1. Trang chủ
  2. » Tài Chính - Ngân Hàng

Lý luận Mac-Anghen: Địa tố part 4 ppsx

11 91 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Lý luận mac-angen: Địa tố part 4 ppsx
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Quốc Dân
Chuyên ngành Kinh Tế
Thể loại Tài liệu
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 11
Dung lượng 163,93 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều 10: Hộ sử dụngđất nông nghiệp vượt quá hạn mức diện tích theo quy định của luật đất đai, thì ngoài việc phải nộp thuế theo quy định tại điều 9 của luật này, còn phải nộp thế bổ sun

Trang 1

Hạng đất

Định suất thuế 1

2

3

4

5

650

550

400

200

80

3 Đối với cây ăn quả lâu năm trồng trên đất trồng cây hàng năm chịu mức

thuế như sau:

- Bằng 1,3 lần thuế đất trồng cây hàng năm cùng hạng đất 1, hạng 2

hạng 3

- Bằng thuế đất trồng cây hàng năm cùng hạng, nếu thuộc đất hạng 4,

Trang 2

hạng 5 và hạng 6

4 Đối với cây lấy gỗ à các loại cây lâu năm thu hoạch một lần chịu mức

thuế bằng 4% giá trị sản lượng khai thác

Điều 10: Hộ sử dụngđất nông nghiệp vượt quá hạn mức diện tích theo quy

định của luật đất đai, thì ngoài việc phải nộp thuế theo quy định tại điều 9 của luật này, còn phải nộp thế bổ sung do uỷ ban thường vụ quốc hội quy

định đối với phần diện tích trên hạn mức

Đối với một số trường hợp vẵn được nhà nước ưu đãi, giảm thuế và miễn

thuế Đây chính là sự linh động của nhà nước trong việc vận dụng lí luận

điạ tô của Mác để tăng ngân sách quốc gia

Điều 19:

1 Miễn thuế cho đất đồi núi trọc dùng vào sản xuất nông, lâm nghiệp,

Trang 3

đất trồng rừng, phòng hộ và rừng đạc dụng

2 Miễn thuế cho đất khai hoang không thuộc quyền quy định tại khoản 1

điều 9 dùng vào sản xuất

Trồng cây hàng năm 5 năm Riêng đối với đất khai hoang ở miền núi,

đầm lầy và lấn biển là 7 năm

Đối với cây lấy gỗ và các loại cây lâu năm thu hoạch 1 lần chỉ nộp thuế khi khác thác theo quy định tại khoản 4, điều này của luật này

3 Miễn thuế cho đất trồng cây lâu năm chuyển sang trồng loại mới và

đất

trồng cây hàng năm chuyển sang trồng cây lâu năm cây ăn quả Trong thời gian xây dựng cơ bản và cộng thêm 3 năm từ khi có thu hoạch

4 Chính phủ quy định việc giảm thuế, miễn thuế đối với đất khai hoang

được đầy tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước

Trang 4

Điều 26: Hộ di chuyển đến vùng kinh tế mới khai hoang để sản xuất

nông nghiệp được miễn thuế trong thời hạn theo quy định tại điều 19 của luật này và cộng thêm 2 năm

Nếu đất được giao là đất đang sản xuất nông nghiệp thì được miễn thuế trong thời hạn 3 năm kể từ ngày nhận đất

Điều 21: Trong trường hợp thiên tai, dịch họa làm thiệt hại mùa màng,

thuế sử dụng đất nông nghiệp được giảm hoặc miễn cho từng hộ nộp thuế từng vụ sản xuất như sau:

1 Thiệt hại từ 10% đến dưới 20%, giảm thuế tương ứng theo mức thiệt

hại

2 Thiệt hại từ 20% đến dưới 30%, giảm thuế 60%

3 Thiệt hại từ 30% đến dưới 40%, giảm thuế 80%

4 Thiệt hại từ 40% trở lên giảm thuế 100%

Điều 22:

