Nghiệp vụ ngân quỹ bao gồm việc quản lý các khoản mục sau: * Tiền mặt tại quỹ: là khoản tiền mặt nằm tại quỹ nghiệp vụ của tổ chức tín dụng đểđáp ứng nhu cầu chi dùng trong ngày như chi
Trang 1MỤC LỤC
Chương I: Những lý luận chung về Ngân hàng Thương mại và cho vay tiêu dùng
7
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại (NHTM): 7
1.1.1 Khái niệm về NHTM: 7
1.1.2 Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM: 7
1.1.2.1 Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ ): 7
1.1.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn (Tài sản Có) 8
1.2 Hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM: 9
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của cho vay tiêu dùng: 9
1.2.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng: 10
1.2.3 Phân loại cho vay tiêu dùng: 11
1.2.3.1 Căn cứ vào mục đích cho vay: 12
1.2.3.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả: 12
1.2.3.3 Căn cứ vào phương thức cho vay giữa ngân hàng và khách hàng: 14
1.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội: 16
1.3.1 Đối với người NHTM: 16
1.3.2 Đối với người tiêu dùng: 17
1.3.3 Đối với nền kinh tế: 18
1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng của ngân hàng: 18
1.4.1 Nhân tố chủ quan: 18
1.4.2 Nhân tố khách quan: 20
Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank – Đà Nẵng 24
2.1 Khái quát về chi nhánh ngân hàng VPBank – Đà Nẵng: 24
2.1.1 Lịch sử hình thành của ngân hàng VPBank và chi nhánh ngân hàng tại Đà Nẵng: 24
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng: 24 2.1.3 Cơ cấu hoạt động của chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng: 25
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng VPBank – Đà Nẵng trong những năm gần đây: 27
2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn: 27
2.1.4.2 Hoạt động cho vay: 29
2.1.4.3 Kết quả hoạt động kinh doanh: 30
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank – Đà Nẵng: 33
2.2.1 Quy trình hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng: 33
2.2.2 Tình hình cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng: 38
2.2.2.1 Tình hình chung về cho vay tiêu dùng: 38
Trang 2* Phân tích tình hình CVTD: 40
a) Theo mục đích sử dụng vốn: 40
b) Theo hoạt động bảo đảm: 42
c) Theo thời hạn: 44
2.3 Đánh giá hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng: 46
2.3.1 Kết quả đạt được: 46
2.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân trong việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng Vpbank – Đà Nẵng: 47
2.3.2.1 Những hạn chế: 47
2.3.2.2 Nguyên nhân hạn chế việc mở rộng cho vay tiêu dùng tại VPBank 48 2.3.3 Những thuận lợi và khó khăn trong hoạt động CVTD ở chi nhánh ngân hàng VPBank – Đà Nẵng: 50
2.3.3.1 Thuận lợi: 50
2.3.3.2 Khó khăn: 51
Chương III: Giải pháp phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng 52
3.1 Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng: 52
3.1.1 Định hướng phát triển chung của chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng: 52 3.1.2 Định hướng phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng: 52
3.2 Biện pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng: 53
3.2.1 Hoàn thiện chính sách tín dụng: 53
3.2.2 Mở rộng quan hệ với các đơn vị hỗ trợ hoạt động ngân hàng: 53
3.2.3 Xây dựng chính sách khách hàng hợp lí cùng với một chính sách hấp dẫn linh hoạt 54
3.2.4 Tăng cường công tác thẩm định kiểm tra: 55
3.2.5 Xếp hạng khách hàng theo mức độ rủi ro tín dụng: 56
3.2.6 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ tín dụng: 57
3.2.7 Tăng cường nguồn huy động trung và dài han, đặc biệt là nguồn huy động dài hạn qua các cách sau: 58
3.3 Một số kiến nghị: 59
3.3.1 Kiến nghị đối với Chính phủ và cơ quan Nhà nước và Bộ ngành 59
3.3.2 Kiến nghị với ngân hàng Nhà nước: 60
3.3.3 Kiến nghị với chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng: 61
KẾT LUẬN 63
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 64
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN HƯỚNG DẪN 65
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 66
NHẬN XÉT CỦA GIÁO VIÊN PHẢN BIỆN 66
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Tổng nguồn vốn huy động của chi nhánh trong 2 năm
2008-2009……… 27
Bảng 2.2 Tình hình cho vay tại chi nhánh trong 2 năm 2008-2009……… 29
Bảng 2.3: Kết quả hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong 2 năm 2008-2009 31
Bảng 2.4: Tình hình chung về cho vay tiêu dùng trong trong 2 năm 2008-2009……… 38
Bảng 2.5: Tình hình cho vay tiêu dùng theo mục đích vay……… …40
Bảng 2.6: Tình hình cho vay tiêu dùng theo hoạt động bảo đảm……… 42
Bảng 2.7: Tình hình cho vay tiêu dùng theo thời hạn……… 44
Trang 5PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài:
Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế, nhất là trong thời kì hội nhập, cácNHTM đã có những bước đổi mới tích cực, tác động không nhỏ đến nền kinh tế xã hộinước ta Trong vài năm trở lại đây, hoạt động cho vay tiêu dùng đã góp phần tích cực,nâng cao sức cạnh tranh cho các NHTM, đặc biệt là khi đời sống vật chất người dânngày càng cao thì cho vay tiêu dùng càng có nhiều triển vọng và các NH rất quan tâm
Trải qua một quá trình triển khai và rút kinh nghiệm, Chi nhánh Ngân hàngVPBank-Đà Nẵng đã thu được những kết quả khả quan Tuy nhiên, trong bối cảnhcạnh tranh ngày càng gay gắt như hiện nay, để mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùngmột cách an toàn và hiệu quả nhằm hướng tới mục tiêu trở thành một trong những chinhánh ngân hàng có uy tín trong việc cung ứng sản phẩm cho vay tiêu dùng khôngphải là điều đơn giản
Xuất phát từ thực tiễn đó, cùng với những kiến thức thực tiễn thu được trongquá trình thực tập tại Ngân hàng TMCP các doanh nghiệp ngoài quốc doanh Việt
Nam (VPBANK) đã gợi mở cho em thực hiện đề tài: "Giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại VPBank", làm chuyên đề thực tập tốt nghiệp cho
mình
2 Mục tiêu nghiên cứu:
- Phân tích, đánh giá tình hình cho tiêu dùng của chi nhánh ngân hàng VPBank– Đà Nẵng
- Đề ra một số giải pháp mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại NH
3 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu:
- Về nội dung: Giải mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng
- Về thời gian: Từ năm 2008 đến năm 2009
- Về không gian: Chi nhánh ngân hàng VPBank – Đà Nẵng
4 Phương pháp nghiên cứu:
Cùng với việc nghiên cứu các lý luận thuộc chuyên ngành kinh tế, tài chính,ngân hàng, chuyên đề đã được thực hiện trên cơ sở:
- Thu thập, tổng hợp các số liệu thực tế về hoạt động tín dụng tại chi nhánhVPBank
- Ghi nhận các ý kiến, nhận định của các cán bộ tín dụng về hạn chế còn tồn tạitrong cho vay tiêu dùng và các giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng
Trang 6- Sử dụng các phương pháp thống kê, đối chiếu, so sánh để phân tích, đánh giáthực trạng hoạt động tín dụng của chi nhánh VPBank, tìm hiểu các nguyên nhân để tìm
ra các giải pháp hiệu quả trong việc mở rộng cho vay tiêu dùng
5 Cấu trúc nội dung nghiên cứu của đề tài:
Chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Những lý luận chung về Ngân hàng Thương mại và cho vay tiêu dùngChương 2: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chi nhánh Ngân hàngVPBank-Đà Nẵng
Chương 3: Một số giải pháp nhằm mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng tại Chinhánh Ngân hàng VPBank-Đà Nẵng
Vì thời gian và kiến thức có hạn nên chuyên đề của em cũng chưa được sâusắc Do vậy có sự hạn chế về khả năng nên không tránh khỏi thiếu sót, em rất mong
sự giúp đỡ của thầy, cô, các anh chị và các bạn góp ý kiến để chuyên đề hoàn chỉnhhơn Em xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Thầy giáo PGS.TS Nguyễn Ngọc
Vũ và các anh chị tại Chi nhánh Ngân hàng VP Bank Đà Nẵng đã giúp em hoànthành chuyên đề này
Trang 7Chương I: Những lý luận chung về Ngân hàng Thương mại
và cho vay tiêu dùng
1.1 Khái quát về ngân hàng thương mại (NHTM):
1.1.2 Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM:
1.1.2.1 Nghiệp vụ nguồn vốn (Tài sản Nợ ):
Đây là nghiệp vụ tạo nên nguồn vốn hoạt động của ngân hàng, nó là cơ sở chủyếu để thỏa mãn các nhu cầu vốn tín dụng của dân cư và các doanh nghiệp Nguồn vốnkinh doanh của tổ chức tín dụng bao gồm:
a Vốn tự có:
* Vốn điều lệ: được bổ sung thường xuyên và phải luôn lớn hơn hoặc bằng vốn phápđịnh do nhà nước qui định Đây có thể là nguồn vốn do Ngân sách Nhà nước cấp phátban đầu (tổ chức tín dụng quốc doanh) hoặc do các cổ đông đóng góp (ngân hàng cổphần)
* Lợi nhuận chưa phân phối: là lợi nhuận chưa chia hết cho các cổ đông hoặc các quỹđặc biệt khác
* Các quỹ dự trữ của ngân hàng bao gồm:
