Băng tần báo hiệu: trong băng tần tín hiệu liên quan đến hệ thống báo hiệu sử dụng các tín hiệu âm thanh, tones, bên trong các kênh thoại thông thường đểchuyển thành tín hiệu báo hiệu..
Trang 1Nội Dung:
CHƯƠNG 5 - BÁO HIỆU
5.1 Mục đích báo hiệu?
5.2 Kỹ thuật báo hiệu
5.3 Các khái niệm trong báo hiệu
5.4 Phân lọai báo hiệu
5.5 Hệ thống báo hiệu số 7 (CCITT SS7)
5.5.1 Tổng quan về kiến trúc báo hiệu CSS7
5.5.2 Mối quan hệ CSS7 và mô hình OSI
5.5.3 Cấu trúc của hệ thống báo hiệu
5.5.4 Lớp liên kết báo hiệu
5.5.5 Bản tin báo hiệu
CHƯƠNG 6 - HÊ THỐNG THÔNG TIN ĐIỆN THOẠI 6.1 Mạng điện thoại PSTN
Trang 27.5 Chuẩn ITU-T Rec H.323
7.6 Giao thức SIP
7.7 MGCP, Megaco
CHƯƠNG 5 - BÁO HIỆU
5.1 Mục đích của báo hiệu
5.1.1 Khái niệm: IEEE đã định nghĩa: Trong viễn thông, Báo hiệu (sinaling) là
phương tiện để trao đổi thông tin và các lệnh từ điểm này đến điểm khác, cácthông tin này liên quan đến quá trình thiết lập, giám sát và giải phóng cuộc gọi
Báo hiệu được phát triển cùng với mạng điện thoại, có nhiều vấn đề về kĩthuật báo hiệu chúng ta sẽ giải quết trong chương này với các vấn đề liên quancủa một cuộc gọi trong một mạng viễn thông
Báo hiệu có ba chức năng chính:
Báo hiệu giám sát
Báo hiệu địa chỉ
Quản lý cuộc gọi
Có hai loại báo hiệu khác nữa là
Báo hiệu thuê bao
Báo hiệu tổng đài
5.1.2 Các chức năng của báo hiệu
Chứ năng giám sát: giám sát báo hiệu cung cấp thông tin trên đường dây
hoặc tình trạng kết nối Nó thông báo cho một chuyển mạch nội bộ hay một tổngđài tình trạng bận hay rỗi của bên được gọi
Thông tin về giám sát báo hiệu phải được duy trì điểm tới điểm liên tụctrong suốt quá trình diễn ra cuộc gọi và phải được giải phóng ngay khi ngắt kếtnối cuộc gọi, điều này rất cần thiết cho đối với một thuê bao, nếu có báo bận vàkhông có bất cứ một cuộc gọi nào đến thuê bao đó, và thông tin này cũng đượcdùng để tính cước phí cuộc gọi cho nhà cung cấp dịch vụ
Trang 3Báo hiệu địa chỉ: Báo hiệu địa chỉ xác nhận và định tuyến cho một thuê
bao được gọi, dựa vào thông tin từ cuộc gọi để xác nhận thuê bao cần gọi và kếtnối chính xác tới thuê bao đó
Xác nhận quá trình thiết lập cuộc gọi: Đây là loại báo hiệu cho ta các
tín hiệu trong khi tiến hành một cuộc gọi các tín hiệu đó có thể là âm thanh (tiếngbuzz từ máy được gọi), tín hiệu đổ chuông …Các thuê bao gọi có thể nhận đượccác tín hiệu báo hiệu sau:
Nhạc chờ: tín hiệu này cho thuê bao đang gọi biết là thuê bao bênkia đang đổ chuông
Busyback: tín hiệu này báo thuê bao kia đang bận
ATB-Trunks busy : có nghĩa là mạng bận
Tiếng bíp kéo dài: điện thoại bên kia đang để off-hook (kênh máy)
5.2 Kỹ thuật báo hiệu
5.2.1: Truyền bản tin báo hiệu
Bản tin báo hiệu được truyền từ thuê bao này tới thuê bao bên kia qua tổngđài thông qua các thiết bị chuyển mạch Bản tin báo hiệu có thể truyền bằng cácphương pháp như:
Thời gian kéo dài của một xung (mỗi xung trong 1 khoảng thờigian nhất định mang một ý nghĩa nhất định được quy định bởi hệthống)
5.2.2 Sự phát triển của báo hiệu:
Báo hiệu và chuyển mạch có quan hệ chặt chẽ với nhau trong các hệ thốngtổng đài, chuyển mạch sẽ không thể hoạt động nếu nhu không có các thông tin từbáo hiệu ISDN là một dịch vụ đầy đủ kỹ thuật cho các thuê bao, sử dụng hệthống báo hiệu số duy nhất gọi là DSS-1 (báo hiệu số 1) Mạng ATM sử dụng hệthống báo hiệu số 2, Q.2931 và RFC.3033 Trong những năm 1940 báo hiệu đã
Trang 4phát triển thành các hệ thống báo hiệu tất cả các tổng đài của các nước đều cần
có một chuẩn về giao diện báo hiệu để các thiết bị có thể “hiểu” được Trongphần này chúng ta sẽ tìm hiểu công nghệ báo hiệu sử dụng mạng tương tự với cácthiết bị ghép kênh phân chia tần số Mặc dù các hệ thống nãy đã lỗi thời so vớimạng số hiên tại nhưng đó là nền tảng để ta nắm được hoạt động cũng như mụcđích của một hệ thống báo hiệu
5.2.2.1 Đường giám sát báo hiệu
Giới thiệu: đường dây tín hiệu trên các trunk hoạt động dựa trên mức củadòng DC Như vậy tín hiệu DC không tương thích với hệ thống FDM, vì cáckênh thoại analog chiếm băng tần từ 300-3400 Hz, vì vậy các tín hiệu DC đãđược chuyển qua tín hiệu AC
Băng tần báo hiệu: trong băng tần tín hiệu liên quan đến hệ thống báo hiệu
sử dụng các tín hiệu âm thanh, tones, bên trong các kênh thoại thông thường đểchuyển thành tín hiệu báo hiệu Có hai hệ thống như vậy:
Loại sử dụng duy nhất một tần số (SF - single frequency)
Loại sử dụng hai tần số (2VF)Những tín hiệu sử dụng một trong hai tones nằm trong khoảng 2000 – 3000 Hzcủa băng thông
Báo hiệu tần số duy nhất được sử dụng dành riêng cho giám sát, thường
được gọi là báo hiệu E & M , nó được sử dụng với thiết bị FDM phô biến nhất làtần số 2600 Hz Sơ đồ hoạt động được thể hiện ở hình 5.1
Báo hiệu hai tần số (2VF) được sử dụng cho cả việc giám sát và báo hiệu
địa chỉ Ứng dụng với các thiết bị FDM Chúng ta có tập hợp các tín hiệu để tạo
ra các âm chỉ thị máy rỗi hay máy bận các tần số này nằm ngay trong băng thoại
2600 Hz nên có thể gây ra khó chịu cho người nghe nên cần có bộ lọc nhiễu Ví
