1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đông y dược part 9 pdf

150 455 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 5,4 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cách dùng, liều lượng: Lá mỏ quạ tươi đã được dùng chữa vết thương phần mềm theo kinh nghiệm của cụ lang Long Hải Dương như sau: Chủ yếu dùng lá mỏ quạ tươi, rồi tùy theo vết thương, th

Trang 2

Tên khoa học: Gelsemium elegans Benth., họ Mã tiền (Loganiaceae)

Mô tả: Cây lá ngón thuộc loại cây bụi leo, có nhiều cành leo dựa vào cây khác Lá

mọc đối, màu xanh bóng, hình tròn, đầu nhọn Hoa mọc thành chùm ở kẽ lá hoặc đầu cành, màu vàng, hình ống nhỏ, xòe 5 cánh Mùa hoa từ tháng 6 - 10 Quả nang thon dài, màu nâu, chứa nhiều hạt Hạt nhỏ, hình hạt đậu, màu nâu nhạt, có cánh mỏng phát tán theo gió rất xa Cây lá ngón mọc hoang khắp nơi trong nước

Trang 3

ta, phổ biến ở vùng rừng núi

Bộ phân dùng: lá, rễ

Phân bố: Cây mọc hoang ở một số vùng đồi, núi nước ta

Thành phần hoá học: Alcaloid (gelsemin, gelmicin )

Công dụng: Chữa mụn nhọt độc, chữa vết thương do ngã hay bị đánh đòn

Cách dùng, liều lượng: Giã nhỏ đắp ngoài hoặc sắc lấy nước rửa chỗ đau

Ghi chú: Cây Lá ngón là nguyên nhân của rất nhiều vụ ngộ độc ở các vùng rừng,

núi Alcaloid của Cây lá ngón có độc tính rất mạnh, dễ gây ngộ độc chết người Khi ngộ độc bị nôn mửa, hôn mê, giãn đồng tử, ngạt hô hấp, các cơ bị mềm nhün, đau bụng dữ dội, chảy máu dạ dày, ruột Khi ngộ độc phải rửa dạ dày, chuyển đến bệnh viện cấp cứu

180 CÂY MỎ QUẠ

Trang 4

Tên khác: Hoàng lồ, Vàng lồ, Xuyên phá thạch

Tên khoa học: Cudrania tricuspidata (Carr.) Bur, họ Dâu tằm (Moraceae)

Mô tả: Cây nhỏ, thân mềm yếu, nhiều cành, tạo thành bụi, có khi mọc thành cây

nhỡ, chịu khô hạn rất khỏe, có nhựa mủ trắng, rễ hình trụ có nhiều nhánh, mọc ngang, rất dài, nếu gặp đá có thể xuyên qua được (do đó có tên xuyên phá thạch

có nghĩa là phá chui qua đá) Vỏ thân màu tro nâu, trên có nhiều bì khổng màu trắng, thân và cành có rất nhiều gai, gai già hơi cong xuống trông như mỏ con quạ (do đó có tên cây mỏ quạ) Lá mọc cách, hình trứng thuôn, hai đầu nhọn, mặt lá nhẵn, bóng, mép nguyên Nhấm có vị tê tê ở lưỡi (đặc điểm) Cụm hoa hình cầu, đường kính 7-10mm, màu vàng nhạt, mọc thành đôi hay mọc đơn độc ở kẽ lá Hoa đơn tính, đực cái khác gốc Mùa hoa tại Hà Nội là tháng 4 Quả màu hồng họp thành quả kép Mùa quả tháng 10-11

Bộ phận dùng: Lá, rễ

Phân bố: Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta

Thu hái: Thường dùng lá tươi, có khi hái cả cành về nhà mới bứt lá riêng Còn

Trang 5

dùng rễ, đào về rửa sạch đất, cắt thành từng mẩu 30-50cm, phơi hay sấy khô Vỏ ngoài màu vàng đất, vết cắt màu vàng nhạt, vị hơi tê tê

Thành phần hoá học: Flavonoid

Công dụng: Chữa vết thương phần mềm

Cách dùng, liều lượng:

Lá mỏ quạ tươi đã được dùng chữa vết thương phần mềm theo kinh nghiệm của

cụ lang Long (Hải Dương) như sau: Chủ yếu dùng lá mỏ quạ tươi, rồi tùy theo vết thương, thêm một hai vị khác Lá mỏ quạ tươi lấy về rửa sạch, bỏ cọng, giã nhỏ đắp vào vết thương Nếu vết thương xuyên thủng thì phải đắp cả hai bên, băng lại Mỗi ngày rửa và thay băng một lần Thuốc rửa vết thương là lá trầu không nấu với nước (40g lá trầu, 2 lít nước, nấu sôi để nguội, thêm vào đó 8g phèn phi, hòa tan, lọc và dùng rửa vết thương) Sau 3-5 ngày đã đỡ, khi đó hai ngày mới cần rửa

và thay băng một lần

Trường hợp vết thương tiến triển tốt nhưng lâu đầy thịt thì thay thuốc sau: Lá mỏ quạ tươi và lá thòng bong, hai vị bằng nhau, giã lẫn cả hai thứ đắp lên vết thương, mỗi ngày rửa và thay băng một lần 3-4 ngày sau lại thay thuốc sau: lá mỏ quạ tươi, lá thòng bong, lá hàn the (Desmodium heterophyllum DC.) ba thứ bằng nhau, cứ 3 ngày mới thay băng một lần để vết thương chóng lên da non

Sau 2-3 lần thay băng bằng 3 vị trên thì rắc lên vết thương thuốc bột chế bằng phấn cây cau (sao khô) 20g, phấn cây chè (sao khô) 16g, ô long vĩ (bồ hóng) 8g, phèn phi 4g Các vị tán mịn, trộn đều rắc lên vết thương rồi để yên cho vết

thương đóng vẩy và róc thì thôi

Rễ được dùng trong nhân dân ta và ở Trung Quốc (Quảng Tây) làm thuốc khứ phong, hoạt huyết phá ứ, chữa ứ tích lâu năm, bị đả thương, phụ nữ kinh bế Ngày dùng 10-30g rễ dưới dạng thuốc sắc Theo kinh nghiệm nhân dân, phụ nữ có thai không dùng được

Trang 6

181 CÂY MÙI

Tên khác: Hồ tuy, Nguyên tuy

Tên khoa học: Coriandrum sativum L., họ Cần (Apiaceae)

Mô tả: Dạng thảo nhỏ mọc hằng năm, cao 20 đến 60 cm hay hơn, nhẵn, thân

mảnh, lá bóng màu lục tươi; các lá ở dưới chia thành phiến hình trái xoan, có răng; các lá ở trên chia thành tua rất nhiều Cụm hoa tán kép Hoa màu trắng, ít khi màu hồng Quả hình cầu màu vàng sẫm

Trang 7

Bộ phận dùng: Quả (Fructus Coriandri)

Phân bố: Cây được trồng khắp nơi làm rau, gia vị và làm thuốc

Thành phần hoá học: Quả mùi có tinh dầu (0,3 - 1,0% ), chất béo (13 - 20%),

protein (16 - 18%), chất xơ (38%) Thành phần chủ yếu của tinh dầu là Linalol quay phải (70-90), còn gọi là Coriandrol 5% D-pinen, limonen, tecpinen, mycxen,

phelandren, một ít geraniol và bocneol Trong lá thân cüng chứa trên dưới 1% tinh dầu

