trưởng của người Ê Đê, những xung đột về tài sản, đất đai, nô lệ củ người Ê Đê với người M’Nông đã được xoá đi Các hoạt động hộ voi, săn bắn đã góp phần tạo dựng và vun trồng sự đoàn kết Ông đã săn được 198 con voi và 5 con voi trắng (theo quan niệm của người Ê
Trang 40Đê bạch tượng là con vật thần linh nên quí giá vô cùng và được tính 1 con voi trắng bằng 10 con voi thường), nên ông đã được phong làm vua voi
Theo qui định một người săn được từ 1 đến 14 con thì được gọi là pacsai; từ 15 con trở lên thì được gọi là Kuru – dũng sĩ săn voi; từ 200 con trở lên thì được gọi là vua voi Trong hàng trăm con voi săn được ông đã mang tặng Hoàng gia Thái Lan 1 con voi trắng có ngà màu hồng, và vị vua này đã mừng đến chảy cả nước mắt vì ngay cả thường dân của ông cũng chưa bao giờ dâng cho ông một con vật quí đến thế.Vị vua này rất
cảm phục và phong tặng ông danh hiệu Khunjunop – người được kính trọng từ chân lên
đỉnh đầu Cả đời mình ông đã sống, làm việc, lãnh đạo dân làng Buôn Đôn, rồi chọn
chốn này làm nơi an nghĩ cuối cùng
Một năm sau ngày mất, người cháu (ông không có con gọi ông bằng cậu-R’Leo Knul, đứng ra làm lễ bỏ mả và xây mộ Ngôi mộ được xây dựng theo lối kiến trúc M’Nông- lào.
Bên cạnh phần mộ của N’Thu Knul là phần mộ của R’Leo Knul Ông sinh năm 1871, người đã kế tục lãnh đạo buôn làng sau khi KhunJuNob mất R’Leo Knul tiếp tục phát huy nghề săn bắt voi và thuần dưỡng voi rừng ở Buôn Đôn, ông đã thuần dưỡng cho cựu Hoàng Bảo Đại một con voi trắng và có công giúp vua thành lập đội săn voi tên “ Hoàng Gia Bảo Đại” R’Leo Knul mất 1941 (thọ 71 tuổi) Năm 1950, vua Bảo Đại đứng
ra làm lễ bỏ mả cho R’leo Knul và cho xây lăng mộ.
Luật lệ của những người săn voi:
Người Bản Đôn coi voi như con người, tôn thờ voi hết mức, việc giết voi ăn thịt là cấm kỵ, nghề săn voi cũng có luật lệ riêng hẳn hoi Dụng cụ săn bắt voi chỉ được bằng