Trang 5

1 Miễn thuế hoặc giảm thuế cho các hộ nông dân sản xuất ở vùng cao,

miền núi, biên giới, hải đảo mà sản xuất và đời sống còn nhiều khó khăn

2 Miễn thuế hoặc giảm thuế cho các hộ nông dân là dân tộc thiểu số

sản xuất và đời sống còn ngiều khó khăn

3 Miễn thuế cho các hộ nông dân là những người tàn tật, già yếu không

nơi nương tựa

Điều 23:

1 Miễn thuế cho hộ nộp thuế có thương binh hang 1/4 và 2/4, bệnh binh

hang 1/3 và 2/3

2 Miễn thuế hoặc giảm thuế cho hộ nộp thuế là gia đình liệt sĩ

3 Giảm thuế cho hộ nộp thuế có thương binh, bệnh binh không thuộc

Trang 6

diện miễn thuế theo quy định tại khoản 1 điều này mà đời sống có nhiều khó khăn

Điều 24: Chính phủ quy định chi tiết việc giảm thuế, miễn thuế sử

dụng đất nông nghiệp

Việc giảm, miễn thuế cho những người dân có hoàn cảnh đặc biệt là một điều khác xa với việc thu địa tô tư bản chủ nghĩa, điều này cho thấy

sự sáng tạo của Đảng ta trong việc ứng dụng lí luận địa tô của Mác khi đề

ra chính sách thuế nông nghiệp động viên thúc đẩy người dân sản xuất làm cho dân giàu nước mạnh

Hiện nay, tổng cục thuế đã ban hành quy trình miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp số 137 TCT/ QD / NV7 ngày 21/8/2001 cho các

đối tượng chính sách xã hội như sau:

Căn cứ vào đơn đề nghị miễn giảm thuế sử dụng đất nông nghiệp của các hộ nộp thuế thuộc đối tượng chính sách xã hội Đội thuế xã hội phối hợp với hộ đồng tư vấn thuế xã hội danh sách các hộ nộp thuế thuộc diện

được miễn giảm thuế theo từng loại đối tượng chính sách xã hội như: hộ gia đình có công với cách mạng, hộ đời sống có bệnh binh, hộ gia đình liệt sĩ, thương binh, hộ gia đình có nhiều khó khăn và đầu năm giảm thuế cho các hộ này

( báo Pháp luật số 159 ra ngày 29/8/2001)

Trang 7

Đối với các trường hợp bị thiên tai, dịch họa làm mùa màng thiêt hại ,tổng cục thuế cũng quy định:

Trươc hêt là phải xác định mức độ thiệt hại mùa màng để xét miễn giảm thuế Ngay sau thời điểm xảy ra thiên tai làm thiệt hại mùa màng

Đến vụ thu hoạch, chi cục thuế tỉnh chỉ đạo các chi cục thuế huyện nơi có thiên tai phối hợp với các ngành có liên quan ở huyệnh như : thống kê, nhà nước hướng dẫn kiểm tra các xã, xác định năng suất sản lượng thu hoạch thực tế của diện tích bị thiệt hại theo từng cánh đồng, xử đồng khu vực và lập biên bản thăm đồng Sau đó tuỳ theo thiệt hại mà xét giảm thuế ( báo Pháp luật số 158 ngày 27/8/2001)

Trên báo Tiền phong số ra ngày 27/8/2001 cũng cho biết Đảng và Nhà Nước ta đã quyết định xoá bỏ thuế sử dụng đất nông nghiệp trong hạn

điền để giảm bớt khó khăn cho người nông dân Cuối năm 2001 và sang

2002, bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn có văn bản trình thủ tướng chính phủ về việc giảm thuế sử dụng đất cho nông nghiệp Trong quá trình thực hiện chính sách, nhà nước đã thường xuyên thực hiện chủ trương “khoán sức dân, từng bước giảm mức động viên khoảng 20% trên sản lượng quy thóc hàng năm đã giảm xuống 10-12% Tuy chính sách giảm thuế đã có tác động tích cực với đời sống xã hội khu vực nông thôn nhưng vẫn phát sinh một số vấn đề chưa hợp lý: việc giảm 50% thuế nông nghiệp chỉ áp dụng đối với diện tích trồng lúa và cà phê, còn đối với nhiều loại hàng nông sản khác như chè, hạt tiêu, cũng bị thiệt hại, tuy đã