Công dụng: Thúc đậu sởi mọc, làm thuốc giúp tiêu hoá

Cách dùng, liều lượng: Lấy khoảng 50g quả giã nát, hoà vào một ít nước, vẩy lên

người Uống trong 4 - 8g/ngày

Bài thuốc:

1.Chữa bệnh sởi trẻ em: Chủ yếu lúc sởi mới mọc, sởi mọc không đều, hoặc sốt kéo dài mà sởi chưa mọc hoặc mọc quá ít, dùng cây rau mùi có tác dụng thúc sởi mọc nhanh và đều, tăng tuần hoàn ngoại vi làm cho độc sởi được phát ra ngoài, trạng thái nhiễm độc được giảm nhẹ

-Dùng ngoài: Hạt rau mùi tươi ( hoặc cả thân lá) 100 - 150g sắc nước sôi độ 5 phút, giã nát để sắc (không sắc lâu) đem xoa ấn vào tay chân và thân mình trẻ ( theo thứ tự lưng trước bụng sau, trên trước dưới sau) không để trẻ bị lạnh Hoặc dùng Hạt mùi 80g tán nhỏ trộn với rượu 100ml và nước 100ml đun sôi lọc bỏ bã phun vào người bệnh nhi trừ mặt ( để nước thuốc hơi ấm mà dùng)

-Uống trong: Hạt mùi 12g sắc nuớc uống ấm trong ngày 1 - 2 lần

2.Trị rối loạn tiêu hóa bụng đầy đau do thực tích: Dùng bài: Hồ tuy 8g, Đinh hương 4g, Quất bì 4g, Hoàng liên 4g, sắc nước uống

Trang 8

3.Kinh nghiệm trị những chứng khác:

-Phụ nữ sau đẻ cạn sữa: Quả mùi 6g, nước 100ml, đun sôi 15 phút chia 2 lần uống trong ngày

-Trị da mặt có những nốt đen: Quả mùi sắc nước rửa luôn, nốt đen sẽ mất dần

-Trị lòi dom: Quả mùi đốt hun khói xông hâïu môn

-Trị lãi kim: Hạt mùi tán mịn trộn với bột trứng gà luộc chín và dầu mè liên tục 3 ngày, mỗi ngày một lần trước lúc ngủ

-Trị buồn nôn ợ hơi: dùng hạt Hồ tuy, hạt củ cải, mỗi thứ 40g, tán bột mịn trộn lẫn, mỗi lần uống 4 - 8g, ngày 2 lần

-Phòng bệnh sởi: sắc nước rau mùi cho trẻ uống trong thời gian có tiếp xúc với trẻ mắc bệnh sởi trong 7 - 10 ngày

Ghi chú: Không dùng thuốc lúc sởi đã mọc đều, thời kz toàn phát và hồi phục của

bệnh sởi Không dùng đối với bệnh nhiễm mồ hôi ra nhiều, cơ thể suy nhược, bệnh nhân có lóet dạ dày không dùng uống trong

182 CÂY NGOI

Trang 9

Tên khác: Cà hôi, La rừng, Cà bi

Tên khoa học: Solanum erianthum D Don= Solanum verbascifolium auct no L.,

thuộc họ Cà (Solanaceae)

Mô tả: Cây bụi nhỏ, cao từ 2-5m, có khi là cây gỗ cao tới 10m Thân hình trụ, vỏ

thân non có màu xanh và phủ một lớp lụng che chở Lá đơn, mọc cách, không có

lá kèm, thuôn nhọn ở hai đầu, toàn lỏ phủ một lớp lụng mịn Cuống lá dài 2-5 cm, phiến lá to (rộng 4-9 cm, dài 10-23 cm) có mép nguyên, gân lá lông chim, gân lồi

cả mặt trên và dưới Cụm hoa mọc ở ngọn cành, kiểu xim hai ngả, có hiện tượng lôi cuốn, thẳng đứng thường xuất hiện ở đỉnh cành; cuống chung to và chắc dài 3-

12 cm; cuống hoa dài 3-5mm Hoa lưỡng tính đài hình chuông đường kính 1 cm, phủ đầy lụng mềm Đài 5-7 dính nhau, phát triển cùng quả, màu xanh; thuz đài hình trứng, dài 3 mm Tràng hoa gồm 5-7 cánh hoa hình müi mác màu trắng, thuz tràng cỡ 6-8 x 3-4mm Nhị 5-7, màu vàng có chỉ nhị rất ngắn (dài 1mm), bao phấn dài 2mm mở bằng khe dọc Bộ nhuỵ gồm 2 lá noãn dính nhau tạo thành bầu trên,

Trang 10

có 2 ô, nhiều hơn có thể do có vách giả, mỗi ô nhiều noãn Quả mọng hình cầu, đường kính 0,8-1cm, có màu xanh khi chín màu vàng Hạt rất nhiều, đường kính 1-2 mm Mựa hoa quả gần như quanh năm, mọc ở nơi đất hoang bụi rậm, rải rác

ở ven rừng

Bộ phận dùng: Lá

Phân bố: mọc hoang trên khắp đất nước, đặc biệt là các tỉnh phía Bắc như Hà

Giang, Cao Bằng, Hoà Bình, Lạng Sơn và ngay tại Hà Nội cüng phát triển tốt

- Tác dụng chống viêm cấp: Phân đoạn glycoalcaloidTP và phân đoạn nước còn lại (liều tương đương 10g dược liệu/kg thể trọng/ngày) có tác dụng chống viêm cấp Tác dụng mạnh nhất ở thời điểm sau khi gây phù 3 giờ và 4 giờ

- Tác dụng trên ruột chuột lang cô lập: Phân đoạn glycoalcaloidTP và phân đoạn nước còn lại: ở nồng độ 0,15% và 0,30% đều có tác dụng tăng trương lực cơ Phân đoạn ethyl acetat có tác dụng giãn trương lực cơ

Trang 11

3-O-α-L-rhamnopyranoside, myricitrin, kaempferol 3-O-[βglucopyranosyl-(1->2)- glucopyranoside]-7-O-α-L-rhamnopyranoside, kaempferol 3-O-β-D-

-D-glucopyranoside-7-O-α-L-rhamnopyranoside, coumaroyl)-glucopyranoside (Tiliroside)

kaempferol-3-β-D-(6-O-trans-p Lá Ngoi có chứa tinh dầu, thành phần chính của tinh dầu quả là carryophylen và germacren D

Công năng: Tiêu thüng, chỉ thống, thu liễm, sát trùng

Công dụng: Chữa bệnh trĩ, tràng nhạc, hắc lào

Liều dùng, cách dùng:

+ Sa trực tràng: Lá tươi ngắt bỏ cuống và gân giã nát sao cho nóng rồi đắp

vào hậu môn sau khi đã rửa sạch bằng nước ấm Có thể để nguyên lá hay nướng cháy lá, vo lại cho vào hậu môn Làm buổi tối truớc khi đi ngủ để tránh đi lại Bệnh nhân bị sa trực tràng thường khỏi rất nhanh, đi lại bình thường 2-3 năm sau

không thấy tái phát (Bệnh viện Hà Giang-1996)