dụ một cặp tần số điển hình trong hệ thống báo hiệu số 5 là 2400 Hz và 2600 Hz,
sử dụng rộng rãi cho báo hiệu địa chỉ
Báo hiệu ngoài băng (Out-of-Band Signaling) : với báo hiệu ngoài băng,
bản tin báo hiệu được truyền bên ngoài băng thoại (tức là trên 3.400 Hz) Trongmọi trường hợp nó là một hệ thống sử dụng duy nhất một tần số hệ thống sửdụng báo hiệu ngoài băng này cho biết tình trạng nhàn hoặc rỗi của thuê bao
Trang 5Trong tương lai gần báo hiệu ngoài băng được người ta sử dụng có lợi về
cả tính kinh tế lẫn dễ dàng thiết kế Nhưng xét về lâu dài thì các thiết bị yêu cầulàm cho báo hiệu ngoài băng thậm chí còn tốn kém hơn bởi vì các thiết bị báohiệu này giám sát và báo hiệu mở rộng và có yêu cầu báo hiệu tại mỗi đầu cuối
và tại từng thời điểm khi tín hiệu (FDM) đang được chuyển tải trong hệ thống
Ưu điểm của báo hiệu ngoài băng là tín hiệu giám sát được cung cấp liên tục cho
dù có tín hiệu tone on hay tones off trong suốt quá trình hội thoại diễn ra Báohiệu trong băng SF và báo hiệu báo hiệu ngoài băng được minh họa trong hình5.2 Điển hình về áp dụng hệ thống báo hiệu báo hiệu ngoài băng là hệ thống báohiệu R-2 phổ biến ở châu Âu
Trang 7Báo hiệu E & M : hình thức báo hiệu phổ biến nhất để giám sát các đường
trung kế ở trong mạng tương tự là báo hiệu E & M Nó xuất phát từ các thiết bị
SF hoặc 2VF như trong hình 5.1, nó trở thành báo hiệu E & M tại các điểm màtrung kế giao tiếp với chuyển mạch (hình 5.3) Lead đầu tiên được gọi là lead-E,
nó mang tín hiệu đến thiết bị chuyển mạch (được thể hiện trong hình 5.3) Tathấy các tín hiệu từ chuyển mạch A và chuyển mạch B ở A trên lead-M và đượcchuyển đến B trên lead-E
Đối với báo hiệu E&M truyền thống ta có bảng dưới đây:
5.2.2.2 Báo hiệu địa chỉ
Trang 8Báo hiệu địa chỉ bắt nguồn từ các số trong cuộc gọi (kích hoạt hoặc nhấnnút bàn phím) từ một thuê bao tiến hành cuộc gọi, chuyển mạch nội hạt chấpnhận yêu cầu và sử dụng thông tin đó kết nối đến thuê bao bên kia Nếu có nhiềuhơn một chuyển mạch tham gia vào cuộc gọi báo hiệu được yêu cầu giữa cácthiết bị chuyển mạch (cả địa chỉ và giám sát) Báo hiệu địa chỉ giữa các thiết bịchuyển mạch trong hệ thống này thường gọi là báo hiệu interregister
Báo hiệu đa tần số : báo hiệu đa tần số (Multifrequency – MF) đã được sử
dụng rộng rãi trên toàn thế giới cho báo hiệu interregister Nó là một phươngpháp trong băng sử dụng năm hoặc sáu dải tần số, hai dải tại một thời điểm Nóhoạt động tốt hơn với cặp dây kim loại, và hệ thống FDM hay TDM MF là một
hệ thống ổn định và khó có sai sót, có 3 hệ thống MF điển hình được xét dướiđây:
MF tại bắc Mỹ - hệ thống báo hiệu số 1 (R-1), hệ thống chủ yếu được
dùng ở Mỹ và Canada được công nhận bởi CCITT Nó là một cặp trong hệ thống
5 xung tần số Tín hiệu bổ sung cho các chức năng điều khiển được cung cấp bởi
sự kết hợp tần số bằng cách sử dụng một tần số thứ 6 cơ bản Bảng 5.2 cho thấytương ứng với 10 chữ số (0 đến 9) và các chức năng lệnh kết hợp với hai tần sốtương ứng Đây cũng là điểm khác nhau so với hệ thống R-2
Bảng 5.2 Thông số hệ thống báo hiệu R1 (Bắc
Mỹ)
Trang 9Hệ thống báo hiệu số 5 tương tự như hệ thống R-1 ở Bắc Mỹ, các thay đổi so
với R-1 được thể hiện ở trong bảng 5.3 Các đường báo hiệu trong hệ thống báohiệu số 5 được thể hiện trong bảng 5.4
Hệ thống báo hiệu R-2, được phát triển bởi CCITT như là một hệ thống
báo hiệu ở khu vực châu Âu Tận dụng sự kết hợp của hai trong số 6 dải tần số,
15 cặp tần số có sẵn, được thể hiện trong bảng 5.5 Nhóm I và A mang thông tinthứ nhất , nhóm II và B mang thông tin thứ hai được điều khiển bởi các tín hiệuA-3 hoặc A-5 Với bảng 5.5 10 chữ số được gửi đi trong nhóm I và số lượng chỉ
số từ 1 đến 10 tương ứng trong bảng Tín hiệu số 15 trong nhóm A chỉ ra tắcnghẽn trong tổng đài quốc tế hoặc tại ngay đầu ra của nó Đây là tín hiệu báohiệu trở về mang thông tin về trạng thái mạng Nhóm B bao gồm hầu hết cácthống tin phản hồi đặc biệt thông tin về tình trạng thuê bao
Bảng 5.3 Hệ thống báo hiệu số 5 và một số điểm khác so với R1
Bảng 5.4 Thông số hệ thống báo hiệu số 5
Trang 10Dòng tín hiệu trong R-2 có hai kỹ thuật, một trong những kỹ thuật đó đượcxét dưới đây và một kỹ thuật còn lại dùng PCM trên luồng E1 được nói đến trongchương mạng số Bảng 5.6 cho ta thấy thông tin đường truyền trong mỗi hướnggửi đi hoặc trả về Ta có một số tín hiệu sau:
Tín hiệu chiếm đường truyền (tại tổng đài xuất phát)
Tín hiệu trả lời
Tín hiệu xóa về
Tín hiệu xóa đi
Tín hiệu chặn
5.2.2.3 Thuê bao quay số dạng tones và nhấn nút (Bắc Mỹ)
Bảng 7.7 và 7.8 quy định các tín hiệu báo hiệu trong một cuộc gọi Các tổng đàidựa vào tín hiệu trên xác nhận yêu cầu của thuê bao
Bảng 5.5 Hệ thống báo hiệu R2 (Châu Âu)
Bảng 5.6 Mã điều kiên đường dây trong hệ thống R2
Trang 115.2.2.3 Thuê bao quay số và nút nhấn
Bảng 5.7 cho thấy tín hiệu tone và thời gian kéo dài của nó thường được sửdụng ở Bắc Mỹ cho biết tình trạng một thuê bao Thuê bao có thể quay số hoặcnhấn nút Khi một nút được nhấn sẽ có hai tone đồng thời, tương tự như các hệthống đa tần được mô tả trước đó Tồng đài sẽ dựa vào tần số các cặp tone này đểxác định số thuê bao muốn gọi Bảng 5.8 so sánh kỹ thuật số cuộc gọi đi, quay sốdạng xung và cặp tần số (MF) thông qua tone nhấn nút
Bảng 5.7 Âm xử lý cuộc gọi được sử dụng ở Bắc Mỹ
Bảng 5.8 Bảng mã cặp tần số tương ứng với nút nhấn ở Bắc Mỹ
Trang 125.3 Các khái niệm trong báo hiệu
5.3.1 Khái niệm về báo hiệu link by link, end to end (báo hiệu từng chặng và báo hiệu xuyên suốt)
Một yếu tố quan trọng cần xét đến khi thiết kế hệ thống chuyển mạch đó
là hiệu ứng dội hai tín hiệu và sự hài lòng của khác hàng trong vấn đề trễ tín hiệu
Độ trễ trong quá suốt quá trình thuê bao quay số càng ngắn càng tốt
Một yếu tố quan trọng khác phải cân nhắc đó là sự chiếm dụng thời giantrong quá trình thiết lập cuộc gọi liên tục trong hai tổng đài đầu cuối Thiết bị đểthiết lập cuộc gọi là thiết bị tạo ra kết nối giữa các chuyển mạch và các trunk,các thiết bị đó rất đắt tiền Nên vấn đề trong thiết kế hệ thống là tính kinh tế màvẫn đảm bảo chất lượng dịch vụ
Báo hiệu xuyên suốt và báo hiệu từng chặng ảnh hưởng đến khả năng cungcấp số lượng thuê bao và sự trễ tín hiệu trong cuộc gọi, mỗi kỹ thuật có một điểmkhác nhau Tuy nhiên chúng ta đang xem xét các cuộc gọi có liên quan đến mộthay nhiều các tổng đài nội hạt trong quá trình thiết lập cuộc gọi, bởi vì tình trạngnày thường xuyên xảy ra với các cuộc gọi đường dài Báo hiệu liên kết có thểđược định nghĩa là một hệ thống báo hiệu mà tất cả các thông tin địa chỉ thanhghi phải được chuyển đến bộ định tuyến thiết lập cuộc gọi Một khi tổng đài nhậnđược sự thay đổi thông tin này, bộ phận điều khiển tổng đài sẽ giải phóng thanhghi Hoạt động tương tự này được thực hiện từ tổng đài quốc gia đến mỗi tổngđài nội hạt Hệ thống báo hiệu R-1 là hệ thống điển hình cho báo hiệu liên kết.Báo hiệu end-to-end (báo hiệu xuyên suốt): cơ bản là quá trình nhận địa chỉcủa các tổng đài nội hạt, các địa chỉ này là thông tin tối thiểu cần thiết để thiết lâpcuộc gọi Chẳng hạn như 4 chữ số cuối cùng trong một số điện thoại có bảy chữ
số cần được gửi đến cho tổng đài xuất phát và tổng đài đích Với hình thức báohiệu này cần gửi đi ít các chữ số hơn yêu cầu (và xác nhận) cho việc thiết lậpcuộc gọi Do đó quá trình báo hiệu được thực hiện nhanh hơn, giảm độ trễ Cốt lõi của báo hiệu end-to-end nằm ở điều khiển thanh ghi Đây là thanhghi (đơn vị điều khiển) trong tổng đài xuất phát điều khiển định tuyến cuộc gọicho đến khi có một đường dẫn được thiết lập để kết nối hai thuê bao và kết thúcgiải phóng kết nối khi có tín hiệu dập máy Để chuẩn bị cho thiết lập một cuộcgọi khác
Trang 13Số điệnthoại của thuê bao Y là 345-6789, quá trình thiết lập cuộc gọi sử dụng báo hiệuend-to-end như sau:
Thanh ghi tại tổng đài xuất phát (OE) nhận, lưu số điện thoại và quay số345-6789 từ thuê bao X
Tổng đài xuất phát phân tích và sau đó xác nhận chiếm trunk để kết nối tớitổng đài B, sau đó nó nhận được tín hiệu từ B rằng các thanh ghi tại B sẵnsàng (tức tổng đài B đáp ứng)
Tổng đài xuất phát gửi các chữ số 34, là mức tối thiểu để bảo đảm việctruyền đúng
Tổng đài B xác nhận chữ số 34 và chiếm trunk để trao đổi với tổng đài C,sau đó tổng đài xuất phát và tổng đài C kết nối trực tiếp nhau qua B
Tổng đài xuất phát nhận được tín hiệu từ tổng đài C và tiếp tục gửi số 45tới C
Tổng đài C phân tích con số nhận được và chiếm trunk để kết nối với TE(tổng đài đích) Sau đó tổng đài OE kết nối trực tiếp với TE
Tổng đài OE tiếp tục gửi các chữ số 5678 khi nhận được tín hiệu báo tổngđài TE sẵn sàng
Tổng đài TE dò xét tình trạng thuê bao Y và kết nối với nó nếu thuê bao Yrỗi, khi đó sẽ có tín hiệu để đổ chuông thuê bao Y, nếu không sẽ phát tínhiệu báo bận…
Chúng ta thấy có một đường báo hiệu được tạo ra và duy trì giữa các tổng đài
và thuê bao trong suốt quá trình cuộc gọi và được giải phóng khi thuê bao ngắtkết nối Để thực hiện được quá trình trên các tổng đài phải định tuyến dựa trêncác con số có trong danh sách đã được thiết lập trước trong các thanh ghi của hệthống
R-1 là một hệ thống đòi hỏi ít tín hiệu đáp trả nhất, đó là những tín hiệu cầnthiết, chẳng hạn như tín hiệu “sẵn sàng để gửi” được gửi ngay trên đường dâythuê bao R-2 là một hệ thống có đòi hỏi tín hiệu đáp trả nhiều, như tín hiệu tắcnghẽn, tín hiệu nhàn rỗi
Trang 145.3.2 Liên kết và phân chia kênh báo hiệu
Ở đây chúng ta có một khái niệm mới: phân tách kênh báo hiệu Trước đâybáo hiệu được thực hiện ngay trên kênh thoại của nó, cho dù trong băng hayngoài băng Hình 5.4 minh họa hai khái niệm báo hiệu kênh liên kết và báo hiệukênh riêng biệt
Đường E1 kênh thứ 16 là một ví dụ, nó thực sự là một kênh riêng biệt, nhưng nóvẫn liên kết với nhóm 30 kênh của các kênh truyền dẫn Nên chúng ta gọi đây là
kênh báo hiệu quasi-associated
Trang 15Phân tách kênh báo hiệu là dồn các tín hiệu báo hiệu và truyền tải trên một đườngtruyền riêng khác biệt so với kênh thoại mà chúng phục vụ hình 5.5 mô tả kênh
báo hiệu quasi-associated và hình 5.6 mô tả phân tách kênh báo hiệu.
5.4 Phân loại báo hiệu
Thông thường báo hiệu được chia thành hai loại đó là báo hiệu đường dâythuê bao và báo hiệu liên tổng đài Báo hiệu đường dây thuê bao là báo hiệu giữamáy đầu cuối như là báo hiệu giữa thuê bao và tổng đài nội hạt, còn báo hiệu liêntổng đài là báo hiệu giữa các tổng đài với nhau
Trang 16Báo hiệu liên tổng đài có hai loại là báo hiệu kênh kết hợp (CAS: Channel
Associated Signalling) hay còn gọi là báo hiệu kênh riêng và báo hiệu kênh
chung (CCS: Channel Common Signalling) Ta có sơ đồ thể hiện các loại báo
hiệu như ở hình 5.8
5.4.1 Báo hiệu kênh kết hợp CAS
Báo hiệu kênh kết hợp là hệ thống báo hiệu trong đó báo hiệu nằm trong cáckênh tiếng hoặc một kênh có liên quan chặt chẽ với kênh tiếng Như vậy đặcđiểm nổi bật của CAS là đối với mỗi kênh thoại có một đường tín hiệu báo hiệuriêng đã được ấn định Các tín hiệu báo hiệu có thể được truyền theo nhiều cáchkhác nhau:
Trong băng: tín hiệu báo hiệu có tần số nằm trong băng tần kênh thoại (0.3– 3.4) KHz
Ngoài băng: tín hiệu báo hiệu có tần số nằm ngoài băng tần kênh thoại Ví
dụ hệ thống R2 dùng tần số 3825 Hz
Trong khe thời gian TS 16 của tổ chức đa khung PCM 30/32 kênh
Tuy nhiên CAS có nhược điểm là tốc độ tương đối thấp, dung lượng thôngtin bị hạn chế, chỉ áp dụng được cho những mạng có dung lượng thấp và các loạihình dịch vụ còn nghèo nàn
Từ những năm 1960, khi các tổng đài được điều khiển bằng chương trình lưu trữSPC được đưa vào sử dụng trên mạng thoại thì một phương thức báo hiệu mới rađời với nhiều đặc tính ưu việt hơn so với hệ thống báo hiệu truyền thống trướcđó
Trong phương thức báo hiệu này, các đường dữ liệu có tốc độ cao giữa các bộ xử
lý của tổng đài SPC được sử dụng để mang mọi thông tin báo hiệu Các đường
dữ liệu này tách rời với các kênh tiếng Mỗi đường dữ liệu này có thể mangthông tin báo hiệu cho hàng trăm đến hàng nghìn kênh tiếng Kiểu báo hiệu nàygọi là báo hiệu kênh chung CCS và tiêu biểu là hệ thống báo hiệu số 7 (SS7) Nộidung của SS7 sẽ xem kỹ ở phần sau
5.4.2 Báo hiệu kênh chung CCS
Báo hiệu kênh chung là hệ thống báo hiệu sử dụng chung một hoặc một số
đường dữ liệu (Signalling Data Link) để truyền thông tin báo hiệu phục vụ cho
nhiều đường trung kế thoại / dữ liệu
Trang 17Các thành phần cơ bản của mạng báo hiệu kênh chung:
Ta sẽ tìm hiểu kỹ hơn ở phần hệ thống báo hiệu số 7
5.5 Hệ thống báo hiệu số 7 (CCITT SS7)
Giới thiệu:
Hệ thống CCITT tín hiệu số 7 (gọi tắt là SS-7) được phát triển để đáp ứngcác yêu cầu báo hiệu nghiêm ngặt của tất cả các mạng kỹ thuật số dựa trên các
Hình 5.9: Sơ đồ hệ thống báo hiệu kênh chung
Hình 5.10: Tổng quan về hệ thống báo hiệu kênh chung
Trang 18kênh 64 Kbps Nó hoạt động theo cách hơi khác so với bá hiệu mà ta đã trình bày
ở phần trước trong chương này Tuy nhiên, nó vẫn có chức năng giám sát cácmạch và báo hiệu địa chỉ và cũng phải mang tín hiệu tiến độ cuộc gọi và thôngbáo các thông tin đến thuê bao được gọi Những vấn đề này chắc chắn quenthuộc và không có khác phần đầu chương ta đã trình bày Sự khác biệt là các thức
nó thực hiện như thế nào SS-7 là một mạng lưới dữ liệu hoàn toàn dành riêngcho mạng báo hiệu
SS-7 được chuẩn hóa thành một tiêu chuẩn quốc tế, mục đích chung của hệ thốngbáo hiệu kênh chung là:
Được tối ưu hóa cho hoạt động với các mạng lưới kỹ thuật số thiết bịchuyển mạch được sử dụng lưu trữ chương trình điều khiển (SPC), chẳnghạn như DMS-100 series và 5ESS, đã được thảo luận ở chương mạng số
Có thể đáp ứng yêu cầu hiện tại và tương lai của truyền tải thông tin cho các
vi xử lý hoạt động với các mạng viễn thông kỹ thuật số để kiểm soát cuộcgọi, điều khiển từ xa, truy cập cơ sở dữ liệu và quản lý mạng và bảo trì báohiệu
Cung cấp một phương tiện đáng tin cậy truyền tải tín hiệu theo đúng trình
tự mà không mất hoặc trùng lặp
SS-7, trong những năm từ năm 1980, đã trở thành hệ thống báo hiệu choISDN Điều này là, nếu không có cơ sở hạ tầng của SS-7 nhúng trong mạng kỹthuật số, sẽ không có ISDN với truy cập rộng khắp SS-7 là sự lựa chọn cho báohiệu trong PSTN kỹ thuật số mà không cần ISDN
Như đã đề cập, SS-7 là một hệ thống truyền thông dữ liệu được thiết kế choduy nhất mục đích: báo hiệu Nó không phải là một hệ thống chung chung.Chúng ta phải xem SS-7 như là một mạng lưới dữ liệu chuyên ngành và một hệthống báo hiệu
5.5.1 Tổng quan về kiến trúc báo hiệu SS7
Mô hình hệ thống mạng báo hiệu SS-7 bao gồm các nút mạng, gọi là điểmbáo hiệu (SP) kết nối với nhau bởi liên kết điểm tới điểm báo hiệu, với tất cả cácliên kết giữa 2 SPs được gọi là một tập hợp liên kết Khi mô hình được áp dụngcho một mạng lưới vật lý, phổ biến nhất là có một sự tương ứng một - một giữacác nút vật lý và các tổ chức hợp lý Nhưng khi có yêu cầu (ví dụ, một nútgateway vật lý cần phải là một hệ thống mạng khác) Một nút mạng vật lý có thể
Trang 19được hợp lý chia thành nhiều hơn một SP, hoặc SP hợp lý có thể được phân phốitrên nhiều hơn một nút vật lý Những yêu cầu cẩn trọng để đảm bảo rằng các thủtục quản lý trong giao thức hoạt động một cách chính xác
Thông tin giữa 2 SPs có thể được chuyển qua một liên kết thiết lập kết nốitrực tiếp hai điểm Điều này được gọi là chế độ báo hiệu kết hợp Thông tin nàycũng có thể là định tuyến thông qua một hoặc nhiều trung gian các SP chuyểntiếp thông tin tại các tầng mạng Điều này được gọi là chế độ báo hiệu không kếthợp SS-7 hỗ trợ chỉ có một trường hợp đặc biệt của định tuyến này, được gọi làchế độ báo hiệu kết hợp, trong đó định tuyến tĩnh ngoại trừ thay đổi tương đốikhông thường xuyên đáp ứng các sự kiện như lỗi liên kết, bổ sung mới các SP.SS-7 không bao gồm các thủ tục đầy đủ để duy trì trong chuỗi cung cấp cácthông tin định tuyến đã thay đổi hoàn toàn trên gói dữ liệu
Chức năng của chuyển tiếp bản tin tại tầng mạng được gọi là điểm chuyểnbáo hiệu (STP) Mặc dù kết quả thực tế này chưa hoàn toàn chính xác, logic vàcác nút mạng vật lý có chức năng này được thực hiện thường xuyên được gọi làSTP, mặc dù nó có thể cung cấp thêm các chức năng khác nữa Một phần quantrọng trong thiết kế hệ thống SS-7 bao gồm cả dự phòng đầy đủ thiết bị và cátuyến truyền dẫn vật lý Việc thiết kế phần lơn dựa vào vị trí liên kết báo hiệu SPvới các chức năng STP, mục tiêu là để hiệu suất có thể được đáp ứng với lượnglưu lượng dữ liệu dự kiến tối thiểu
Hình 5.11 là một mô hình cấu trúc mạng SS-7 Chức năng STP được tậptrung trong một số lượng tương đối nhỏ của các nút cơ bản dành riêng cho chứcnăng đó Các STP được phối hợp ghép nối và mỗi cặp STP được kết nối với mộtcấu hình bốn điểm như trong hình Chúng ta cũng có thể nói rằng bốn STP đềuđược kết nối trong mạng dạng lưới Điều này đã chứng tỏ là một mạng xươngsống cực kỳ đáng tin cậy và khả năng hoạt động cao Các nút khác, chẳng hạnnhư các trung tâm chuyển mạch và điểm kiểm soát dịch vụ (SCPS), thường đượckết nối một trong các cặp mối nối của STP, với một hoặc nhiều liên kết đến cácmối nối, phụ thuộc vào lưu lượng tín hiệu
Trang 205.5.2 Mối quan hệ CSS7 và mô hình OSI
Báo hiệu số 7 liên quan đến tới một vài điểm nào đó với OSI Trong sựphát triển của SS-7, cần phải có đầy đủ khả năng tương thích với tất cả bảy lớpcủa mô hình OSI Tuy nhiên, phần lớn các nhóm làm việc CCITT chịu tráchnhiệm cho việc cấu hình và thiết kế của SS-7 có liên quan với độ trễ, dùng cho
dữ liệu, điện thoại, hoặc người sử dụng ISDN của kĩ thuật PSTN Phần trước củachương đã nói sự trễ tín hiệu có lẽ là vấn đề quan trọng nhất của hiệu suất củamột hệ thống báo hiệu Để giảm thiểu độ trễ, bảy lớp của mô hình OSI đã đượccắt thành 4 lớp Trong thực tế, CCITT Q.709 quy định cụ thể là sự trễ không quá2.2 cho 95% các cuộc gọi Để thực hiện điều này, một giới hạn được đặt trên sốlượng các điểm chuyển tiếp báo hiệu, được gọi là STP, có thể được đi qua bởimột bản tin báo hiệu và thiết kế vốn có của SS-7 là một hệ thống bốn lớp Hình5.12 trình bày sự liên quan của SS-7 với mô hình tham chiếu OSI Hãy nhớ rằngviệc giảm số lớp của OSI làm giảm thời gian xử lý Kết quả là, Hiện tượng trễ tínhiệu giảm
Chúng ta nên lưu ý rằng SS-7 lớp 3 là lớp có chức năng mạng lưới báo hiệu baogồm báo hiệu chức năng xử lý bản tin báo hiệu và các chức năng quản lý mạng.Hình 5.13 cho thấy cấu trúc chung của hệ thống báo hiệu SS-7
Trong phần tiếp chúng ta sẽ tìm hiểu về chức năng của từng lớp cụ thể trong hệthống
Trang 215.5.3 Cấu trúc của hệ thống báo hiệu
Hình 5.13minh họa cấu trúc
cơ bản của SS-7,
hệ thống này cóhai phần: phầntruyền bản tin báohiệu (MTP) và cácphần người sửdụng Phần người
sử dụng có: phầnđiện thoại (TUP),phần dữ liệu ngườidùng (DUP), vàphần người sử dụng ISDN (ISUP) Hình 5.12 và 5.13 cho thấy mô hình OSI lớp
1, 2, và 3 tạo ra phần MTP Các đoạn dưới đây mô tả các chức năng của các lớpnày từ một quan điểm hệ thống
Lớp 1 xác định các đặc tính vật lý, điện, và chức năng của báo hiệu liên kết
dữ liệu và các phương tiện để truy cập nó Trong hệ thống mạng kỹ thuật số
Trang 2264-kbps đường truyền số là các kết nối cơ bản bình thường Các liên kết tín hiệu cóthể được truy cập bởi các bộ phận chuyển mạch mà chúng có khả năng cấu hìnhlại tự động tín hiệu liên kết.
Lớp 2 thực hiện chức năng liên kết báo hiệu Nó định nghĩa các chức năng
và thủ tục cho việc truyền bản tin báo hiệu trên một liên kết dữ liệu riêng lẻ Mộtbản tin báo hiệu được chuyển qua liên kết báo hiệu trong các đơn vị tín hiệu có
độ dài thay đổi Một đơn vị tín hiệu bao gồm kiểm soát thông tin chuyển giaotrong nội dung thông tin của thông điệp báo hiệu Các chức năng liên kết báohiệu bao gồm:
Phân định một đơn vị tín hiệu bằng cờ
Cờ báo chống nhồi bit
Phát hiện lỗi thông qua kiểm tra các bit trong mỗi đơn vị tín hiệu
Kiểm soát lỗi bằng cách truyền lại và chuỗi đơn vị tín hiệu điều khiểnthiết bị kiểm tra chuỗi số trong mỗi đơn vị tín hiệu và cho phép các báonhận liên tục
Tín hiệu phát hiện truyền thất bại, các đơn vị giám sát tín hiệu báo lỗi vàbáo hiệu khôi phục liên kết bằng các thủ tục đặc biệt
Layer 3, báo hiệu các chức năng mạng, về nguyên tắc xác định chức năngtruyền tải, thủ tục chung và riêng của từng liên kết báo hiệu Có hai loại chứcnăng trong lớp 3:
Chức năng xử lý báo hiệu Message-Handling Trong quá trình chuyểncác bản tin báo hiệu, chức năng này điều khiển các bản tin để chọn liênkết báo hiệu thích hợp hoặc phần người dùng
Chức năng báo hiệu quản lý mạng Đây là chức năng điều khiển thờigian định tuyến thực, kiểm soát, và cấu hình lại mạng, nếu cần thiết.Lớp 4 là phần người dùng Mỗi một phần người dùng xác định các chứcnăng và thủ tục đặc biệt cho người sử dụng cụ thể, cho dù là thoại, dữ liệu, hoặcmột phần người dùng ISDN Có các phần sử dụng khác nhau như:
TUP (Telephony User Part) - Phần của user dùng điện thoại
DUP (Data User Part) - Phần của user dùng số liệu
Trang 23 ISUP (ISDN User Part) - Phần của user dùng ISDN.
MTUP (Mobile Telephony User Part) - Phần của user dùng di động
Các bản tin báo hiệu được xác định bởi CCITT Rec Q.701 như là một góithông tin, định nghĩa ở lớp 3 hoặc 4, liên quan đến một cuộc gọi, quản lý giaodiện, sau đó được chuyển nhận là đơn vị báo hiệu bởi các chức năng truyền bảntin Mỗi bản tin báo hiệu có chứa "thông tin dịch vụ" bao gồm một thông số dịch
vụ xác định phần người dùng và có thể xem Phần thông tin báo hiệu hiệu củabản tin báo hiệu chứa thông tin người dùng, chẳng hạn như dữ liệu hoặc các tínhiệu điều khiển cuộc gọi, thông tin quản lý, bảo trì và loại định dạng của bản tinbáo hiệu Nó cũng bao gồm một "nhãn" Nhãn cho phép các tin nhắn được địnhtuyến lớp 3 thông qua mạng lưới báo hiệu đến đích của nó và điều khiển các bảntin đến phần người dùng hoặc mạch khác
Trên liên kết báo hiệu những thông tin báo hiệu được chứa trong các đơn vịbản tin báo hiệu (MSUs), nó cũng bao gồm chức năng điều khiển liên quan đếnchức năng lớp 2 trong đường liên kết
Có một số thuật ngữ được sử dụng trong SS-7 ta sẽ tìm hiểu trước khi đi tiếp:
Điểm báo hiệu: các nút trong mạng sử dụng chung các kênh báo hiệu; Báo hiệu quan hệ (tương tự như mối quan hệ lưu lượng) Bất kỳ hai báo
hiệu điểm mà khả năng giao tiếp giữa các bộ phận của người dùng sử dụng tươngứng có được cho để có một mối quan hệ báo hiệu;
Liên kết báo hiệu, báo hiệu liên kết truyền tải bản tin báo hiệu giữa hai điểm
báo hiệu;
Điểm gốc và điểm đích, điểm gốc và điểm đến là điểm của chức năng phần
người dùng nguồn và vị trí của người tiếp nhận phần chức năng tương ứng;
Điểm chuyển tiếp báo hiệu (STP), STP là một điểm mà một bản tin báo
hiệu nhận được trên một liên kết báo hiệu và được chuyển giao cho liên kết khác;
Nhãn bản tin, Mỗi bản tin báo hiệu có chứa một nhãn Trong nhãn tiêu
chuẩn, phần được sử dụng cho định tuyến được gọi là nhãn định tuyến Nhãnđịnh tuyến bao gồm:
Điểm xuất phát và các điểm đích của bản tin báo hiệu
Trang 24 Một mã được sử dụng để chia sẻ tải, có thể là phần ít quan trọng củamột nhãn, thành phần này xác định một giao diện người dùng sử dụng ởlớp 4.
Các nhãn tiêu chuẩn thừa nhận rằng mỗi điểm báo hiệu trong một mạng lưới báohiệu được gán một mã số nhận dạng, theo một chương trình mã được thành lậpcho mục đích đánh số cho nhãn
Định tuyến bản tin báo hiệu, việc định tuyến bản tin báo hiệu là quá trình
lựa chọn liên kết báo hiệu để thực hiện truyền bản tin báo hiệu Định tuyến bảntin dựa trên phân tích thông tin từ nhãn Việc định tuyến bản tin kết hợp với địnhtuyến dữ liệu tại một điểm báo hiệu đặc biệt
Phân phối bản tin báo hiệu, là quá trình xác định phần người dùng một tin
nhắn sẽ được chuyển giao Sự lựa chọn được thực hiện bởi phân tích của các chỉ
số trên nhãn
Phân biệt bản tin, là quá trình xác định Khi nhận được một tin nhắn tại một
điểm báo hiệu, có thể đó là điểm đến của bản tin đó hoặc không Để xác định vấn
đề này phải dựa trên phân tích mã đích, việc định tuyến của nhãn trong tin nhắn.Nếu báo hiệu là điểm đến, bản tin được gửi đến các bộ phân có chức mà bản tinđến cần Nếu không, bản tin sẽ được gửi đến các chức năng định tuyến để chuyểntiếp vào một liên kết báo hiệu
5.5.3.1 Quản lí mạng báo hiệu (Signaling Network Management)
Ba phần trong quản lý báo hiệu các khối chức năng được thể hiện tronghình 5.13 Đây là những báo hiệu quản lý lưu lượng thông, báo hiệu quản lý liênkết, và báo hiệu quản lý đường
5.5.3.1.1 Quảng lý lưu lượng báo hiệu
Chức năng quản lý lưu lượng báo hiệu là:
Để kiểm soát định tuyến bản tin Điều này bao gồm sửa đổi bản tin địnhtuyến khi có yêu cầu, khả năng tiếp cận tất cả các điểm đến, khôi phụclại bình thường định tuyến
Cùng với những thay đổi của bản tin định tuyến, để kiểm soát việcchuyển giao các bản tin thu được các tín hiệu lưu lượng theo cách thứctránh sự bất thường lưu lượng bản tin
Trang 25 Điều khiển lưu lượng.
Điều khiển định tuyến bản tin dựa trên phân tích thông tin định trước về tất
cả cho phép khả năng định tuyến khả năng kết hợp với thông tin được cung cấpbởi tín hiệu quản lý liên kết và báo hiệu các chức năng quản lý tuyến, về tìnhtrạng mạng lưới tín hiệu (tức là, hiện tại sẵn có của tín hiệu liên kết và tuyến).Thay đổi trong trạng thái của mạng lưới tín hiệu thường dẫn đến thay đổiđịnh tuyến bản tin báo hiệu và trạng thái trong việc chuyển giao một số phần củalưu lượng báo hiệu từ một liên kết khác Việc chuyển giao bản tin báo hiệu đượcthực hiện theo quy định với các thủ tục cụ thể Những thủ tục chuyển đổi,changeback, đinh tuyến lại và kiểm soát định tuyến Các thủ tục được thiết kế đểtránh bất thường trong việc chuyển giao bản tin như mất mát, hoặc cung cấpnhiều bản tin báo hiệu
Thủ tục chuyển đổi và changeback liên quan đến thông tin liên lạc với điểmbáo hiệu khác.Ví dụ, trong trường hợp chuyển đổi từ một liên kết báo hiệu thấtbại, Thất bại khi trao đổi thông tin ở hai liên kết đầu cuối (thông qua một đườngthay thế) thông thường cho phép thu hồi bản tin nếu không sẽ bị mất trên các liênkết đã thất bại
Một mạng lưới báo hiệu phải có một khả năng lưu lượng tín hiệu cao hơnlưu lượng truy cập bình thường cung cấp Tuy nhiên, trong điều kiện quá tải (ví
dụ, do lỗi mạng hoặc lưu lượng tăng rất cao vào giờ cao điểm) chức năng quản lýlưu lượng truy cập báo hiệu lưu lượng điều khiển giảm thiểu các vấn đề Một ví
dụ là MTP không thể vận chuyển các tin nhắn đến một đích đến cụ thể trongtrường hợp sự cố tất cả các tuyến đường báo hiệu đó điểm đến điểm Nếu nhưtình trạng xảy ra tại một STP, một chỉ dẫn tương ứng được cấp cho các chứcnăng quản lý báo hiệu phổ biến thêm cho các điểm báo hiệu hiệu trong mạng
5.5.3.1.2 Quản lý liên kết báo hiệu
Quản lý liên kết báo hiệu là kiểm soát các bộ liên kêt kết nội bộ trong hệthống Trong trường hợp có sự thay đổi trong tính khả dụng của một tập hợp cácliên kêt kết nội bộ, nó sẽ khởi tạo và điều khiển tác động với mục tiêu sẵn sàngkhôi phục lại bình thường tập hợp liên kết đó
Quản lý liên kết báo hiệu tương tự với các chức năng liên kêt báo hiệu ởmức 2 tiếp nhận tình trạng của các liên kết báo hiệu Nó cũng khởi đầu hoạt động
ở cấp 2, chẳng hạn như liên kết ban đầu của một đường kết nối của dịch vụ
Trang 26Hệ thống báo hiệu có thể được áp dụng trong các phương pháp báo hiệuliên kết Hãy cho rằng liên kết báo hiệu sẽ bao gồm một thiết bị đầu cuối và liênkết dữ liệu Nó cũng có thể sử dụng một sự sắp xếp trong đó bất kỳ kết nốichuyển mạch đến cuối cùng có thể được sử dụng kết hợp với bất kỳ thiết bị đầucuối báo hiệu nội bộ Ở đây, quản lý liên kết báo hiệu khởi tạo và điều khiển cáccấu hình lại của các thiết bị đầu cuối và các dữ liệu báo hiệu liên kết với mức độcấu hình này là tự động
5.5.3.1.3 Quản lý định tuyến báo hiệu
Quản lý đường báo hiệu chỉ liên quan đến phương thức báo hiệu associated (xem phần trước) Chuyển những thông tin về những thay đổi trongbáo hiệu các tuyến đường trong mạng lưới báo hiệu để cho phép các điểm từ xabáo hiệu để hoạt động với lưu lượng truy cập thông tin báo hiệu thích hợp Ví dụ,một điểm truyền báo hiệu có thể gửi thông báo cho biết không truy cập được tạimột điểm báo hiệu cụ thể thông qua truyền tín hiệu, do đó tạo điều kiện cho cácđiểm báo hiệu khác để ngăn chặn định tuyến bản tin đó đến tuyến truyền dẫnkhông hoạt động
quasi-5.5.4 Lớp liên kết báo hiệu (Lớp 1)
Một liên kết dữ liệu báo hiệu là một đường truyền dẫn hai chiều để truyềntín hiệu, gồm hai kênh dữ liệu hoạt động theo hướng ngược nhau ở cùng một tốc
độ dữ liệu Nó tạo thành các lớp (layer 1) trong thống phân cấp chức năng của hệthống SS-7 Một số báo hiệu liên kết dữ liệu được thực hiện bằng các kênhtruyền dẫn số và chuyển mạch số hoặc thiết bị cuối, cung cấp một giao diện báohiệu SS-7 thiết bị đầu cuối Các kênh truyền dẫn số có thể được bắt nguồn từluông số có thể đạt 1,544, 2,048, hay 8,448 Mbps có cấu trúc khung theo quyđịnh của CCITT Rec G.704 (xem chương mạng số) hoặc từ các dòng bit có mộtcấu trúc khung quy định cho các mạch dữ liệu trong Recs CCITT X.50, X.51
Các hoạt động liên kết dữ liệu báo hiệu chỉ dành riêng cho việc sử dụngcủa hệ thống báo hiệu SS-7 giữa hai điểm báo hiệu Không có những tín hiệukhác được thực hiện bởi các kênh tương tự cùng với các thông tin báo hiệu Thiết
bị như giảm tiếng dội, đệm số, luật A / μ chuyển đổi thuộc liên kết kênh truyềnphải được vô hiệu hóa để đảm bảo hoạt động full-duplex và tính toàn vẹn củaluồng dữ liệu truyền đi Trong tường hợp này, các kênh báo hiệu số 64 Kbpsđược sử dụng
Các báo hiệu tốc độ bit tối thiểu cho các ứng dụng điều khiển cuộc gọiđiện thoại là 4,8 kbps Đối với các ứng dụng khác như quản lý mạng, tốc độ bitthấp hơn 4,8 kbps cũng có thể được sử dụng Sau đây là áp dụng cho một liên kết
Trang 27dữ liệu báo hiệu số thuật số dùng luồng 2,048-Mbps (ví dụ: luồng E1) Tại giaodiện đầu vào / đầu ra, các thiết bị ghép kênh kỹ thuật số hoặc khối số chuyểnmạch sẽ thực hiện theo quy định với Recs CCITT G.703 cho các đặc tính điện
và CCITT G.704 cho các cấu trúc đặc tính trong chức năng đặc biệt, khung hình.Tốc độ bit báo hiệu là 64 kbps Khe thời gian tiêu chuẩn cho báo hiệu là khe thờigian thứ 16 Khi khe thời gian 16 là không có sẵn, bất kỳ khe thời gian có sẵncho 64-kbps tốc độ truyền dẫn có thể được sử dụng không có đảo bit được thựchiện
Đối với một báo hiệu liên kết dữ liệu xuất phát từ một liên kết có tốc độ8,448 Mbps (ví dụ: luồng E2), sau đây áp dụng: Tại giao diện đầu vào / đầu ramultiplex, cần có phù hợp với CCITT Recs G.703 cho các đặc tính điện vàG.704 cho các đặc điểm chức năng bên trong đặc biệt là cấu trúc khung Tốc độbit tín hiệu báo hiệu là 64 kbps Các khe thời gian tiêu chuẩn cho sử dụng mộtliên kết dữ liệu báo hiệu là khe thời gian 67-70 và giảm dần trình tự ưu tiên Khichưa có các khe thời gian, bất cứ lúc nào kênh khe cắm mở rộng cho 64-kbps tốc
độ truyền dẫn người sử dụng có thể được sử dụng không có đảo bit được thựchiện
Đối với các mạng sử dụng hệ thống SS-7 của Bắc Mỹ, Telcordia: hệ thốngbáo hiệu SS-7 và Mạng Evolution CCS cho rằng tốc độ dữ liệu từ 4,8 đến 64kbps có thể được sử dụng
5.5.5 Đường báo hiệu (Lớp 2)
Phần này thực hiện việc chuyển giao bản tin báo hiệu trên một liên kết báohiệu trực tiếp kết nối hai điểm báo hiệu Bản tin báo hiệu được giao bởi các lớpphía trên được chuyển qua liên kết báo hiệu trong các đơn vị tín hiệu có độ dàithay đổi Các đơn vị tín hiệu bao gồm kiểm soát thông tin chuyển giao cho hoạtđộng thích hợp của liên kết báo hiệu những thông tin báo hiệu Các chức năngcủa lớp liên kết báo hiệu (lớp 2) bao gồm:
Phạm vi đơn vị báo hiệu
Liên kết đơn vị báo hiệu
Phát hiện lỗi
Sửa lỗi
Liên kết ban đầu
Báo hiệu lỗi giám sát liên kết
Kiểm soát lưu lượng
Tất cả các chức năng này được trình bày như trong hình 5
Trang 285.5.5.1 Phân định và sắp xếp các đơn vị báo hiệu
Sự bắt đầu và kết thúc của một đơn vị tín hiệu báo hiệu được chỉ định bởimột mô hình 8-bit duy nhất được gọi là cờ Các biện pháp được thực hiện để đảmbảo rằng mô hình không thể bị sao chép ở nơi khác trong đơn vị Mất liên kết xảy
ra khi một mẫu bit bị các thủ tục không cho phép, hoặc khi vượt quá chiều dài tối
đa của đơn vị tín hiệu nhất định Mất liên kết sẽ gây ra một sự thay đổi trongphương thức hoạt động của đơn vị tín hiệu và tỷ lệ lỗi giám sát
5.5.5.2 Phát hiện lỗi
Chức năng phát hiện lỗi được thực hiện bằng cách kiểm tra bit thứ 16 củacuối của mỗi đơn vị bản tin báo hiệu Các bit kiểm tra được tạo ra bởi các thiết bịđầu cuối hoạt động trên các bit của đơn vị báo hiệu theo các thuật toán được quyđịnh trước Tại các thiết bị đầu cuối liên kết nhận được tín hiệu, các bit kiểm tra
đã nhận hoạt động bằng cách sử dụng quy tắc quy định tương ứng với thuật toán.Nếu thống nhất được tìm thấy giữa các bit kiểm tra nhận được và các bit trên củađơn vị tín hiệu theo các thuật toán, sau đó sự hiện diện của các lỗi được chỉ định
và các đơn vị tín hiệu được bỏ đi
5.5.5.3 Sửa lỗi (Error Correction)
Hai hình thức sửa lỗi được cung cấp: phương pháp cơ bản và phương pháptheo chu kỳ truyền lại Các phương pháp cơ bản áp dụng đối với (a) báo hiệu liênkết bằng cách sử dụng truyền đường dài trên mặt đất và (b) truyền liên tục tínhiệu ít hơn 15 msec mỗi lần truyền
Trong trường hợp một báo hiệu liên kết với một tập hợp các liên kết xađược thành lập thông qua vệ tinh, phương pháp ngăn chặn chu kỳ tự truyền lại