- Quỹ dự trữ bổ sung vốn điều lệ: trích 5% trên tổng lợi nhuận sau thuế hàngnăm
- Quỹ dự phòng bù đắp rủi ro: được trích 10% lợi nhuận ròng hàng năm cho đếnkhi bằng 100% vốn điều lệ để bù đắp những thiệt hại, rủi ro trong kinh doanh
Ngoài ra, các tổ chức tín dụng còn trích lập các quỹ như: quỹ phát triển nghiệp
vụ ngân hàng, quỹ dự phòng rủi ro tín dụng, quỹ trợ cấp mất việc làm, quỹ khenthưởng phúc lợi, quỹ bảo toàn vốn do lạm phát, quỹ khấu hao cơ bản … từ lợi nhuậnthu được theo quyết định của đại cổ đông, theo sự chỉ đạo của Nhà nước
Nguồn vốn chủ sở hữu chiếm một tỷ trọng nhỏ trong tổng nguồn vốn hoạt độngcủa ngân hàng
Trang 8b Nguồn vốn huy động: đây là nguồn vốn quan trọng nhất của ngân hàng vàchiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn bao gồm:
* Tiền gởi thanh toán: là tiền gởi của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước nhằm
sử dụng những dịch vụ trung gian của ngân hàng (thu hộ, chi hộ, giữ hộ …)
* Tiền gởi tiết kiệm: thường là tiền gởi của dân cư, các tổ chức kinh tế có thể có kỳhạn hoặc không kỳ hạn nhằm hưởng lãi theo định kỳ và mục đích an toàn
- Các hình thức huy động khác: phát hành chứng chỉ tiền gởi và trái phiếu, tínphiếu để thu hút tiền của cá nhân và tổ chức
* Nguồn vốn vay: tổ chức tín dụng còn có thể vay ở ngân hàng Nhà nước, vay của các
tổ chức tín dụng, các tổ chức tín dụng khác thông qua thị trường tiền tệ liên ngân hàng,vay ngân hàng Nhà nước và vay các ngân hàng nước ngoài
1.1.2.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn (Tài sản Có)
a Nghiệp vụ ngân quỹ : là nghiệp vụ có liên quan đến việc điều hành ngân quỹcủa ngân hàng nhằm mục đích duy trì năng lực chi trả thanh toán cho khách hàng mộtcách bình thường Nếu khoản này thiếu hụt thì tổ chức tín dụng bị mất khả năng thanhtoán, ảnh hưởng xấu đến hoạt động kinh doanh
Nghiệp vụ ngân quỹ bao gồm việc quản lý các khoản mục sau:
* Tiền mặt tại quỹ: là khoản tiền mặt nằm tại quỹ nghiệp vụ của tổ chức tín dụng đểđáp ứng nhu cầu chi dùng trong ngày như chi trả lãi, trả vốn tiền gởi, giải ngân …
* Tiền gởi tại ngân hàng Trung ương: bao gồm tiền gởi bắt buộc theo quy định củangân hàng Nhà nước, và tài khoản tiền gởi thanh toán nhằm phục vụ cho nghiệp vụtrung gian thanh toán, mua bán ngoại tệ …
* Tiền gởi tại các tổ chức tín dụng, các tổ chức tín dụng khác: giúp cho việc trung gianthanh toán được diễn ra nhanh chóng
b Nghiệp vụ cho vay (cấp tín dụng): nguồn vốn sau khi đã thực hiện nghiệp vụngân hàng sẽ được sử dụng để cho vay, đây là nghiệp vụ chủ yếu, đặc trưng nhất của
tổ chức tín dụng, sử dụng phần lớn nguồn vốn và tạo ra thu nhập chính cho ngân hàng
c Nghiệp vụ đầu tư :
Đa dạng hóa lĩnh vực hoạt động, tổ chức tín dụng tham gia đầu tư mua bánchứng khoán trên thị trường chứng khoán nhằm tìm kiếm lợi nhuận từ lợi tức chứngkhoán, từ chênh lệch giá chứng khoán trên thị trường và phân tán rủi ro trong hoạtđộng kinh doanh Ngoài ra, ngân hàng còn thực hiện việc hùn vốn, góp vốn liên doanh
d Tài sản cố định:
Tài sản cố định là yếu tố quyết định đến trình độ, công nghệ của mỗi tổ chức tíndụng và thường được đầu tư từ nguồn vốn chủ sở hữu Tài sản cố định của tổ chức tín
Trang 9dụng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ, bao gồm các loại: trụ sở làm việc, ôtô, xe máy, hệ thống
vi tính, các trang thiết bị khác
1.2 Hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM:
1.2.1 Sự hình thành và phát triển của cho vay tiêu dùng:
Hoạt động cho vay tiêu dùng đã có một lịch sử phát triển lâu dài, nó xuất hiện
từ thời phong kiến, tại nhiều quốc gia khác nhau Tuy nhiên, nó chỉ thực sự có nhữngbước tiến đáng kể và mạnh mẽ trong khoảng thời gian gần đây
Vào những năm 80 của thế kỷ 20, hệ thống NHTM của Mỹ phải tiến hành cảicách trước sự cạnh tranh gay gắt ảnh hưởng đến việc thực hiện các nghiệp vụ của cácNHTM Trong thực tế, sự cạnh tranh mạnh mẽ đã tạo ra những thay đổi to lớn tronglĩnh vực công nghệ, luật pháp , và chính sự thay đổi đó đã tạo ra sự thay đổi về cácdịch vụ mà ngân hàng cung ứng, đồng thời vai trò của NHTM trong hệ thống tài chínhcũng không còn duy trì được như trước, từ đó đã dẫn đến sự thay đổi cơ cấu trong cácNHTM Môi trường cạnh tranh thay đổi một cách nhanh chóng và mạnh mẽ khiến cácNHTM nếu không tiến hành đổi mới thì không thể tham gia cạnh tranh trong hệ thốngtài chính được
Các NHTM không chỉ phải cạnh tranh với chính các ngân hàng trong cùng hệthống, mà bên cạnh đó nó còn phải đối đầu với các tổ chức tài chính như: Công ty tàichính, Công ty bảo hiểm, Công ty thuê mua v.v đã ra đời và đang cùng tham gia chia
sẻ thị phần thị trường với nó Cuộc cạnh tranh giữa các tổ chức tài chính càng diễn ramạnh mẽ khi vào những năm 1970, các nhà môi giới đã tạo lập lên “thị trường tiền tệbán lẻ” Do đó, đến đầu những năm 1980, trước đòi hỏi của các ngân hàng về một
“lĩnh vực tham gia ở mức độ cao hơn”, Quốc hội Mỹ đã cho phép các ngân hàng cungứng “tài khoản thị trường tiền tệ” và dịch vụ môi giới
Cũng trong giai đoạn này, sự tiến bộ vượt bậc của khoa học kỹ thuật đã tạo ranhiều phương tiện máy móc hiện đại như: máy tính nối mạng, máy rút tiền tự độngv.v , đã góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh không chỉ giữa các ngân hàng màcòn với các tổ chức tài chính khác Cùng với các tiến bộ đó, hoạt động tín dụng của hệthống NHTM đã có sự thay đổi Nếu như trước đây, các ngân hàng chỉ giới hạn trongphạm vi hoạt động cho vay thương mại, thì đến giai đoạn này họ đã mở rộng lĩnh vựchoạt động bằng việc triển khai hoạt động cho vay tiêu dùng, đặc biệt là sau cuộc khủnghoảng vào những năm 1980
Một yếu tố khách quan thúc đẩy hoạt động tín dụng tiêu dùng phát triển mạnh
đó là xuất phát từ mối quan hệ giữa ngân hàng và khách hàng Thông qua mối quan hệnày, ngân hàng thấy được nhu cầu tín dụng theo hình thức này từ cả phía người sảnxuất lẫn người tiêu dùng Các nhà sản xuất cần có sự hỗ trợ để gia tăng tiêu thụ hàng
Trang 10hoá, còn người tiêu dùng cần tìm nguồn tài trợ cho các nhu cầu mà hiện tại sự tích luỹcủa họ chưa đáp ứng được.
Ngày nay, lĩnh vực cho vay tiêu dùng đang phát triển mạnh mẽ Nhiều công tychuyên môn hoá đã tìm kiếm nhiều dạng dịch vụ khác nhau và hiện đang mở rộng dần
ra, phù hợp với việc cung cấp đa dạng các loại hình dịch vụ Lĩnh vực này cũng khôngcòn chỉ do các ngân hàng và công ty tài chính thực hiện nữa mà các công ty bảo hiểm,công ty chứng khoán, ngân hàng tiết kiệm bưu điện vv cùng tham gia cung cấp dịch
vụ này
Tại Việt Nam, hoạt động cho vay tiêu dùng của NHTM đã phát triển vào nhữngnăm 1993 – 1994, trong thời gian đầu này tập trung nhiều vào cho vay trả góp, các sảnphẩm cung ứng còn rất đơn điệu Tuy nhiên, do chưa có hành lang pháp lý rõ ràng nênhoạt động được một thời gian các ngân hàng tỏ ra rất lúng túng trong việc cấp tín dụngtheo hình thức này
Hiện nay, khi mà một số văn bản pháp luật hướng dẫn đã ra đời thì lĩnh vực chovay tiêu dùng ở nước ta lại đang trong xu thế rộ lên, nó đang được xem là thị trườngtiềm năng lớn và có nhiều điều kiện phát triển mạnh cho các NHTM tại Việt Nam
Có người thì cho rằng: cho vay tiêu dùng là hình thức tài trợ cho nhu cầu chitiêu (mua sắm phương tiện, đồ dùng, sửa chữa nhà cửa, chi cho học hành, y tế, dulịch ) của cá nhân hay hộ gia đình
Tuy nhiên, một khái niệm mang tính đầy đủ về cho vay tiêu dùng tại NHTM là:
“cho vay tiêu dùng là một hình thức qua đó ngân hàng chuyển cho khách hàng (cánhân hay hộ gia đình) quyền sử dụng một lượng giá trị (tiền) trong một khoảng thờigian nhất định, với những thoả thuận mà hai bên đã ký kết (về số tiền cấp, thời giancấp, lãi suất phải trả ) nhằm giúp cho khách hàng có thể sử dụng những hàng hoá vàdịch vụ trước khi họ có khả năng chi trả, tạo điều kiện cho họ có thể hưởng một cuộcsống cao hơn.”
1.2.2 Đặc điểm cho vay tiêu dùng:
Quy mô khoản vay nhỏ
Do mục đích vay tiêu dùng nên quy mô các khoản vay không lớn Vì nhu cầu củadân cư với các loại hàng hoá xa xỉ là không cao hoặc đã có tích luỹ trước đối với cácloại tài sản có giá trị lớn Song, nhu cầu vay tiêu dùng là khá phổ biến do đối tượngcủa loại hình cho vay này là mọi cá nhân trong xã hội từ những người có thu nhập caođến những người có thu nhập trung bình và thấp với nhiều nhu cầu phong phú và đadạng
Nguồn trả nợ: khách hàng trích nguồn thu nhập từ lương, thu nhập từ hoạt độngkinh doanh của mình (không phải là từ kết quả sử dụng những khoản vay đó)
Trang 11Mục đích vay: Nhằm phục vụ nhu cầu tiêu dùng của cá nhân, hộ gia đình khôngphải xuất phát từ mục đích kinh doanh Nhu cầu đó có thể xuất phát từ việc: mua nhà,sửa chữa nhà, xây dựng, mua sắm phương tiện, đồ dùng, hay các nhu cầu du lịch, họchành hoặc giải trí
Số lượng các khoản vay rất lớn nên rủi ro đối với ngân hàng cũng cao.
Về rủi ro: Các khoản cho vay tiêu dùng có độ rủi ro cao vì bên cạnh sự ảnh hưởngcủa các yếu tố khách quan như môi trường kinh tế, văn hóa, xã hội nó còn phải chịutác động của những nhân tố chủ quan xuất phát từ bản thân khách hàng
Trong cuộc sống, chúng ta không thể lường trước được hết hậu quả do những rủi rokhách quan như suy thoái kinh tế, mất mùa, thiên tai… Đặc biệt, hoạt động cho vaytiêu dùng phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, nhất là khi nền kinh tế rơi vào tình trạng suythoái Khi đó, người tiêu dùng sẽ không thấy tin tưởng vào tương lai và cùng vớinhững lo lắng về nguy cơ thất nghiệp, họ sẽ hạn chế việc vay mượn từ ngân hàng.Ngoài ra, cho vay tiêu dùng còn chịu một số rủi ro chủ quan như tình trạng sứckhoẻ, khả năng trả nợ của cá nhân và hộ gia đình…Điều đó tạo nên rủi ro lớn cho ngânhàng, hơn nữa thông tin tài chính của đối tượng này rất khó đầy đủ và chính xác hoàntoàn Mặt khác yếu tố đạo đức của cá nhân người tiêu dùng cũng là nhân tố tác độngtrực tiếp vào việc trả nợ cho ngân hàng, hay số lượng các khoản vay tiêu dùng là rấtlớn trong khi đó số lượng cán bộ tín dụng ngân hàng lại có hạn cũng sẽ tạo nên rủi rocho ngân hàng
Chi phí mỗi khoản cho vay tiêu dùng là khá lớn.
Do thông tin về nhân thân, lai lịch và tình hình tài chính của khách hàng thườngkhông đầy đủ và khó thu thập, ngân hàng phải bỏ nhiều chi phí cho công tác thẩm định
và xét duyệt cho vay Hơn nữa phần lớn các khoản vay với số lượng lớn và giá trị nhỏnên ngân hàng phải chịu một khoản chi phí đáng kể để quản lý hồ sơ khách hàng.Chính vì thế, cho vay tiêu dùng trở thành khoản mục có chi phí lớn nhất trong cáckhoản mục tín dụng ngân hàng
Lợi nhuận từ cho vay tiêu dùng cao
Do rủi ro cao và chi phí tính trên một đơn vị tiền tệ của cho vay tiêu dùng lớn nênngân hàng thường đặt lãi suất rất cao đối với các khoản cho vay tiêu dùng Bên cạnh
đó, số lượng các khoản cho vay tiêu dùng là khá nhiều, khiến cho tổng quy mô chovay tiêu dùng là rất lớn, cùng với tiền lãi thu được từ mỗi khoản vay làm cho tổng lợinhuận thu được từ hoạt động cho vay tiêu dùng là đáng kể
1.2.3 Phân loại cho vay tiêu dùng:
Có nhiều cách phân chia cho vay tiêu dùng thành các loại khác nhau, tuỳ theotiêu thức chúng ta lựa chọn mà cho vay tiêu dùng được phân chia thành:
Trang 121.2.3.1 Căn cứ vào mục đích cho vay:
Cho vay tiêu dùng bất động sản.
Là khoản tín dụng được cấp nhằm tài trợ cho nhu cầu mua, xây dựng, cải tạo nhàcho khách hàng (cá nhân hay hộ gia đình) Đặc điểm của những món vay này là quy
mô thường lớn, thời gian dài Việc đánh giá giá trị tài sản tài trợ có vai trò vô cùngquan trọng đối với ngân hàng Nếu như trong cho vay tiêu dùng thông thường thì thunhập tương lai của người vay là yếu tố quan trọng để ngân hàng quyết định có cho vayhay không thì trong cho vay nhà ở, giá trị và tình hình biến động giá của tài sản đượctài trợ là yếu tố mà ngân hàng rất quan tâm Bởi vì khoản tín dụng tài trợ cho loại tàisản này có giá trị lớn, nên sự biến động theo hướng không có lợi của nó sẽ dẫn tớinhững thiệt hại rất lớn cho ngân hàng
Cho vay tiêu dùng thông thường.
Đây là những khoản cho vay phục vụ nhu cầu cải thiện đời sống như mua sắmphương tiện, đồ dùng, du lịch, học hành, y tế hoặc giải trí Đặc điểm của nhữngkhoản tín dụng này thường có quy mô nhỏ, thời gian tài trợ ngắn Do đó mà mức độrủi ro đối với ngân hàng là thấp hơn những khoản cho vay tiêu dùng bất động sản Đốivới loại cho vay này, yếu tố quyết định cho vay hay không là khả năng trả nợ củangười vay, sau đó mới xem xét đến giá trị tài sản đảm bảo
1.2.3.2 Căn cứ vào phương thức hoàn trả:
Cho vay tiêu dùng trả góp.
Theo hình thức tài trợ này, thì người đi vay trả nợ cho ngân hàng (gồm cả gốc vàlãi) theo nhiều lần, theo những kỳ hạn nhất định do ngân hàng quy định (tháng, quý ).Hình thức này áp dụng cho các khoản vay có giá trị lớn hoặc với những khách hàng
mà thu nhập định kỳ của họ không đủ để thanh toán hết một lần số nợ vay Đối vớiloại cho vay này ngân hàng cần chú ý đến những vấn đề cơ bản sau:
- Loại tài sản được tài trợ: thiện chí trả nợ của người vay sẽ tốt hơn khi tài sản
hình thành từ tiền vay thỏa mãn nhu cầu lâu bền của họ trong tương lai Với mỗi ngânhàng, họ rất quan tâm đến việc lựa chọn tài sản để tài trợ và thường họ chỉ muốn tài trợcho những tài sản có thời gian sử dụng dài, có giá trị lớn; với những tài sản này, ngườivay có thể hưởng tiện ích của nó trong một khoảng thời gian dài
- Số tiền phải trả trước: với hình thức này, ngân hàng sẽ yêu cầu người đi vay
phải có vốn tự có trên tổng phương án xin vay, phần còn lại ngân hàng sẽ cho vay,thường chỉ cho vay từ 45% - 65% tổng giá trị tài sản tùy theo các yếu tố như: loại tàisản, thị trường tiêu thụ tài sản sau khi đã sử dụng, thực lực tài chính, trình độ và nhânthân, lai lịch của người vay Quy định này của ngân hàng nhằm tránh trường hợp
Trang 13khách hàng dùng tài sản hình thành từ vốn vay làm tài sản thế chấp, khi phải phát mạitài sản không gây nhiều rủi ro cho ngân hàng
- Điều khoản thanh toán.
+ Số tiền thanh toán mỗi kì hạn phải phù hợp với khả năng về thu nhập sau khi
đã trừ đi các khoản chi tiêu khác
+ Giá trị tài sản không được thấp hơn số tiền cho vay chưa được thu hồi
+ Thời hạn cho vay không nên quá dài nhằm tránh cho việc tài sản tài trợ bịgiảm giá trị theo thời gian đi kèm với rủi ro tín dụng tăng lên
+ Số tiền mà khách hàng phải thanh toán mỗi kì hạn trả nợ có thể được tínhbằng các phương pháp như sau:
Phương pháp lãi đơn: theo đó, vốn gốc người đi vay phải trả từng kì hạn trả nợ
được tính đều nhau, bằng cách lấy vốn gốc ban đầu chia cho số kì hạn thanh toán hoặc
có thể được thực hiện theo quý hay theo năm tài chính
Phương pháp lãi gộp: đây là phương pháp thường được áp dụng trong cho vay
tiêu dùng trả góp Theo phương pháp này, trước hết lãi được tính bằng cách lấy vốngốc nhân với lãi suất và thời hạn vay, sau đó cộng gộp với vốn gốc rồi chia cho số kìhạn phải thanh toán để tìm số tiền phải thanh toán ở mỗi kì hạn trả nợ
Vấn đề phân bổ lãi vay theo thời gian.
Khi sử dụng phương pháp lãi gộp để tính lãi, các ngân hàng thường tiến hành phân
bổ phần lãi cho vay đã được tính Việc phân bổ có thể được thực hiện theo định kì gắnliền với các kì hạn thanh toán hoặc có thể được thực hiện theo quý hoặc theo năm tàichính
Vấn đề trả nợ trước hạn:
Khi người đi vay trả nợ trước hạn xảy ra trường hợp: nếu tiền trả góp theo phươngpháp lãi đơn thì vấn đề rất đơn giản, người đi vay chỉ phải thanh toán toàn bộ gốc cònthiếu và lãi vay của kì hạn hiện tại cho ngân hàng Tuy nhiên nếu tiền lãi được tínhbằng phương pháp lãi gộp thì vấn đề sẽ phức tạp hơn vì theo phương pháp này, lãiđược giả định rằng tiền vay sẽ được khách hàng sử dụng cho đến lúc kết thúc hợpđồng, nếu khách hàng trả nợ trước hạn thì thời hạn nợ thực tế sẽ khác với thời hạn nợban đầu và như vậy số tiền lãi phải trả cũng có sự thay đổi Khi đó, người ta sẽ sử dụngphương pháp phân bổ lãi cho vay theo thời gian để tính số lãi thực tế phải thu, dựa trênthời hạn nợ thực tế
Cho vay tiêu dùng trả 1 lần.
Đây là hình thức tài trợ mà theo đó số tiền vay của khách hàng sẽ được thanh toánmột lần khi hợp đồng tín dụng đến hạn Đặc điểm của các khoản tín dụng này thường
có quy mô nhỏ, thời hạn cho vay ngắn Ngân hàng áp dụng hình thức này bởi đây là
Trang 14biện pháp sẽ giúp ngân hàng không mất nhiều thời gian như khi phải tiến hành thu nợlàm nhiều kỳ Trong thực tế, khoản cho vay tiêu dùng cấp theo hình thức này là rất ít.
1.2.3.3 Căn cứ vào phương thức cho vay giữa ngân hàng và khách hàng:
Cho vay tiêu dùng trực tiếp.
Đây là hình thức trong đó ngân hàng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng của mình,việc thu nợ cũng được tiến hành trực tiếp bởi chính ngân hàng Có thể hình dung quacác bước sau:
(1) Ngân hàng và người tiêu dùng ký hợp đồng tín dụng với nhau
(2) Người tiêu dùng trả trước nhà cung cấp một phần số tiền mua hàng hoá củamình
(3) Ngân hàng thanh toán số tiền còn thiếu cho nhà cung cấp
(4) Nhà cung cấp giao hàng hoá cho người tiêu dùng
(5) Người tiêu dùng thanh toán khoản nợ cho ngân hàng
Ưu điểm của hình thức tài trợ này là: rất linh hoạt vì có sự đàm phán trực tiếpgiữa ngân hàng và khách hàng, quyết định cho vay hay không hoàn toàn do ngân hàngquyết định, ngoài ra ngân hàng có thể sử dụng triệt để trình độ kiến thức kinh nghiệmcủa cán bộ tín dụng Hơn nữa, khi khách hàng quan hệ trực tiếp với ngân hàng, cónhiều khả năng họ sẽ sử dụng các dịch vụ khác của ngân hàng như mở tài khoản tiềngửi tiết kiệm, dịch vụ chuyển tiền và như vậy quyền lợi của cả hai phía ngân hàng vàkhách hàng đều được thỏa mãn trên cơ sở thỏa thuận trực tiếp của cả hai bên
Cho vay tiêu dùng gián tiếp.
Đây là hình thức ngân hàng không trực tiếp ký hợp đồng với người tiêu dùng, màtheo hình thức này ngân hàng sẽ ký kết hợp đồng với chính nhà cung cấp, thực ra làmua những khoản nợ, để trên cơ sở đó nhà cung cấp sẽ bán chịu hàng hoá cho ngườitiêu dùng Hợp đồng ký kết giữa ngân hàng và nhà cung cấp quy định rõ điều kiện bánchịu như: đối tượng khách hàng được bán chịu, loại hàng được bán chịu, số tiền đượcbán chịu v.v Thông qua những điều kiện đó mà nhà cung cấp sẽ thoả thuận vớikhách hàng của mình về việc bán chịu hàng hoá.Có thể hình dung qua các bước sau:
(1) Ngân hàng và nhà cung cấp ký hợp đồng mua bán nợ
(2) Nhà cung cấp và người tiêu dùng ký kết hợp đồng mua bán chịu hàng hoá.(3) Nhà cung cấp giao hàng hoá cho người tiêu dùng
(4) Nhà cung cấp bán bộ chứng từ bán chịu hàng hóa cho ngân hàng để đượcthanh toán
(5) Ngân hàng thanh toán cho nhà cung cấp
(6) Người tiêu dùng thanh toán khoản nợ cho ngân hàng
Trang 15Cho vay tiêu dùng gián tiếp thường được thực hiện thông qua các phương thứcsau:
Tài trợ truy đòi toàn bộ: theo phương thức này, khi bán hàng cho ngân hàng
các khoản nợ mà người tiêu dùng đã mua chịu, công ty bán lẻ cam kết thanh toán chongân hàng toàn bộ các khoản nợ nếu khi đến hạn, người tiêu dùng không thanh toáncho ngân hàng
Tài trợ truy đòi hạn chế: theo phương thức này, chịu trách nhiệm của Công ty
bán lẻ đối với các khoản nợ người tiêu dùng mua chịu, không thanh toán chỉ giới hạntrong một chừng mực nhất định, phụ thuộc vào các điều khoản đã được thỏa thuậngiữa ngân hàng với công ty bán lẻ
Tài trợ miễn truy đòi: theo phương thức này, sau khi bán các khoản nợ cho
ngân hàng, công ty bán lẻ không còn trách nhiệm trong việc chúng có được hoàn trảhay không Phương thức này chứa đựng rủi ro cao cho ngân hàng nên chi phí củakhoản vay thường được ngân hàng tính cao hơn so với các phương thức nói trên và cáckhoản nợ được mua cũng được kén chọn rất kỹ Ngoài ra, chỉ những công ty bán lẻ rấtđược ngân hàng tin cậy mới được áp dụng phương thức này
Tài trợ có mua lại: khi thực hiện cho vay tiêu dùng theo phương thức miễn truy
đòi hoặc truy đòi hạn chế, nếu rủi ro xảy ra, người tiêu dùng không trả được nợ thìngân hàng sẽ thanh lý tài sản để thu hồi nợ Trong trường hợp này, nếu có thỏa thuậntrước thì ngân hàng có thể bán trở lại cho công ty bán lẻ phần nợ mình chưa đượcthanh toán
Ưu điểm:
Theo hình thức này, ngân hàng sẽ có điều kiện tiếp xúc được với một lượngkhách hàng khá đông đảo, khắc phục được tâm lý e ngại của họ khi tìm đến với ngânhàng Điều đó, giúp ngân hàng tiết kiệm được chi phí trong việc cấp tín dụng vì ngânhàng chỉ phải ký hợp đồng với chính nhà cung cấp mà thôi Việc cấp tín dụng kiểu nàycũng giúp ngân hàng giảm thiểu rủi ro Bởi, khi mà ngân hàng có quan hệ tốt với nhàcung cấp hoặc hợp đồng ký với nhà cung cấp có những điều kiện ràng buộc (được truyđòi), thì khi người tiêu dùng không thanh toán cho ngân hàng, ngân hàng có quyềntruy đòi nhà cung cấp về khoản nợ trên (có được nguồn thu nợ thứ hai cho ngân hàng).Mặt khác, khi đã có hợp đồng ràng buộc thì nhà cung cấp cũng phải cân nhắc trướcquyết định có bán chịu hàng hoá cho người tiêu dùng hay không (gián tiếp giúp ngânhàng thẩm định khách hàng)
Nhược điểm:
Bên cạnh những ưu điểm trên thì hình thức này cũng bộc lộ những nhược điểmsau:
Trang 16Đó là, ngân hàng không trực tiếp tiếp xúc với khách hàng đã được nhà cung cấpbán chịu hàng hoá, do đó mà không thể nắm được tình hình thực tế của khách hàng màngân hàng tài trợ, ngân hàng cũng phải đối mặt với tình trạng nhà cung cấp chỉ vìmuốn bán được hàng mà đã không xem xét kỹ lưỡng về khách hàng khi thẩm định.Mặt khác, ngân hàng còn phải chịu rủi ro khi người tiêu dùng không thanh toán khoảnvay cho ngân hàng, trong khi hợp đồng giữa ngân hàng và nhà cung cấp lại không cóđiều khoản được truy đòi mặc dù đây chỉ là hãn hữu Bởi, chỉ những nhà cung cấp thật
sự tin cậy thì ngân hàng mới ký hợp đồng kiểu này, và những khoản nợ được mua theođiều kiện này cũng được lựa chọn rất kỹ càng
Sự khác nhau giữa cho vay tiêu dùng trực tiếp và cho vay tiêu dùng gián tiếp:
-Nếu ngân hàng quan hệ tốt với các công ti bán lẻ thì cho vay tiêu dùng giántiếp sẽ mang lại độ an toàn cao hơn cho ngân hàng Rủi ro trong hoạt động cho vaynày sẽ được san sẻ giữa ngân hàng với các công ti bán lẻ.Còn trong cho vay tiêu dùngtrực tiếp mọi rủi ro sẽ do ngân hàng tự gánh chịu
-Tuy nhiên trong hoạt động cho vay tiêu dùng trực tiếp, các quyết định củangân hàng trong việc có cho vay hay không đạt độ chuẩn mực cao hơn nhiều lần so vớinhững quyết định của Nhà cung cấp; bởi, những nhân viên tín dụng họ được đào tạovững về chuyên môn nghiệp vụ, trong khi đối với Nhà cung cấp thì những nhân viêncủa họ lại mạnh về khía cạnh bán hàng mà không mạnh về khía cạnh thẩm định tíndụng Mặt khác, trong một số tình huống nhân viên bán lẻ thường chỉ chú trọng vàoviệc bán cho được nhiều hàng hóa nên đôi khi những quyết định của họ là vội vàngdẫn đến nhiều khoản tín dụng được cấp không chính đáng Bên cạnh đó, việc tiếp xúctrực tiếp với khách hàng cũng tạo điều kiện cho ngân hàng có thể xử lý linh hoạt đượcngay những tình huống phức tạp như: một vài điều kiện của khách hàng không đúngtheo mẫu quy định trước, khách hàng bổ sung yêu cầu (về hạn mức vay, thời hạnvay ), khách hàng yêu cầu về phương thức hoàn trả Trong khi, với phương thứcgián tiếp thì Nhà cung cấp không thể đáp ứng được điều này, tức là với họ mọi quyđịnh trong hợp đồng phải nhất nhất tuân theo
1.3 Vai trò của cho vay tiêu dùng đối với sự phát triển kinh tế - xã hội:
1.3.1 Đối với người NHTM:
Hoạt động chủ yếu của các NHTM là nhận tiền gửi (huy động vốn) và sử dụngkhoản tiền (sử dụng vốn) đó trong kinh doanh nhằm thu lợi nhuận, ngân hàng nhậntiền gửi từ nhiều nguồn khác nhau (cá nhân, tổ chức vv), theo nhiều hình thức khácnhau Việc sử dụng cũng theo nhiều hình thức khác nhau: tín dụng, kinh doanh ngoại
tệ, thanh toán, mua trái phiếu vv Tuy vậy, trên tổng thể thì hoạt động tín dụng củaNHTM là hoạt động chiếm thị phần cao nhất, mang lại cho ngân hàng nhiều lợi nhuận
Trang 17nhất Cùng với quá trình phát triển kinh tế thì lĩnh vực tài trợ của NHTM cũng cónhiều thay đổi, nhằm giúp cho các ngân hàng có thể thích ứng được trước những biếnđộng của thực tế.
Lúc đầu, các NHTM cũng không mấy quan tâm đến thị trường cho vay tiêudùng, bởi đây là thị trường mà các khoản tài trợ có quy mô nhỏ, chi phí tài trợ là lớn,rủi ro cũng cao Tuy nhiên, khi mà cuộc cạnh tranh để giành thị phần thị trường trở lênkhốc liệt, các NHTM không chỉ phải cạnh tranh với chính các ngân hàng trong hệthống, mà còn phải cạnh tranh với các tổ chức tài chính phi ngân hàng đã khiến thịphần trên một số thị trường của các ngân hàng bị thu hẹp, trong khi thị trường cho vaytiêu dùng đang có xu thế lên cao Do vậy, các ngân hàng đã phải hướng mục tiêu củamình vào lĩnh vực này, và cho vay tiêu dùng đã dần trở thành một loại hình sản phẩmphổ biến trong các NHTM, một loại sản phẩm mang lại thu nhập tương đối cao trongtổng doanh thu của các ngân hàng
Mặc dù các khoản tài trợ theo hình thức cho vay tiêu dùng là nhỏ, nhưng với sốlượng các khoản này lại rất lớn (đối tượng có nhu cầu vay tiêu dùng bao gồm tất cảcác thành phần trong xã hội), vì thế tổng quy mô tài trợ là rất lớn Bên cạnh đó, lãisuất của các khoản tài trợ theo hình thức này là rất cao (bởi người nhận tài trợ họ chỉquan tâm đến thoả mãn nhu cầu trước mắt mà họ được hưởng, họ không mấy quan tâmđến lãi suất phải trả) nên đã mang lại cho ngân hàng một tỷ suất lợi nhuận tương đốilớn trong tổng lợi nhuận của ngân hàng Đặc biệt, với ngân hàng có quy mô nhỏ, uy tínchưa cao vv, khó có thể cạnh tranh được với các ngân hàng có quy mô lớn, uy tín caotrong việc giành những khách hàng lớn (thường là các tổ chức mà nhu cầu vay vốn đápứng cho hoạt động sản xuất kinh doanh), hoặc có những khi nhờ những mối quan hệtốt có thể giành được khách hàng, nhưng ngân hàng lại không thể đáp ứng được quy
mô khoản vay của họ thì thị trường cho vay tiêu dùng là vô cùng quan trọng đối vớicác ngân hàng này
1.3.2 Đối với người tiêu dùng:
Cho vay tiêu dùng có tác dụng đặc biệt với những người có thu nhập thấp vàtrung bình Thông qua nghiệp vụ cho vay tiêu dùng, họ sẽ được hưởng các dịch vụ,tiện ích trước khi có đủ khả năng về tài chính như mua sắm các hàng hoá thiết yếu cógiá trị cao như nhà cửa, xe hơi… hay trong trường hợp chi tiêu cấp bách như nhu cầu
Trang 18nhu cầu của mình do đó họ cần thời gian tích luỹ tiền, người tiêu dùng sẽ khéo léophối hợp giữa thoả mãn ở hiện tại với khẳ năng thanh toán ở hiện tại và tương lai Cóthể nói người tiêu dùng là người được hưởng trực tiếp và nhiều nhất lợi ích mà hìnhthức cho vay này mang lại trong điều kiện họ không lạm dụng chi tiêu vào những việckhông chính đáng vì khi đó sẽ làm giảm khả năng tiết kiệm và chi tiêu trong tương lai.
1.3.3 Đối với nền kinh tế:
Sự sung túc của một nền kinh tế được thể hiện rõ qua mức cầu về hàng hoá tiêudùng của dân cư Mức cầu đó chính là số lượng và mức độ của các nhu cầu có khảnăng thanh toán Việc phát triển hoạt động cho vay tiêu dùng của các NHTM sẽ làmtăng đáng kể những nhu cầu có khả năng thanh toán đó hay nói cách khác đây chính làmột giải pháp hữu hiệu để kích cầu và qua đó làm cho nền kinh tế trở nên năng độnghơn
Khi sức mua của người tiêu dùng tăng lên thị trường hàng hoá tiêu dùng cũngtheo đó mà trở nên sôi động hơn, góp phần quan trọng trong việc nâng cao khả năngcạnh tranh của hàng hoá trong nước, thúc đẩy nền kinh tế phát triển Bên cạnh đó, Nhànước cũng sẽ đạt được các mục tiêu kinh tế – xã hội khác như giải quyết công ăn việclàm cho người lao động, tăng thu nhập, giảm bớt các tệ nạn xã hội, cải thiện và nângcao chất lượng cuộc sống cho người dân
1.4 Nhân tố ảnh hưởng đến cho vay tiêu dùng của ngân hàng:
1.4.1 Nhân tố chủ quan:
Các yếu tố nội lực của ngân hàng.
- Đó là quy mô vốn và khả n ă ng phát triển của ngân hàng : đối tượng kinh doanhcủa ngân hàng là tiền tệ nên quy mô vốn và tình hình tài chính của một ngân hàngđóng vai trò quan trọng Quy mô vốn càng lớn, các chỉ tiêu tài chính trên các báo cáocàng lành mạnh thì càng tạo tâm lý yên tâm cho khách hàng Hơn nữa, việc phát triểncác sản phẩm dịch vụ cho vay tiêu dùng mới, ứng dụng công nghệ vào hoạt động chovay tiêu dùng… luôn gắn liền với việc đầu tư mua sắm thiết bị mới, phần mềm mới…Giá trị các khoản đầu tư này thường khá lớn nên với các ngân hàng có quy mô nhỏ thìkhông thể thực hiện nổi Vậy, với quy mô vốn lớn ngân hàng không những tạo chomình thế chủ động trước mọi hoạt động mà còn tạo cho mình khả năng đứng vữngtrước các đối thủ cạnh tranh
- Hệ thống thông tin, mạng l ư ới phân phối : hệ thống thông tin gồm hệ thống báocáo nội bộ, hệ thống thu thập thông tin bên ngoài, hệ thống phân tích thông tin
- Với hệ thống báo cáo nội bộ: ngân hàng sẽ tạo được khả năng tích luỹ và tìmkiếm các thông tin cần thiết trong quá trình hoạt động của mình như: chất lượng phục
vụ khách hàng, chiến lược của ban giám đốc, mong muốn của các cổ đông…
Trang 19-Hệ thống thu thập thông tin bên ngoài: đòi hỏi tích luỹ các số liệu khác nhau
về tình hình tất cả các thị trường, đặc biệt là thị trường mà ngân hàng đang hoạt động,
về tất cả các lực lượng tham gia thị trường, về đối thủ cạnh tranh, về cơ chế điều hànhquản lý của Nhà nước, về biểu lãi suất của NHNN, chính sách hối đoái, về nhu cầu thịhiếu của người dân Hệ thống thông tin cung cấp tốt sẽ là cơ sở để ngân hàng lựa chọnthị trường mục tiêu trong hoạt động cho vay tiêu dùng
- Bộ phận marketing ngân hàng: với các thông tin thu thập được, bộ phận này
sẽ tổng hợp, phân tích, đưa ra kết luận về vấn đề nghiên cứu, các hướng giải quyếtnhằm đạt được mục tiêu: thu hút ngày càng nhiều khách hàng, chiếm lĩnh được thịphần cao trên thị trường, đạt được lợi nhuận cao, tăng khả năng cạnh tranh trên thị
trường, hoàn thành tốt kế hoạch của ban giám đốc, mục tiêu hội đồng cổ đông đề ra…
- Trình độ đội ngũ cán bộ: trước hết, với cán bộ quản lý thì đòi hỏi phải là
người có chuyên môn giỏi, có khả năng phân tích, phán đoán, là người chịu tráchnhiệm đầu tiên về khả năng cạnh tranh của ngân hàng Bên cạnh đó, do đặc thù riêngcủa việc mở rộng hoạt động cho vay tiêu dùng lại phụ thuộc lớn vào trình độ của cán
bộ tín dụng Cán bộ tín dụng trực tiếp tiếp xúc với khách hàng qua quá trình giao dịch,
đề xuất các ý tưởng cải tiến sản phẩm hoặc cung cấp dịch vụ Chính vì thế, ban lãnhđạo cần có chính sách khơi dậy năng lực lao động, sáng tạo cho đội ngũ cán bộ tíndụng, đặc biệt phát huy hiệu quả của chính sách khen thưởng, động viên thỏa đáng đốivới nhân viên có thái độ phục vụ tốt và thu hút được nhiều khách hàng cho ngân hàng
Các đơn vị hỗ trợ cho hoạt động của ngân hàng:
Các đơn vị hỗ trợ cho hoạt động của ngân hàng là các đơn vị có quan hệ vớingân hàng trong hoạt động kinh doanh như: các tổ chức cung ứng dịch vụ Marketing,các trung gian tài chính tín dụng, các phương tiện thông tin đại chúng, các cơ quanNhà nước
Với tình hình hiện nay, nhiều ngân hàng còn ít kinh nghiệm trong hoạt độngMarketing, do đó cần sử dụng dịch vụ này ở các tổ chức chuyên nghiệp Với các trunggian tài chính tín dụng thường thì ngân hàng quan hệ với các tổ chức này qua ba dịchvụ: bảo hiểm, cung ứng nguồn vốn tín dụng và các nghiệp vụ giấy tờ có giá Chẳnghạn quan hệ với doanh nghiệp cung cấp dịch vụ bảo hiểm cho tài sản đảm bảo là xe ô
tô hình thành từ vốn vay; hay việc cung ứng lẫn nhau giữa các tổ chức tài chính - tíndụng, các nguồn vốn tín dụng được thực hiện tương đối rộng rãi Ngân hàng cần tìmkiếm các khả năng này vì mua các nguồn vốn tín dụng ở các NHTM thường rẻ hơn ởNHTW
Ngoài các đơn vị trên thì hoạt động của ngân hàng còn được hỗ trợ bởi các đơn
vị như: đơn vị cung cấp phương tiện kỹ thuật hay các đối tác giúp ngân hàng trong
Trang 20việc đào tạo cán bộ, nhân viên…Có được các quan hệ tốt với các đơn vị này sẽ nângcao hiệu quả hoạt động ngân hàng.
Khách hàng của ngân hàng:
Công tác khách hàng đóng vai trò quan trọng trong hoạt động kinh doanh ngânhàng Bởi khách hàng vừa tham gia trực tiếp vào quá trình cung ứng sản phẩm dịch vụngân hàng, vừa trực tiếp sử dụng, hưởng thụ sản phẩm Vì vậy, nhu cầu, mong muốn
và cách thức sử dụng sản phẩm dịch vụ của khách hàng sẽ là yếu tố quyết định cả về
số lượng, kết cấu, chất lượng sản phẩm dịch vụ và kết quả hoạt động kinh doanh củangân hàng Nhiệm vụ quan trọng của marketing ngân hàng là phải nghiên cứu phântích tìm hiểu nhu cầu mong muốn của khách hàng để xác định rõ từng đối tượng họđang tìm kiếm những gì từ phía ngân hàng Chú ý tới những khách hàng tiềm năngđánh giá những ưu việt về dịch vụ của ngân hàng mình so với ngân hàng cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh.
Mức độ cạnh tranh cao vốn là đặc trưng trong hoạt động ngân hàng Ngày nay
nó không chỉ là sự phát triển nhanh của bản thân các ngân hàng mà còn là sự phát triểnmạnh mẽ của các dịch vụ phi ngân hàng Cho nên, để hoạt động thắng lợi thì ngânhàng không chỉ phân tích thận trọng thị trường và khách hàng mà cần phải nghiên cứucác đối thủ cạnh tranh chủ yếu của mình Hoạt động này là để xác định xem cần tấncông đối thủ nào, hoặc cần bảo vệ mình khỏi đối thủ nào (ở đâu? bao giờ? tiến hànhnhư thế nào?), các chiến thuật quan trọng trong chiến lược cạnh tranh Việc phân tíchđối thủ cạnh tranh nhằm: xây dựng được chiến lược trung lập hóa tới mức tối đa có thểcác mặt mạnh của đối thủ cạnh tranh, tập trung sức lực vào các dịch vụ mà ngân hàng
có vị trí tương đối vững chắc Hơn hết là hiểu được tại sao khách hàng chọn ngân hàngmình mà không chọn ngân hàng cạnh tranh
Đặc biệt, với hoạt động trong lĩnh vực cho vay tiêu dùng, ngoài việc luôn chú ý
tới những “đòn” tấn công của đối thủ cạnh tranh, ngân hàng còn phải quan tâm tới
những khách hàng có mức thu nhập cao ở khu vực mà mình hoạt động nhằm đưa racác dịch phù hợp và ưu việt hơn các đối thủ cạnh tranh
1.4.2 Nhân tố khách quan:
Môi trường dân số.
Những xu thế thay đổi về nhân khẩu học được nghiên cứu bao gồm tổng dân số,
tỷ lệ tăng dân số, những thay đổi về cấu trúc dân số, xu thế di chuyển dân cư lànguồn số liệu quan trọng Từ những số liệu đó, ngân hàng xác định được thị trườngtiềm năng của hoạt động cho vay tiêu dùng và năng lực của ngân hàng mình so với cácđối thủ cạnh tranh để chiếm lĩnh từng phân đoạn thị trường
Môi trường địa lý.
Trang 21Các vùng địa lý khác nhau có những đặc điểm khác nhau về phong tục tập quán,cách thức giao tiếp, nhu cầu về hàng hoá dịch vụ nói chung và sản phẩm dịch vụ tàichính ngân hàng nói riêng Chính các điều kiện đó đã hình thành các tụ điểm dân cư,trung tâm thương mại, du lịch, trung tâm sản xuất và ảnh hưởng đến việc đặt phònggiao dịch hay chi nhánh ngân hàng Việc ngân hàng mở rộng mạng lưới ở những vùngdân cư có thu nhập tốt là điều kiện thuận lợi cho hoạt động kinh doanh nói chung vàcho vay tiêu dùng nói riêng.
Môi trường kinh tế.
Các biến số kinh tế như: tốc độ tăng trưởng và phát triển kinh tế, sự ổn định vềkinh tế, chính sách đầu tư, tiết kiệm của Chính phủ, thu nhập bình quân đầu người, tỷ
lệ xuất nhập khẩu, tỷ giá hối đoái, tỷ lệ lạm phát, lãi suất cũng có tác động mạnh mẽđến hoạt động kinh doanh của ngân hàng
Trước hết, môi trường kinh tế có tác động lớn đến nhu cầu và cách thức sửdụng dịch vụ ngân hàng của khách hàng Do đó, nó chi phối đến hoạt động của ngânhàng Nền kinh tế trong giai đoạn suy thoái, thu nhập giảm, thất nghiệp tăng, cá nhân
có xu hướng giảm chi phí tiêu dùng, gia tăng tiết kiệm để phòng bị khi mà sự bất chắc
về kinh tế xảy ra, nhu cầu vay tiêu dùng trong giai đoạn này hạn chế Ngược lại khinền kinh tế tăng trưởng sẽ thúc đẩy người dân tiêu dùng hạn chế tiết kiệm vì họ kỳvọng thu nhập tương lai có thể đáp ứng nhu cầu chi tiêu hiện tại của họ, do đó gia tăngcác hoạt động cho vay tiêu dùng của ngân hàng
Lãi suất sẽ quyết định mức cầu trong hoạt động cho vay Các NHTM thườngđưa ra mức lãi suất hấp dẫn để thu hút khách vay tiêu dùng Tất nhiên phải trên cơ sởmức lãi suất cơ bản của NHNN nhằm kiểm soát thị trường
Lạm phát cao gây khó khăn cho hoạt động ngân hàng vì khó kiểm soát mức giá
cả và lượng tiền Doanh nghiệp và cá nhân sẽ dè dặt gửi tiền vào ngân hàng, lãi suấthuy động sẽ tăng Các doanh nghiệp hạn chế đầu tư vào các dự án sản xuất kinh doanh
do bởi độ rủi ro trong thời điểm này là khá cao Vì thế, để khuyến khích việc vay tiền,ngân hàng phải hạ lãi suất cho vay
Môi trường công nghệ.
Theo xu hướng phát triển của thời đại thông tin số, các ngân hàng ngày càngchú trọng ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới quy trình nghiệp vụ và cách thứcphân phối Đặc biệt là phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, có thể kể đến các sảnphẩm cho vay tiêu dùng ứng dụng nhiều kỹ thuật sẽ là xu hướng phát triển trong thờigian tới như:
Thẻ tín dụng quốc tế: VISACARD, MASTER CARD, JCB, AMERICANEXPRESS
Trang 22Thẻ nội địa: Thẻ thanh toán, thẻ tín dụng.
Có thể nói môi trường công nghệ tác động lớn đến hoạt động kinh doanh nóichung và cho vay tiêu dùng nói riêng của NHTM
Môi trường chính trị - pháp luật.
Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt chẽ củapháp luật, các quy định của NHNN Trước hết, có thể kể đến các chính sách của Nhànước có ảnh hưởng mạnh mẽ đến lĩnh vực cho vay tiêu dùng, đặc biệt là các chínhsách và các chương trình liên quan đến kinh tế Chẳng hạn, khi Nhà nước tăng mứcđầu tư cho nền kinh tế cũng như tăng thu hút đầu tư nước ngoài bằng các chính sáchkhuyến khích đầu tư (sự đơn giản về thủ tục giấy tờ, ưu đãi thuế…) tất cả những điềunày sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển chung của toàn bộ nền kinh tế, xã hội, GDP sẽtăng, tỷ lệ thất nghiệp giảm, mức thu nhập cho người lao động tăng, qua đó làm tăngnhu cầu tiêu dùng Hay có thể kể đến tác động của các quy định của NHNN, chẳng hạncác quy định về lãi suất chiết khấu Đó là mức lãi suất NHNN cho vay với các NHTM.Việc giảm mức lãi suất này sẽ tạo điều kiện tăng cho vay của các NHTM Ngược lạiviệc nâng mức lãi suất chiết khấu sẽ diễn ra theo một quá trình ngược lại: giảm khốilượng cho vay của các NHTM Hoặc quy định về mức dự trữ bắt buộc, chẳng hạn việcthay đổi mức dự trữ bắt buộc sẽ làm thay đổi tài sản có của các NHTM và làm tănghoặc giảm doanh số cho vay tiêu dùng Hay như chính sách của NHNN trong việc cấptín dụng cho vay đối với các NHTM dưới 15% vốn tự có sẽ làm hạn chế khả năng chovay của ngân hàng song mặt khác tạo sự an toàn cho ngân hàng cũng như khách hàngtrước những khó khăn về thanh khoản trong tương lai
Môi trường văn hóa - xã hội.
Hành vi của khách hàng và cả đối thủ cạnh tranh của ngân hàng bị chi phối khánhiều bởi các yếu tố văn hóa Hành vi tiêu dùng cũng bị chi phối bởi các yếu tố vănhóa, do đó nó cũng ảnh hưởng đến nhu cầu về các sản phẩm cho vay tiêu dùng củangân hàng Chính vì thế, trình độ văn hóa là một trong những yếu tố được các nhàkinh doanh ngân hàng nghiên cứu kĩ lưỡng trong chiến lược kinh doanh và áp dụngcác biện pháp marketing hiện nay Môi trường văn hóa - xã hội được hình thành từnhững tổ chức và những nguồn lực khác nhau, có ảnh hưởng cơ bản đến giá trị của xãhội như cách nhận thức, trình độ dân trí, trình độ văn hóa, lối sống, thói quen sử dụng
và cất trữ tiền tệ, sự hiểu biết của dân chúng về các sản phẩm dịch vụ ngân hàng.Nếumột ngân hàng có áp dụng dịch vụ cho vay tiêu dùng trong khu vực có trình độ dân tríthấp thói quen và nhu cầu mua sắm đồ dùng, kiến thức về ngân hàng hầu như không cóthì chỉ là sự phí phạm vô ích.Ta biết rằng, người dân Việt nam có thói quen mua hàngtại các chợ nhỏ, gần đường do vậy nhu cầu về các dịch vụ cho vay tiêu dùng qua thẻ
Trang 23rất chậm phát triển Với các nước phát triển, người dân có thói quen mua hàng từ cáctrung tâm mua sắm, các siêu thị nên nhu cầu về thanh toán thẻ tín dụng tiêu dùng pháttriển mạnh hơn
Trang 24Chương II: Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank – Đà Nẵng.
2.1 Khái quát về chi nhánh ngân hàng VPBank – Đà Nẵng:
2.1.1 Lịch sử hình thành của ngân hàng VPBank và chi nhánh ngân
hàng tại Đà Nẵng:
Hà Nội là một Thủ đô ngàn năm văn hiến Là một Trung tâm đầu não về kinh tế
- Chính trị - Xã hội của khu vực miền Bắc và của cả nước Hà Nội có một vị trí địa lýthuận lợi với gần 3 triệu dân; là đầu mối giao lưu kinh tế của các tỉnh thuộc khu vựcphía Bắc; là một tam giác tăng trưởng kinh tế, có nhiều khu công nghiệp và khu chếxuất, cơ sở hạ tầng phát triển Ngoài ra, Hà Nội còn là một Trung tâm du lịch nổitiếng
Xuất phát từ những điều kiện thuận lợi nói trên, các nhà đầu tư (cổ đông) đãcùng nhau hùn vốn và được sự cho phép thành lập của Thống đốc Ngân hàng Nhànước Việt Nam theo Giấy phép thành lập số 0042, cấp ngày 12/08/1993 và Giấy phépđăng ký kinh doanh số 055889, do Trọng tài kinh tế Hà Nội cấp ngày 06/09/1993 Đãcho ra đời Tổ chức tín dụng Cổ Phần Các doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh ViệtNam, viết tắt là VP Bank, có trụ sở chính thức hoạt động vào ngày 10/09/1993 Ngânhàng TMCP Các Doanh Nghiệp Ngoài Quốc Doanh Việt Nam ra đời và hoạt độngtheo luật doanh nghiệp và luật các tổ chức tín dụng
Nhằm đẩy mạnh sự phát triển của ngân hàng VPBank ra phạm vi cả nước, ngânhàng đã quyết định mở thêm các chi nhánh của mình tại các thành phố lớn của 3 miềnBắc, Trung và Nam Và tại miền trung là chi nhánh chính tại thành phố Đà Nẵng đượcthành lập vào tháng 7 năm 1995
2.1.2 Chức năng nhiệm vụ của chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng:
Là một chi nhánh trực thuộc ngân hàng VPBank trung ương tại thủ đô Hà Nội.Chi nhánh ngân hàng VPBank Đà Nẵng cũng như các ngân hàng chuyên doanh khác
có chức năng là kinh doanh và quản lý trực tiếp đồng Việt Nam và ngoại tệ Với việcthực hiện chức năng này, chi nhánh ngân hàng VPBank Đà Nẵng có nhiệm vụ:
- Ban hành và thực hiện các chế độ thể lệ nghiệp vụ thuộc phạm vi hoạt độngcủa Chi nhánh
- Thực hiện huy động và cho vay, đầu tư tín dụng đối với các tổ chức kinh tế,dân cư trên địa bàn hoạt động
- Thiết lập và mở rộng quan hệ đại lý, cung cấp các dịch vụ cho các tổ chức tíndụng, ngân hàng trong và ngoài nước
Trang 25- Vay vốn và chiết khấu tại ngân hàng nhà nước.
- Liên doanh với các tổ chức tín dụng, tiền tệ, các tổ chức trong và ngoài nướckhi có sự cho phép của VPBank trung ương
- Thực hiện mở tài khoản cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước
- Kinh doanh ngoại tệ, làm các dịch vụ thanh toán và các dịch vụ ngân hàng đốingoại
- Kiểm tra quá trình sử dụng vốn của ngân hàng
2.1.3 Cơ cấu hoạt động của chi nhánh ngân hàng VPBank-Đà Nẵng:
Theo qui chế tổ chức và hoạt động thì Chi Nhánh VP Bank Đà Nẵng là đơn vịtrực thuộc VP Bank trung ương, hạch toán kinh tế phụ thuộc có con dấu riêng theo quyđịnh của Ngân hàng Nhà nước
Chi Nhánh VP Bank Đà Nẵng chịu sự chỉ đạo, quản lý trực tiếp của Tổng Giámđốc, các bộ phận nghiệp vụ của Chi nhánh chịu sự chỉ đạo theo hàng dọc và hướng dẫnnghiệp vụ của các phòng ban tại Hội sở Chi nhánh hoạt động dưới quyền điều hànhcủa Giám đốc Chi nhánh Với bước đầu còn bỡ ngỡ đến nay Chi nhánh đã đi vào hoạtđộng ổn định phát huy được vai trò của NHTM Cổ Phần trong nền kinh tế thị trường,
cơ cấu tổ chức của Chi nhánh dần được sắp xếp một cách hợp lý, tạo điều kiện cho Chinhánh kinh doanh có hiệu quả hơn, thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 26SƠ ĐỒ CƠ CẤU TỔ CHỨC BỘ MÁY QUẢN LÝ
- Ban Giám đốc gồm: 1 Giám đốc và 1Phó Giám đốc Trong đó:
+ Giám đốc: là người đứng dầu Chi nhánh điều hành mọi hoạt động của Chi
nhánh, chịu trách nhiệm trước Tổng Giám đốc và trước pháp luật về hoạt động của Chinhánh
+ Phó Giám đốc: phụ trách công tác kế toán - giao dịch - ngân quỹ, tín dụng.
Phó Giám đốc được Giám đốc ủy quyền thực hiện một số nhiệm vụ và quyền hạn nhấtđịnh
+ Phòng Kế toán – tin học : Phòng này có nhiệm vụ tiếp xúc với khách hàng,
thực hiện các nghiệp vụ liên quan đến tiền gửi, tiền gửi tài khoản, chi trả lệnh chuyểntiền, giải ngân, thu vốn Quản lý tài khoản tiền gửi của Chi nhánh tại Ngân hàng Nhànước địa phương và tổ chức tín dụng, thực hiện nghiệp vụ thanh toán liên hàng, quản
lý và hạch toán thu nhập chi phí Quản lý hệ thống dữ liệu tín học của chi nhánh
+ Phòng tín dụng: Phòng này có nhiệm vụ thực hiện các nghiệp vụ của Ban Tín
dụng tiêu dùng và kinh doanh, ban tiếp thị và quan hệ khách hàng, ban đánh giá tài sảnthế chấp, cầm cố, ban pháp chế và thu hồi nợ, ban thanh toán quốc tế và kiều hối
+ Phòng Giao dịch và Kho quỹ: Thực hiện nhiệm vụ thu chi, kiểm toán tiền mặt
theo quy định, bảo quản tiền và thực hiện các giao dịch về tiền gửi
Giám đốc chi nhánh
Phó giám đốc
1
Phó giám đốc 3
Phó giám đốc 2
Quan hệ chức năngQuan hệ tương tác, hỗ trợ
Phòg tín dụng
Phòng
Kế toán
–tin học
Phòng Giao dịch ngân quỹ
Phòng tổchức, hành chính
Phòg kiểm soát
Phòg giao dịch Đống Đa
Phòng giao dịch Lê Duẩn
Phòng giao dịch Điện Biên Phủ
Phòng giao dịch NguyễnTri Phương
Phòng giao dịch Núi Thành
Trang 27+ Phòng Tổ chức hành chính: Có nhiệm cụ phối hợp với Phòng Tổ chức - Hành
chính Hội sở để thực hiện công tác tổ chức quản lý và phát triển nguồn nhân lực, côngtác văn thư, hành chính, lễ tân, quản lý và mua sắm tài sản
+ 5 Phòng giao dịch : Có chức năng huy động, cho vay, bảo lãnh thanh toán,
chịu sự quản lý trực tiếp của Ban Giám đốc và có quan hệ chức năng với các phòngban khác
2.1.4 Tình hình hoạt động kinh doanh của chi nhánh Ngân hàng
VPBank – Đà Nẵng trong những năm gần đây:
2.1.4.1 Hoạt động huy động vốn:
Để đáp ứng nhu cầu của hoạt động cho vay đòi hỏi Ngân hàng phải có nguồn vốntương xứng có thể đủ dùng để cho vay Vốn của Ngân hàng có nhiều nguồn gốc như:vốn tự huy động, vốn hội sở, hoặc vốn vay từ các tổ chức tín dụng khác,… trong đóvốn tự huy động đóng vai trò quan trọng nhất, bởi vì bất kỳ tổ chức kinh tế nào cũngđiều mong muốn từ một số tiền tương đối ban đầu có thể tạo ra được số tiền lớn hơn Điều này được thể hiện rõ ở hoạt động tự huy động vốn với lãi huy động thấp hơn
so với lãi có được từ hoạt động cho vay Tuy nhiên nói như vậy không có nghĩa là taphủ nhận vai trò của các nguồn vốn có nguồn gốc khác, vốn ngân hàng là tập hợp củatất cả các nguồn và vốn của Ngân hàng Và tổng nguồn vốn huy động của ngân hàngVPBank chi nhánh tại Đà Nẵng cũng được thể hiện như sau:
Bảng 2.1 Tổng nguồn vốn của chi nhánh trong 2 năm 2008-2009
Đơn vị: Triệu đồng
Chỉ Tiêu Năm 2008 Năm 2009 Chênh lệch
Số tiền Tỉ
trọng (%)
Số tiền Tỉ
trọng (%)
Số tiền Tốc độ
tăng/giảm (%)
( Nguồn: báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh năm 2008- 2009)
Qua bảng số liệu trên, ta thấy tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng trongnăm 2009 đã giảm so với năm 2008 Tổng nguồn vốn huy động năm 2009 là
Trang 281.094.494 triệu đồng, giảm 178.741 triệu đồng so với năm 2008, với tốc độ giảm là14,01% Trong đó, nguồn tiền gửi chiếm tỉ trọng cao trong tổng nguồn vốn huy độngđược của ngân hàng Năm 2008, nguồn tiền gửi này đạt 860.294 triệu đồng Nhưngqua 2009, nguồn tiền này giảm xuống còn 742.180 triệu đồng, giảm 118.114 triệuđồng, với tốc độ giảm 13,73%
Kết quả trên là do cuối năm 2007, đầu năm 2008, nền kinh tế lạm phát, tìnhhình khó khăn, thị trường ngân hàng trải qua những biến động chưa từng có về lãi suất,
tỷ giá Sự thay đổi của các công cụ điều hành của NHNN với chính sách tiền tệ đi từthắt chặt vào những tháng đầu năm đến nới lỏng vào những tháng cuối năm Bên cạnh
đó là những ảnh hưởng tiêu cực từ cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ toàn cầu, làm tỷgiá và cung cầu ngoại tệ biến động thường xuyên, các doanh nghiệp lâm vào tình trạngkhó khăn Trước những khó khăn đó, ban lãnh đạo ngân hàng VPBank đã chọnphương án phát triển thận trọng, thu hẹp tín dụng, tình trạng đó còn ảnh hưởng đếnnăm 2009 Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam từ cuối tháng 3/2009 đã có những dấuhiệu phục hồi, nhưng nhận định tình hình nền kinh tế sẽ còn khó khăn, biến động trongnăm 2009, VPBank xác định nhiệm vụ trọng tâm trong năm nay vẫn là củng cố chấtlượng tín dụng, kiểm soát chặt các khoản vay mới, tích cực xử lý nợ xấu, phát triển cáchoạt động dịch vụ để tăng các khoản thu ngoài lãi, trong đó ưu tiên phát triển các hoạtđộng dịch vụ
Nhìn chung, trong cơ cấu nguồn vốn huy động tại ngân hàng, nguồn tiền gởicủa dân cư chiếm tỉ trọng cao nhất Nguyên nhân là do thu nhập của người dân ngàymột nâng cao, do đó có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi chưa sử dụng Với lại VPBankchi nhánh Đà Nẵng nằm ở vị trí trung tâm thành phố nơi tập trung đông dân, các đơn
vị kinh tế và ngân hàng đã tạo được niềm tin đối với khách hàng đến gởi tiền và ngânhàng sử dụng nhiều hình thức huy động tiết kiệm đáp ứng được nhu cầu gởi tiền củakhách hàng Năm 2008, nguồn huy động từ tiền gởi của dân cư là 616.931 triệu đồngthì đến năm 2009 là 588.751 triệu đồng, giảm 28.180 triệu đồng, tốc độ giảm 4,57% sovới năm 2008 Kết quả này đã cho thấy sự nỗ lực của chi nhánh trong tình hình khókhăn của nền kinh tế So với kết quả cùng kỳ của năm 2008/2007 thì đã có dấu hiệucủa sự tăng trưởng Có được kết quả này là do chi nhánh đã tổ chức, quảng bá rộng rãinhiều sản phẩm tiền gởi tiết kiệm hấp dẫn thu hút lượng khách hàng lớn
Tổng nguồn vốn huy động của VPBank trong năm 2009 tuy có tăng qua cácquý tuy nhiên vẫn giảm so với cùng kỳ năm 2008 Tháng 5 VPBank tiếp tục thực hiệnchương trình khuyến mại dành cho khách hàng gửi tiền mang tên: Gửi tiền lãi cao, thẻ
Trang 29cào trúng lớn Sau 1 tháng triển khai, so với cùng thời điểm của các chương trìnhkhuyến mại trước đây, chương trình lần này thu được kết quả khá tốt
2.1.4.2 Hoạt động cho vay:
Trong các hoạt động ngân hàng, cho vay là hoạt động mang lại nguồn thu chủyếu Chính vì thế, chiến lược phát triển tín dụng lành mạnh, an toàn và hiệu quả đượcVPBank đặc biệt quan tâm Trong những năm qua, VPBank đã thực hiện đúng những quyđịnh của NHNN, quy chế tín dụng chung của ngân hàng, từng bước lành mạnh hóa tìnhhình tín dụng của mình VPBank đã xây dựng quy chế riêng của mình về cho vay doanhnghiệp, cho vay cá nhân rất chặt chẽ, rõ ràng Và đạt được kết quả:
Bảng 2.2 Tình hình cho vay tại chi nhánh trong 2 năm 2008-2009
Tỉ trọng (%) Số tiền
Tốc độ tăng/giảm (%)
(Nguồn: Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh 2 năm 2008-2009)
Nhìn chung, dư nợ bình quân của chi nhánh tăng qua các năm Năm 2009, mức dư nợcủa NH lên tới 1.347.275 triệu đồng, tăng 200.056 triệu đồng so với năm 2008, tương ứng vớitốc độ tăng trưởng 29,84% Trong đó, dư nợ cho vay ngắn hạn vẫn luôn chiếm tỉ trọng cao vàtăng dần qua các năm Năm 2009 đạt 976.773 triệu đồng, tăng 158.127 triệu đồng so với năm
2008, đạt tốc độ tăng 19,32% Bên cạnh đó dư nợ cho vay trung dài hạn chiếm tỉ trọng nhỏhơn và tăng 12,76% so với năm 2008 Để đạt được kết quả trên ngân hàng luôn coi trọng việccải tiến thủ tục vay, gia hạn nợ cho những khách hàng gặp rủi ro trong kinh doanh, đảm bảocho hoạt động của khách hàng vẫn diễn ra thông suốt Năm 2009 là năm dè chừng các khoảncho vay của ngân hàng Ngân hàng đã không dễ dãi cho vay mà sẽ suy xét cẩn thận hơn.Chính điều này sẽ làm ngân hàng thêm vững, đầu tư sẽ không dàn trãi mà tập trung, do đó khảnăng lợi nhuận cũng khả quan, bên cạnh đó tránh những rủi ro không cần thiết
Trang 30Năm 2008, nợ xấu là 4.498 triệu đồng, tỉ lệ nợ xấu là 0,39% sang năm 2009, nợ xấugiảm xuống còn 1.347 triệu đồng, giảm 3.151 triệu đồng so với năm 2008, tương ứng với tốc
độ giảm là 70,05% Nợ xấu giảm làm cho tỷ lệ nợ xấu cũng giảm theo so với năm 2008 Từ0,39% giảm còn 0,1% Đây là một kết quả đáng mừng vì ngay từ đầu năm, chi nhánh đã xácđịnh nợ xấu là trọng tâm, là sự quyết định của hoạt động ngân hàng trong năm 2009, BanGiám đốc đã chỉ đạo và có nhiều chính sách kiên quyết về vấn đề tín dụng như phân tích nợxấu, kết hợp với các cơ quan như Tòa án, UBND các xã, quận để thu hồi nợ xấu Bên cạnh đócông tác giao khoán cho cán bộ tín dụng quyết toán kịp thời hàng tháng mà trọng tâm là nợxấu cũng đã phát huy kết quả
Nhìn chung, kết quả đạt được trong hoạt động cho vay của chi nhánh ngân hàngVPBank – Đà Nẵng là tương đối khả quan
2.1.4.3 Kết quả hoạt động kinh doanh:
Kết quả hoạt động kinh doanh luôn là mối quan tâm hàng đầu của bất kì tổ chứckinh tế nào Vì vậy, cần rút ra được những mặt tích cực và tiêu cực để có những biệnpháp khắc phục Đối với chi nhánh ngân hàng VPBank – Đà Nẵng thì tối đa hoá lợinhuận, tăng thu, giảm chi luôn là mục tiêu hàng đầu Và trong 2 năm qua, chi nhánh đãkhông ngừng nổ lực để đạt được mục tiêu Để có được cái nhìn tổng quát về hoạt độngkinh doanh của chi nhánh ta sẽ đi vào xem xét tình hình hoạt động kinh doanh của chinhánh trong 2 năm 2008, 2009
Bảng 2.3 Kết quả hoạt động kinh doanh của Chi nhánh qua 2 năm 2008-2009
Đơn vị tính: triệu đồng
Chỉ tiêu Năm 2008 Năm 2009 Chênh lệch
Trang 31Số tiền Số tiền Số tiền Tốc độ tăng/
2008-Qua bảng số liệu trên, ta thấy kết quả kinh doanh của chi nhánh trong hai năm
2008, 2009 tương đối tốt, thể hiện qua khoản chênh lệch thu–chi mà ngân hàng thuđuợc Cụ thể là chênh lệch năm 2009 là 16.763 triệu đồng, tăng 2.026 triệu đồng sovới năm 2008, tương ứng với tốc độ tăng là 13,75 % Nhờ vậy, chi nhánh không những
có điều kiện để mở rộng đầu tư kinh doanh mà đời sống của cán bộ nhân viên cũngngày càng được nâng cao, tạo tinh thần làm việc hăng hái, góp phần tăng cường hiệuquả kinh doanh Đạt được kết quả trên là do trong thời gian qua chi nhánh luôn bámsát định hướng của ban lãnh đạo thành phố, đã có nhiều cố gắng trong công tác quảntrị nhằm phát huy tối đa những thuận lợi, quyết tâm giữ vững truyền thống và nhữngthành tích đã đạt được trong những năm qua
Tốc độ tăng từ thu dịch vụ là rất cao nhất Điều này khẳng định một điều: Năm
2009 là năm toàn hệ thống VPBank có nhiều nỗ lực nhất trong việc triển khai việcphát triển các sản phẩm mới, dịch vụ giá trị gia tăng như: gửi và rút tiền nhiều nơi, huyđộng tiết kiệm bảo đảm giá trị theo vàng.Các dịch vụ trên đem lại sự tiện lợi cho kháchhàng, được cung cấp 24giờ/ngày và 7 ngày/tuần, giao dịch được thực hiện nhanhchóng, tức thời, góp phần làm giảm đáng kể các chi phí xã hội và thay đổi thói quendùng tiền mặt của đại bộ phận dân chúng Do đó thu từ dịch vụ tăng đáng kể
Thu nhập giảm chi phí đồng thời cũng giảm theo, nhưng tốc độ giảm của chiphí cao nhưng thấp hơn tốc độ giảm của thu nhập.(1,37% so với 2,62%), chứng tỏ chinhánh hoạt động có lãi Chi phí trong hoạt động kinh doanh của chi nhánh năm 2009 là173.949 triệu đồng, giảm 4.679 triệu đồng, với tốc độ giảm là 2,62% Trong đó chi phítrả lãi tiền gửi là 120.684 triệu đồng, giảm 3.628 triệu đồng so với năm 2008
Trang 32Qua phân tích trên ta thấy được hoạt động kinh doanh của chi nhánh trong 2năm qua có những tiến triển rõ rệt, tuy nhiên trong điều kiện cạnh tranh gay gắt hiệnnay đòi hỏi cán bộ tín dụng cũng như lãnh đạo ngân hàng cần phải nổ lực hơn nữa đểđem lại lợi nhuận cao cho chi nhánh.
2.2 Thực trạng hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng VPBank – Đà Nẵng:
2.2.1Quy trình hoạt động cho vay tiêu dùng tại chi nhánh ngân hàng
VPBank-Đà Nẵng:
Trang 33Quy trình của hoạt động này được áp dụng theo quy trình nghiệp vụ tín dụng cánhân Và nó được thực hiện theo các bước được mô tả như sau:
Bước 1: Quảng cáo tiếp thị
Ngân hàng thực hiện việc quảng cáo tiếp thị các sản phẩm cho vay tiêu dùnghoặc làm kinh tế gia đình trên các phương tiện thông tin đại chúng, các biển quảng cáohoặc các tờ bướm giới thiệu các thủ tục và địa điểm cho vay Ngân hàng có thể gởi tờ
5.Hoàn thiện hồ sơ tín