+ Chứng kết hạch ở cổ: Lá hoặc quả cây Ngoi 10 g, lá dâm bụt 10 g, vỏ rễ hoặc vỏ thân cây gạo (cạo sạch vỏ ngoài) 20 g Tất cả giã nát để ngập xâm xấp nước vo gạo đặc, đun sôi nhỏ lửa đến khi sền sệt Để nguội đắp vào chỗ bị kết hạch ở cổ, băng lại, ngày thay 1 lần Kinh nghiệm cho thấy có thể chữa chứng kết hạch ở cổ chưa mưng mủ hoặc đã có mủ

+ Chữa hắc lào: Lá Ngoi tươi giã nát, vắt lấy nước đặc bôi, ngày làm một lần

183 CÂY NGỌT NGHẸO

Trang 12

Hoa cây Ngọt nghẹo

CÂY NGỌT NGHẸO

Tuber et Folium Gloriosae

Tên khác: Vinh quang rực rỡ

Tên khoa học: Gloriosa superba L = Gloriosa symplex Don., họ Hành (Liliaceae)

Mô tả: Cây mọc ở đất, có thân bò, leo cao 1-1,5m nhờ đầu lá biến thành vòi quấn,

láng, trắng hay vàng Hoa to, dẹp, đính cạnh các lá ở ngọn Đài và tràng như nhau, vàng ở gốc, đỏ ở đầu lúc mới nở, rồi đỏ đậm, m p nhăn nheo Nhị to, chỉ nhị đỏ, vòi nhuỵ ngang Quả nang dài 4-5cm, có 3 ô, mở vách

Mùa hoa tháng 5-11

Bộ phận dùng: Thân rễ, lá

Phân bố: Thường mọc ở các đồng cát dựa biển và trên các đất trống, trảng nắng ở

Trang 13

các tỉnh Nam Trung bộ Việt Nam Cüng được trồng ở nhiều nơi ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long làm cây cảnh vì hoa đẹp

Thành phần hoá học: Thân rễ chứa alcaloid colchicin (0,3%), gloriosin, acid tannic,

tinh bột, đường khử Trong lá có colchicin, dimethylcolchicin,

N-formyldeacetylcolchicin và lumicolchicin và hai alcaloid khác có liên quan

Tác dụng dược lý: Thân rễ rất độc, có tác dụng xổ, lợi mật, trừ giun Nó có tính

kích thích dạ dày ruột nên có thể gây nôn và xổ, nước chiết củ có tính kháng

khuẩn đối với Staphylococcus aureus

Trang 14

Tên khác: Cây ngao, Nhầu núi, cây Giầu

Tên khoa học: Morinda citrifolia L., họ Cà phê (Rubiaceae)

Mô tả: Cây nhỡ hay cây gỗ, hoàn toàn nhẵn Lá hình bầu dục rộng, ít khi bầu dục

thuôn, có góc ở gốc, có müi nhọn ngắn, nhọn hoặc tù ở chóp, dài 12-30cm, rộng 6-15cm, bóng loáng, dạng màng Hoa trắng, hợp thành đầu, đường kính 2-4cm Quả nạc, gồm nhiều quả mọng nhỏ, màu vàng lục nhạt, bóng, dính với nhau, chứa mỗi cái 2 hạch có 1 hạt Hạt có phôi nhü cứng

Bộ phận dùng: Quả, rễ, lá, hạt của cây Nhàu (Morinda citrifolia)

Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng nhiều ở các tỉnh phía nam

Thành phần hoá học: Anthranoid: morindon, morindin, morindadiol, soranjidiol,

acid rubichloric, alizarin a-methyl ether và rubiadin 1-methyl ether

Công dụng:

Trang 15

Quả nhàu Ăn với muối dễ tiêu, nhuận tràng làm thuốc điều kinh, trị băng huyết, bạch đới, ho cảm, hen, thüng, đau gân, đái đường Nướng chín ăn để chữa lỵ Ăn ngày 1-3 quả Vì mùi hăng, nồng và cay nên khó ăn được nhiều

Rễ nhàu: Ngoài công dụng nhuộm màu đỏ quần áo vải lụa, người Việt Nam đào về thái nhỏ, sao vàng ngâm rượu uống chữa nhức mỏi, đau lưng (có khi dung quả nhàu non, thái mỏng, sao khô thay rễ)

Lá nhàu: Giã nát đắp chữa mụn nhọt, mau lên da non Sắc uống chữa đi lỵ, chữa sốt và làm thuốc bổ, lá nhàu còn dùng nấu canh lươn ăn bổ

Vỏ cây nhàu: Nấu nước cho phụ nữ sau khi sanh uống bổ máu

Cách dùng, liều dùng: Rễ cây nhàu 20-30g khô/ngày, lá tươi 8-20g

Bài thuốc:

1 Chữa huyết áp cao: rễ nhàu 30-40g/ngày, sắc uống thay nước chè, sau 2 tuần là

có kết quả, sau đó giảm bớt liều, uống liên tục 2,3 tháng

2 Nhức mỏi tay chân, đau lưng: quả nhàu non thái mỏng sao khô, 300g ngâm trong 2 lít rượu 30-40 độ sau 2 tuần, uống ngày 2 lần, lần 1 ly con 30-40ml

3 Chữa lỵ, tiêu chảy, cảm sốt: lá nhàu tươi 3-6 lá tươi rửa sạch nấu với 500ml nước còn 200ml chia 2 lần uống/ngày Uống liên tục 2-5 ngày

Chú ý:

- Một số cây chi Morinda cüng được gọi là cây Nhàu

- Nước ta đã sản xuất được một số chế phẩm từ quả Nhàu dưới các dạng bào chế khác nhau

Trang 16

185 CÂY RÂU MÈO

Tên khác: Cây bông bạc

Tên khoa học: Orthosiphon stamineus Benth., họ Bạc hà (Lamiaceae)

Mô tả: Cây thảo, sống lâu năm, cao 0.3 – 0.5m, có khi hơn Thân mảnh cứng, hình

vuông, mọc đứng, thường có màu nâu tím, nhẵn hoặc có ít lông, ít phân cành Lá mọc đối, hình trứng, dài 4 – 6cm, rộng 2,5 – 4cm, gốc tròn, đầu nhọn, m p khía răng to, gân lá hơi nổi rõ ở mặt dưới; cuốn lá dài 3 – 4cm Cụm hoa mọc thẳng ở ngọn thân và đầu cành, dài 8 – 10cm, gồm 6 – 10 vòng, mỗi vòng có 6 hoa màu trắng hoặc hơi tím; lá bắc nhỏ rụng sớm; dài hình chuông có 5 răng, răng trên rộng, tõe ra ngoài; tràng hình ống hẹp, thẳng hoặc hơi cong, dài 2 cm, môi trên chia 3 thùy, môi dưới nguyên; nhị mọc thò ra ngoài hoa, dài gấp 2 – 3 lần tràng, chỉ nhị mảnh, nhẵn; vòi nhụy dài hơn nhị Quả bế tư, nhỏ, nhẵn Mùa hoa quả:

Trang 17

tháng 4 – 7

Bộ phận dùng: Phần trên mặt đất (Herba Orthosiphonis)

Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng ở nước ta

Thu hái: khi cây chưa có hoa, phơi khô

Tác dụng dược lý:

