1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

Đông y dược part 7 potx

150 295 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 150
Dung lượng 4,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Vào kinh Can, Tz, Vị, Đại trường Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách.. Sắc uống Mộc Hương Điều Khí Tán - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách.. + Trị ruột viêm cấp, lỵ, bụng đ

Trang 1

Tính vị:

+ Vị cay, tính ôn (Bản Kinh)

+ Vị cay đắng, tính nhiệt, không độc (Thang Dịch Bản Thảo)

+ Vị chua, đắng, tính ấm (Trung Dược Học)

+ Vị cay, đắng, tính ôn (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Vị cay, đắng, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu)

+ Vị cay, đắng, tính ôn (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

Quy kinh:

+ Vào kinh Tâm, Phế, Can, Vị, Tz, Bàng quang (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải) + Vào kinh Can, Tz (Bản Thảo Cầu Chân)

+ Vào kinh Tz, Vị, Đại Trường, Đởm (Trung Dược Học)

+ Vào kinh Phế, Can và Tz (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Vào kinh Phế, Can và Tz (Đông Dược Học Thiết Yếu)

+ Vào kinh Can, Tz, Vị, Đại trường (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

Tác dụng:

+ Trừ độc dịch, trị tà khí (Bản kinh)

+ Tả lãnh khí ủng trệ ở vùng ngực (Bản Thảo Diễn Nghĩa)

+ Tán trệ khí, điều chư khí, hòa vị khí, tả phế khí (Trân Châu Nang)

+ Hành Can kinh (Bản Thảo Diễn Nghĩa Bổ Di)

+ Hành khí, chỉ thống, điều khí trệ ở trường vị, kiện tz, ngừa trệ (Trung Dược Học) + Hành khí, chỉ thống, ôn trung, hòa vị (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Kiện vị, điều hòa khí, giải hàn, chỉ thống (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Trang 2

+ Hành khí, chỉ thống, kiện vị (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

chướng ngược; Dùng Binh lang làm tá thì có tác dụng tiêu nhọt độc, sán khí thể hàn, đau trong bàng quang; Có Sinh khương, Nhục đậu khấu làm tá thì công hiệu càng nhanh; Dùng Hoàng lien kềm chế Mộc hương thì tác dụng khơi thông không mạnh lắm; Dùng Hoàng bá, Tri mẫu ức chế Mộc hương thì đưa lên không nhiều (Dược Phẩm Vậng Yếu)

+ Mộc hương là vị thuốc số 1 của phần khí Tam tiêu Khí và vị của nó thuần

dương, cho nên trừ được tà, giảm đau Vì tiêu chảy và thức ăn ngưng động là bệnh của Tz tz thổ thích ôn táo mà gặp được Mộc hương thì hiệu nghiệm ngay Khí uất, khí nghịch là bệnh của Can, gặp được Mộc hương khơi thông thì bình an ngay Khi có thai, nên dùng phép thuận khí, gặp được Mộc hương thì thai

yên (Dược Phẩm Vậng Yếu)

+ Âm hư: không dùng (Trung Dược Học)

+ Âm hư, tân dịch bất túc: không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Chân khí suy yếu, có nhiệt, huyết hư mà táo: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Liều dùng: 2 - 12g

Trang 3

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Trị trúng ác khí bất tỉnh, mắt nhắm, cấm khẩu, giống như trúng phong: Một hương, tán bột Hạt Bí đao nấu lấy nước, hòa Mộc hương cho uống (Tế Sinh

+ Trị khí đau xóc: Mộc hương, Diên hồ sách, tán bột Trộn với hồ làm viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn Mỗi lần uống 50 viên với nước sôi (Giản Tiện Phương)

+ Trị khí đau xóc: Mộc hương, mài với nước sôi, thêm ít nước, uống (Giản Tiện Phương)

+ Trị sán khí: Mộc hương 160g nấu với rượu uống, mỗi ngày 3 lần (Tôn Thiên Nhân Tập Hiệu Phương)

+ Trị nội điếu, ruột đau thắt: Mộc hương, Nhü hương, Một dược nấu lấy nước uống (Nguyên Thị Tiểu Nhi Phương)

+ Trị khí trệ, lưng đau: Mộc hương, Nhü hương mỗi thứ 8g, ngâm vào trong rượu, hấp trong nồi cơm cho sôi, uống (Thánh Huệ Phương)

+ Trị khí trệ, lưng đau: Mộc hương, Trần bì, Sa nhân, Bạch đậu khấu, Tử tô (lá) (Thánh Huệ Phương)

+ Trị tai bỗng nhiên ù, điếc: Mộc hương 40g, ngâm giấm 1 đêm, rồi cho vào ít dầu

Mè, đun sôi 3 lần Dùng bông gòn lọc bỏ bã mỗi ngày nhỏ vào tai 2 – 3 giọt (Ngoại Đài Bí Yếu)

+ Trị trong tai đau: Mộc hương, tán bột, lấy củ Hành nhúng vào mỡ ngan rồi chấm vào thuốc bột, nhét vào trong lỗ tai (Thánh Tế Tổng Lục)

Trang 4

+ Trị lỵ: Mộc hương 1 tấc, Hoàng liên 20g Nấu với nước cho cạn, bỏ hoàng liên đi, chỉ lấy Mộc hương, thái mỏng, bồi khô, tán bột Chia làm 3 lần uống Lần thứ nhất uống với nước sắc Trần bì, lần thứ 2 uống với nước sắc Trần mễ, lần thứ 3 uống với nước sắc Cam thảo Bài này do ông Lý Cảnh Thuần truyền cho Ngày trước có người phụ nữ bị lỵ lâu ngày, gần chết Trong lúc ngủ mơ thấy Phật Bà Quan Âm dậy cho bài thuốc trên, rồi uống và khỏi (Tôn Triệu Bí Bảo Phương)

+ Trị trường phong hạ huyết: Mộc hương, Hoàng liên, 2 thứ bằng nhau, tán bột, cho vào trong ruột gìa của heo, buộc chặt 2 đầu, nấu cho nhừ, bỏ thuốc đi, chỉ ăn ruột Hoặc để chung, tán nhuyễn, làm thành viên, uống (Liên Tùng Thạch Bảo Thọ Thư Phương)

+ Trị tiểu đục như nước gạo: Mộc hương, Một dược, Đương quy, lượng bằng nhau Tán bột Làm viên to bằng hạt Ngô đồng lớn Mỗi lần uống 30 viên với nước muối (Phổ Tế Phương)

+ Trị hôi nách hoặc chỗ kín bị ẩm ướt, lở loét: Mộc hương, ngâm giấm Tán bột Xtá vào vết thương (Ngoại Đài Bí Yếu)

+ Trị bụng đầy, bụng đau do hàn thấp trở trệ ở trường vị: Mộc hương, Bạch đậu khấu, Đàn hương, Cam thảo đều 4g, Hoắc hương 12g, Đinh hương 2g, Sa nhân 6g Sắc uống (Mộc Hương Điều Khí Tán - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

+ Trị ruột viêm cấp, lỵ, bụng đau, bụng đầy trướng: Mộc hương 4g, Hoàng liên 8g, sắc uống (Hương Liên Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách) + Trị bụng đầy, táo bón, lỵ, ruột viêm cấp, bụng đau do khí trệ: Mộc hương 4g, Ngô thù 4g, Binh lang, Hương phụ, Đại hoàng, Khiên ngưu, Mang tiêu (để riêng) đều 12g, Thanh bì, Trần bì, Chỉ xác, Nga truật, Tam lăng đều 8g, sắc uống (Mộc Hương Binh Lang Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

