Để giảm nhẹ trọng lượng, đũa đây hường làm bằng ống thép rỗng hai đầu hàn gắn với các đầu tiếp xúc có mặt tiếp xúc hình cầu đầu tiếp xúc với con đội hoặc mặt cầu lõm đầu tiếp xúc với vít
Trang 1Đũa đẩy dùng trong cơ cấu xupap treo thường là
một thanh thép nhỏ, dài, đặc hoặc rỗng dùng để
truyền lực từ con đội đến đòn bẩy Để giảm nhẹ trọng
lượng, đũa đây hường làm bằng ống thép rỗng hai
đầu hàn gắn với các đầu tiếp xúc có mặt tiếp xúc
hình cầu (đầu tiếp xúc với con đội) hoặc mặt cầu lõm
(đầu tiếp xúc với vít điều chỉnh) Đôi khi cả hai đầu
tiếp xúc của đũa đẩy đều là hình cầu
Đũa đẩy thường làm bằng thép cacbon thành
phần trung bình Đầu tiếp xúc làm bằng thép cacbon,
hàn gắn với đũa đẩy rồi tôi đạt độ cứng HRC 50 –
60
3.3.3 Đũa đẩy.
Trang 23.3.4 Đòn bẩy (cò mổ).
3.3.4.1 Công dụng.
Đòn bẩy là chi
tiết truyền lực trung
gian một đầu tiếp
xúc với đũa đẩy,
một đầu tiếp úc với
đuôi xupap Khi
trục cam nâng con
đội lên, đũa đẩy
đẩy một đầu của
đòn bẩy đi lên, đầu
kia của đòn bẩy
nén lò xo xupap
xuống và mở
xupap Do có đòn
bẩy, xupap mở
đóng theo đúng
pha phân phối khí
Trang 3- Đầu tiếp xúc với đũa đẩy thường có vít điều chỉnh Sau khi điều chỉnh khe hở nhiệt, vít này được hãm chặt bằng đai ốc Đầu tiếp xúc với đuôi xupap thường có mặt tiếp xúc hình trụ được tôi cứng Nhưng cũng có khi dùng vít để khi mòn thay thế được dễ dàng Mặt ma sát giữa trục và bạc lót ép trên đòn bẩy được bôi trơn bằng dầu nhờn chứa trong phần rỗng của trục Ngoài ra trên đòn bẩy người ta còn khoan lỗ để dẫn dầu mặt tiếp xúc với đuôi xupap và mặt tiếp xúc với vít điều chỉnh.
3.3.4.2 Cấu tạo và vật liệu.
Trang 4- Đòn bẩy thường dập bằng thép cacbon thành phần cacbon trung bình như các loại thép 30, 35, 40, 45 trong một vài loại động cơ xăng cỡ nhỏ, đòn bẩy dập bằng thép tấm rồi hàn hai nửa với nhau
- Khi làm việc, mặt trụ ở phần đầu đòn bẩy vừa lăn vừa trượt trên đuôi xupap, khiến cho xupap bị nghiêng đi và do đó mặt nấm xupap chạm đế sớm hơn thời gian quy định
Trang 66
Trang 88
Trang 93.3.5 Xupap.
3.3.5.1 Công dụng.
3.3.5.2 Cấu tạo.
Các loại xupap dùng để đóng mở cử hút
và cửa xả theo thứ tự các
kỳ làm việc của động cơ
Xupap được cấu tạo gồm
3 phần:
+ Nấm xupap, + Thân xupap, + Đuôi xupap
Trang 10Naám
xupap.
Trang 11Mặt làm việc quan trọng của phần nấm xupap là mặt côn, có góc côn α = 15 – 450
Góc α càng nhỏ tiết diện lưu thông càng lớn, tuy nhiên khi αnhỏ, mặt nấm càng mỏng, độ cứng vững của mặt nấm càng kém do đó dễ bị cong vênh, tiếp xúc không kín khít với đế xupap Đối với dòng khí lưu động vào xy lanh, khi α nhỏ qúa ,
ví dụ α = 00
, dòng khí lưu động cũng bị gấp khúc Ngược lại, khi
α lớn, mặt nấm xupap dày và bền hơn, dòng khí thải đi ra cũng dễ hơn Do đó, tuyệt đại đa dố xupap
của các động cơ đều dùng góc α =
450 để vừa bảo đảm độ bền của nấm,
vừa bảo đảm tiết diện lưu thông khi
mở xupap và vừa bảo đảm dòng khí
lưu động dễ dàng Xupap nạp của
một số loại động cơ cũng thường
dùng góc α = 300
, còn xupap thải thì hầu như chỉ dùng một loại góc α =
Trang 1212
Trang 13Góc của mặt côn trên nấm xupap còn thường làm nhỏ hơn góc của mặt côn trên đế xupap khoảng 0,5 – 10 để xupap có thể tiếp xúc với đế theo vòng tròn ở mép ngoài của mặt côn (nếu như mặt đế xupap rộng hơn mặt côn của xupap) Làm như thế có thề bảo đảm tiếp xúc được kín khít dù mặt nấm có bị biến dạng nhỏ.
Chiều rộng b của mặt côn
trên nấm xupap thường bằng:
(0,05 – 0,12)dn chiều dày cua
nấm thường vào khoảng (0,08 –
0,12)dn trong đó dn là đường
kính nấm xupap Chiều rộng b
của mặt côn phụ thuộc vào độ
cứng của vật liệu làm xupap và
đế xupap Nếu như độ cứng của
xupap lớn hơn của đế xupap thì
chiều rộng của xupap phải lớn
hơn chiều rộng của đế và ngược
Trang 14Kết cấu của nấm xupap chẳng những có ảnh hưởng tới quyết định tới giá thành
chế tạo mà còn ảnh hưởng tới độ bền, trọng
lượng và tình trạng lưu động của dòng khí
qua họng đế xupap nữa Kết cấu của nấm
xupap thường có ba loại chính như sau:
Nấm bằng: Ưu điểm của loại xupap nấm bằng là chế tạo đơn giản, có thể dùng
cho cả xupap thải hoặc xupap nạp Vì vậy đa
số các động cơ đều dùng loại xupap này
Trang 15Nấm lõm: Xupap nấm lõm có đặc
điểm là bán kính góc lượn giữa phần
thân xupap và phần nấm rất lớn Kết
cấu này có thể cải thiện tình trạng lưu
thông của dòng khí nạp vào xy lanh
đồng thời có thể tăng được độ cứng
vững cho phần nấm xupap Để giảm
giảm trọng lượng của xupap khi tăng
bán kính góc lượn, mặt dưới của nấm
bị khoét lõm sâu vào thành dạng loa
kèn Nhược điểm của xupap lõm là chế
tạo khó và mặt chịu nhiệt của xupap
lớn, xupap dễ bị nóng Xupap lõm
thường dùng làm xupap nạp của động
cơ máy bay và một số động cơ cường
hóa
Trang 16Nấm lồi :Dạng nấm lồi cải
thiện được tình trạng lưu động
của dòng khí thải (vì mặt nấm
lồi lên, nên hạn chế khu vực
tạo thành xoáy khi thải khí)
Chính vì vậy, xupap thải của
tất cả các động cơ cường hóa
đều làm theo dạng nấm lồi
Để giảm trọng lượng của nấm,
người ta thường khoét lõm phía
trên phần nấm Nhược điểm
của loại xupap lồi cũng giống
như của loại xupap lõm: khó
chế tạo và bề mặt chịu nhiệt
lớn
Trang 17Do xupap trong qúa trình làm việc phải chịu
đựng nhiệt độ cao, nhất là trong động cơ
cường hóa Nhiệt trên xupap truyền qua
phần diện tích tiếp xúc với đế (diện tích này
thường rất nhỏ) và thân xupap Vì vậy vấn
đề tản nhiệt của xupap rát khó khăn Trong
các loại động ơ cường hóa, xupap thải
thường làm rỗng, trong chứa natrium (Na)
Lượng Na chiếm khoảng 50 – 60% dung tích
lỗ rỗng Do Na nóng chảy ở 3700K (970C)
nên khi xupap làm việc, Na thu nhiệt của
xupap, nóng chảy thành thể lỏng tạo 9iều
kiện truyền nhiệt từ nấm xupap xuống phía
thân xupap được nhanh và tốt hơn, khiến
xupap thải của các động cơ cường hóa này
không bị cháy
Trang 18Thân xupap thường có đường kính thích đáng để dẫn
hướng tốt, tản nhiệt tốt và chịu
được lực nghiêng khi xupap
đóng mở Để hạ thấp nhiệt độ
của xupap, người ta thường có
xu hướng tăng đường kính thân
xupap và kéo dài ống dẫn
hướng tới gần nấm xupap
Nhưng do phải đảm bảo tiết diện
lưu thông của dòng khí và đảm
bảo xupap gọn nhẹ nên thân
xupap cũng không thể qúa lớn
Thân xupap.
Khi không có lực nghiêng tác dụng như khi dẫn động xupap bằng con đội, hoặc lực nghiêng nhỏ như khi dẫn động xupap bằng đòn bẩy, thân xupap thường ó đường kính vào khoang dt = (0,16 – 0,25)dn
Trang 19Khi trực tiếp dẫn động xupap, lực nghiêng tác dụng trên thân upap lớn nhất, nên đường kính của thân có thể tăng lên đến dt = (0,3 – 0,4)dn Trong đó dn là đường kính của nấm xupap.
Để tránh hiện tượng xupap mắc kẹt trong ống dẫn hướng khi bị đốt nóng, đường kíng của thân xupap ở phần nối tiếp với nấm xupap thừơng làm nhỏ đi một ít hoặc khoét rộng lỗ của ống dẫn hướng ở phần này
Chiều dài của thân
xupap tùy thuộc vào
cách bố trí xupap,
nó thường thay đổi
trong phạm vi khá
lớn: lt = (2,5 –
3,5)dn Chiều dài
của thân cần lực
chọn đủ để lắp ống
dẫn hướng và lò xo
Trang 2020
Trang 21Phần đuôi xupap
thường có
dạng đặc
biệt để có
thể lắp ghép
với đĩa lò xo
Trang 22Để tăng tuổi thọ cho xupap và đảm bảo
xupap làm việc tốt,
(đóng kín không lọt khí),
có thể thiết kế cơ cấu
đặc biệt để xuay xupap
quanh đường tâm của
nó, khiến cho xupap vừa
di động lên xuống vừa
quay tròn Tốc độ quay
thường nhỏ, vài chục
lần đóng mở xupap mới
quay một vòng
Trang 2424
Trang 25Ngoài ra trên động cơ còn sử dụng cơ cấu quay xupap dùng ống lót
hình côn Trong kết cấu này móng hãm
xupap không lắp trực tiếp với đĩa lò xo
mà lắp trực tiếp với ống lót hình côn
Oáng lót này lắp trong lỗ hình côn của
đĩa lò xo và chỉ tiếp xúc với mặt côn
của lỗ bằng mặt vành phía trên của
ống lót Vì vậy mômen ma sát trên mặt
tiếp xúc này rất nhỏ Trong qúa trình
dao động của ơ cấu, mômen ma sát có
lúc giảm xuống bẳng không do đó tạo
điều kiện cho xupap xuay quanh trục
Trang 26Đế
xupap. Trong cơ cấu phân phối khí xupap đặt, đường thải và đường
nạp bố trí trên thân máy, còn trong cơ cấu phân phối khí xupap treo, đường thải và đường nạp bố trí trong nắp xy lanh Để giảm hao mòn cho thân máy và nắp xy lanh khi chịu lực va đập của xupap, người ta thường dùng đế xupap ép vào họng đường thải và đường nạp
Trong các động cơ dùng thân
máy hay nắp xy lanh bằng
gang, đế xupap thường chỉ nắp
trên đường thải, còn khi thân
máy và nắp xy lanh bằng hợp
kim nhôm, đế xupap dùng cho
cả đường thải và đường nạp
Kết cấu của đế xupap rất đơn
giản, thường chỉ là một vòng
hình trụ, trên có vát mặt côn để
tiếp xúc với mặt côn của nấm
xupap
Trang 27- Mặt ngoài của đế xupap có thể là mặt trụ trên có tiện rãnh đàn hồi để lắp cho chắc Có khi mặt ngoài có độ côn nhỏ (khoảng 12o) Loại đế xupap hình côn này thường không ép sát đáy mà để một khe hở hơn 0,04mm Như thế sau này nếu đế bị lỏng ra, ta có thể đóng nút sâu xuống hơn để lắp chặt hơn Trên mặt côn của đế cũng tiện rãnh đàn hồi, sau khi ép vào, kim loại trên thân máy hoặc nắp xy lanh sẽ điền kín vào rãnh và giữ chặt lấy đế
- Đế xupap thường làm bằng thép hợp kim hoặc gang hợp kim
(gang trắng) Chiều dày của đế nằm
trong khoảng (0,08 – 0,15)do Chiều
cao của đế nằm trong khoảng (0,18
– 0,25)do (do là đường kính họng
đế) Đế xupap bằng thép hợp kim
thường ép vào thân máy hoặc nắp xy
lanh với độ dôi khoảng 0,0015 –
0,0035 đường kính ngoài của đế
Trang 283.3.6 Ống dẫn hướng xupap.
3.3.6.1 Công dụng và vật liệu.
-Để dễ sửa chữa và tránh hao mòn cho thân máy hoặc nắp xy lanh ở chế độ lắp xupap, người ta lắp ống dẫn hướng xupap trên các chi tiết máy này Xupap được lắp vào ống dẫn hướng theo chế độ lắp lỏng
Trang 29Oáng dẫn hướng xupap thường chế tạo bằng các loại gang hợp kim, gang dẻo được nhiệt luyện Trong các động cơ hiện đại, ống dẫn hướng được ép bằng bột kim loại sau đó sử lý ngâm tẩm dầu bôi trơn Loại vật liệu kim loại gốm này chịu mòn rất tốt và không cần bôi trơn, tuy vậy giá thành chế tạo khá cao nên chỉ dùng cho những loại động
cơ cao tốc Trong một số động cơ cao tốc còn dùng ống dẫn hướng bằng hợp kim đồng thanh – nhôm Loại ống dẫn hướng này dẫn nhiệt rất tốt, khi thiếu dầu
Trang 303.3.6.2 Cấu tạo.