Theo các tác giả Chow S.Y.Liao J.F (Đài Loan), dịch chiết từ râu mèo trên chó thí nghiệm bằng đường tiêm truyền tính mạch vơi liều 18,8mg/kg/phút có tác dụng tăng cường bài tiết nước tiểu và các chất điện giải Na+ K+ Cl Trên chuột nhắt trắng, râu mèo bằng đường tiêm xoang bụng với liều 2 – 4g/kg làm giảm hoạt động vận động của chuột Trên chó, bằng đường tiêm truyền tĩnh mạch với liều 0.179g/kg có tác dụng hạ huyết áp và làm giảm tần số hô hấp Dịch chiết bằng cồn của râu mèo trên chuột nhắt trắng bằng đường tiêm xoang bụng có LD50 =

196g/kg

Các tác giả G.A Schut và J.H.Zwaving (Hà Lan) đã xác định tác dụng lợi tiểu của 2 flavon sinensetin và 3-hydroxy-3,6,7,4 tetramethoxyflavon bằng đường tiêm tính mạch với liều lượng 10g/kg, lượng nước tiểu thu được sau 140phút là 410mg, còn Sinensetin dùng cùng liều trên, lượng nước tiểu thu được sau 160 phút là 614mg, trong khi đó ở lô chuột đối chứng, sau 120phút, không thu được một lượng nước tiểu nào Hai flavon trên cùng một liều 1mg/kg có so sánh với tác dụng của

hydrochlorothiazid thấy tác dụng lợi tiểu yếu hơn và xuất hiện chậm Đồng thời, các tác giả cüng khẳng định 2 flavon trên với liều 10mg/kg trên chuột cống trắng, không thể hiện tác dụng lợi mật Xuất phát từ tác dụng điều trị viêm thận của râu mèo, 2 tác giả trên đã tiến hành nghiên cứu tác dụng chống viêm và tác dụng kháng khuẩn của các flavon chiếc tách từ râu mèo Kết quả cho thấy trên thí

nghiệm gây viêm bằng phương pháp cấy viên bông (cotton-pellet), sinensentin không thể hiện tác dụng chống viên Về tác dụng kháng khuẩn, đã nghiên cứu với các chủng Escherichia coli, Proteus mirabilis, Pseudômnas aeruginosa,

Trang 18

Staphylococcus aureus và Enterococcus là những chủng có thể gây nhiễm đường tiết niệu, kết quả cho thấy cả 3 flovon sinensetin, tetramethylsutellarein và 3’ – hydroxy -3, 6, 7, 4’ tetramethoxyflavon đều không có tác dụng kháng khuẩn với các chủng đã nêu

Về dược l{ lâm sàn, theo các tác giả Ấn Độ, râu mèo rất có ích theo đều trị bệnh thận và phù thüng.Trên bệnh nhân, râu mèo có tác dụng làm kềm hóa máu, sự có mặt của hoạt chất orthosiphonin và muối kali trong dược liệu có tác dụng giữa cho acid uric và muối urat ở dạng hòa tan, do đó phòng ngừa được sự lắng đọng của chúng để tạo thành sỏi thận Ở Thái Lan, thí nghiệm trên những người tình nguyện khỏe mạnh, dịch râu mèo có tác dụng làm tăng sự bài tiết citrat và oxalat; Oxalat với hàm lượng cao có thể tăng nguy cơ hình thành sỏi thận

Ngoài ra, dịch chiết lá râu mèo có tác dụng hạ đường huyết ở bệnh nhân tiểu đường, nhưng tác dụng này không hằng định, cơ chế tác dụng có thể là do kích thích sự hình thành glycogen ở gan Các chất sinensetin và

tetramethylscutellarein có tác dụng ức chế tế bào u báng Ehrlich

Thành phần hoá học: Bên cạnh các chất thông thường như muối kali (3%), β–

sitosterol, ∂-amyrin, inositol, còn có glycosid orthosiphonin, nhiều hợp chất

polyphenol và một tỷ lệ rất thấp tinh dầu (0,02 – 0,06%) Polyphenol là thành phần có liên quan đến tác dụng trị liệu của cây râu mèo và gồm: các

phenylpropanoid (acid rosmarinic, acid dicafeytartric), các flavonoid (dẫn xuất di, tri, tetra, pentametyl của sinensentin, salvigenin, eupatorin, rhamnazin,

cirsimaritin, scutellarein; các dẫn xuất metylen của luteolol và trimetyl apigenin) Thành phần chủ yếu của tinh dầu là các sesquiterpen ( β – elemen, β –

caryophylen, β – selinen ∂ - guaien, ∂ - humulen và ∂ - cadinen) Trong hoa có 4% một dẫn xuất benzopyran là metyl ripariochromen A

Công năng: lợi tiểu, thanh nhiệt, trừ thấp

Công dụng: Thuốc lợi tiểu mạnh, thông mật, dùng trong bệnh sỏi thận, sỏi túi

mật, viêm túi mật

Trang 19

Cách dùng, liều lượng: Ngày 5-6g bột dược liệu pha với nửa lít nước nóng, chia

làm 2 lần, uống trước bữa ăn 15-30 phút Thường uống 8 ngày lại nghỉ 2-4 ngày

186 CÂY SỮA

Trang 20

Tên khác: Vỏ sữa, Mùi cua, Mò cua

Tên khoa học: Alstonia scholaris (L.) R.Br., họ Trúc đào (Apocynaceae)

Mô tả: Cây sữa là một loại cây to, có thể cao từ 15-30m Cành mọc vòng, lá cüng

mọc vòng, phiến lá hình bầu dục dài, đầu tù hoặc hơi nhọn, đáy lá hình nêm, mặt trên bóng, mặt dưới mờ, phiến cứng dài 8-22cm, rộng 5,5-6,5cm Gân song song

và mau Hoa nhỏ, màu trắng xám, mọc thành xim tán Quả gồm hai đại dài 50cm, gầy, mọc thõng xuống, màu nâu, có gân dọc Hạt nhiều, nhỏ dẹt, hai đầu tròn hoặc cụt, dài 7mm, rộng 2,5mm, trên mặt có lông màu nâu nhạt

25-Mùa hoa nở từ tháng 8 đến tháng 12

Toàn cây có chất nhựa mủ trắng, khi khô giống như chất cao su

Bộ phận dùng: Vỏ thân đã cạo bỏ lớp bần phơi hay sấy khô của cây Sữa (Alstonia

scholaris (L.) R.Br.)

Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta

Thu hái: Vỏ hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa xuân, hạ Hái về phơi hoặc

sấy khô để dành Hiệu suất thấp Một cây 25 năm cho chừng 19kg vỏ khô

Trang 21

hãn, dùng ngoài cầm máu

Công dụng: Làm thuốc bổ, chữa sốt, điều kinh, chữa lỵ

Cách dùng, liều lượng: Ngày uống 1-3g bột vỏ phơi khô dạng thuốc sắc hoặc cao

lỏng Có thể dùng dưới dạng rượu thuốc

Bài thuốc:

1 Bột vỏ cây sữa phơi khô hoặc sấy khô rồi tán nhỏ, ngày uống 0,2-0,3g

Có thể ngâm rượu uống như sau:

2 Rượu vỏ cây sữa: Vỏ cây sữa tán nhỏ 75g, rượu uống (35-400) 500ml, đậy kỹ, ngâm trong 7 ngày, thỉnh thoảng lắc đều Sau đó lọc và thêm rượu vào cho đủ 500ml

Ngày uống 4-8g rượu này Uống 15 phút trước 2 bữa ăn chính

3 Cao lỏng vỏ cây sữa: Chế bằng cồn 600 theo phương pháp chế cao lỏng Hoặc

có thể ngâm bột vỏ sữa với cồn 600 trong 7 ngày Thỉnh thoảng lắc, lọc và thêm cồn 600 cho bằng trọng lượng của vỏ Ví dụ ngâm 1kg vỏ thì sẽ được 1 lít cao lỏng Cao lỏng này dùng với liều 0,5-1,5g mỗi ngày Nhiều nhất chỉ uống 2g/lần và 6g trong 1 ngày

187 CÂY THUỐC BỎNG

Trang 22

Tên khác: Cây sống đời, Diệp sinh căn, Thuốc bỏng, trường sinh, đả bất tử, tầu

púa sung (Dao)

Tên khoa học: Kalanchoe pinata (Lam.) Pers., họ Thuốc bỏng (Crassulaceae)

Mô tả: Cây cỏ, sống lâu năm, cao 40 - 60cm Thân tròn, nhẵn, có đốm tía Lá mọc

đối, nguyên hoặc xẻ 3 thùy, ít khi 5 - 7 Phiến lá dày, mọng nước, có răng cưa tròn

ở mép Hoa mọc thõng xuống, màu đỏ hoặc vàng cam tụ tập thành xim trên một cán dài ở ngọn thân Quả gồm 4 đại

Bộ phận dùng: Lá

Phân bố: Mọc hoang và được trồng làm cảnh ở nhiều nơi nước ta

Thành phần hoá học: Acid hữu cơ : citric, isocitric, malic., flavonoid và một số hợp

chất phenolic khác

Trang 23

Công năng: Tiêu thüng, giảm đau, sinh cơ

Công dụng: Kháng khuẩn, tiêu viêm Dùng chữa bỏng, vết thương, lở loét, viêm

tấy, đau mắt sưng đỏ, chảy máu, dùng làm thuốc giải độc

Cách dùng, liều dùng: Dùng trong, ngày 20 - 40g giã tươi, thêm nước và gạn uống

Dùng ngoài, lấy lá tươi giã nhỏ, đắp hoặc chế thành dạng thuốc mỡ để bôi

Bài thuốc :

- Chữa chấn thương do t ngã, đánh đập; bỏng do lửa hay nước sôi và bỏng do nóng: dùng lá sống đời tươi giã nhuyễn đắp lên

- Viêm họng: ăn 10 lá sống đời, chia làm 10 lần trong ngày (sáng 4 lá, chiều 4 lá, tối

2 lá), nên nhai ngậm và nuốt cả bã, dùng khoảng 3 ngày

- Chữa viêm loét dạ dày, viêm ruột, trĩ nội đi ngoài ra máu: lấy một nắm lá tươi (50g), vò lấy nước uống hoặc sắc uống

- Mất sữa: sáng và chiều mỗi lần ăn 8 lá sống đời; người mất ngủ dùng đơn này, thì giấc ngủ sẽ đến sớm

- Chữa kiết lỵ và bệnh trĩ: lá sống đời, rau sam mỗi thứ 20g nhai nuốt nước hay sắc uống; hoặc mỗi ngày ăn 20 lá sống đời (sáng 8 lá, chiều 8 lá, tối 4 lá), ăn

khoảng 5 ngày

- Giải rượu: khi say rượu ăn 10 lá sống đời, khoảng 10 phút có tác dụng giải rượu

- Chữa viêm xoang müi: giã nát 2 lá sống đời lấy nước thấm vào bông, nút lỗ müi bên viêm, ngày 4-5 lần; nếu viêm cả 2 bên, thì sáng nút 1 bên, chiều nút 1 bên Cách này còn dùng cho người bị chảy máu cam

Trang 24

- Chữa phong ngứa không rõ lý do: dùng lá sống đời, lá nghễ răm, lá k , lá bồ hòn, nấu nước xông và tắm; dùng thêm lá k đầu ngựa, sắc uống trong vài ngày

Chú ý: Có thời gian người ta dùng lá cây này như là một loại thuốc chữa bách

Tên khác: Cảm lãm, Thanh quả, mác cơm, cây bùi

Tên khoa học: Canarium album (Lour) Raensch, họ Trám (Burseraceae)

Trang 25

Mô tả: Cây gỗ to, cao khoảng 15 - 20m Cành non màu nâu nhạt, có lông mềm Lá

kép lông chim, mọc so le, dài khoảng 30 - 40cm, gồm 7 - 11 lá chét Lá gần gốc có đầu ngắn; lá ở giữa dài hơn, có đầu thuôn dài; lá tận cùng hình bầu dục Lá chét dài 5 - 17cm, rộng 2 - 6cm, m p lá nguyên Gân lá hơi rõ, mặt trên lá màu xanh nhạt, bóng; mặt dưới có lông mềm màu nâu bạc Hoa mọc thành chùm kép ở đầu cành hay kẽ lá, tụ họp 2 - 3 hoa ở một mấu Hoa hình cầu, màu trắng Quả hình thoi, hai đầu tù, dài khoảng 45mm, rộng 20 - 25mm, khi chín có màu vàng nhạt, trong có hạch cứng nhẵn, hình thoi với 2 đầu nhọn, trong có 3 ngăn Mùa ra hoa: tháng 6 - 7, mùa quả tháng 8 - 10 Ở nước ta còn có loài trám đen (Canarium nigrum Lour Engl.), họ trám (Burseraceae) Là cây cao trung bình, lá kép hình lông chim, gồm 4 đôi lá ch t Hoa mọc thành chuz mang những nhánh gồm nhiều chùm tán 6 - 10 hoa Quả hình trứng, màu tím đen

Bộ phận dùng: Quả (Fructus Canarii); nhựa

Phân bố: Cây mọc hoang và được trồng ở nhiều nơi trong nước ta

Thành phần hoá học: Quả chứa protein (1,2%); chất béo (1%); carbohydrat

(12%) Nhựa có 18-30% tinh dầu, thành phần chủ yếu của tinh dầu là sabinen (45%); terpinen (16,7%)

Công năng: Thanh nhiệt sinh tân, giải độc

Trang 26

Cháo trám vừng: Vừng đen 30g, trám quả 20g, bạch truật 15g, đào nhân 5g, mật ong 20g, gạo tẻ 60g Đào nhân bóc bỏ vỏ và tâm Đem bạch truật và trám nấu lấy nước Lấy nước sắc được nấu cháo với gạo tẻ, vừng đen và đào nhân, khi cháo được cho thêm mật ong, khuấy đều Ngày ăn 1 - 2 lần Dùng mỗi đợt 7 - 20 ngày Dùng cho các trường hợp viêm khí phế quản ho khan ít đờm, đau sưng họng

Xi-rô trám củ cải: Trám 20g, củ cải 500g, rau mùi 30g Củ cải thái lát thêm nước nấu với trám, sau thêm rau mùi, đường trắng (hoặc chút muối, khuấy đều, gạn lấy nước cho uống, Ngày sắc 1 lần, chia uống nhiều lần trong ngày Dùng cho các trường hợp sởi, thủy đậu thời kz nổi ban, sốt phát ban