được xét miễn giảm nhưng chưa kịp thời và đồng đều giữa các vùng miền

Ngày 1/3/2002, trao đổi với phóng viên báo Tiền phong, ông Nguyễn

Đức Triều – ủy viên trung ương Đảng, chủ tịch hội nhân dân Việt Nam cho biêt Tại hội nghị ban chấp hành trung ương Đảng lần thứ 5 (khoá

Trang 8

IX) Các đại biểu đã thống nhất việc xóa bỏ thuế hạn điền cho người nông dân Mức hạn điền tại các địa phương trên cả nước hiện nay được áp dụng theo nghị định 85/CP của chính phủ Cụ thể: đối với đất nông nghiệp để trồng cây hàng năm nuôi trồng thuỷ sản và làm muối thì mức hạn điền của các tỉnh Cà Mau, Bạc Liêu, Kiên Giang, Sóc Trăng, Cần Thơ, An Giang, Vĩnh Long, Trà Vinh, Đồng Tháp, Tiền Giang, Long An, Bến Tre, Tây Ninh, Bình Dương, Bình Phước, Đồng Nai, Bà Rịa, Vũng Tàu và thành phố Hồ Chí Minh là không quá 3 hecta cho mỗi loại đất Còn các tỉnh và thànhh phố trực thuộc trung ương khác không quá 10 hecta, các xã trung du, miền núi không quá 30 hecta Những hộ vượt mức hạn điền phải nộp thuế theo quy định của luật thuế sử dụng đất

Có thể nói việc xoá bỏ hạn điền là tạo điều kiện thuận lợi đặc biệt cho người nông dân Điều này cho thấy sự tích cực vượt bậc của Đảng và Nhà Nước ta so với việc thu địa tô trong tư bản chủ nghĩa

Trên đây là những ứng dụng lí luận của Mác về địa tô trong việc đề ra thuế nông nghiệp cũng như luật đất đai để quy định nghĩa vụ quyền lợi

đóng thuế của người dân

Sự khác biệt rõ nhất của việc quản lý đất đai và thu thuế bây giờ so với giai đoạn tư bản chủ nghĩa là đất đai là của dân Nhà nước trực tiếp quản

lý và điều hành, nhà nước giao đất cho dân làm nông nghiệp, thu thuế nhưng tạo mọi điều kiện cho người dân sản xuất Mặt khác, nhà nước còn

đưa ra một số quy định cho thấy thuế trong nông nghiệp bây giờ giảm đi rất nhiều mà chủ yếu là tăng thuế trong việc thuê đất để hoạt động phi nông nghiệp

Trang 9

+ Trường hợp chuyển quyền sử dụng đất đai mà được phép chuyển mục đích từ đất nông nghiệp sang phi nông nghiệp thì thuế suất từ 20%

đến 40%, nếu từ đất nông nghiệp chuyển sang xây dựng các công trình công nghiệp từ 40% sang 60%, nếu từ đất trồng lúa ổn định chuyển sang mục đích phi nông nghiệp

+ Đối với các tổ chức, hộ gia đình và các cá nhân sử dụng đất vào mục đích nông nghiệp thì không phải trả tiền sử dụngđất cho nông nghiệp, nếu sử dụng vào mục đích khác thì phải trả tiền, thậm chí phải chuyển sang hình thức thuê đất nếu là tổ chức sử dụng đất ở trong nước

2.4 Vận dụng trong việc cho thuê đất

Bên cạnh nghiên cứu việc thuê đất để phát triển nông nghiệp thì một

điều mà chúng ta, những người kinh doanh trong tương lai không thể không quan tâm đến Đó là việc thuê đất để kinh doanh

Hiện nay, một số các nhà kinh doanh có vốn muốn lập ra một công ty thì họ phải thuê đất của nhà nước, với việc thuê đất này họ phải trả cho nhà nước một số tiền tương đương với diện tích cũng như vị trí của nơi

được thuê

Trong việc thuê đất để kinh doanh nhà nước cũng quy định rõ:

 Thế chấp giá trị quyền sử dụng đất gắn liền với tài sản thuộc quyền

sở hữu của mình tại ngân hàng Việt Nam để vay vốn sản xuất trong thời

Trang 10

hạn thuê Giá trị thế chấp do ngân hàng quyết định và không vượt quá giá trị tài sản đẫ đầu tư trên khu đất thế chấp cộng với tiền thuê đất đã trả Khi đến thời hạn mà không trả nợ thì ngân hàng yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền phát mại tài sản trên đất mà tổ chức đã thế chấp để trả nợ ngân hàng và quyết định cho người mua tài sản được tiếp tục thuê

đất

 Doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp của tổ chức chính trị, xã hội, doanh nghiệp quốc phòng, an ninh trong thời hạn thuê đất được góp vốn bằng giá trị quyền sử dụng đất để liên doanh tổ chức, cá nhân trong nước với tổ chức cá nhân nước ngoài

 Đặc biệt các tổ chức được nhà nước cho thuê đất có nghĩa vụ trả tiền thuê đất đầy đủ đúng thời hạn quy định Tiền thuê được nộp hàng năm và

được hạch toán vào giá thành sản xuất, kinh doanh hằng năm của tổ chức thuê đất Ngoài ra, còn phải đền bù thiệt hại cho người có đất bị thu hồi

để giao cho tổ chức này thuê theo quy định của nhà nước

Điều này cho thấy một sự khác biệt và sự vận dụng lí luận của Mác về

địa tô của Đảng ta trong thời đại ngày nay Đó chính là việc nhà nước sử dụng những văn bản pháp lý quy định quyền và nghĩa vụ của người thuê

đất để người dân khi nộp tiền thuê đất đều thông suốt và tự nguyện đóng

Trong việc thuê đất để kinh doanh thì người thuê đất đã thuê đất của nhà nước, sau đó phát triển kinh doanh trên mảnh đất của mình và lấy lợi nhuận mà mình làm xa để trả cho nhà nước

Ví dụ: nhà nước đã quy hoạch khu đô thị Định Công, xây dựng những

Trang 11

trên kiôt của mình, một phần lợi nhuận mà họ thu được trong việc kinh doanh sẽ được trả cho nhà nước, số tiền đó được cho vào ngân sách nhà nước

Hiện nay, không chỉ có việc thuê đất trong nông nghiệp trong việc kinh doanh mà nhà nước còn cho nước ngoài thuê đất để thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài tại Việt Nam, và tăng nguồn thu cho ngân sách Số tiền mà người nước ngoài phải trả được quy định như sau:

2.4.1 Về giá thuê đất ở đô thị:

Một trong những nội dung cơ bản cua hợp đồng thuê đất và là mối quan tâm hàng đầu của bên thuê là giá thuê đất Việc quyết định giá cho thuê

đất ở Việt Nam phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố nhưng phải đảm bảo sức hấp dẫn đối với các dự án đầu tư nước ngoài, phù hợp với thông lệ quốc tế

và các điều kiện kinh tế chính trị-xã hội của đất nước ta hiện nay

Theo Quyết định số 179/QD-BTC ngày 24/02/1998 thì giá thuê đất ở

đô thị là:

 Đô thị loại 1: 1,00  12,00 USD/m2/năm

 Đô thị loại 2: 0,80  9,60 USD/m2/năm

 Đô thị loại 3: 0,60  7,20 USD/m2/năm

 Đô thị loại 4: 0,35  4,20 USD/m2/năm

Ngày đăng: 13/07/2014, 19:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w