+ Trị tiêu hóa rối loạn, ruột viêm cấp, dạ dầy viêm mạn: Mã Văn Quang dùng dịch Mộc hương 100% chích bắp 2ml/lần, ngày 2 lần, trị 29 cas, kết quả 93% (Thông Tin Trung Thảo Dược 1979, 3: 37)

Trang 5

+ Trị cơn đau thắt túi mật: Hoàng Dục Quang dùng Mộc hương trị 8 cas, kết quả tốt (Trung Hoa Ngoại Khoa Tạp Chí 1958, 1: 24)

Tham khảo:

+ Mộc hương gặp được Thảo quả, Thương truật thì trừ được chứng ôn dịch,

trướng ngược Gặp được hoàng liên giúp sức thì trị được xích bạch lỵ Mộc hương tính nó chuyên thông Phế khí, đờm nghẽn ở ngực (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển)

+ Ông Chu Đan Khê nói rằng Mộc hương có tính cách hành Can khí Vì vị của nó đắng nên dễ vào tâm, nhờ vị cay nên dễ vào Phế, làm cho Tâm Phế điều hòa, ức chế được hảo củaCan, cho nên không lo hỏa bốc lên chứ không phải là Can khí tự hành vậy (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển)

+ Khí vị của Mộc hương đều đậm, có thể tuyên thông và sơ tán được những gì ngưng tụ và trở trệ ở thượng tiêu và hạ tiêu Trong bài thuốc có Mộc hương, khi sắc lên mùi thơm bay khắp nhà Công dụng của Mộc hương trị về khí, có thể thăng hoặc giáng Nếu dùng vào thuốc bổ dưỡng thì có tác dụng sơ thông được khí để tránh không cho chất béo nhờn ngưng trệ, sít lai khiến cho thuốc không có tác dụng tốt Vì vậy, trong bài Quy Tz Thang có vị Mộc hương Nếu dùng vào thuốc khổ hàn thì Mộc hương có thể điều hòa, thông sướng được khí cơ, vì vậy, bài Hương Liên Hoàn dùng vị Mộc hương là theo { đó (Đông Dược Học Thiết Yếu) + Mộc hương nhập từ Quảng Đông là tốt, gọi là Quảng Mộc hương, mùi thơm, không gắt Trồng ở Tứ Xuyên gọi là Xuyên Mộc hương, cüng giống như loại nhập

từ Quảng Đông, nhưng mùi không thơm, vị không đậm Có người gọi rễ cây Mã đâu linh là Thanh Mộc hương Trồng ở những nơi khác, gọi là Thổ mộc hương, chẳng những không điều hòa được khí, trái lại còn làm hao tổn chân khí và trợ hỏa (Đông Dược Học Thiết Yếu)

+ Thường dùng vỏ Mộc hương nam còn gọi là vỏ Rụt (Ilexgodajam Colebr ex Wall), họ Nhựa Ruồi (Iliaceae) để thay thế Mộc hương (Dược Liệu Việt Nam)

Trang 6

113 NAI PHỤC BÌ

Tên Việt Nam:

Vỏ (ngoài và giữa) của quả cau

Tên Hán Việt khác:

Đại phúc tân lang (Đồ Kinh Bản Thảo), Trư tân lang (Bản Thảo Cương Mục), Phúc

bì, Thảo đông sàng (Hòa Hán Dược Khảo), Đại phúc nhung (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển)

Trang 7

Phân biệt:

Ngoài ra Đại phúc bì, người ta còn lấy từ những cây sau:

1- Cây Sơn binh lang, còn gọi là Cau rừng hay Cau dại (Pinanga baviensis O Becc),

đó là cây cao 2-6m mọc thành bụi có nhiều viết sẹo của cuống lá đã rụng Lá tập trung ở ngọn, Hoa vàng nhạt Quả hình trứng, dài, khi chín màu vàng Ở Thanh Hóa, Nghệ An cây có thể trồng để làm cảnh

2- Cây Cau rừng (Areca laosensis O.Becc), đó là cây thân trụ mọc thẳng đứng đơn độc, cao 2 - 6m, có đốt đều đặn, cách xa nhau 8 - 10cm, lá dài 1m, dạng kép lông chim, các lá chét xếp vào rất sát nhau, không đều hình cong liềm, m p hơi có răng, Có quả vào tháng 11-12 Cây mọc hoang trong rừng thứ sinh ẩm của Việt Nam

Địa lý:

Thường được trồng ở vườn khắp nơi trong nước

Thu hái, sơ chế:

Quả gìa thu hái, bóc lấy hạt để riêng để làm vị thuốc khác (Xem: Tân lang, Binh lang), còn vỏ quả đem phơi khô gọi là Đïi phúc bì

Phần dùng làm thuốc:

Trang 8

Vỏ quả là vỏ ngoài và vỏ giữa phơi khô của quả cau Vỏ ngoài màu xanh vàng, có nhiều xơ xốp, mềm, gai

Bảo quản:

Để nơi khô ráo, thỉnh thoảng xông Lưu huznh, đề phòng mối mọt

Cách dùng:

Dùng sống trong trường hợp bụng trướng đầy, phù thüng, thông tiêu

Dùng chín trong trường hợp muốn an thai, bình vị

Dùng cao đặc trong trường hợp trị đau đầu, phù thủng

Liều lượng: 4,5 – 9g (sắc) - Cao đặc dùng: 1/4 chỉ - 1/2 chỉ

Chú {: Cüng có nơi dùng bẹ bọc buồng cau (gọi là Lưỡi mèo) cho đó là Đại phúc bì, xắt nhỏ sao rồi sắc uống có tác dụng trị phù thüng, an thai tốt

Trang 9

Hành khí, lợi thủy, tiêu tích, đạo trệ

Chủ trị:

+ Trị bụng trướng đầy, tiêu chảy, chân sưng phù, tiểu khó

Kiêng kỵ:

Cơ thể suy nhược, hư mà không có thấp nhiệt cấm dùng

Bài thuốc kinh nghiệm của nhân dân:

1- Trị phù thủng dùng Đại phúc bì, Bạch truật, Phục linh, Xa tiền tử, Mộc qua, Tang bạch bì, Ngü gia bì, Trư linh, Trạch tả, [ dĩ nhân, Lễ ngư, các vị bằng nhau, nếu suy nhước quá gia Nhân sâm

2- Trị rò chảy nước müi, dùng Đại phúc bì sắc lấy nước rửa (Trực chỉ phương) 3- Thủy trướng ứ nước bí đầy và có thai phù thüng, dùng vỏ quả cau, vỏ cây chân chim, vỏ Khủ khởi (Địa cốt bì) vỏ gừng sống, mỗi thứ 2 chỉ sắc uống

Đơn thuốc kinh nghiệm:

+ Hạ khí khoan khoái bên trong: Dùng trong trường hợp thấp trở trệ ở trường vị, khí trệ làm căng sình đầy: Đại phúc bì 3 chỉ, Hoắc hương nghạnh 2 chỉ, Phục linh bì

4 chỉ, Trần bì 1,5 chỉ, Hạnh nhân 3 chỉ, Thần khúc 3, Mạch nha 3, Nhân trần 4 sắc uống (Nhất Gia Giảm Chính Khí Tán)

+ Lợi niệu tiêu thủy: Dùng trong phù thủng bụng đầy căng, tiểu không thông, đau nhức, 2 ống chân sưng phù: (Ngü Bì Aåm)

+ Trị cước khí phù thüng: Đại phúc bì 3 chỉ, Mộc qua 3 chỉ, Tử tô tử 2 chỉ, Tân lang