Thanh quả lô căn ẩm: Quả trám 10g, rễ sậy (lô căn) 30g Trám đập vụn cùng rễ sậy đem sắc trong 30 phút Dùng cho các trường hợp cảm nóng, cảm nắng, sốt nóng đau đầu, đau sưng họng, ho khan ít đờm

Nước sắc trám mạch môn: Trám 30g, mạch môn 10g, huyền sâm 15g, cam thảo 6g Cả 4 vị thuốc đều thái vụn, chia nhiều ấm nhỏ hãm cho uống trong ngày Dùng liên tục một đợt 7 - 20 ngày Chữa trường hợp viêm họng, viêm khí phế quản mạn tính, ho có đờm, đau sưng họng

Chữa ngộ độc do ăn phải cá độc: trám 3 - 5 quả, sắc lấy nước để uống

Chữa viêm tắc mạch: Quả trám trắng 200g, luộc kỹ, ăn và uống cả nước Dùng liền trong 50 ngày

Cao trám: Quả trám tươi 500g, đường trắng 125g Đập vỡ quả, nấu với nước nhiều lần, bỏ bã, lấy nước, cho 125g đường trắng, hoà tan, lọc và cô lại còn

250ml Ngày uống 2 - 3lần, mỗi lần 8 - 15ml, uống với nước đun sôi để nguội Chữa cổ họng sưng đau, miệng ráo, lưỡi khô, nhiều đờm

Chữa đau răng, sâu răng: Quả trám đốt thành than, tán mịn, trộn với xạ hương Bôi và xỉa vào chỗ đau

Chữa lở sơn: Vỏ cây trám chặt nhỏ, nấu với nước để tắm

Trang 27

Chữa nứt nẻ kẽ chân, gót chân khi trời rét: Hạt trám đốt thành than, tán mịn, thêm dầu lạc hay dầu vừng, trộn đều Bôi hàng ngày

Chữa tràng nhạc: Hạt trám, hạt gấc, vỏ quả mướp đắng đốt thành than, các vị liều lượng bằng nhau Trộn đều, hoà với mỡ lợn, bôi vào chỗ sưng

Quả trám tươi xanh có tác dụng giải độc rượu, chữa ngộ độc do cua cá Quả chín

có tác dụng an thần, chữa động kinh Nhân hạt trị giun và chữa Nhựa trám cất lấy tinh dầu, dùng trong kỹ nghệ nước hoa, colophan dùng trong kỹ nghệ vecni, xà phòng Nhựa trám trộn với bột cây đậu tương, hương bài làm hương thơm Do đó cây trám có nhiều tác dụng hữu ích trong phòng bệnh và chữa bệnh, cüng như kinh tế, dân sinh

189 CÂY TRÂU CỔ

Trang 28

Tên khác: Xộp, Vẩy ốc, Vương bất lưu hành

Tên khoa học: Ficus pumila Lin họ Dâu tằm (Moraceae)

Mô tả: Dây leo bò với rễ bám, có mủ trắng lúc cây còn non, có những nhánh bò

mang lá không có cuống, gốc hình tim, nhỏ như vẩy ốc, ở dạng trưởng thành, có những nhánh tự do mang lá lớn hơn và có cuống dài Cụm hoa có đế hoa bao kín dạng quả và quả sung, khi chín có màu đỏ

Mùa hoa tháng 5-10

Bộ phận dùng: Quả (Fructus Fici pumilae), lá, cành (Caulis Fici pumilae), rễ (Radix

Fici pumilae), nhựa mủ

Phân bố: Cây mọc hoang ở nhiều nơi trong nước ta

Thành phần hoá học: Trong vỏ quả có tới 13% chất gôm, khi thuỷ phân cho

glucose, fructose và arabinose Trong thân và lá có một số chất như: Mesoinositol, b- sitosterol, Taraxeryl aceatate, b- amyrin và lá có alcaloid

Công năng: Quả có tác dụng tráng dương cố tinh, lợi thấp thông sữa Dây cùng với

rễ có tác dụng khư phong hoạt lạc, hoạt huyết giải độc Lá có tác dụng tiêu thüng giải độc

Công dụng: Quả được dùng trị lỵ lâu ngày sinh lòi dom, kinh nguyệt không đều, ít

sữa, tắc tia sữa, viêm tinh hoàn, phong thấp, ung thüng, cüng dùng cho người bệnh di tinh, liệt dương, đái ra dưỡng trấp Dây, rễ dùng trị phong thấp tê mỏi, sang độc, ung nhọt và kinh nguyệt không đều Lá được dùng trị viêm khớp xương, nhức mỏi chân tay, đòn ngã tổn thương cüng dùng trị đinh sang, ngứa lở

Dân gian còn dùng nhựa cây Sộp để bôi ghẻ lở, hắc lào

Cách dùng, liều dùng: Ngày dùng 30g cành lá, 10-15g quả, 10-20g thân, dùng tươi

sắc uống hoặc nấu thành cao ngày dùng 5-10g chữa đau xương, đau mình của

Trang 29

người già, làm thuốc bổ, thuốc điều kinh, giúp sự tiêu hoá Có thể dùng cành lá Trâu cổ phối hợp với Ðậu đen, ngâm rượu uống bổ, chữa di tinh, liệt dương, đau mình mẩy, đau lưng

Bài thuốc: Chữa tắc tia sữa, sưng vú, ít sữa Quả Xộp 40g, bồ công anh, lá Mua,

mỗi vị 15g sắc uống Ngoài dùng lá Bồ công anh giã nhỏ chế giấm, chưng nóng chườm, đắp Lại dùng lá Ngải cứu khô giã tơi cuốn giấy lại như điếu thuốc lá, đốt

hơ chỗ ngực ngang 2 núm vú và chỗ chân vú bên bị tắc, hơ đến mức thấy nóng rát thì thôi (Theo lương y Lê Trần Ðức)

Chú ý: Quả bổ dọc phơi khô còn gọi là Quảng vương bất lưu hành (ở vùng Quảng

đông Trung Quốc) Vị thuốc Vương bất lưu hành là hạt của cây Vaccaria segetalis (Neck) Garcke (Semen Vaccariae) tính bình, vị đắng, có tác dụng hoạt huyết thông kinh

190 CÂY VÚ BÒ

Tên khác: Cây vú chó

Tên khoa học: Ficus heterophyllus L., họ Dâu tằm (Moraceae)

Trang 30

Mô tả: Cây nhỏ, cao 1-2m Ngọn non có lông Thân ít phân cành, có lông dày Lá

mọc so le, thường tập trung ở ngọn thân, hình bầu dục, gốc tròn hoặc hơi hình tim, đầu thuôn nhọn, có 3-5 thùy (thường là 3), mặt trên nháp, mặt dưới có lông nhỏ, m p khía răng, gân gốc 3; cuống là có lông dày cứng; lá kèm hình ngọn giáo Cụm hoa mọc ở kẽ lá gồm hoa đực và hoa cái; hoa đực không cuống, lá đài 4, hình dải, dính nhau ở gốc, nhị 2; hoa cái có cuống, lá đài 4, thuôn tù, bầu hình trái xoan