Kết cấu các loại ống d64n hướng xupap giới thiệu trên hình 3.20 Oáng dẫn hướng được ép vào thân máy hoặc thân xylanh đến một khoảng cách nhất định Loại có vai cũng hay dùng, khi đó ống dẫn hướng được đóng sát vai Do có vai tuy dễ lắp ghép nhưng tính công nghệ kém Ngoài hai loại trên đôi khi còn ùng ống đẫn hướng mặt ngoai có độ côn nhỏ đóng ép với lỗ côn trên thân máy hoặc nắp xylanh
Chiều dày ống dẫn hướng thường vào khoảng 2,5 – 4mm; chiều dài của ống dẫn hướng phụ thuộc vào đường kính và chiều dài của thân xupap, thường có rị số vào khoảng (1,75 – 2,5)dn (dn – đường kính nấm xupap) Độ dôi khi ép ống dẫn hướng bằng (0,003 – 0,00)d1 (d1 – đường kính ngoài của ống dẫn hướng) Khe hở giữa thân xupap với ống dẫn hướng phụ thuộc vào điều kiện nhiệt độ và kết cấu của xupap Đối với loại xupap có thân to, khe hở thường phải bằng 0,004dt đối với xupap nạp và bằng 0,006dt đối với xupap thải Đối với loại xupap thân nhỏ, khe hở tương đối lớn hơn: (0,005 – 0,01)dt đối với xupap nạp và (0,008 – 0,012)dt đối với xupap thải Trong đó dt là đường kính thân xupap
Trang 31Cần chú ý rằng ống dẫn hướng bao giờ ũnh chế tạo dưới hình thức bán thành phẩm, ống chỉ được gia công chính xác đường kính ngoài Sau khi ép ống dẫn hướng vàu thân xylanh hay thân máy, ta mới dùng dao doa để doa lỗ của ống ẫn hướng đến kích thước quy định.
Trang 323.3.7 Lò xo xupap.
3.3.7.1 Công dụng và vật liệu.
-Lò xo xupapdùng để đóng kín xupap trên đế xupap và đảm bảo xupap chuyển động theo đúng quy luật của cam phân phối khí, do đó trong qúa trìng mở đóng xupap không có hiện tượng va đập trên mặt cam
Lò xo xupap làm việc
trong điều kiện tải
trọng động thay đổi
rất đột ngột Vật liệu
chế tạo lò xo xupap
thường dùng dây thép
có đường kính 3 –
5mm loại thép C65;
C65A; 50XφA
Trang 333.3.7.2 Cấu tạo.
- Loại lò xo thương dùng nhiều nhất là lò xo xoắn ốc hình trụ Hai vòng ở hai đầu lò xo quấn xít nhau và được mài phẳng để lắp ghép Số vòng công tác của lò xo (là số vòng không kể hai vòng đầu) thường từ 4 – 10 Số vòng công tác càng ít, mỗi vòng của lò xo biến dạng càng nhiều (nếu đảm bảo độ mở xupap như nhau) vì vậy lò xo chịu ứng suất xoắn càng lớn Ngược lại, nếu số vòng công tác nhiều qúa, lò xo qúa dài, độ cứng của lò xo giảm, tần số dao động tự do thấp dễ bị cộng hưởng, sinh va đập với mặt cam
Trang 34- Trong một vài động cơ, người
ta tránh cộng hưởng
của lò xo bằng
cách lắp vào mặt
tựa của lò xo các
vành giảm rung như
hình bên Vành
giảm rung làm việc
theo nguyên tắc lợi
dụng sự ma sát
giữa lò xo với vành
đê tiêu hao công
dao động khiến cho
lò xo không dao
động cộng hưởng
Trang 35- Trong những loại động cơ tốc
độ rất cao, lực quán tính của cơ
cấu phân phối khí có lò xo có trị
số rất lớn, gây nên hiện tượng
va đập mạnh giữa các chi tiết
máy trong cơ cấu phân phối khí
Vì vậy trong những động cơ
này, người ta dùng cơ cấu phân
phối khí không có lò xo xú páp
mà đóng mở xupap hoàn toàn
bằng cơ cấu cam Mỗi xupap
của cơ cấu phân phối khí này
dùng hai cam như các loại cam
thông thường, một cam dùng để
mở xupap và một cam dùng để
đóng xupap Vi vậy, xupap có
hai quan hệ động học với trục
Trang 3636
Trang 3838
Trang 39a Xe du lòch
CAÂU 3