3 chỉ, Kinh giới tuệ 2 chỉ, Ô dước 2 chỉ, Trần bì 2 chỉ, Tử tô diệp 2 chỉ, Lai phục tử 3 chỉ, Trầm hương 5 phân, Tang bạch bì 3 chỉ, Chỉ xác 2 chỉ, Sinh khương 2 chỉ sắc uống (Đại Phúc Bì Tán)

Tham khảo:

Trang 10

+ Đại phúc bì, khí vị chuyên trị của nó hơi giống với Tân lang (Binh lang) nhưng Tân lang tính mạnh, phá khí rất nhanh, Phúc bì tính chậm, hạ khí xuống hơi chậm (Dược Phẩm Vậng Yếu)

+ Đại phúc bì hạ tất cả các khí, cầm ỉa mửa, thông đại tiểu trường, kiện tz, khai vị điều trung (Nhật Hoa Chư Gia Bản Thảo)

+ Đại phúc bì giáng nghịch, tiêu thủy khí trong phù thủng cơ phu, cước khí, ủng tắc, sốt r t đầy tức chướng căn, ốm ngh n đầy tức (Bản Thảo Cương Mục)

+ Đại phúc bì tức Binh lang bì hay vỏ quả cau, tính vị chính của nó giống như Binh lang, tính của Binh lang mạnh hơn, phá khí rất nhanh Phúc bì tính hoãn, hạ khí chậm hơn, vào kinh túc dương minh, Thái âm kinh, hai kinh hư thì hàn nhiệt

không đều, khí nghịch công chạy, hoặc đờm trệ ở trung kiêu kết thành cách

chứng, hoặc thấp nhiệt uất tích, vị mà toan làm tâm chua, tâm ôn làm cho ấm vị tiêu đờm, thông khí thì các chứng Dương minh, nên có cách trị chứng yếu vậy (Bản Thảo Kinh Sơ)

+ Đại phúc bì, tân nhiệt tính ấm, so với Binh lang thì khác xa rất nhiều Vì Binh lang tính nóng trầm nặng, sơ tiết được cái tích trệ hữu hình Phúc bì thì tính nhẹ nổi, tán khí ủng nghịch nên dùng tới nó sẽ tiết hết chân khí Quả là Binh lang, bụng to hình dẹt, lấy vỏ rẩy rượu sau rửa nước đậu phơi khô dùng (Bản Thảo Cầu Chân) + Đại phúc bì chất nhẹ, vị cay, chuyên về hành khí sơ trệ, lại có thể khoan hòa ở bên trong và trừ trướng mãn, đồng thời có tác dụng lợi tiểu, tiêu phù thüng Vì vậy đối với tiểu ít, dùng tới Đại phúc bì rất có hiệu quả Nhưng là loại thuộc về phá tiết, nên phù trướng do khí hư thì chớ nên dùng (Trung Dược Học Giảng Nghĩa) + Mạnh về hành khí, đạo trệ, lại có tác dụng khoan trung, trừ trướng, lợi thuỷ, tiêu thủng, vì vậy chứngbụng đầy trướng do thấp tà đình trệ bên trong, thuỷ khí tràn ra ngoài bì phu gây nên chứng thuỷ thủng, dùng vị này có kết quả Tuy nhiên

vị này cay, làm hao tán khí, thuộc về loại phá tiết, trường hợp khí hư, thủng

trướng loại suy nhược không nên dùng (Thực Dụng Trung Y Học)

Trang 12

Cây cao chừng 2,5-5m Cành màu nâu hay tím nâu, khi còn non có mang lông mềm dài, khi gìa lông rụng đi, trên mặt cành có nhiều bì khổng Lá mọc đối, kép lông chim lẻ Cả cuống và lá dài độ 15-35cm, hai đến 5 đôi lá ch t có cuống ngắn Trên cuống lá và cuống lá chét có mang lông mềm Lá chét dài 5-15cm, rộng 2,5-5cm, đầu lá chét nhọn, dài, mép nguyên, 2 mặt có lông màu nâu mịn, mặt dưới nhiều hơn, soi lên ánh sáng sẽ thấy những điểm tinh dầu Hoa đơn tính khác gốc;

đa số những hoa nhỏ tụ thành từng tán hay đặc biệt thành chùm Cuống hoa trông to thô có nhiều lông, màu nâu mềm Hoa màu vàng trắng, hoa cái lớn hơn hoa đực Nhập của Trung Quốc

Trang 13

+ Chích Ngô thù du: Dùng Cam thảo sắc lấy nước, bỏ bã, cho Ngô thù vào, tẩm, sao qua cho khô (Mỗi 100 cân Ngô thù, dùng Cam thảo 6 cân 4 lạng) (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Vị cay, tính ôn (Bản Kinh)

+ Rất nhiệt, có ít độc (Danh Y Biệt Lục)

+ Vị đắng, cay, rất nhiệ, có độc (Dược Tính Luận)

+ Vị cay, đắng, tính ôn, có độc (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Vị cay, đắng, tính nhiệt, có độc (Trung Dược Học)

+ Vào kinh túc Thái âm Tz, túc Thiếu âm Thận, túc Quyết âm Can (Thang Dịch Bản Thảo)

+ Vào kinh Can, Tz, Vị, Đại trường, Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải)

+ Vào kinh can, Vị (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Vào kinh Vị, Tz, Can, Thận (Trung Dược Học)

+ Ôn trung, chỉ thống, hạ khí, trục phong tà, khai tấu lý (Bản Kinh)

+ Kiện tz, thông quan tiết (Nhật Hoa Tử Bản Thảo)

+ Khai uất, hóa trệ (Bản Thảo Cương Mục)

+ Ôn trung, chỉ thống, lý khí, táo thấp (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Khứ hàn, chỉ thống, chỉ ẩu, giáng nghịch, ôn tz, chỉ tả, khứ đờm thấp (Trung Dược Học)

+ Trị nôn nghịch, nuốt chua, đầu đau do quyết âm bệnh, tạng hàn, nôn mửa, ti6eu chảy, bụng trướng đau, cước khí, sán khí, miệng lở lo t, răng đau, thấp chẩn, thủy đậu (Trung Dược Đại Từ Điển)

Trang 14

+ Evoden, Ocimene, Evodin, Evodol, Gushuynic acid, Evodiamine, Rutaecarpine, Wuchuyine, Hydroxyevodiamine, Evocarpine, Isoevodiamine, Evodione, Evogin, Rutaevin (Trung Dược Học)

+ Tác dụng kháng khuẩn: Năng suất sắc Ngô thù du có tác dụng ức chế mạnh in vitro đối với Vibrio cholerae, 1 số bệnh ngoài da và nhiều ký sinh trùng kể cả giun đüa và Hirudo (Trung Dược Học)

+ Tác dụng đối với hệ thần kinh trung ương: Ngô thù du Nhật Bản có tác dụng giảm đau Thí nghiệm ở Trung Quốc chích dịch chiết Ngô thù du vào tĩnh mạch cho thấy có tác dụng giảm đau giống chất antipyrin (Trung Dược Học)

+ Tác dụng trên cơ mềm:Chất utamine, trích ly từ Rutaecarpine có tác dụng kích thích mạnh trên tử cung (Trung Dược Học)

+ Điều trị huyết áp cao: Bột Ngô thù du trộn với Dấm dán vào lòng bàn chân để trị huyết áp cao có hiệu qủa tốt Huyết áp thường hạ trong vòng 12-24 giờ (Trung Dược Học)

+ Điều trị rối loạn vị trường (dạ dày với ruột): Dùng bột Ngô thù du trộn với Dấm đắp vào rốn, trị 20 ca bị chứng đầy trướng Phương pháp này cüng dùng trị chứng bụng nóng (Trung Dược Học)

+ Điều trị bệnh ngoài da: Dùng nước sắc Ngô thù du trị 84 ca bị eczema

hoặc viêm da thần kinh có hiệu quả (Trung Dược Học)

+ Điều trị tai - müi - họng: Dùng bột Ngô thù du bôi vào huyệt Düng Tuyền (lòng bàn chân)có hiệu quả tốt để trị trẻ nhỏ miệng lở (đẹn) Hầu hết đều có kết qủa trong 1 ngày (Trung Dược Học)

+ Tác dụng điều hòa nhiệt độ: dịch chiết chất Isoevodiamine làm hơi tăng nhiệt độ

ở thỏ khi cho ăn rau sống (Trung Dược Học)

+ Âm hư, có triệu chứng nhiệt: không dùng (Trung Dược Học)

Độc tính:

Trang 15

+ Lượng lớn Ngô thù du - tác dụng kích thích thần kinh trung ương và có thể dẫn đến rối lọan thị giác, gây nên ảo giác Độc tính của Evoxine rất thấp, liều chích tĩnh mạch gây chết (LD50) ở chuột nhắt là 135g/kg (Trung Dược Học)

115 NGŨ GIA BÌ

Trang 16

Tên khoa học:

(Cortex Acanthopanacis Radicis)

+ Bóc vỏ, rửa sạch, phơi khô trong râm Dùng sống hoặc rửa rượu rồi sao (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Vị cay, tính ôn (Bản Kinh)

Vị cay, đắng, tính ôn (Trung Dược Học)

+ Vị cay, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu)

+ Vào kinh Phế, Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải)

+ Vào kinh Can, Thận (Trung Dược Học)

Trang 17

+ Vào kinh Can, Thận (Đông Dược Học Thiết Yếu)

+ Bổ trung, ích tinh, mạnh gân xương, tằn trí nhớ (Danh Y Biệt Lục)

+ Minh mục, hạ khí bổ ngü lao, thất thương (Nhật Hoa Tử Bản Thảo)

+ Mạnh gân xương (Bản Thảo Cương Mục)

+ Hoá đờm, trừ thấp, dưỡng thận, ích tinh, trừ phong, tiêu thuỷ (Bản Thảo Tái Tân)

+ Trừ phong thấp, mạnh gân xương (Đông Dược Học Thiết Yếu)

+ Có tác dụng trị mệt mỏi tốt hơn Nhân sâm Tăng sức chịu đựng đối với thiếu oxy, nhiệt độ cao, điều tiết rối loạn nội tiết, điều tiết hồng cầu, bạch cầu và huyết

áp, chống phóng xạ, giải độc Ngü gia bì có tác dụng chống lão suy, tăng thể lực và trí nhớ, tăng chức năng tuyến tình dục và quá trình đồng hoá, gia tăng quá trình chuyển hoá và xúc tiến tổ chức tái sinh (Trung Dược Học)

+ Có tác dụng tăng cường miễn dịch của cơ thể như tăng khả năng thực bào của

hệ tế bào nội bì võng, tăng nhanh sự hình thành kháng thể, làm tăng trọng lượng của lách Thuôc còn có tác dụngkháng virus, kháng tế bào ung thư, điều chỉnh miễn dịch (Trung Dược Học)

+ Ngü gia bì có tác dụng an thần rõ, điều tiết sự cân bằng giữa hai quá trình ứ chế

và hưng phấn của trung khu thần kinh Tác dụng hưng phấn của thuốc không làm ảnh hưởng đến giấc ngủ bình thường (Trung Dược Học)

+ Ngü gia bì có tác dụng kháng viêm cả đối với viêm cấp và mạn tính (Trung Dược Học)

+ Ngü gia bì có tác dụng gĩan mạch, làm tăng lưu lượng máu động mạch vành và

hạ huyết áp (Trung Dược Học)

+ Thuốc có tác dụng long đờm, giảm ho và làm giảm cơn hen suyễn (Trung Dược Học)

+ Ngü gia bì có tác dụng chống ung thư (Trung Dược Học)

Trang 18

+ Âm hư hoả vượng: không dùng (Thực Dụng Trung Y Học)

+ Trị phong thấp đau nhức, cơ thể mệt mỏi, đau nhức, liệt dương: Ngü gia bì sao vàng 100g, rượu 30o một lít, ngâm trong 10 ngày, thỉnh thoảng lắc đều Ngày uống 20~40ml vào trước bữa ăn tối (Ngü Gia Bì Tửu - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

+ Trị thấp khớp: Ngü gia bì, Mộc qua, Tùng tiết đều 120g Tán bột, mỗi lần uống 3~4g, ngày 2 lần (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

+ Trị phụ nữ cơ thể suy nhược: Ngü gia bì, mẫu đơn bì, Xích thược, Đương quy đều 40g Tán bột Ngày uống hai lần, mỗi lần 4g (Những Cây Thuốc Vị Thuốc Việt Nam)

+ Trị gẫy xương, sau khi phục hồi vị trí: Ngü gia bì, Địa cốt bì đều 40g, tán nhuyễn,

Gà 1 con nhỏ, lấy thịt, gĩa nát, trộn đều với thuốc, đắp bên ngoài, bó nẹp cố định, sau một uần, bỏ nẹp đi (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược)

+ Trị ngực đau thắt, mỡ máu cao: Dùng chất chiết xuất từ Thích Ngü gia bì (Nam Ngü gia bì) chế thành thuốc viên ‘Quan Tâm Ninh’ Uống mỗi lần 3 viên, ngày 3 lần, liên tục 1~3 tháng Đã trị 132 ca ngực đau thắt, có kết quả 95,45%, mỡ máu cao 53 ca, kết quả làm hạ Cholesterol và Triglycerid (Trung Y Dược Học Báo 1987, 4: 36)

+ Trị bạch cầu giảm: dùng Thích Ngü gia bì trị 43 ca bạch cầu giảm Kết quả cho thấy so với chứng giảm bạch cầu do hoá liệu, có kết quả tốt hơn (Quảng Tây Y Học Viện Học Báo 1978, 3: 1)

+ Trị bạch cầu giảm: Dùng viên Ngü gia bì trị 22 ca, có kết quả 19 ca (Hồ Bắc Trung

Trang 19

+ Trị huyết áp thấp: Dùng viên Ngü gia bì, mỗi lần uống 5 viên, ngày 3 lần, 20 ngày

là một liệu trình Kết quả tốt (Châu Long, Trung Quốc Dược Thành Phẩm Đích Nghiên Cứu 1985, 12: 43)

Tham khảo:

Ngü gia bì có thể làm mạnh gân xương được là nhờ công năng khu phong, trừ thấp Khu được tà thì Can Thận mạnh, gân xương được thông Ngü gia bì có hai loại, thứ dùng làm thuốc là Nam Ngü gia bì, có mùi thơm Cong bắc Ngü gia bì có độc, khi dùng phải cẩn thận (Thực Dụng Trung Y Học)

+ Ngü gia bì tuy không có tác dụng thuần bổ nhưng cùng không có hại tổn thương chính khí Gọi là Ngü gia bì tửu nên có thể dùng uống lâu dài (Đông Dược Học Thiết Yếu)

116 NGŨ VỊ TỬ

Trang 20

Tên khoa học:

Kadsura japonica L (Nam ngü vị)

Schizandra chinensis Baill (Bắc ngü vị)

Họ khoa học: Mộc lan (Magnoliaceae).

Mô Tả:

Loại dây leo dài đến 3m Lá tròn dài, dài 9-12cm, hoa có 9-15 cánh màu vàng, quả tròn màu đỏ, đường kính 3cm, hạt tròn màu vàng Bắc ngü vị (Schizandra) có quả xếp thành bông thưa Nam ngü vị (Kadsura) có quả xếp thành đầu hình cầu

Trang 21

Ngü vị tử hiện nay ta còn phải nhập của Trung Quốc

+ Vị chua, tính ấm (Trung Dược Học)

+ Vào kinh Phế, Thận (Trung Dược Học)

+ Thu liễm Phế khí, chỉ khái, sáp trường, chỉ tả, liễm hãn, an thần (Trung Dược Học)

+ Sesquicarene, b-Bisabolene, b-Chamigrene, a-Ylangene, Schizandrin, Schizandrin, Deoxyschizandrin, Schzandrol, Citral, Stigmasterol, Vitamin C, Vitamin

Pseudo-g-E (Trung Dược Học)

Trang 22

+ Tác động đến hệ thần kinh trung ương: Nước sắc Ngü vị tử có tác dụng kích thích nhiều phần của hệ thần kinh trung ương (cột sống và não) ở ếch Thuốc làm cường và thư gĩan nhanh nơi những người tình nguyện có cơ thể bình thường Tác dụng kích thích trên những phản xạ có điều kiện và đị6n tâm đồ yếu hơn so với chất Caffein (Trung Dược Học)

+ Tác dụng đối với hệ hô hấp: Nước sắc Ngü vị tử kích thích hô hấp qua tác động trực tiếp trên hệ thống thần kinh trung ương Thuốc được dùng để hỗ trợ hô hấp

bị suy do dùng Morphin (Trung Dược Học)

+ Tác động đối với hệ thần kinh ngoại biên: Uống hoặc chích vào khoang bụng cuột nhắt chất Schizandrin thấy có tác dụng kích thích hệ thống tiết ra chất Cholin, liều nhỏ có tác dụng kích thích tiếp nhận chất Nicotin (Trung Dược Học)

+ Tác động đối với hệ tim mạch: Cách chung, Ngü vị tử không có tác dụng đối với áp huyết Khi chích tĩnh mạch lượng lớn Ngü vị tử thì thấy hạ huyết áp Tác dụng này không xảy ra nếu bỏ chất Acidic tự nhiên đi Dịch chiết Alcol cüa Ngü vị

tử có tác dụng gĩan mạch (Trung Dược Học)

+ Tác dụng lên tử cung: Nước sắc Ngü vị tử có tác dụng kích thích đồng nhất trên

tử cung thỏ cô lập, dù có thai hoặc không có thai hoặc sau khi sinh Tác dụng chính là tăng cường nhịp co thắt Thuốc được dùng để hỗ trợ việc trục (phá) thai + Tác dụng chuyển hóa: Hầu hết các báo cáo đều xác định rằng nước sắc Ngü vị

tử làm tăng tác dụng dự trữ Glycogen vaf Glucose ở gan cüng như tăng mức acid Lactic Một số báo cáo khác cho biết không có tác dụng đối với Glucose Một số báo cáo khác cüng cho thấy sự khác biệt của nước sắc Ngü vị tử đối với khả năng dùng Oxy ở thận, gan hoặc não Thuốc có tác dụng tăng sự hấp thụ chất P32 từ vết vị trường, tăng sự tập trung ở tạng phủ, tăng cường hoạt động của Phosphate (Trung Dược Học)

+ Tác dụng đối với cảm giác: Nước sắc Ngü vị tử làm tăng nhãn lực và nhãn

trường nơi ngườ bệnh lãn người bình thường tình nguyện Thuốc cüng làm tăng

độ nhận biết của xúc giác (Trung Dược Học)

Trang 23

+ Điều trị gan viêm nhiễm trùng không vàng da: Cho 102 bệnh nhân gan

viêm uống bột Ngü vị tử, tỉ lệ có hiệu quả là 76% Những bệnh nhân này chỉ số SGPT hơn 300 đơn vị, thành công khỏang 72% Thời gian rung bình để chức năng gan trở lại bình thường là 25 ngày Không có tác dụng phụ (Trung Dược Học) + Điều trị suy nhược: Còn chiết xuất Ngü vị tử điều trị cho 73 ca thần kinh suy nhược với các triệu chứng đầ đau, mất ngủ, chóng mật, hồi hộp Kết quả khỏi 43

ca, có tiến triển 13 Không có tác dụng phụ (Trung Dược Học)

Độc Tính:

Đối với chuột, liều ngộ độc bằng đường uống là 10-15g/kg Dấu hiệu ngộ độc quá liề là mệt mỏi, mất ngủ, khó thở (Trung Dược Học)

+ Nhiệt thịnh: không dùng (Trung Dược Học)

+ Ho giai đoạn đầu, mới phát ban: không dùng (Trung Dược Học)

117 NGƯ TINH THẢO

Trang 24

+ Vị chua, tính mát (Trung Dược Học)

+ Vào kinh Phế, Can (Trung Dược Học)

+ Thanh nhiệt độc, tiêu thủng, thấm thấp nhiệt (Trung Dược Học)

+ Decaynoyl acetaldehyde, Lauric aldehyde, Methyl - n - Nonykelton, Myrcene, Capric aldehyde, Capric acid, Cordarine, Calcium sulfate, Calcium Chloride,

Isoquercitrin, Quercitrin, Reynoutrin, Hyperin (Trung Dược Học)

+ Tác dụng kháng khuẩn: Nước sắ Ngư tinh thảo in vitro có tác dụng kháng

Streptoccocus pneumonia và Staphylococcus aureus nhưng k m hiệu quả đối với Shigella, Salmonella và E Coli Nước sắc Ngư tinh thảo cho chuột bị lao uống thấy giảm mức tử vong (Trung Dược Học)

Trang 25

+ Tác dụng kháng Virus: Nước sắc Ngư tinh thảo có tác dụng kháng sự phát

triển của cúm và virus Echo ở người (Trung Dược Học)

+ Tác dụng đối với hệ sinh dục - tiết niệu: Nước sắc Ngư tinh thảo được dùng cho thận cóc bị tổn thương hoặc chân ếch bị tổn thương thấy có tác dụng gĩan mạch

và tăng bài tiết nước tiểu (Trung Dược Học)

+ Tác dụng đối với hệ hô hấp: Chích dưới da dịch Ngư tinh thảothấ có tác dụng giảm ho nhưng không long đờm hoặc gĩan phế quản (Trung Dược Học)

+ Điều trị da liễu: dịch chiết Ngư tinh thảo bôi tại chỗ có tác dụng đối với bệnh ngoài da, đặc biệt là với Herpes đơn thuần (Trung Dược Học)

+ Điều trị bệnh hệ hô hấp: Năng suất sắc Ngư tinh thảo dùng có hiệu quả trong nhiều nghiên cứu về phế cầu khuẩn Nước sắc Ngư tinh thảo liều cao (đến 80g) dùng có hiệu quả đối với áp xe phổi Nước sắc Ngư tinh thảo được dùng trị bệnh

ứ trệ ở phổi Nhiều kết quả tương tự trong điều trị với chất Decanoyl

acetaldehyde Nhiều kết quả khả quan hơn được thực hiện bằng cách chích dịch Ngư tinh thảo vào các huyệt Khúc trì (Đtr 11), Định suyễn, kèm giác hơi các huyệt Thận du (Bq.23) và Cao hoang du (Bq 38) (Trung Dược Học)

+ Hư hàn: không dùng (Trung Dược Học)

+ Mụn nhọt thể âm: không dùng (Trung Dược Học)

118 NHỤC THUNG DUNG

Trang 26

Tên khác:

Nhục tùng dung, Hắc ty lãnh [Ngô Phổ Bản Thảo], Thung dung [Bản Thảo Kinh Tập Chú+, Địa tinh [Thạch Dược Nhĩ Nhă+, Mã túc, Mã chi *Bảo Khánh Bản Thảo Chiết Trung], Kim duẫn [Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược+, Đại vân *Trung Dược Chí] Thốn vân [Toàn Quốc Trung Thảo Dược Hối Biên]

Trang 27

Cây ký sinh trên rễ các cây khác, sống hàng năm Thân cỏ hình trụ, cao chừng 30cm Phần thân rễ phát triển thành củ Lá thành vảy, màu vàng sẫm, xếp như lợp ngói Hoa tự bông, mọc ở ngọn Mùa thu hoa nở màu tím sẫm, hình môi Quả nang hình cầu, chứa nhiều hạt

Địa lý:

Cây mọc chủ yếu trên núi cao ở các cây to râm mát Cây có ở Trung Quốc, Nhật Bản, ở Việt Nam chưa thấy có

Thu hoạch:

Mùa xuân hoặc mùa thu đều thu hoạch được

Mùa xuân hái về, để trên đất cát phơi khô, gọi là Điềm Đại Vân

Mùa thu hái về, lựa thư to mập, cho vào thùng muối, qua một năm lấy ra, phơi khô, gọi là Diêm Đại Vân

Bộ Phận Dùng:

Dùng thân, rễ (Caulis Cistanchis) Củ to mập, mềm, nhiều dầu, ngoài có vẩy mịn, mềm, mầu đen, không mốc là tốt

Mô tả dược liệu:

Điềm Đại Vân: hình trụ, tròn, dẹp, hơi cong, dài 16 – 33cm, đường kính 2 – 6cm Mặt ngoài mầu nâu tro hoặc nâu, phủ đầy những lát vẩy, chất thịt béo, dầy, xếp giống như những mảnh ngói chồng lên nhau Chất mềm, thể nặng Mặt cắt ngang mầu nâu, có đốm hoa trắng hoặc có kẽ nứt Mùi nhẹ, vị ngọt

Diêm Đại Vân: Mầu nâu đen, chất mềm Mặt ngoài có bột muối Mặt cắt ngang mầu đen Vị mặn (Dược Tài Học)

Bào Chế:

+ Để nguyên củ, đồ chín, phơi hoặc sấy khô hoặc có thể tẩm muối rồi phơi, sấy khô Khi dùng, rửa sạch, thái lát khoảng 1-2mm, phơi khô Có thể đồ mềm cho dễ thái (Dược Liệu Việt Nam)

Trang 28

+ Thái phiến, trộn ngâm với rượu, bổ bỏ lõi trắng nếu có, đồ hoặc hấp để dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu)

+ Nhục thung dung: Lấy Điềm Đại Vân, bỏ tạp chất, ngâm nước hoặc lấy Diêm Đại Vân cho vào nước rửa sạch phần muối, vớt ra, sau khi thấm mềm đều, cắt dọc thành lát, phơi khô (Dược Tài Học)

+ Tửu Thung dung: Lấy Nhục thung dung sạch, cho rượu vào trộn đều (cứ 50kg Thung dung dùng 15kg rượu), cho vào trong bình thích hợp, đậy kín, chưng cách thủy cho ngấm hết rượu, lấy ra, để khô (Dược Tài Học)

Thành Phần Hóa Học:

+ Trong thuốc có ít Ancaloit (Trung Dược Học)

+ Chất trung tính, Aminoaxit, d-Mannitol (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược)

+ Chất đường, chất béo (Dược Liệu Việt Nam)

+ Cistanoside A, B, C, H, Acteoside, 2’-acetylacteoside, Echinacoside, Liriodendrin, 8-epiloganic acid, Daucosterol, Betaine, b-sitosterol, Mannitol (Từ Văn Hào, Trung Thảo Dược 1994, 25 (10): 509)

+ N, N_dimethylglycine methylester (Tiêu Düng, Trung Thảo Dược 1990, 21 (12): 564)

+ Phenylalanine, Valine, Leucine, Isoleucine, Lysine, Serine (La Hướng Túc, Trung Quốc Trung Dược Tạp Chí 1990, 15 (6): 342)

+ Succinic acid, Triacontanol [Trần Diệu Hoa, Trung Quốc Trung Dược Tạp Chí

Trang 29

3 Tác dụng đối với sự tăng trưởng: Cho chuột ăn thức ăn trộn chung với Nhục thung dung chiết xuất bằng cồn, thấy chúng lớn nhanh hơn lô đối chứng (Trung Dược Học)

4 Tác dụng đối với hệ hô hấp: Saponin của Nhục thung dung có tác dụng gây liệt

hô hấp nơi chuột nhắt (Trung Dược Học)

Tính vị:

+ Vị ngọt, hơi ôn (Bản Kinh)

+ Vị chua, mặn, không độc (Danh Y Biệt Lục)

+ Vị ngọt, mặn, hơi cay, chua, tính hơi ôn (Cảnh Nhạc Toàn Thư)

+ Vị ngọt, mặn, tính ôn (Trung Dược Học)

+ Vị ngọt, mặn, chua, tính hơi ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu)

+ Vị ngọt, chua, mặn, tính ấm (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

Quy Kinh:

+ Vào kinh Thận, Tâm bào lạc, Mệnh môn (Bản Thảo Kinh Sơ)

+ Vào kinh túc Quyết âm Can kinh, túc Thiếu âm Thận kinh, thủ Dương minh Đại trườøng kinh (Bản Thảo Kinh Giải)

+ Vào kinh Thận, Đại trường (Trung Dược Học)

+ Vào kinh Can, Thận (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Trang 30

+ Bổ thận dương, ích tinh huyết, nhuận trường, thông tiện (Trung Dược Học) + Tư bổ Thận dương, thông nhuận đường ruột (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Chủ Trị:

+ Trị 5 chứng lao, 7 chứng thương tổn, bổ trung, dưỡng ngü tạng, cường âm, ích tinh khí, sinh nhiều con, trị chứng trưng hà, làm khỏe người (nếu uống lâu dài) (Bản Kinh)

trị các chứng nam tử tuyệt dương bất hứng, nữ tử tuyệt âm bất sản, nam tử tiết tinh, niệu huyết di lịch, nữ tử đái hạ âm thống (Nhật Hoa Tử Bản Thảo)

+ Trị ngü lao thất thương, tuyệt dương bất hứng, tuyệt âm bất sản, yêu tất lãnh thống, băng đới, di tinh (Bản Thảo Bị Yếu)

+ Trị liệt dương, vô sinh, táo bón (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Kiêng Kỵ:

+ Vị thuốc kỵ sắt (Bản Thảo Mông Thuyên)

+ Tiêu chảy: không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ)

+ Thận và Mệnh môn có hỏa uất, bàng quang có thấp nhiệt, dương vật cương cứng, tinh quan không vững: không dùng (Bản Thảo Hối Ngôn)

+ Vị trường hư yếu: không dùng (Dược Phẩm Hóa Nghĩa)

+ Tz hư, thận hỏa vượng: không dùng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

+ Tiêu lỏng, trong thận có nhiệt, dương sự dễ cương mà tinh không bền: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Đơn Thuốc Kinh Nghiệm:

+ Trị nam giới bị ngü lao, thất thương, liệt dương, tiểu nhỏ giọt, buốt, khi suy yếu thì nước tiểu vàng, đỏ: Nhục thung dung, Thỏ ti tử, Xà sàng tử, Ngü vị tử, Viễn chí,

Trang 31

Tục đoạn, Đỗ trọng đều 1,6g Tán bột, luyện mật làm thành viên to bằng hạt ngô đồng Ngày uống 2 lần, mỗi lần 5 viên Nhục Thung Dung Hoàn – Y Tâm Phương) + Cường cân, kiện tủy: Nhục thung dung, con Lươn Sấy, tán bột, trộn với rượu Hoàng tinh, làm thành viên, giúp tăng lực đến 10 lần (Bản Thảo Bổ Di)

+ Trị tinh suy, da mặt sạm đen, lao thương: Nhục thung dung 160g, chưng cho nát nhừ Cho thêm thịt Dê và gạo vào nấu thành cháo ăn lúc đói (Dược Tính Luận) + Trị thận hư, bạch trọc: Nhục thung dung, Lộc nhung, Sơn dược, Bạch linh Lượng bằng nhau, tán bột, trộn với nước cơm làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng Mỗi lần uống 30 viên với nước Táo sắc (Thánh Tế Tổng Lục)

+ Trị cao lâm, nước tiểu dính như cao: Từ thạch (nung lửa, nhúng vào dấm 37 lần), Nhục thung dung (tẩm rượu, thái ra, sấy), Trạch tả, Hoạt thạch đều 40g Tán

nhuyễn, trộn với mật làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng Mỗi lần uống 30 viên với rượu ấm (Từ Thạch Hoàn – Thánh Tế Tổng Lục)

+ Trị lớn tuổi hay bị quên: Nhục thung dung (tẩm rượu), Tục đoạn đều 10g, Thạch xương bồ, Bạch linh (bỏ vỏ) đều 30g Tán bột, mỗi lần uống 8g với rượu ấm, sau bữa ăn (Thung Dung Tán – Chứng Trị Chuẩn Thằng)

+ Trị mồ hôi ra, tiểu nhiều, mất tân dịch, tạng phủ bí kết: Nhục thung dung (tẩm rượu, sấy) 80g, Trầm hương 40g Nghiền nát, trộn với dầu Mè, làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng Mỗi lần uống 70 viên với nước cơm, lúc đói (Nhuận Trường Hoàn – Tế Sinh Phương)

+ Noãn thủy tạng, minh mục: Thung dung (tẩm rượu một đêm, sấy khô), 80g, Ba kích, Câu kỷ tử, Cúc hoa Xuyên luyện tử đều 40g Tán bột, trộn với mật làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng Mỗi lần uống 30 viên với rượu ấm hoặc nước muối, lúc đói, trước bữa ăn và khi đi ngủ (Thung Dung Hoàn – Hồng Thị Tập Nghiệm Phương)

+ Trị tiểu ra toàn máu, ra máu thì ngưng, không đau, hơi thở ngắn, do dương khí không vững, âm không giữ được, ngü lâm chảy xuống: Thỏ ti tử (tẩm rượu một đêm), Thung dung, Lộc nhung (bỏ lông, thái ra, nướng với dấm), Can địa hoàng

Trang 32

Lượng bằng nhau Tán bột, trộn với hồ làm hoàn, to bằng hạt ngô đồng Mỗi lần uống 30 viên, lúc đói (Thung Dung Hoàn – Toàn Sinh Chỉ Mê)

+ Trị liệt dương do thận hư, lưng đau, gối lạnh, phụ nữ vô sinh:: Nhục thung dung 16g,

+ Trị táo bón nơi người lớn tuổi do khí huyết hư: Nhục thung dung nấu với thịt heo, uống (Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng)

+ Trị táo bón nơi người lớn tuổi do khí huyết hư: Nhục thung dung 20g, Đương qui 16g, Sinh địa 12g, Bạch thược 12g, Hỏa ma nhân 12g, sắc nước uống (Nhục Thung Dung Nhuận Trường Thang - Trung Dược Ứng Dụng Lâm Sàng)

+ Trị táo bón nơi người lớn tuổi do khí huyết hư: Nhục thung dung 24g, Ma nhân 12g, Trầm hương 2g, tán bột mịn, hoàn với mật ong, mỗi lần uống 12-20g, ngày uống 2 lần (Nhục Thung Dung Nhuận Trường Hoàn - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược)

Tham Khảo:

+ Thung dung là do tinh của con ngựa rơi xuống đất sinh ra, được âm khí của đất, dương khí của trời mà hình thành, thuộc hành Thổ, có cả hành Thủy và hỏa Đi vào Thận, Tâm bào, Tâm và Mệnh môn, bổ cho tinh huyết, thêm được cả ở trong thủy, là vị thuốc đầu để nhuận Thận, bổ tinh Nó có vị ôn mà không nhiệt, bổ mà không gấp, có { nghĩa thung dung Khí của nó có hơi ấm, nói nhiệt là lầm (Dược Phẩm Vậng Yếu)

Trang 33

+ Nhục thung dung vị ngọt, tính ôn, củ mềm và đen là thứ mềm nhuận, nhiều dịch, có tác dụng tư âm bổ dương Nói chung những vị thuốc bổ dương phần nhiều có tính táo, tư âm thì lại nhiều chất béo, duy chỉ có Nhục thung dung bổ mà không táo, tư nhuận mà không béo, chẳng những ôn thông được thận dương mà còn có hiệu lực hoạt trường, trị được táo bón (Đông Dược Học Thiết Yếu)

119 Ô MAI

Tên khác:

Mai thực (Bản Kinh), Huân mai (Bản Thảo Cương Mục), Sào yên cửu trợ (Hòa Hán Dược Khảo), Hắc mai, Khô mai nhục (Hiện Đại Thực Dụng Trung Dược), Mơ (Dược Liệu Việt Nam)

Tên khoa học:

Armeniaca vulgaris Lamk

Trang 34

Mô tả dược liệu:

Ô mai có dạng hình cầu, không theo 1 quy tắc nào, hoặc hình tròn dẹt, to nhỏ khôngeều nhau, đường kinh 2-2,6cm Vỏ ngoài mầu đen hoặc đen nâu, nhăn, một đầu có rốn tròn lõm xuống Cùi mềm có thể bóc được, hạt cứng, hình bầu dục, mầu vàng nâu, trong có 1 hạt nhân mầu vàng nhạt, không mùi, nghiền với nước

có mùi thơm đặc biệt Cùi quả hơi có mùi chua đặc biệt, vị rất chua

Trang 35

+ Tác dụng chống dị ứng: Trên súc vâït thí nghiệm, nước sắc Ô mai có tác dụng giảm tỉ lệ tử vong của chuột lang gây choáng bằng chất Albumin (Chinese Herbal Medicin)

+ Tác dụng chống ung thư: In vitro, Ô mai có tác dụng ức chế trên 90% ung thư cổ

tử cung loại JTC26 (Chinese Herbal Medicin)

Tính vị:

+ Vị chua, tính bình (Bản Kinh)

+ Tính hoãn, không độc (Nhật Hoa Tử Bản Thảo)

+ Vị chua, tính ôn (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Vị chua, chát, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Quy kinh:

Trang 36

+ Vào kinh Tz, Phế, phần huyết (Thang Dịch bản Thảo)

+ Vào kinh Can (Bản Thảo Kinh Sơ)

+ Vào kinh Phế, Vị, Đại trường (Dược Phẩm Hóa Nghĩa)

+ Vào kinh Phế, thận ((Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải)

+ Vào kinh Can, Tz, Phế, Đại trường (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Tác dụng:

+ Kiện Vị, cố trường, nhu Can (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển)

+ Thu liễm, sinh tân, an hồi, khu trùng (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Sáp trường, liễm Phế, sát trùng, sinh tân dịch (Đông Dược Học Thiết Yếu)

Chủ trị:

+ Trị ho lâu ngày, hư nhiệt, phiền khát, sốt rét lâu ngày, tiêu chảy lâu ngày, kiết lỵ lâu ngày, tiêu ra máu, tiểu ra máu, băng huyết, bụng đau do giun, nôn mửa, giun móc, da viêm (ngưu bì tiễn), hoại tử (Trung Dược Đại Từ Điển)

+ Trị tiêu chảy lâu ngày, lỵ ra máu, hồi quyết (chân tay lạnh do giun gây nên), miệng khô

Kiêng kỵ:

+ Ăn nhiều Ô mai răng sẽ bị tổn thương (Thực Liệu Bản Thảo)

+ Sôét rét mới phát, kiết lỵ mới bị: không dùng (Đắc Phối Bản Thảo)

+ Có thực tà: không dùng (Trung Dược Đại Từ Điển)

Liều dùng: 6 – 12g

Đơn thuốc kinh nghiệm:

Trang 37

+ Trị tiêu khát, tiểu đường: Ô mai, Thiên hoa phấn, Cát căn, Hoàng kz, Mạch môn đều 10g, Cam thảo 3g Sắc uống Hoặc chế thành hoàn, ngày uống 2 lần, mỗi lần 6g (Ngọc Tuyền Hoàn - Cảnh Nhạc Toàn Thư)

+ Trị tiêu khát, phiền muộn: Ô mai nhục 80g, sao sơ Tán bột Mỗi lần dùng 8g, sắc với 2 ch n nước, còn 1 chén, lọc bỏ bã, cho thêm 200 hạt Đạm Đậu xị vào sắc tiếp còn ½ hén, uống nóng (Giản Yếu Tế Chúng phương)

+ Trị kiết lỵ, khát: Ô mai, sắc nước uống thay nước trà hàng ngày (Phù Thọ Tinh Phương)

+ Trị sản hậu bị chứng lỵ, khát: Ô mai 20 trái, Mạch môn 12 phần Mỗi lần dùng 1

ch n nước, sắc còn 7 phân, uống dần (Tất Hiệu Phương)

+ Trị xích lỵ, bụng đau: Ô mai nhục, Hoàng liên (sao) đều 160g tán bột, trộn mật làm viên, to bằng hạt Ngô đồng lớn Ngày uống 3 lần, mỗi lần 10 viên với nước cơm (Thánh Huệ phương)

+ Trị kiết lỵ ra mủ, máu: Ô mai 40g, bỏ hột, đốt sơ, tán bột Mỗi lần uống 8g với nước cơm là khỏi ngay (Thánh Tế Tổng Lục)

+ Trị hưu tức lỵ rất thần hiệu: Ô mai, Tế trà (trà vụn nhỏ), Can khương Ba vị bằng nhau, tán bột, làm thành viên, uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển)

+ Trị ho lâu ngày, cơ thể mệt mỏi: Ô mai, lượng vừa đủ nấu thành cao Mỗi tối, trước lúc đi ngủ, uống với mật ong (Ô Mai Cao - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

+ Trị ho lâu ngày do Phế hư: Ô mai 12g, Anh túc xác 6g, Bán hạ, Hạnh nhân đều 12g, Tô diệp 8g, A giao, Sinh khương đều 12g, Cam thảo 4g Sắc uống (Nhất Phục Tán - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

+ Trị lỵ lâu ngày, tiêu chảy lâu ngày: Ô mai, Nhục đậu khấu, Kha lê lặc đều 12g, Anh túc xác 6g, Thương truật, Đảng sâm, Phục linh đều 12g, Mộc hương 6g, Cam thảo 4g tán bột Ngày uống 2 lần, mỗi lần 8g hoặc sắc uống (Cố Trường Hoàn - Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

Trang 38

+ Trị bụng đau do giun: Ô mai 12g, Xuyên tiêu 4g, Đại hoàng, Mang tiêu, Tân lang đều 12g, Mộc hương 6g, Chỉ thực, Khổ luyện căn bì đều 12g, Can khương 6g, Tế tân 4g sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

+ Trị giun chui ống mật: Ô mai, Tân lang, Khổ luyện căn bì, Sử quân tử đều 12g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách)

+ Trị trĩ nội: Lục Đức Viêm dùng Ô mai chế thành thuốc chích (0,4g thuốc sống/ml, mỗi lần dùng 5 – 20ml, tối đa không quá 30ml) Cho bệnh nhân nằm nghiêng, gây

tê vô trùng, cho búi trĩ ra ngoài hậu môn, chích vào trung tâm búi trĩ, vào tầng dưới niêm mạc cho đến khi búi trĩ thay mầu Đã trị 110 ca các loại nội trĩ, trĩ hỗn hợp, kết quả tốt (Giang Tô Trung Y Tạp Chí 1980, 5: 29)

+ Trị gan viêm do virus: Ô mai 40-50g (trẻ nhỏ giảm liều), sắc với 500ml nước còn 250ml, chia làm 2 lần uống, ngày 1 thang Đồng thời có uống thêm Vitamin C và B

đã trị 74 ca, 66 ca kết quả tốt, có kết quả 7 ca, không kết quả 1 ca Thuốc có tác dụng hạ men Transaminasa, hết vàng da, các triệu chứng lâm sàng giảm bớt (Từ Tuyền – Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1986, 11: 694)

+ Trị trẻ nhỏ tiêu chảy: Mã Nghiệp Canh dùng:

Trẻ dưới 1 tuổi: Ô mai 1g, Bicarbonat Natri 0,25g x 3 lần /ngày

Trẻ trên 1 tuổi: Ô mai 1,5g, Bicarbonat Natri 0,25g x 3 lần /ngày

3 ngày là 1 liệu trình Đã trị 67 ca, khỏi 65 ca, tốt 1, không kết quả 1 Tỉ lệ đạt 98,5% (Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1988, 6: 566)

Tham khảo:

+ Ô mai là âm dược, kỵ hành sống (Dược Phẩm Vậng Yếu)

+ Ô mai hoa nở vào mùa Đông, đến mùa hè thì thành qủa, hoàn toàn được khí của hành Mộc, vì vậy vị của nó rất chua Sách Nội Kinh ghi: Mộc khúc trực tắc toan là như vậy Đởm là Giáp Mộc, Can là Ất Mộc, dưới lưỡi có 4 khiếu, 2 cái thông với dịch trấp của Đởm, vì vậy, ăn chua thì sinh ra tân dịch (Dược Phẩm Vậng Yếu)

Trang 39

+ Ô mai rất chua Chua chủ về thu liễm, công dụng cho vào thuốc là ở vị chua Da thịt gặp vị chua thì thu sáp, do đó, ho lâu ngày, hạ huyết, sát vào chân răng, tiêu được thịt dư đều có thể dùng Ô mai Trùng tích gặp chua thì nằm im, cho nên đối với chứng hồi quyết, sốt rét và lỵ lâu ngày, lúc khỏi lúc tái phát đều có công hiệu Nếu dùng chung với Hoàng liên, Can khương, lấy sự phối hợp cay, đắng, chua thì sức sát trùng càng mạnh (Đông Dược Học Thiết Yếu)

120 Ô DƯỢC

Trang 40

Tên khác:

Thiên thai ô dược (Nghiêm Thị Tế Sinh Phương), Bàng tỵ (Bản Thảo Cương Mục), Bàng kz (Cương Mục Bổ Di), Nuy chướng, Nuy cước chướng, Đài ma, Phòng hoa (Hòa Hán Dược Khảo), Thai ô dược (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Thổ mộc hương, Tức ngư khương (Giang Tây Trung Thảo Dược), Kê cốt hương, Bạch diệp sài (Quản Tây Trung Thảo Dược)

Ngày đăng: 12/07/2014, 22:20