Quả phức, hình cầu, khi chín màu vàng

Mùa hoa quả: tháng 9-12

Phân bố: Vú bò phân bố rải rác khắp các tỉnh từ vùng núi thấp (dưới 600m) đến

Trung du và đồng bằng

Bộ phận dùng: Rễ, nhựa mủ, phần trên mặt đất

Thành phần hoá học: acid hữu cơ, acid amin; các chất triterpen, alcaloid và

coumarin

Công năng: Khu phong thấp, tráng gân cốt, khứ ứ, tiêu thüng, sinh tân

Công dụng: Thuốc bổ trong các trường hợp hư lao, tắc tia sữa, chữa phong thấp

Cách dùng, liều lượng: Chữa phong thấp: Ngày dùng 15-20g dưới dạng thuốc sắc

hay ngâm rượu Mỗi lít rượu ngâm 100-200g rễ sao vàng, mỗi ngày uống 15- 20ml rượu này

Chữa ngã bị ứ huyết, ngực bụng đau nhức, hòn cục: Toàn cây Vú bò giã nát, thêm rượu và ít muối, sao nóng đắp lên nơi đau

Bài thuốc:

Trang 31

- Chữa đau dạ dày, viêm tinh hoàn, lòi dom, sa tử cung: Vú bò 30g; Tô mộc, Hồi đầu thảo, Ngưu tất, Mộc thông mỗi vị 12 g Sắc uống (Lê Trần Đức)

- Chữa bế kinh, sau khi đẻ ứ huyết đau bụng: Rễ vú bò 30-60g Sắc nước rồi thêm

ít rượu uống

- Chữa đau phong thấp: Rễ vú bò 60g, móng giò lợn 250g, rượu 60g Thêm ít nước, sắc còn nửa bát, chia làm 2 lần uống trong ngày cách nhau 4-6 giờ

Chú ý: Rễ cây này thường gọi là Hoàng kz nam dùng thay thế Hoàng kz và còn

dùng chữa ho, phong thấp

Trang 32

191 CÂY XẤU HỔ

Tên khác: Trinh nữ, Cây mắc cỡ, Cây thẹn

Tên khoa học: Mimosa pudica L., họ Trinh nữ (Mimosaceae)

Mô tả: Cây nhỏ, phân nhiều nhánh, mọc thành bụi, loà xoà trên mặt đất, cao độ

50cm, thân có nhiều gai hình móc Lá kép lông chim chẵn, hai lần, cuống phụ xếp như hình chân vịt, khi dụng chạm nhẹ thì lá cụp xẹp lại, hoặc buổi tối cüng cụp lại

Lá chét nhỏ gồm 12-14 đôi Hoa nhỏ, màu tím nhạt, tụ lại thành hình đầu Quả giáp nhỏ, dài độ 2cm, rộng 2-3mm, tụ lại thành hình ngôi sao, có lông cứng-hạt nhỏ, dẹt dài độ 2mm, rộng 1-1,5mm

Trang 33

Thu hái: Mùa hạ, khi cây đang phát triển xanh tốt, cắt lấy phần trên mặt đất, phơi

khô là được (chú ý tránh làm rụng lá)

Tác dụng dược lý:

Hoạt tính chống nọc rắn độc: Khả năng trung hòa nọc rắn độc của mimosa được nghiên cứu khá sâu rộng tại Ấn Độ Nghiên cứu tại ĐH Tezpur (Ấn Độ) năm 2001 ghi nhận các dịch chiết từ rễ khô mimosa pudica có khả năng ức chế các độc tính tác hại của nọc rắn hổ mang Naja kaouthia Sự ức chế bao gồm các độc hại gây ra cho bắp thịt, cho các enzy mes Dịch chiết bằng nước có tác dụng mạnh hơn dịch chiết bằng alcohol (Journal of Ethnopharmacology Số 75-2001) Nghiên cứu bổ túc tại ĐH Mysore, Manasa gangotry (Ấn Độ) chứng minh được dịch chiết từ rễ cây mắc cỡ ức chế được sự hoạt động của các men hyaluronidase và protease có trong nọc các rắn độc loại Naja naja, Vipera russelii và Echis carinatus (Fitoterapia

Số 75-2004)

Hoạt tính chống co giật: Nghiên cứu tại Departement des Sciences Biologiques, Faculté des Sciences, Université de Ngaoundere (Cameroon) ghi nhận dịch chiết

từ lá cây mắc cỡ khi chích qua màng phúc toan (IP) của chuột ở liều 1000 đến

4000 mg/ kg trọng lượng cơ thể bảo vệ được chuột chống lại sự co giật gây ra bởi pentylentetrazol và strychnin tuy nhiên dịch này lại không có ảnh hưởng đến co giật gây ra bởi picrotoxin, và có thêm tác dụng đối kháng với các phản ứng về tâm thần gây ra bởi N-methyl-D-as partate (Fitoterapia Số 75-2004)

Hoạt tính chống trầm cảm (antidepressant) Nghiên cứu tại ĐH Veracruz (Mexico) ghi nhận nước chiết từ lá khô Mimosa pudica có tác dụng chống trầm cảm khi thử trên chuột Thử nghiệm cüng dùng clomipramine, desipramine để so sánh và đối chứng với placebo (nước muối 0,9 %) Liều sử dụng cüng được thay đổi (dùng 4 lượng khác nhau từ 2mg, 4mg, 6mg đến 8 mg/kg) Chuột được thử bằng test buộc phải bơi

Hoạt tính chống âu lo được so sánh với diazepam, thử bằng test cho chuột chạy

Trang 34

qua các đường đi phức tạp (maze) Kết quả ghi được: clomipramine (1,3 mg/kg, chích IP), desipramine (2.14mg/kg IP) và Mắc cở (6,0mg/kg và 8,0 mg/kg IP) làm giảm phản ứng bất động trong test bắt chuột phải bơi M pudica không tác dụng trên test về maze Các nhà nghiên cứu cho rằng hoạt tính của Mắc cỡ có cơ chế tương tự như nhóm trị trầm cảm loại tricyclic (Phytomedicine Số 6-1999)

Tác dụng trên chu kz rụng trứng: Nghiên cứu tại ĐH Annamalai, Tamilnadu (Ấn Độ): Bột rễ mimosa pudica (150 mg/ kg trọng lượng cơ thể) khi cho uống qua đường bao tử, làm thay đổi chu kz oestrous nơi chuột cái Rattus norvegicus Các

tế bào loại có hạch (nucleated và cornified) đều không xuất hiện Chất nhày chỉ có các leukocytes đồng thời số lượng trứng bình thường cüng giảm đi rất nhiều, trong khi đó số lượng trứng bị suy thoái lại gia tăng (Phytotherapia Research Số 16-2002) Hoạt tính làm hạ đường trong máu: Dịch chiết từ lá mắc cỡ bằng

ethanol, cho chuột uống, liều 250 mg/ kg cho thấy có tác dụng làm hạ đường trong máu khá rõ rệt (Fitoterapia Số 73-2002)

Thành phần hoá học: Alcaloid (mimosin C8H10O4N2.) và crocetin còn có

flavonoid, các loại alcol, acid amin, acid hữu cơ Hạt chứa chất nhầy, lá chiết ra một chất tương tự adrenalin Trong lá và quả đều có selen

