Căn cứ vào số vòng tuần hoàn và kiểu tuần hoàn, người ta chia hệ thống làm mát thành các loại: một vòng tuần hoàn kín, một vòng tuần hoàn hở, hai vòng tuần hoàn trong đó có một vòng kín,
Trang 1CHƯƠNG 5 : HỆ THỐNG LÀM MÁT
Trang 2- Trong quá trình làm việc của động cơ đốt trong, nhiệt truyền cho các chi tiết máy tiếp xúc với khí cháy (pittông, xecmăng, xupap, nắp
xylanh, thành xylanh) chiếm khoảng 25 35% nhiệt lượng do nhiên liệu cháy trong buồng cháy toả ra Vì vậy các chi tiết đó thường bị đốt nóng mãnh liệt: nhiệt độ đỉnh pittông có thể lên đến 6000C, còn nhiệt nấm
xupap có khi lên đến 9000C
- Nhiệt độ các chi tiết máy cao sẽ gây ra các hậu quả xấu sau đây:
+ Phụ tải nhiệt của các chi tiết máy lớn, làm giảm sức bền, độ cứng vững và tuổi thọ của chúng
+ Do nhiệt độ cao, độ nhớt của dầu bôi trơn giảm nên tổn thất ma sát tăng
+ Có thể gây kẹt bó pittông trong xylanh do hiện tượng giãn nở nhiệt
+ Giảm hệ số nạp
+ Đối với động cơ xăng, dễ phát sinh hiện tượng cháy kích nổ
5.1.1Mục đích_ý nghĩa.
Trang 3- Căn cứ vào môi chất làm mát, người ta chia hệ thống làm
mát thành hai loại: hệ thống làm
mát bằng nước và hệ thống làm
mát bằng không khí
- Trong hệ thống làm mát bằng nước, người ta lại chia ra
thành ba loại: bốc hơi, đối lưu tự
nhiên và tuần hoàn cưỡng bức
Căn cứ vào số vòng tuần hoàn và
kiểu tuần hoàn, người ta chia hệ
thống làm mát thành các loại: một
vòng tuần hoàn kín, một vòng tuần
hoàn hở, hai vòng tuần hoàn
(trong đó có một vòng kín, một
vòng hở) Dưới đây lần lượt giới
thiệu hệ thống làm mát nói trên
5.1.2 Phân loại
Trang 45.2 HỆ THỐNG LÀM MÁT BẰNG
NƯỚC
- Hê thống làm mát bằng nước
kiểu bốc hơi là loại
đơn giản nhất Hệ
thống này không
cần bơm, quạt Bộ
phận chứa nước có
khoang chứa nước
có hai phần: phần
khoang chứa nước
làm mát của thân
máy và phần thùng
chứa nước bốc hơi
lắp với thân
5.2.1 Hệ thống làm mát bằng nước kiểu bốc hơi
Trang 55.2.2 Hệ thống làm mát bằng nước, kiểu đối lưu tự nhiên
- Trong hệ thống làm mát bằng phương pháp đối lưu tự nhiên, nước lưu
động tuần hoàn nhờ độ chênh áp lực hai
cột nước nóng và nước lạnh
- Độ chênh áp được tính theo công thức sau:
= ght, N/m2
(*)trong đó: - khối lượng riêng của nước (kg/m3
);
h – hiệu của chiều cao trung bình của
hai cột nước nóng và lạnh (m);
- hệ số giản nở của nước 0,00018m3
/m3 0C;
t – độ chênh nhiệt độ của hai cột
nước nóng và nước lạnh
Trang 6Trên thực tế có giá
trị bé, do chiều cao h
bị hạn chế bởi kết cấu
và bố trí chung nên
nhược điểm của kiểu
làm mát bằng đối lưu
tự nhiên là vận tốc
của nước bé: khi h =
0,2 0,5m; t = 200C thì m; t = 200C thì
= 7 17,65m; t = 200C thì N/m2 và
vận tốc nước lưu
động = 0,12 0,19
m/s Điều đó dẫn đến
chênh lệch nhiệt độ
của nước vào và
nước ra lớn, vì vậy mà
thành xylanh được
làm mát không đều
Trang 75.2.3 Hệ thống làm mát bằng nước kiểu tuần hoàn cưỡng bức
Trang 8- Kiểu làm mát tuần hoàn cưỡng bức dùng trên động cơ ô tô máy kéo phân làm hai loại: hệ thống tuần hoàn kín, nước sau khi qua két làm mát lại, trở về động cơ, còn trong hệ thống tuần hoàn hở thì ngược lại, nước làm mát sau khi đã làm mát động cơ thì thải ra ngoài Hệ thống làm mát kín có rất nhiều ưu điểm nên được dùng rất rộng rãi trong các loại động cơ đốt trong Trong hệ thống kín, nắp két làm mát có hai van: van xả hơi và van hút không khí Van xả hơi nước làm việc khi áp suất trong hệ thống làm mát lớn hơn 0,15m; t = 200C thì 0,125m; t = 200C thì MN/m2 (1,15m; t = 200C thì 1,25m; t = 200C thì kG/cm2) (hình a), còn van hút không khí sẽ mở khi trong hệ thống làm mát có áp suất nhỏ hơn 0,095m; t = 200C thì 0,09MN/m2 (0,95m; t = 200C thì 0,9kG/cm2) (hình b) Nhờ vậy mà hệ thống làm mát kiều kín có áp suất trong két làm mát cao hơn một ít so với kiều làm mát tuần hoàn hở.
- Nước làm mát từ thân động cơ lên nắp xylanh qua các ống đến van điều nhiệt Nước từ van điều nhiệt được chia ra hai dòng: một
ra két làm mát qua bơm ly tâm; một tuần hoàn trở lại động cơ Sự phân chia lưu lượng cho các dòng này phụ thuộc vào nhiệt độ của nước làm mát và do van điều nhiệt tự động điều chỉnh, ống dẫn không khí và hơi nước khi động cơ bị nóng
Trang 95.3 KẾT CẤU MỘT SỐ BỘ PHẬN CHÍNH CỦA HỆ THỐNG LÀM MÁT BẰNG NƯỚC
- Két làm mát dùng để hạ nhiệt độ của nước từ động cơ ra rồi lại
đưa trở vào làm mát động cơ
- Trong động cơ ô tô máy kéo, két làm mát gồm có ba phần: ngăn
trên chứa nước nóng, ngăn dưới chứa
nước nguội và giàn ống truyền nhiệt
nối ngăn trên và ngăn dưới với nhau
Hiệu suất truyền nhiệt của bộ phận
truyền nhiệt phụ thuộc chủ yếu vào tốc
độ lưu động của hai dòng môi chất
(môi chất toả nhiệt là nước và môi chất
thu nhiệt là không khí) Vì vậy để tăng
hệ số truyền nhiệt, phía sau két nước
thường được bố trí quạt gió để hút gió
đi qua giàn ống truyền nhiệt (gồm các
ống và lá tản nhiệt)
5.3.1 Két làm mát
Trang 10- Hiệu quả tản nhiệt phụ thuộc vào những yếu tố sau đây:
1-Khả năng tản nhiệt từ nước vào không khí của các ống và lá tản nhiệt
2-Tốc độ lưu động của nước và của không khí làm mát
Trang 12- Thông thường két nước hay dùng kiểu ống dẫn nước dẹt,
bố trí nhiều hàng so le, cắm trong
các lá tản nhiệt Loại két nước kiểu
ống tròn, gió đi qua ống còn nước
thì chảy bên ngoài ống nói chung ít
được dùng Tuy loại két nước này
có ưu điểm là đường nước đi hẹp,
diện tích thông gió tương đối lớn
do đó làm mát tốt, nhưng cũng có
nhược điểm là do đường nước hẹp
nên hay bị tắc do cặn bẩn trong
nước đọng lại; ống cũng dùng
nhiều mối hàn nên không bền, sửa
chữa không tiện lợi, giá thành cao
Trang 13- Kết cấu của bộ phận giàn ống tản nhiệt và lá tản nhiệt của két làm mát giới thiệu trên hình dưới Loại két nước dùng ống dẹt có sức cản không khí ít hơn và diện tích tản nhiệt lớn hơn khoảng 2 3 lần so với ống tròn nhưng loại ống này không bền vì có nhiều mối hàn và khó sửa chữa Kiểu ống tròn hình có ưu điểm là đơn giản dễ sửa chữa do làm bằng những ống tháo lắp được mà không hàn vào hai ngăn chứa trên và dưới Hơn nữa nếu tốc độ gió đi qua giàn ống truyền nhiệt lớn thì hiệu quả của loại ống tròn cũng tốt
Do đó kiểu ống tròn được dùng khá phổ biến trong các loại két nước xe vận tải và máy kéo
Trang 14- Muốn tản nhiệt tốt, vật liệu làm ống và lá tản nhiệt phải dẫn nhiệt tốt (đồng
hay đồng thau tốt hơn thép) Thành ống và
lá tản nhiệt phải mỏng (chiều dày ống
khoảng 0,13 0,20mm, chiều dày lá tản
nhiệt khoảng 0,08 0,12mm) Để tăng
diện tích tản nhiệt, nên dùng loại ống nước
dẹt (kích thước ống dẹt khoảng a = 13
20mm, b = 2 4mm đồng thời hàn vào mm đồng thời hàn vào
ống nước dẹt nhiều lá tản nhiệt khoảng
cách giữa các lá: tb = 2,5 4mm đồng thời hàn vào ,5mm Tốc độ lưu
động của nước phụ thuộc vào lưu lượng
nước Nếu ống bé thì khi tốc độ lưu động
đã xác định, muốn tăng lưu lượng nước
phải tăng số ống lên Nếu diện tích hút gió
đã xác định thì khi tăng số ống phải bố trí
nhiều hàng ống do đó sức cản không khí sẽ
tăng lên, mặt khác diện tích tản nhiệt của
các lá tản nhiệt sẽ nhỏ đi làm giảm sự tản
Trang 16* Bình nước phụ (bình giãn
nở):
- Hầu hết các hệ thống
làm mát đều có bình nước
phụ riêng biệt hay bình giãn
nở Nó được đổ nước làm
mát ở một mức nào đó
(không đầy) và nối với phần
tràn của két nước bằng ống
mềm Khi động cơ nóng,
nước làm mát dãn nở đầy và
chảy tới bình nước phụ Khi
động cơ nguội, nước làm mát
co lại Điều này làm tăng
không gian trống trong hệ
thống làm mát, khi đó nước
làm mát từ bình nước phụ
chảy về két làm mát
Trang 185.3.2 Bơm nước
- Trong hệ thống làm mát bằng nước, bơm nước có nhiệm vụ cung cấp nước cho hệ thống làm mát với lưu lượng và áp suất nhất định Lưu lượng của nước làm mát tuần hoàn cần cho các động cơ thay đổi trong phạm vi: 68 24mm đồng thời hàn vào 5l/kWh =(50 180l/ml.h) và số lần tuần hoàn 7 12 lần/ph
Trang 19- Bơm nước dùng trong các loại động cơ ô tô
thường là bơm đẩy (hình bên)
Nó được gắn phía trước động
cơ và được dẫn động bởi dây
cudoa từ puly trục khuỷu
Nước từ két nước đi vào trong
bơm được các cánh bơm đẩy
tới áo nước Trục bơm được đỡ
bởi ổ bi kín nên không cần bôi
trơn Vòng đệm (seal) ngăn
cản nước làm mát đi ngang
qua ổ bi Bơm nước dẫn động
bởi dây cudoa quạt đôi khi
bơm nước được dẫn động
riêng (không chung với quạt
gió)
Trang 20- Aùo nước là khoảng không gian mở giữa vách xylanh và block máy và nắp quy nát
Nước làm mát từ bơm đầu tiên chảy vào áo nước ở block máy Sau đó nước làm mát từ áo nước block máy đi lên áo nước trên nắp quy nát rồi trở về két làm mát
5.3.3 Aùo nước
Trang 215.3.4 Van hằng nhiệt
- Van hằng nhiệt là van dùng để điều chỉnh nhiệt độ nước làm mát Nó làm điều này bằng cách điều chỉnh dòng chảy từ động cơ tới két làm mát Van hằng nhiệt được lắp giữa nắp quy nát và két làm mát Khi động cơ nguội, van hằng nhiệt đóng Khi động cơ nóng lên, van hằng nhiệt mở Sự ngăn cản hay cho dòng chảy chảy qua két làm mát được biểu diễn trên dưới
Trang 245.3.5 Quạt gió
- Két nước đôi khi cần dòng gió để ngăn cản sự qúa nhiệt của động cơ
Điều này thường xuất hiện khi xe đứng
yên và vận tốc thấp Khi xe chuyển động
về phía trước với tốc độ cao không khí đi
xuyên qua két làm mát giải nhiệt cho két
nước và động cơ Quạt gió kéo thêm
không khí đi ngang két làm mát Quạt
gió có thể là quạt cơ khí hay quạt điện
- Động cơ đặt dọc dẫn động cầu sau thường dùng quạt cơ khí và quạt được
gắn với trục của bơm nước Quạt gió
được làm bằng thép tấm hay nhựa tồng
hợp có từ 4mm đồng thời hàn vào đến 7 cánh và cùng quay với
bơm nước Để tăng hiệu suất của quạt ta
thường dùng tấm chắn để hướng gió
Trang 255.3.5.1 Thay đổi tốc độ
quạt gió
- Nhiều loại động cơ đặt dọc dùng quạt gió thay đổi tốc
độ bằng cách dùng ly hợp
(hình 6.24mm đồng thời hàn vào ) Ly hợp quạt gió là
khớp nối thủy lực được điều
khiển bởi nhiệt độ, bộ phận đó
được lắp giữa puly bơm nước
và quạt gió
- Khi động cơ còn lạnh, ly hợp trượt do đó quạt gió không
quay Điều này làm giảm tiếng
ồn và không tốn công suất
động cơ Khi động cơ nóng,
nhiệt độ làm cho dầu đi vào
khớp nối thủy lực nhiều hơn
Khi đó ly hợp quạt gió bắt đầu
kéo quạt gió quay
Trang 265.3.5.3 Quạt điện
- Những xe có động cơ đặt ngang dẫn động cầu trước thường
dùng quạt điện hình bên Công tắc
nhiệt chỉ mở quạt khi cần thiết Ví
dụ, trong động cơ công tắc sẽ đóng
khi nhiệt độ nước làm mát khoảng
2000F (930C) Công tắc sẽ ngắt khi
nhiệt độ nước làm mát nhỏ hơn
nhiệt độ này Trên những xe có gắn
máy lạnh, việc mở máy lạnh cũng
bằng công tắc nhiệt Quạt máy lạnh
sẽ quay khi máy lạnh mở Trong các
xe có hệ thống điều khiển tự động
động cơ việc bật, tắt quạt được điều
khiển bởi một modul điều khiển điện
(ECM)
Trang 29a Xe du lòch
CAÂU 3