Công năng: An thần, giảm đau, trừ phong thấp,

Công dụng: Cành, lá làm thuốc ngủ, an thần Rễ chữa nhức xương, thấp khớp

Cách dùng, liều lượng: Ngày 6-12g cành lá khô, sắc uống trước khi đi ngủ Rễ cây

thái mỏng, tẩm rượu sao vàng sắc uống ngày 100-120g

Trang 35

trong ngày

3 Ðau ngang thắt lưng, nhức mỏi gân xương: Rễ Mắc cỡ rang lên, tẩm rượu rồi lại sao vào 20-30g sắc uống, dùng riêng hay phối hợp với rễ Cúc tần và bưởi bung, mỗi vị 20g, rễ Ðinh lăng và Cam thảo dây, mỗi vị 10g

4 Huyết áp cao (đơn thuốc có kinh nghiệm của lương y Ðỗ Văn Tranh): Hà thủ ô 8g, trắc bá diệp 6g Bông sứ cùi 6g, Câu đằng 6g, Tang ký sinh 8g, Ðỗ trọng 6g, mắc cỡ gai 6g Lá vông nem 6g, hạt Muồng ngủ 6g, Kiến cò 6g Ðịa long 4g sắc uống Có thể tán bột, luyện thành viên uống hàng ngày

Chú ý: Người suy nhược, hàn thì không dùng

192 CÂY XUÂN HOA

Trang 36

Tên khác: Cây Hoàn ngọc, Cây con khỉ

Tên khoa học: Pseuderanthemum palatiferum (Nees) Radlk, họ Ô rô

(Acanthaceae)

Mô tả: Cây có thể mọc cao từ 1-2m sống lâu năm, thân cây xanh màu tím lục, khi

già chuyển thành màu nâu, phân ra nhiều nhánh, lá mọc đối diện có hình müi mác, dài từ 12-15cm, rộng 3,5-5cm, nếp lá nguyên, cuống lá dài 1-2,5cm, cụm hoa dài 10-16cm Hoa mọc ở kẽ lá hoặc ở đầu cành Hoa lưỡng tính, không đều

Bộ phận dùng: Lá

Phân bố: Cây Xuân hoa mọc hoang ở nhiều nơi, được coi là cây thuốc quí có uy tín

Trang 37

trong dân gian ở các tỉnh thành miền Bắc, nhất là thủ đô Hà Nội Từ năm 1998, rộ lên việc trồng cây Xuân hoa để chữ những bệnh thuộc về nhóm bệnh đường tiêu hóa

Tác dụng dược lý: Xuân hoa có tác dụng kháng khuẩn cho 2 loại gram (+) và

gram (-), kháng nấm mốc và kháng nấm men Đặc biệt còn có tác dụng trên vi khuẩn Escherichia coli

Thành phần hoá học: Acid hữu cơ, flavonoid, sterol, đường tự do, carotenoid, vết

saponin và vết chất béo

Công dụng: Chữa rối loạn tiêu hoá, điều trị chấn thương, chảy máu

Cách dùng, liều lượng: Ngày 10-12g dùng riêng hay kết hợp với các dược liệu

khác Sử dụng dưới dạng nước sắc, ăn sống hay giã nát đắp lên các vết thương

Chú ý: Có thời gian người ta dùng lá cây này như là một loại thuốc chữa bách

bệnh

193 CÂY ĐẠI

Trang 38

Tên khác: Cây sứ, Bông sứ

Tên khoa học: Plumeria rubra L var acutifolia (Poir.) Bailey, họ Trúc đào

(Apocynaceae)

Phân bố: Cây mọc hoang và trồng bằng cành ở các đình chùa, các vườn hoa

Mô tả: Cây nhỡ cao 4-5m hay hơn, có nhánh mập, có mủ trắng Lá mọc so le,

phiến to, hình bầu dục hay xoan thuôn, có müi ngắn, không lông hoặc ít khi có lông ở mặt dưới, Ngù hoa ở đầu một cuống dài, mang hoa thơm màu đỏ, thường

có tâm vàng; cánh hoa dày; nhị nhiều dính trên ống tràng Quả đại choãi ra thẳng hàng, dài 10-15cm; hạt có cánh mỏng

Thu hái: Ðược nhập trồng vì hoa đẹp, mọc lâu năm Người ta thu hái hoa khi mới

nở, dùng tươi hay phơi hoặc sấy nhẹ đến khô Dùng khô tốt hơn dùng tươi

Trang 39

Bộ phận dùng: Vỏ thân, hoa (Cortex et Flos Plumeriae), lá tươi, nhựa tươi

Thành phần hoá học: Các chất thuộc nhóm Iridoid, alcaloid, trong hoa có tinh

dầu

Công năng: Hoa có tác dụng tiêu đờm, trừ ho, thanh nhiệt, trừ thấp, lương huyết

Nhựa mủ có tác dụng tiêu viêm, sát trùng

Công dụng: Vỏ thân cạo bỏ lớp bần, thái mỏng, sao thơm, sắc uống để nhuận

tràng, xổ ra giun và trị thuỷ thüng Hoa trị sốt, chữa ho, tiêu đờm Lá giã nấu thành cao, đắp vào chỗ sầy da, chảy máu Nhựa: Bôi trị các vết ghẻ lở, viêm tấy

Cách dùng, liều lượng: Vỏ dùng để nhuận tràng 3-6g, để xổ 8-16g; Hoa: 12-20g

Hoặc: Vỏ đại 50 g, cám gạo 50 g, sao vàng, tán nhỏ rồi rây thành bột mịn, trộn với

hồ làm viên 0,5 g Người lớn dùng 15 viên mỗi ngày, trẻ em 5-9 tuổi uống 5 viên, 10-15 tuổi uống 10 viên Chia thuốc uống làm 2 lần với nước đun sôi để nguội (không dùng nước chè)

- Chữa chân răng sưng đau: Lấy 12-20 g vỏ rễ ngâm trong 200 ml rượu 25-35 độ trong khoảng 30 phút Mỗi ngày ngậm 2 lần, không được nuốt Chú { không được dùng quá liều

- Chữa viêm tấy, lở loét chai chân: Dùng nhựa cây đại bôi tại chỗ

Trang 40

- Chữa sai khớp, bong gân, mụn nhọt: Lấy lá đại giã nát đắp tại chỗ

- An thần, giảm huyết áp: Hoa đại khô thái nhỏ 100 g, hoa cúc vàng khô thái nhỏ

50 g, hoa hòe (sao vàng) 50 g, hạt quyết minh (sao đen) 50 g Tất cả tán thành bột, chia thành gói 10 g Mỗi ngày dùng 1-2 gói, hãm uống thay nước chè trong ngày Thuốc có tác dụng bảo vệ mao mạch, làm giảm nhẹ huyết áp, an thần, gây ngủ nhẹ

Chú ý: Người đang bị tiêu chảy, có thai không được dùng

194 CHÈ DÂY

Tên khác: Chè hoàng gia, Song nho Quảng Đông

Tên khoa học: Ampelopsis cantoniensis (Hook et Arn) Planch, họ Nho (Vitaceae)

Ngày đăng: 12/07/2014, 22:20

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình bầu dục, thon hẹp ở hai đầu. Hoa trắng, mọc đơn độc ở nách, có cuống ngắn. - Đông y dược part 9 pdf
Hình b ầu dục, thon hẹp ở hai đầu. Hoa trắng, mọc đơn độc ở nách, có cuống ngắn (Trang 117)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN