Sau Cách mạng tháng Tám 1945, châu Trà Bồng ựổi là huyện Trà Bồng, các sách cũ nhập thành các xã mới, các làng tây Bình Sơn nhập vào huyện Trà Bồng, hình thành 13 xã: Trà Khê, Trà Phong,
Trang 1HUYỆN TRÀ BỒNG
TRÀ BỒNG là huyện miền núi nằm ở tây bắc tỉnh Quảng Ngãi Phắa ựông giáp hai huyện Bình Sơn, Sơn Tịnh; phắa tây giáp huyện Tây Trà; phắa nam giáp huyện Sơn Hà; phắa bắc giáp huyện Trà My và huyện Núi Thành (tỉnh Quảng Nam) Diện tắch 418,75km2 Dân số 29.316 người (năm 2005) Mật ựộ dân số khoảng 70 người/km<sup2(1) đơn vị hành chắnhh trực thuộc gồm 9 xã (Trà Phú, Trà Bình, Trà Giang, Trà Thuỷ, Trà Hiệp, Trà Tân, Trà Bùi, Trà Sơn, Trà Lâm), 1 thị trấn (Trà Xuân, huyện lị), với 44 thôn; trong ựó:
Thị trấn Trà Xuân có 3 thôn: Xuân Tây, Xuân Trung, Xuân đông (ựều lấy chữ Xuân làm ựầu), sau ựổi là tổ dân phố số 1, tổ dân phố số 2, tổ dân phố số 3;
Xã Trà Phú có 4 thôn: Phú Hòa, Phú An, Phú Long, Phú Tân (ựều lấy chữ Phú làm
Xã Trà Thuỷ có 6 thôn, tên gọi theo thứ tự từ thôn 1 ựến thôn 6;
Xã Trà Hiệp có 4 thôn: thôn Cả, thôn Cưa, thôn Nguyên, thôn Bằng;
Xã Trà Tân có 4 thôn: Tà Ót, Tà Ngon, Trường Biện, Trường Giang;
Xã Trà Bùi có 5 thôn: thôn Quế, thôn Tang, thôn Tây, thôn Gò, thôn Niêu;
Xã Trà Sơn có 7 thôn: Sơn Bàn, Sơn Thành, thôn đông, thôn Bắc, thôn Trung,
Cà Tinh, thôn Tây;
Xã Trà Lâm có 4 thôn: Trà Xanh, Trà Khương, Trà Hoa, Trà Lạc (ựều lấy chữ Trà làm ựầu)
Từ tỉnh lỵ Quảng Ngãi ựến thị trấn Trà Xuân 55km, trong ựó có 24km Quốc lộ 1
và 21km ựường tỉnh lộ 622
Trà Bồng là ựịa bàn cư trú lâu ựời của dân tộc Cor với cây quế nổi tiếng, với vùng ựông là các xã người Kinh chuyên làm lúa nước Nơi ựây từng nổ ra cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi 28.8.1959 Trà Bồng chủ yếu phát triển nông, lâm nghiệp, công - thương nghiệp phát triển chủ yếu ở các xã vùng thấp trong huyện
Trang 2*
* *
Về hành chắnh, Trà Bồng xưa là một trong bốn nguồn (nguyên) của tỉnh Quảng
Ngãi, thường ựược gọi là nguồn đà Bồng, sau ựổi là nguồn Thanh Bồng, rồi ựồn Trà Bồng, châu Trà Bồng, có 3 tổng, 34 sách (làng)
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, châu Trà Bồng ựổi là huyện Trà Bồng, các sách cũ nhập thành các xã mới, các làng tây Bình Sơn nhập vào huyện Trà Bồng, hình thành 13 xã: Trà Khê, Trà Phong, Trà Quân, Trà Lâm, Trà Giang, Trà Thanh, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Thuỷ, Trà Sơn, Trà Xuân, Trà Phú, Trà Bình; ựại ựể tên các xã không khác mấy với các xã, thị trấn ở hai huyện Trà Bồng, Tây Trà ngày nay đến năm 1951, 3 xã Trà Xuân, Trà Phú, Trà Bình (nguyên là các làng Xuân Khương, đông Phú, Vinh Hòa thời Pháp thuộc) cắt giao về cho huyện Bình Sơn, thành 1 xã là xã Bình Lâm
Từ sau 1954, chắnh quyền Sài Gòn tiếp quản, ựến giữa năm 1958, ựổi huyện Trà Bồng thành quận Trà Bồng, ựổi tên xã cũ thành tên xã mới (cũng lấy chữ Trà làm
ựầu): xã Trà Xuân ựổi thành Trà Khương; xã Trà Giang ựổi thành Trà Nhỉ; xã Trà
Thuỷ ựổi thành Trà Bắc; xã Trà Sơn ựổi thành Trà Lang; xã Trà Thanh ựổi thành Trà đoài; xã Trà Lâm ựổi thành Trà Binh; xã Trà Lãnh ựổi thành Trà Trung; xã Trà Nham ựổi thành Trà Thượng; xã Trà Quân ựổi thành Trà Hương; xã Trà Khê
ựổi thành Trà Hoa; xã Trà Phong ựổi thành Trà Thạnh Quận lỵ ựặt ở xã Trà
Khương (Trà Xuân)
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, lực lượng kháng chiến quyết ựịnh cắt các xã phắa nam Cà đam của huyện Sơn Hà có dân tộc Cor sinh sống là các xã Sơn Thọ, Sơn Hiệp, Sơn Bùi, Sơn Tân nhập vào Trà Bồng, ựổi thành các xã Trà Thọ, Trà Hiệp, Trà Bùi, Trà Tân Có thời, các xã ựông bắc ựược cắt thành khu I, các xã quanh núi Cà đam ựược tách lập thành khu II, các xã phắa tây huyện cắt lập thành khu IX, trực thuộc vùng căn cứ ựịa của Tỉnh uỷ
Sau năm 1975, sau nhiều lần tách nhập các xã, ựến cuối năm 2003, Trà Bồng có
19 xã thị trấn: Trà Thanh, Trà Khê, Trà Quân, Trà Phong, Trà Thọ, Trà Hiệp, Trà Lâm, Trà Lãnh, Trà Thuỷ, Trà Sơn, Trà Nham, Trà Bùi, Trà Giang, Trà Phú, Trà Bình, Trà Tân, Trà Trung, Trà Xinh và thị trấn Trà Xuân
Cuối năm 2003, 9 xã phắa tây huyện ựược tách lập thành huyện mới Tây Trà Trà Bồng còn 10 xã, thị trấn (như ựã kể trên)
Về tự nhiên, Trà Bồng là huyện miền núi, với diện tắch ựồi núi chiếm phần lớn
ựất ựai trong huyện Vùng ựồng bằng nằm ở phắa ựông huyện, giáp giới với huyện
Bình Sơn và phắa hữu ngạn sông Trà Bồng, ở các xã Trà Bình, Trà Phú và thị trấn Trà Xuân địa hình Trà Bồng khá phức tạp, bị chia cắt mạnh bởi các khối núi và sông suối chằng chịt trong các thung lũng nhỏ hẹp Núi ở ựây có ựộ dốc rất lớn
Trang 3Núi ựồi bao bọc khắp nơi trong huyện, như núi Cà đam, núi Răng Cưa, núi
Chớp Vung, núi Cà đú Hệ thống sông suối gồm sông Trà Bồng, sông Giang, sông Trà Bói, suối Cà đú, suối Trà Cân, suối Nun đất bằng và thung lũng ở Trà Bồng rất ắt ỏi, nhỏ hẹp Rừng núi Trà Bồng có nhiều lâm thổ sản, ựất ựai thắch hợp với cây quế Phắa ựông Trà Bồng có suối khoáng Thạch Bắch ựang ựược khai thác dùng trong công nghiệp nước uống
Khắ hậu Trà Bồng nắng lắm mưa nhiều, lượng mưa ở ựây thuộc hạng cao nhất
trong nước, gây ra nhiều hạn hán, lũ lụt, ựộ ẩm cũng khá cao
Trong lời truyền của dân và trong các truyện cổ ựều thể hiện những ký ức kinh hoàng về các trận lũ, nhất là trận lũ 1964 Tình trạng lở ựất xảy ra ở một số nơi, hiện tượng nứt núi cũng xuất hiện, như tại thôn đông xã Trà Sơn
Tình trạng sử dụng quỹ ựất ở Trà Bồng năm 2005 như sau: 1) đất nông nghiệp
5.308ha (cây hàng năm 3.942ha); 2) đất lâm nghiệp 30.338ha; 3) đất chuyên dùng 337ha; 4) đất khu dân cư 195ha; 5) đất chưa sử dụng 5.698ha
Về dân cư, cư dân ở Trà Bồng chủ yếu là người Cor, người Việt Người Cor
sống chủ yếu bằng nghề làm rẫy, trồng quế, bắp, săn bắn, hái lượm, chăn nuôi các loại gia súc, gia cầm Xã hội Cor xưa kia ở vào thời kỳ tiền giai cấp, tắnh cố kết cộng ựồng cao, sống hiền hòa, cần cù nhẫn nại, có nhiều giá trị văn hóa cổ truyền
ựặc sắc Người Việt cư trú chủ yếu ở các xã Trà Phú, Trà Bình và thị trấn Trà Xuân
phắa ựông huyện, ven trục lộ giao thông, chủ yếu làm ruộng nước và buôn bán, làm nghề thủ công, và có sự giao lưu với văn hóa Cor Ngoài ra, còn có người Hrê chủ yếu sống ở xã Trà Tân Người Cor, người Việt, người Hrê ở Trà Bồng có truyền thống ựoàn kết, có sự giao lưu buôn bán lâu ựời và có truyền thống yêu nước khá nổi bật
Trong số dân hơn 29.000 người ở Trà Bồng có trên 10.000 người Cor, trên 18.000 người Việt, trên 200 người Hrê Số người Việt ựông nhất là ở thị trấn Trà Xuân (trên 7.000 người), kế ựến là các xã Trà Bình, Trà Phú (toàn bộ số dân của 2
xã này) Người Cor sống ựều khắp ở các xã còn lại
Trang 4Sự phân bố dân cư theo từng xã, thị trấn thời ñiểm 2005 như sau (2):
TT Xã, thị trấn Diện tích
(km 2 )
Dân số (người)
Mật ñộ dân số (người/km 2 )
Thống kê trên cho thấy thị trấn Trà Xuân có số dân cao tuyệt ñối và mật ñộ dân
số cũng cao tuyệt ñối, trong khi diện tích thấp tuyệt ñối Rộng nhất là xã Trà Thủy Dân số và mật ñộ thấp tuyệt ñối là xã Trà Giang Các xã có người Việt sống tập trung là Trà Bình, Trà Phú, dân số và mật ñộ dân số cao hơn hẳn so với các xã khác
*
* *
Nổi bật trong truyền thống yêu nước của người Cor ở Trà Bồng là sự tham gia
phong trào "Nước Xu ñỏ" từ năm 1938 và tiếp tục chống Pháp cho ñến Cách mạng tháng Tám 1945 thành công Năm 1938, bốn già làng có uy tín nhất của dân tộc Cor là ông Gia, ông Chân, ông Phú, ông Tài ñã kêu gọi nhân dân quanh vùng ñứng lên chống thực dân Pháp bắt xâu, thu thuế Họ chỉ huy bốn ñội nghĩa quân trang bị
vũ khí thô sơ kéo về tấn công châu lỵ Trà Bồng nhưng bị thất bại, nhiều người hy sinh Dân các làng buộc phải quay về chịu xâu, thuế như cũ Các thủ lĩnh, dẫn ñầu
là ông Gia, ông Tài, cùng dân của hàng chục làng kéo nhau lên Cà ðam, lên ñầu nguồn sông Tang xây dựng căn cứ ñể chiến ñấu lâu dài Nghĩa quân ñã gây cho Pháp nhiều thiệt hại, ñã ñánh trận Gò Rô nổi tiếng (tháng 1.1939) Năm 1942, nhân lúc giặc Pháp ñưa quân lên ñánh vùng cao, nghĩa quân lại kéo xuống tấn công châu
lỵ Trà Bồng, nhưng lại bị thất bại Pháp tăng cường ñánh phá lên căn cứ và dụ dỗ, mua chuộc Các thủ lĩnh và dân các làng cương quyết cố thủ trong căn cứ cho mãi
ñến tháng Tám 1945 Khi ñược biết Việt Minh ñang lãnh ñạo nhân dân giành chính
quyền ở châu lỵ Trà Bồng, nghĩa quân kéo về tham gia Ông Gia (lúc này ñã 90 tuổi) ñược cử làm Chủ tịch Trà Bồng
Trang 5Các xã ở phía ñông huyện thuộc ñịa bàn cư trú của người Việt, hình thành tổ chức cơ sở ðảng từ năm 1930 và liên tục ñấu tranh góp phần vào sự nghiệp giải phóng dân tộc Trà Bồng trong kháng chiến chống Pháp là căn cứ ñịa vững chắc của cách mạng, giữ vững tự do và ñóng góp sức người, sức của vào công cuộc
ñánh thắng quân Pháp xâm lược
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Trà Bồng là căn cứ ñịa ñầu tiên của tỉnh Quảng Ngãi Cũng tại Gò Rô, ngày 7.7.1958, ðại hội nhân dân 4 dân tộc: Cor, Hrê, Ca Dong, Kinh thể hiện quyết tâm ñánh Mỹ, ñược mệnh danh là ñại hội "Diên Hồng" của nhân dân các dân tộc miền Tây Quảng Ngãi Trà Bồng là nơi khởi phát cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi 28.8.1959, một trong những cuộc ñồng khởi nổi bật nhất ở miền Nam Việt Nam thời ấy Sau cuộc khởi nghĩa, nhiều vùng nông thôn ñã ñược giải phóng, các ủy ban tự quản xã ra ñời Nhân dân Trà Bồng ñã bẻ gãy các cuộc phản kích, ñánh phá của kẻ ñịch ñể giữ vững vùng giải phóng và ñóng góp nhiều nhân tài vật lực cho cuộc kháng chiến ñến thắng lợi hoàn toàn Trà Bồng ñược giải phóng hoàn toàn ngày 18.3.1975
Quân và dân Trà Bồng, quân và dân các xã Trà Sơn, Trà Tân, Trà Bùi, Trà Lâm, Trà Hiệp ñược phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân Có
12 bà mẹ ñược phong tặng danh hiệu cao quý Bà mẹ Việt Nam Anh hùng
*
* *
Kinh tế Trà Bồng nhìn chung còn chậm phát triển Hoạt ñộng kinh tế của nhân
dân Trà Bồng chủ yếu là nông, lâm nghiệp Công, thương nghiệp và dịch vụ cũng dần dần phát triển theo thời gian Năm 2004, tỉ trọng ngành nông, lâm nghiệp là 55%; các hoạt ñộng công, thương nghiệp, dịch vụ ñã tăng lên 45% tổng giá trị Tuy nhiên, tỉ lệ trên chưa phản ánh thật rõ sự phát triển, vì giá trị sản xuất nông nghiệp tương ñối thấp, trong khi ña số dân vẫn sống bằng nông nghiệp Tính ở thời ñiểm
2005, số dân sống bằng nông, lâm nghiệp là 27.028 người với 5.568 hộ và 13.389 lao ñộng Trong khi số dân sống bằng nghề khác là 2.551 người với 922 hộ và 2.928 lao ñộng
Về nông nghiệp, các tài liệu cổ cho thấy nông nghiệp ở Trà Bồng xưa cũng có
một số ñiểm ñáng chú ý Tập Quảng Ngãi tỉnh chí của Nguyễn Bá Trác và các tác
giả in trên Nam phong tạp chí (1933) có ghi ở thời ñiểm ấy, Trà Bồng (gồm cả huyện Tây Trà ngày nay) có 1.282 mẫu ruộng (461,52ha), thu hoạch ñược 228 tấn lúa mỗi năm Có thể hiểu số ruộng này phần lớn nằm ở vùng thấp của huyện và phần nhiều do người Việt canh tác Ngoài ra, không thấy ghi chép về loại cây trồng
khác Về chăn nuôi, các tác giả Quảng Ngãi tỉnh chí ghi ở Trà Bồng có nuôi 88 con
trâu, 20 con bò, 4 con ngựa, 871 con heo, 4.121 con gà, song các tác giả cũng nhấn mạnh các số liệu ấy cũng chỉ "phỏng chừng mà kê" nên ñộ chính xác chắc chắn không cao Trải qua hai cuộc kháng chiến, nông nghiệp ở Trà Bồng chưa có ñiều kiện phát triển Từ sau năm 1975, sản xuất nông nghiệp mới thực sự chuyển biến Tính ở thời ñiểm 2005, giá trị sản xuất nông nghiệp ở Trà Bồng là 52,743 tỷ ñồng,
Trang 6trong ñó trồng trọt 31,06 tỷ ñồng, chăn nuôi 21,128 tỷ ñồng Do ñặc ñiểm tự nhiên
và tập quán canh tác mà nông nghiệp Trà Bồng có thể phân ra hai vùng khá rõ rệt: nông nghiệp ở ba xã, thị trấn vùng thấp với ña số người Việt và nông nghiệp ở 7 xã vùng cao với ña số ñồng bào Cor Ba xã, thị trấn với ña số người Việt sinh sống ở phía ñông huyện làm nông theo kiểu canh tác của miền xuôi, trồng lúa nước và các loại cây hoa màu, cây lương thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm Ba xã, thị trấn này tuy không rộng lắm nhưng nhờ kinh nghiệm thâm canh lúa nước, nên là nguồn lương thực quan trọng của huyện, chủ yếu là lúa gạo Thống kê cho thấy, trong tổng sản lượng lương thực toàn huyện Trà Bồng năm 2005 là 7.020 tấn thì tổng lượng lương thực của 3 xã, thị trấn vùng thấp ñã có 4.031 tấn (xã Trà Bình 1.864 tấn, xã Trà Phú 1.135 tấn, thị trấn Trà Xuân 1.032 tấn) Tuy nhiên, do vùng thấp tập trung dân số với mật ñộ cao, nên bình quân lương thực ñầu người lại không phải cao nhất trong huyện, trừ xã Trà Bình ñạt 388kg/người/năm (ñứng thứ hai sau
xã Trà Giang 463kg), thì ở xã Trà Phú chỉ 273kg, ở thị trấn Trà Xuân thì thuộc hạng thấp nhất trong huyện (140kg) Bảy xã vùng cao nơi người Cor chiếm ña số,
do ñiều kiện thiên nhiên với nhiều thung lũng hẹp nên từ xưa không có truyền thống trồng lúa nước như vùng người Hrê ở Sơn Hà, Minh Long, Ba Tơ ðể có lương thực, xưa kia người Cor chủ yếu tỉa lúa rẫy, tỉa bắp, trồng bo bo… ñều ở trên rẫy Từ khi có chính quyền cách mạng, người Cor dần chuyển cư xuống thấp và bắt ñầu có sự khai hoang làm ruộng nước Xưa kia việc chăn nuôi gia súc như trâu, heo cũng rất khó, vì vùng rừng núi Trà Bồng có rất nhiều thú dữ như voi, hổ Qua các thời kỳ cách mạng, canh tác nông nghiệp ở Trà Bồng mới dần dần có sự chuyển biến Người Cor sinh hoạt kinh tế nông, lâm nghiệp theo lối cổ truyền, có thêm các nhân tố mới nhờ áp dụng khoa học kỹ thuật vào sản xuất, trong ñó có cả dấu ấn của kinh tế nông nghiệp sơ khai Người Cor ngày nay, bên cạnh việc khai hoang trồng lúa nước với kỹ thuật mới, vẫn thường xuyên trồng và khai thác quế như xưa, phát nương làm rẫy tỉa lúa, ngô, nuôi trâu, gà, vịt ở làng, ñi rừng hái rau ranh, bắt ốc, khai thác mật ong, ñót, các loại cây, dây rừng ñể về làm ñồ dùng, thức
ăn và bán lấy tiền Sản vật ở rừng có nhiều, nhưng ngon nhất là ốc ñá, rau ranh và
mật ong hoa quế
Theo thống kê, tổng sản lượng lương thực có hạt của Trà Bồng năm 2004 trên 6.368 tấn, bình quân lương thực ñầu người gần 219,7kg; sản lượng lương thực năm
2005 là 6.985 tấn, bình quân lương thực ñầu người là 238,3kg(3), những con số còn quá thấp so với nhiều nơi trong tỉnh Quảng Ngãi, nhưng là một tiến triển khá cao trong ñiều kiện tự nhiên không thuận lợi cho việc trồng cây lương thực
Thống kê sau ñây sẽ cho thấy sự tiến triển ấy (4) :
Trang 7huyện Tây Trà (vùng có rất ít diện tích lúa nước), nhưng nhìn trên ñại thể từ 1975
ñến 2005, có thể thấy sự tăng tiến trong sản xuất lương thực
Tính ở thời ñiểm 2005, sản lượng lương thực bình quân ñầu người cao nhất là ở
xã Trà Giang 463kg, xã Trà Bình 388kg, xã Trà Thủy 330kg, thấp nhất là xã Trà Bùi 135kg, thị trấn Trà Xuân 140kg, các xã khác xê dịch trong khoảng 200 ñến 300kg
Bên cạnh cây lương thực có hạt, ở Trà Bồng còn trồng nhiều khoai, sắn Sau ñây
là thống kê về các loại cây trồng chính ở Trà Bồng năm 2005(5):
TT Cây trồng Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng (tấn)
Ngô trồng nhiều nhất ở xã Trà Sơn với diện tích 94ha, sản lượng 190 tấn; tiếp ñó
là xã Trà Bình với diện tích 45ha, sản lượng 113 tấn; xã Trà Thủy với diện tích 41ha, sản lượng 91 tấn
Sắn toàn huyện có diện tích khá lớn, trong ñó có diện tích sắn lớn nhất là xã Trà Bình với 495ha, xã Trà Tân với 415ha, nhưng sản lượng sắn cao nhất lại là xã Trà Phú với 5.076 tấn
Lạc trồng nhiều nhất là ở xã Trà Bình với diện tích 120ha, sản lượng 174 tấn; xã Trà Phú 21ha, sản lượng 31 tấn; thị trấn Trà Xuân 9ha, sản lượng 12 tấn Các xã khác không có
Mía cũng tập trung ở ba xã, thị trấn vùng thấp, trong ñó tập trung ở xã Trà Bình với diện tích 128ha, sản lượng 5.760 tấn mía cây, chiếm khoảng 2/3 về diện tích và sản lượng mía toàn huyện
ðậu các loại với diện tích ít ỏi phân bố ñều khắp các xã, thị trấn
Rau các loại trồng nhiều nhất ở xã Trà Phú với diện tích 75ha, sản lượng 1.019 tấn, thị trấn Trà Xuân với 46ha, sản lượng 632 tấn
Trang 8Về thủy lợi, tổng diện tích tưới nước bằng công trình thủy lợi có 516,4ha, trong
ñó tưới bằng công trình kiên cố có 421,4ha (năm 2004)
Các loại gia súc, gia cầm ở Trà Bồng phổ biến là bò, trâu, heo, gà, vịt Tình hình chăn nuôi vẫn chưa ở mức cao, như số liệu của năm 2004 cho thấy: toàn
huyện có 59 con trâu, 6.687 con bò, 14.611 con heo và trên 59.000 gia cầm Năm
2005, Trà Bồng có 74 con trâu, 7.670 con bò, 15.249 con heo Các xã Trà Giang, Trà Phú, Trà Bùi không có trâu Các xã khác có tối ña 22 con trâu Trong tổng số 7.670 con bò trong toàn huyện, các xã, thị trấn vùng thấp có ñến 5.589 con, chiếm
tỷ lệ trên 2/3, cụ thể xã Trà Bình có 2.385 con, xã Trà Phú 1.926 con, thị trấn Trà Xuân 1.278 con, các xã còn lại ñều có từ 600 con trở xuống Các xã có số lợn trên
2 tháng tuổi từ 1.000 con trở lên gồm: xã Trà Phú 2.930 con, xã Trà Bình 2.855 con, thị trấn Trà Xuân 2.827 con, xã Trà Thủy 1.700 con, xã Trà Sơn 1.550 con, xã Trà Hiệp 1.411 con Các xã khác chỉ có từ 700 con trở xuống
Về lâm nghiệp, thuở xưa vùng Trà Bồng nổi tiếng với loại cây trồng ñặc chủng
là cây quế, thường ñược gọi là quế Quảng Bên cạnh một ít quế rừng mọc tự nhiên, người Cor chuyên việc trồng quế trên rẫy, thành rừng Nhiều thương nhân người Việt ñã lên các làng người Cor ñể mua quế về xuôi bán lại cho người Hoa xuất khẩu Thời nhà Nguyễn, hằng năm các vua Nguyễn ñều cho ñặt mua quế Trà Bồng Người dân Cor bóc vỏ quế bán ñể mua về các vật dụng thiết yếu Quế ñược trồng
bổ sung hằng năm Ngoài việc trồng quế, hoạt ñộng lâm nghiệp của người Cor chủ yếu là khai thác sản vật ở rừng Trải qua quá trình khai thác và qua hai cuộc chiến tranh, rừng Trà Bồng bị tàn phá nặng, trong khi ñồng bào dân tộc Cor vẫn dựa vào việc khai thác lâm thổ sản như một nguồn bổ sung quan trọng cho cuộc sống, thì
ñối với chính quyền ñịa phương, việc bảo vệ, khoanh nuôi, trồng rừng phòng hộ,
rừng nguyên liệu là nhiệm vụ quan trọng và cũng là sự tạo môi trường thuận lợi,
hỗ trợ cuộc sống cho nhân dân Việc khai thác chủ yếu tập trung vào gỗ rừng trồng như keo, bạch ñàn, các loại cây thiên nhiên như tre, nứa, lồ ô, mây, ñót khô Riêng
vỏ quế xô hằng năm khai thác vài trăm tấn Diện tích trồng quế tính ở thời ñiểm năm 2004 có 3.387ha Việc trồng và khai thác quế trong hàng chục năm trở lại ñây
ñã suy giảm, nằm ở mức thấp, vì giá quế trên thị trường xuống rất thấp ðây là một
vấn ñề khá nan giải cho vùng ñất quế Trà Bồng Bà con dân tộc Cor vốn trông cậy nhiều ở cây quế và ñiều kiện, ñịa hình, khí hậu ở ñây không dễ chuyển ñổi sang cây trồng khác Cây keo lai ñang ñược trồng khá nhiều
Về tiểu thủ công nghiệp, ở Trà Bồng chủ yếu vẫn là các nghề thủ công mang tính
tự túc, tự cấp của người Cor, trong ñó chủ yếu là ñan lát các vật dụng dùng cho sinh hoạt và sản xuất như gùi các loại, chiếu nằm, chiếu phơi lúa, mủng, giỏ nhốt gà với những nét ñan lát khá tinh xảo Vật liệu ñan chủ yếu dùng mây, cây lùng, nứa Nghề thủ công của người Kinh thì chủ yếu là các nghề thông dụng như hồ, mộc, làm gạch ngói, rèn, khai thác ñá Từ sau năm 1975, ở Trà Bồng còn có thêm nghề sản xuất ñồ thủ công mỹ nghệ từ vỏ quế, như bình ly, ống ñựng tăm, quả bánh bằng vỏ quế già (quế tam sơn), nhưng việc tiêu thụ chưa nhiều Suối Thạch Bích tại xã Trà Bình ñã
ñược Nhà máy nước khoáng của Công ty ñường Quảng Ngãi khai thác và ñóng chai
Trang 9với thương hiệu cùng tên, là một sản phẩm rất ựược ưa chuộng trên thị trường Thống
kê cho biết năm 2005, Trà Bồng có 235 cơ sở sản xuất công nghiệp cá thể với 308 lao ựộng, tập trung ở thị trấn Trà Xuân, xã Trà Bình, xã Trà Phú, xã Trà Sơn và xã Trà Tân Công nghiệp Trà Bồng chủ yếu tập trung ở việc chế biến thực phẩm, may mặc, sản phẩm gỗ, tre nứa Giá trị sản xuất công nghiệp trên ựịa bàn là 4,547 tỷ
ựồng theo giá hiện hành năm 2005
Mặc dù cho ựến trước Cách mạng tháng Tám 1945 ựồng bào dân tộc Cor ở Trà Bồng vẫn trong trạng thái kinh tế - xã hội thời tiền giai cấp, nhưng ựã có giao thương xuôi ngược với người Việt, người Hoa từ rất sớm Chợ Thạch An nằm ở phắa tây huyện Bình Sơn là một ựiểm giao thương khá sầm uất từ nguồn về biển Người Cor mang quế ựến bán, mua về nồi, niêu, cồng, chiêng, chè, vải, muối, gạo, rìu, rựa tức những vật dụng thiết yếu cho sinh hoạt và sản xuất Cũng rất phổ biến là các thương nhân người Việt mang cõng lên các làng nóc nằm ở lưng chừng các núi ựể thực hiện việc buôn bán tại chỗ Từ sau năm 1975, các hình thức buôn bán như vậy vẫn rất thường thấy Tuy nhiên, các ựiểm thương mại, dịch vụ, các chợ ựã dần ựược xây dựng ở các xã, ở huyện lỵ, ựã trở thành nơi tập trung buôn bán của ựồng bào các dân tộc tại Trà Bồng Chợ Trà Bồng ở trung tâm thị trấn Trà Xuân và các cửa hiệu ở xung quanh ngày càng buôn bán sầm uất Ở các thôn, làng của ựồng bào Cor, thông thường mỗi nơi có một vài tiệm bán tạp hóa với các mặt hàng thiết yếu, do người Việt ựảm nhiệm Thống kê cho biết trong trong ựịa hạt Trà Bồng năm 2005 có 805 cơ sở kinh doanh thương mại - dịch vụ cá thể với tổng cộng 871 lao ựộng, phân bố rải rác trong huyện, nhưng tập trung nhiều nhất vẫn là
ở Trà Xuân, Trà Phú, Trà Bình
Cơ sở hạ tầng ở Trà Bồng ựã có sự phát triển khá Từ nhiều trăm năm trước,
ựường từ miền xuôi lên nguồn Trà Bồng ựã có, nhưng chỉ là ựường ựất Trà Bồng ựược xem là vùng rừng thiêng nước ựộc, xa xôi hiểm trở Châu lỵ Trà Bồng trước
Cách mạng tháng Tám 1945 tuy ựã có nhưng còn sơ sài, chỉ có ựồn binh và nhà cửa của quan cai trị Trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước, ựường sá có phần ựược cải thiện hơn trước
Cuối thập niên năm mươi của thế kỷ XX, vợ cố vấn Ngô đình Nhu là Trần Lệ Xuân ra lệnh cho cấp dưới làm ựường ở ựịa hạt Trà Bồng ựể ựộc quyền khai thác, buôn bán quế đường rừng ựi Trà Phong, ựường nước ựi dọc các xã Trà Thuỷ, Trà Hiệp qua huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam) có xây cầu cống, tu sửa, cầu bắc qua sông Trà Bồng ựược xây dựng, năm 1964 bị trận lũ lớn cuốn trôi (ựến năm 2005 xây dựng lại) Tuy nhiên phải ựến sau 1975, ựường sá mới thật sự chuyển biến Tỉnh lộ 622 từ Châu Ổ (huyện Bình Sơn) nối với huyện lỵ Trà Bồng ựã ựược trải nhựa đường Trà Bồng - Trà Phong (huyện lỵ Tây Trà) ựược xây dựng, trải nhựa Hiện nay, ựoạn tỉnh lộ 622 từ thị trấn Trà Xuân qua cầu men theo tả ngạn sông Trà Bồng dẫn ựến Trà My ựã có kế hoạch xây dựng, nâng cấp đường huyết mạch từ Trà Tân ựi Trà Bùi ựang ựược xây dựng Các con ựường nối các xã dần dần ựã ựược bêtông hóa
Trang 10Về thông tin liên lạc, ở huyện lỵ Trà Bồng có bưu ựiện huyện, ở các xã có nhà
bưu ựiện văn hóa xã Số máy ựiện thoại cố ựịnh năm 2004 là 1.265 máy, năm 2005
là 1.650 máy
Sự chuyển biến rõ nhất là ở ựiện lực Xưa kia, Trà Bồng không có ựiện, ở người
Việt, việc thắp sáng chủ yếu dựa vào dầu thực vật như dầu dừa, dầu phụng, sáp ong
và dầu hoả; còn ở người Cor thì chủ yếu nhờ lửa củi Từ năm 1990, thuỷ ựiện Cà đú với công suất 400kW ựược xây dựng ựưa ựiện về thắp sáng huyện lỵ Năm 1995, lưới ựiện quốc gia kéo về huyện lỵ và các xã Năm 2004, số hộ dùng ựiện là 4.672
hộ, chiếm 75% tổng số hộ trong toàn huyện điện kéo về ựã góp phần làm biến ựổi lớn chất lượng cuộc sống vật chất và tinh thần của các tầng lớp dân cư, nhất là khi các phương tiện nghe nhìn, truyền thông ựại chúng ngày càng lan rộng
Các cơ sở công cộng, như cơ quan, trạm y tế ựược xây dựng ngày càng khang trang Ở các xã người Việt, ựa số nhà ở ựã ựược ngói hóa Ở các làng người Cor, nhiều người ựã làm ựược nhà ngói, có làng ựã ngói hóa hoàn toàn như thôn 2 xã Trà Thủy Tuy vậy, nhìn chung ựời sống của nhân dân còn quá thấp là một trở ngại trên con ựường phát triển
*
* *
điểm nổi bật trong văn hóa ở Trà Bồng là các di sản văn hóa cổ truyền và các
hoạt ựộng văn hóa mới Ở dân tộc Cor, di sản văn hóa khá phong phú Trà Bồng là
ựịa bàn cư trú chắnh của dân tộc Cor Nơi ựây, người dân vẫn bảo tồn ựược các di
sản văn hóa vật thể và phi vật thể quý báu Người Cor vốn có tắn ngưỡng nguyên thuỷ vạn vật hữu linh Trong di sản văn hóa dân tộc Cor có truyện cổ tắch (ựã phần nào ựược sưu tầm, dịch thuật và xuất bản), có các làn ựiệu dân ca như xà-ru, a-giới, cà-lu, a-rợp Người Cor thắch ựánh chiêng và có nhiều giai ựiệu chiêng ựặc sắc Lễ hội của người Cor thì có lễ ăn lúa mới, làm nhà mới; ựặc sắc có lễ cưới, lễ hội ăn trâu rất ựậm màu sắc dân tộc Trong lễ ăn trâu có cây nêu và cái gu, các bái vật hết sức ựộc ựáo Cây nêu của dân tộc Cor ựược dựng khá cao, với nhiều nét hoa văn,
ựan, khắc tinh xảo, có hình tượng chim chèo bẻo trên ựầu nêu, thể hiện quan niệm
thẩm mỹ và bàn tay khéo léo của các nghệ nhân Cor Riêng bộ gu thờ treo trong nhà
là di sản riêng có của dân tộc Cor, không thể tìm thấy ở các dân tộc khác Gu thờ có
gu pi treo giữa nhà, có con chim ựại bàng lớn ựược khắc vạch các hoa văn ựỏ, trắng trên nền ựen Gu dẹt hay các la vang treo ở cửa ra vào, cửa xuống bếp và gu treo ở bếp Trên các la vang là cả một bức tranh liên hoàn, trong ựó có vẽ các hình ảnh,
hoa lá, sinh hoạt rất ựặc thù Người Cor còn giỏi nghề ựan Những sản phẩm ựồ ựan của người Cor thật sự là những tác phẩm nghệ thuật, tinh xảo, ựẹp mắt Những kinh nghiệm về trồng, chế biến, khai thác quế, kinh nghiệm về chữa bệnh cũng là những tri thức dân gian quý báu Về di sản văn hóa Việt ở Trà Bồng, có thể kể ựến những bài ca dao, các ựiệu hát còn lưu truyền ở những người già điều ựáng lưu ý là
có sự giao thoa văn hóa giữa người Việt và người Cor ở Trà Bồng khá ựậm nét: người Cor có bộ lễ phục áo dài vốn là sản phẩm của miền xuôi Ở ựiện Trường Bà
Trang 11(thị trấn Trà Xuân), người Cor, người Việt ựều tới cúng lễ đền thờ hổ ở xã Trà Hiệp cũng là một biểu tượng của giao thoa văn hóa Việt - Cor Bên cạnh ựó, di sản thiên nhiên ở Trà Bồng cũng rất quý, như các suối thác, ựồi núi hùng vĩ và nên thơ, nổi tiếng như thác Cà đú, thác Xăng Bay, suối Nước Nun, suối Trà Cân, suối Nang, núi Răng Cưa Di tắch thì có ựiện Trường Bà, các ựiểm di tắch chung quanh cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi Từ 1999, Nhà Bảo tàng Khởi nghĩa Trà Bồng ựã ựược xây dựng, trưng bày các hình ảnh, hiện vật dân tộc học và
về cuộc khởi nghĩa đó là những di sản văn hóa quý báu, có khả năng thu hút khách tham quan du lịch
Trong các hoạt ựộng văn hóa hiện nay, các di sản văn hóa cổ truyền ựã ựược chú
ý khai thác, phát huy đó là các cuộc liên hoan cồng chiêng, thi trang phục dân tộc, hội diễn ca múa nhạc dân tộc, thi hát dân ca từ phong trào văn nghệ quần chúng
ở huyện, ở tỉnh đồng thời, phong trào toàn dân ựoàn kết xây dựng ựời sống văn
hóa cũng ựược quan tâm Có thể lấy mốc Cách mạng tháng Tám 1945 là thời ựiểm dân tộc Cor ở Trà Bồng bước vào nếp sống hiện ựại Tuy nhiên, do phải trải qua hai cuộc chiến tranh, ựồng bào Cor chủ yếu vẫn sống theo nếp cũ Chỉ ựến sau năm
1975, ựồng bào mới từ các sườn núi cao xuống thấp, ựịnh cư ở các thung lũng, bãi
bỏ các tập tục lạc hậu và xây dựng ựời sống mới Vừa kế thừa các tinh hoa văn hóa
cổ truyền, vừa tiếp thu văn hóa mới là nét nổi bật trong văn hóa các dân tộc ở Trà Bồng ngày nay Các sinh hoạt thể thao quần chúng dần dần thâm nhập trong ựời sống ở nhiều làng xã Ở huyện có ựài truyền thanh và trạm phát lại truyền hình, ở
xã có ựài truyền thanh xã Sinh hoạt văn hóa của ựồng bào các dân tộc ở Trà Bồng
ựã ựược cải thiện, nâng cao hơn nhiều so với trước kia
Về giáo dục, xưa kia, việc học dường như chỉ hạn chế ở ựồng bào Việt và trong
ựồng bào Việt cũng chỉ có một số ắt con nhà khá giả ựược học đa số dân Việt và
dân Cor ựều mù chữ Trải qua thời gian và các cuộc chiến tranh với rất nhiều gian khó, việc học ở Trà Bồng ngày nay ựã thực sự phát triển Giáo dục ở Trà Bồng dần dần tiến bộ và ựã ựi vào nề nếp đến 2005, Trà Bồng có tổng số 16 trường học, trong ựó có 1 trường Trung học phổ thông, 10 trường Trung học cơ sở, 11 trường Tiểu học; có 3.875 học sinh Tiểu học với 144 lớp, 2.879 học sinh Trung học cơ sở với 81 lớp, 1.780 học sinh Trung học phổ thông với 39 lớp Hệ mẫu giáo có 11 trường, 45 lớp với 1.892 học sinh Nhiều người dân tộc Cor học lên bậc đại học Một số gia ựình người Việt ựã nuôi con học ựến Tiến sĩ Tuy vậy, do ựời sống khó khăn nên số học sinh bỏ học, nhất là ở dân tộc Cor vẫn còn cao
Chăm sóc sức khoẻ là một vấn ựề ựược quan tâm ở Trà Bồng Xưa kia, người
Việt, người Cor chữa bệnh chủ yếu dựa vào kinh nghiệm dân gian từ nhiều ựời truyền lại Từ sau 1975, bệnh xá huyện ựược xây dựng Hệ thống y tế gồm Trung tâm y tế huyện, ựội vệ sinh phòng dịch và 10 trạm y tế ở 10 xã, thị trấn Việc chăm sóc sức khoẻ, phòng và chữa bệnh ngày càng ựược tốt hơn Bệnh viện huyện có
100 giường bệnh Số cán bộ y tế có 83 người, trong ựó có 9 bác sĩ, 1 dược sĩ ựại học, riêng trạm y tế xã chỉ mới ở Trà Hiệp có bác sĩ đồng bào Cor ựã cơ bản bãi
Trang 12bỏ việc cúng chữa bệnh Việc ăn ở vệ sinh, dùng thuốc chữa bệnh ñã trở thành phổ biến trong nhân dân
Về các vấn ñề xã hội: Nguồn lao ñộng ở Trà Bồng ngày càng tăng lên về số
lượng và có sự cải thiện ñáng kể về chất lượng Mỗi năm, số lượng lao ñộng tăng bình quân khoảng 4,5 - 5% Chất lượng lao ñộng cũng có tăng lên, nhờ nhiều người có học vấn cao hơn, ñược ñào tạo ngành nghề Với ñà phát triển kinh tế, mỗi năm trên ñịa bàn huyện giải quyết ñược khoảng 400 - 500 việc làm cho người lao
ñộng Tuy vậy, việc làm, ñói nghèo vẫn là vấn ñề lớn ở Trà Bồng Thống kê năm
2005 cho biết toàn huyện có 16.317 lao ñộng, trong ñó số người trong ñộ tuổi lao
ñộng không làm việc là 417 người, số người trong ñộ tuổi có khả năng lao ñộng
không có việc làm là 589 người Số người ngoài tuổi lao ñộng có tham gia lao
ñộng cũng khá cao với 2.254 người (1.126 người già, 1.128 trẻ em) Nhà nước ñã
thực hiện trợ giá, trợ cước và phát không một số mặt hàng cho ñồng bào vùng cao
Số hộ nghèo ở Trà Bồng có giảm ñi, nhưng tỷ lệ vẫn còn cao
(1) Theo Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Ngãi 2005
(2) Nguồn: Niên giám thống kê huyện Trà Bồng Tổng số dân theo Niên giám thống kê huyện Trà Bồng có khác chút ít so với Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi
(3), (5) Theo Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi, các số liệ u này có chênh lệch nhưng không ñáng kể so với Niên giám thống kê huyện Trà Bồng
(4) Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi.
Trang 13HUYỆN TÂY TRÀ
TÂY TRÀ là huyện miền núi ở phắa tây - tây bắc tỉnh Quảng Ngãi Phắa ựông giáp huyện Trà Bồng; phắa tây và bắc giáp huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam); phắa nam giáp hai huyện Sơn Hà, Sơn Tây Diện tắch 336,8km2 Dân số 15.520 người (năm 2005) Mật ựộ dân số 46 người/km2(1) đơn vị hành chắnh trực thuộc gồm có
9 xã, tên các xã ựều lấy chữ Trà làm ựầu như ở huyện Trà Bồng (Trà Phong, Trà Quân, Trà Khê, Trà Thanh, Trà Thọ, Trà Lãnh, Trà Nham, Trà Xinh, Trà Trung), với 37 thôn; trong ựó:
Xã Trà Phong có 7 thôn: Trà Nga, Trà Niêu, Gò Rô, Hà Riềng, Trà Bung, Trà Na, Trà Reo
Xã Trà Quân có 3 thôn: Trà Bao, Trà Xuông, Trà Ong;
Xã Trà Khê có 3 thôn: thôn Sơn, thôn Hà, thôn đông;
Xã Trà Thanh có 4 thôn: thôn Vuông, thôn Cát, thôn Gỗ, thôn Môn;
Xã Trà Thọ có 5 thôn: Bắc Dương, Nước Biếc, thôn Tre, thôn Tây, Bắc Nguyên;
Xã Trà Lãnh có 4 thôn: Trà Lương, Trà Linh, Trà Dinh, Trà Ích;
Xã Trà Nham có 4 thôn: Trà Cương, Trà Huynh, Trà Long, Trà Vân;
Xã Trà Xinh có 3 thôn: Trà Veo, Trà Ôi, Trà Kem;
Xã Trà Trung có 4 thôn: thôn đam, thôn Vàng, thôn Xanh, thôn đông
Huyện lỵ ựóng ở xã Trà Phong Từ tỉnh lỵ Quảng Ngãi ựến Tây Trà khoảng 90km
Tây Trà là huyện mới tách lập từ vùng ựất phắa tây huyện Trà Bồng kể từ ựầu năm 2004 Huyện nằm ở vị trắ xa xôi nhất của tỉnh Quảng Ngãi, ựời sống kinh tế còn hết sức khó khăn
*
* *
Về hành chắnh: Diễn tiến hành chắnh xin xem ở phần viết về Trà Bồng Tây Trà
và Trà Bồng là một trong bốn nguồn chắnh ở tỉnh Quảng Ngãi, xưa có tên là nguồn
đà Bồng, nguồn Thanh Bồng Tây Trà với ý nghĩa là Tây Trà Bồng, là vùng núi
cao của tỉnh Quảng Ngãi, có núi rừng trùng ựiệp Thuở trước, nơi ựây là rừng thiêng nước ựộc, với rừng rậm, nhiều chim thú, nhiều voi, hổ và các loài ựộng vật hoang dã khác
Trang 14Về tự nhiên: ðịa hình Tây Trà bị chia cắt mạnh bởi sông núi Là một huyện
miền núi nằm ở phía ñông dãy Trường Sơn, Tây Trà có ñộ cao trung bình 500 - 700m, ñịa hình thấp dần từ tây sang ñông, ñộ dốc bình quân 15 - 20o Các núi cao
là Cà ðam (tức Ngất Cà ðrook), Măng Xinh, Giơ Lốc, Trà Rút Có các con sông
Hà Riềng (ðắk Xa Riếc), sông Tang (ðắk Ka Tốc), Nước Biếc (ðắk Xa Biếc), sông Trà Ích (ðắk La Buốc) Các sông nhỏ hợp nước với sông Tang, chảy theo hướng tây bắc - ñông nam, nhập vào với sông Rinh tại xã Sơn Bao ở tây bắc huyện Sơn Hà Sông Rinh chảy về ñông, lại nhập với sông Rhe thành sông Trà Khúc, con sông lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi Do vậy, có thể hiểu các sông ở Tây Trà là phụ lưu phía bắc của sông Rinh hay của sông Trà Khúc Tại xã Trà Thanh cực tây bắc huyện là ñiểm xuất phát của sông Trường, chảy theo hướng tây - tây bắc vào ñịa hạt tỉnh Quảng Nam Giữa các khối núi có các thung lũng sâu và ñồng bằng rất hẹp Tài nguyên chủ yếu là rừng tự nhiên với hệ ñộng thực vật khá phong phú ðất
ở Tây Trà chủ yếu là ñất triền dốc, thích hợp với cây quế và một số cây trồng khác
Theo bản ñồ thổ nhưỡng tỉnh Quảng Ngãi (năm 1998, theo tiêu chuẩn của FAO - UNESCO) thì Tây Trà có 2 nhóm ñất chính: nhóm ñất xám (AC) chiếm ñến 96,46%, nhóm ñất phù sa chỉ chiếm 3,54% diện tích tự nhiên (dọc theo các con sông)
Về khí hậu, ñịa bàn Tây Trà có khí hậu khá khắc nghiệt, lượng mưa lớn, nắng
nóng gắt, thường gây ra hạn hán, lũ lụt Lượng mưa trung bình hàng năm lên ñến 3.450mm, thường gây lụt lớn, lũ quét, sạt lở núi Khi mưa dông có sấm sét dữ dội,
có lúc ñánh chết người
Về tài nguyên thiên nhiên ở Tây Trà có thể kể ñến ñất ñai, tài nguyên rừng, tài nguyên nước và khoáng sản
Tài nguyên ñất: Tính ở thời ñiểm 2005, tình trạng sử dụng ñất ñai ở Tây Trà
như sau: 1) ðất nông nghiệp 3.390,4ha (2.856ha trồng cây hàng năm và 528,4ha trồng cây lâu năm); 2) ðất lâm nghiệp 18.954ha (rừng tự nhiên 12.642,8ha, rừng trồng 6.311,2ha); 3) ðất chuyên dùng 599,6ha; 4) ðất ở 148,8ha; 5) ðất chưa sử dụng 10.586,2ha
Tài nguyên rừng: Rừng tự nhiên ở Tây Trà thường là rừng gỗ lá rộng, rừng già
còn lại không nhiều Do việc ñốt nương làm rẫy, diện tích rừng ngày càng thu hẹp,
ñất ñai bị xói mòn
Tài nguyên nước: Nguồn nước khá dồi dào, nhưng do ñịa hình phức tạp nên
việc dùng nguồn nước từ sông suối cho sản xuất và ñời sống khó khăn Hiện Quảng Ngãi ñang xây dựng hồ chứa nước lớn trên sông Tang (hồ Nước Trong)
Tài nguyên khoáng sản: Chưa ñược khảo sát, ñánh giá ñầy ñủ Chủ yếu là ñá
xây dựng, ñá ốp lát, trữ lượng vài triệu mét khối
Trang 15Về dân cư, các phát hiện khảo cổ học gần đây tại xã Trà Phong đã cho biết, tại
địa bàn Tây Trà ngày nay, từ thời thượng cổ đã cĩ các lớp cư dân sinh sống Cư dân ở
Tây Trà ngày nay hầu hết là người Cor, một số người Ca Dong, người Hrê và người Việt Người Cor ở Tây Trà là một bộ phận của dân tộc Cor cư trú tập trung ở các huyện Trà Bồng, Tây Trà, Trà My (Quảng Nam), tây bắc Quảng Ngãi và tây nam Quảng Nam, trong đĩ số dân Cor ở Tây Trà là đơng nhất
Trong tống số 15.520 người tại thời điểm 2005 ở Tây Trà, người Cor cĩ tới 13.139 người (hơn 84,6%), sống ở khắp nơi trong huyện
Trong huyện Trà Bồng cũ thì dân tộc Cor cĩ Cor "đường rừng" và Cor "đường nước" ðồng bào Cor ở địa bàn Tây Trà ngày nay chủ yếu là Cor "đường rừng"
ðặc điểm chung của dân tộc Cor từ Cách mạng tháng Tám 1945 trở về trước là đang ở trạng thái kinh tế - xã hội tiền giai cấp, trong đĩ, sản xuất chưa thực sự phát
triển, chế độ tư hữu chỉ mới manh nha, tinh thần cố kết cộng đồng cao, hiền hịa, dũng cảm, hiếu khách, sống chủ yếu bằng nghề làm nương rẫy, trồng quế, kết hợp với săn bắn, hái lượm
Người Ca Dong ở Tây Trà hầu hết sống ở xã Trà Xinh (Măng Xinh xưa), với số dân 1.449 người (chiếm hơn 9,3% dân số tồn huyện), cĩ đặc điểm chung với người Ca Dong ở huyện Sơn Tây láng giềng
Người Hrê ở Tây Trà cĩ 459 người (hơn 2,9% dân số tồn huyện), cư trú chủ yếu ở hai xã Trà Xinh, Trà Thọ giáp giới với huyện Sơn Hà và mang đặc điểm chung với dân tộc Hrê nơi đây
Người Việt cĩ nét văn hĩa Việt ở đồng bằng, với số lượng 452 người (hơn 2,9% dân số tồn huyện), trong đĩ cĩ 301 người ở xã Trà Phong, số cịn lại ở rải rác tất
cả các xã
Các dân tộc anh em ở địa bàn Tây Trà chủ yếu sống bằng nghề nương rẫy (riêng người Việt chủ yếu là làm cơng chức, giáo viên, buơn bán), cĩ truyền thống đồn kết, tương thân tương ái trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc
Xét về diện tích tự nhiên, xã cĩ diện tích rộng nhất là Trà Xinh (79,87km2), xã
cĩ diện tích hẹp nhất là Trà Quân (17,51km2)
Xét về dân số, lấy thời điểm năm 2005 làm mốc, thì xã cĩ số dân đơng nhất là Trà Phong (nơi đĩng huyện lỵ) với 3.240 người, xã cĩ số dân ít nhất là Trà Trung với 792 người Về mật độ dân số, trung bình trong tồn huyện là 46 người/km2, xã
cĩ mật độ cao nhất là Trà Quân (97 người/km2), xã cĩ mật độ thấp nhất là Trà Xinh (21 người/km2) Mật độ dân số ở Tây Trà khá thưa thớt và sự phân bố dân cư khơng đồng đều Cụ thể diện tích, dân số và mật độ dân số các xã ở Tây Trà năm
2005 như sau(2):
Trang 16TT Xã Diện tích (km 2 ) Dân số (người) Mật ñộ dân số
Về truyền thống yêu nước, Tây Trà với huyện Trà Bồng gần như là một ðồng
bào các dân tộc ở Tây Trà ñã có nhiều cuộc nổi dậy chống phong kiến, ñế quốc từ trước Cách mạng tháng Tám 1945, trong ñó nổi bật là phong trào "Nước Xu ñỏ" mang màu sắc thần bí từ những năm 1937 - 1938 Cũng như các dân tộc ở bắc Tây Nguyên, dân tộc Cor tham gia nổi dậy và tin vào thứ "nước thần" thiêng liêng
ðoàn nghĩa quân Cor kéo về ñánh châu lỵ Trà Bồng thất bại, kéo lên núi Cà ðam
xây dựng căn cứ chống Pháp, từng ñẩy lùi cuộc càn quét của quân Pháp ở Gò Rô, cầm cự cho mãi ñến Cách mạng tháng Tám 1945, dưới sự lãnh ñạo của cụ Gia, cụ Bung, cụ Triều, cụ Tài Nghĩa quân Cor nhiều lần bẻ gãy các cuộc tấn công của quân Pháp, giết ñược tên quan hai Pháp La Booctê (La Borté), ñồn trưởng Trà Bồng Trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, cứu nước, ñịa bàn Tây Trà tiếp tục là căn cứ ñịa vững chắc của cách mạng Núi Cà ðam trở thành nơi ñóng căn cứ của tỉnh trong những năm ñầu cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Hội nghị thể hiện lòng quyết tâm ñánh Mỹ, ñược mệnh danh là ðại hội "Diên Hồng" của các dân tộc tỉnh Quảng Ngãi, ñược tổ chức ngày 7.7.1958 tại Gò Rô lịch sử Trong cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi ngày 28.8.1959, hầu hết các xã ở Tây Trà ñều nổi dậy ñánh ñịch, giải phóng quê hương, nay còn lại các di tích ở Gò Rô (Trà Phong),
Eo Chim (Trà Lãnh), Làng Ngải (Trà Xinh), Nước Xoay (Trà Thọ) Năm 1962, lực lượng cách mạng bẻ gãy cuộc hành quân chiến thuật trực thăng vận của ñịch ở
Nà Niêu (Trà Phong) Tháng 4.1964, quân giải phóng ñánh thắng cuộc càn quét mang tên "quyết thắng 203" của ñịch tại Măng Xinh (Trà Xinh) Sau năm 1975, nhân dân các dân tộc trên ñịa bàn Tây Trà tiếp tục truyền thống xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên ñịa bàn, xây dựng thế trận lòng dân vững chắc
Quân và dân Tây Trà, quân và dân 3 xã Trà Phong, Trà Trung, Trà Lãnh ñược phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân
*
* *
Trang 17Về hoạt ñộng kinh tế, ở Tây Trà còn mang ñậm dấu vết của kinh tế nông
nghiệp sơ khai, nặng tính chất tự túc tự cấp Cho ñến năm 2004, tổng giá trị sản xuất toàn huyện chỉ ñạt 16,1 tỉ ñồng, trong ñó nông, lâm nghiệp chiếm ñến 98,1%
cơ cấu kinh tế của huyện
Trong nông nghiệp, người dân Tây Trà từ xưa không có ruộng nước, chỉ canh
tác lúa rẫy, trỉa bắp ñể có lương thực duy trì cuộc sống Cây trồng ñặc chủng truyền thống ñã có từ xưa là cây quế Trong một thời gian dài của lịch sử, cây quế
là nguồn sống chủ yếu của dân tộc Cor Cây quế ở Tây Trà nói riêng, cả Trà Bồng, Trà My (Quảng Nam) nói chung là giống quế Quảng nổi tiếng trong nước Tuy vậy, trải qua thời gian, cây quế ñã bị xuống giá, nên không còn ñóng vai trò chính trong nông, lâm nghiệp ở Tây Trà Năm 2004, sản lượng quế vỏ khai thác chỉ khoảng 40 tấn, năm 2005 là 65 tấn, bằng một phần rất nhỏ so với trước kia Người dân tăng cường trồng các loại cây lương thực ñể sinh sống, tuy nhiên do ñất ñai, nguồn nước không thật thuận lợi, nên việc phát triển cũng còn khá chậm chạp, lúa nước chủ yếu ở hai xã Trà Thọ, Trà Phong như các ñồng Nà Niêu (Trà Phong), Nà Pút Cây lúa nước vốn không phải là cây trồng truyền thống, chỉ mới xuất hiện trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và sau năm 1975 Diện tích ñất dành cho trồng lúa năm 2005 chỉ 304ha Năm 2004, tổng diện tích gieo cấy lúa nước chỉ có 593ha, năng suất lúa cả năm trong toàn huyện chỉ ñạt 17,8 tạ/ha, ở các xã chỉ trên dưới con số này chút ít ðồng ruộng hẹp, năng suất lại quá thấp, nên sản lượng lúa thu hoạch ít ỏi Nghề làm rẫy với hai loại cây trồng chính là lúa rẫy và ngô tiếp tục duy trì Lúa rẫy có khoảng trên 600ha, ngô có hơn 200ha (2004) Tổng diện tích gieo trồng cây lương thực năm 2004 là 1.417ha, năm 2005 là 1.468ha Sản lượng lương thực năm 2004 là 2.282,1 tấn, năm 2005 là 2.694,4 tấn Bình quân lương thực ñầu người năm 2004 là 152kg, năm 2005 là 173,6kg, còn xa mới bảo ñảm
ñược nguồn lương thực tại chỗ Diện tích gieo trồng lúa năm 2005 của Tây Trà là
1.206ha, trong ñó trừ xã Trà Trung thấp nhất với chỉ 51,6ha, các xã khác xê dịch từ
100 ñến 200ha, không có xã nào thực sự cao vượt trội Cây khoai lang dường như
ít ñược ưa chuộng Cây ngô có diện tích 262ha, thu hoạch ñược 541,9 tấn Cây khoai mì ñược chú ý trồng nhiều từ khi có Nhà máy tinh bột mỳ Sơn Hải (huyện Sơn Hà) ñược xây dựng Năm 2005, Tây Trà có 1.112ha mì, sản lượng 9.766 tấn Các loại rau, ñậu tuy có ñược trồng nhưng không thật ñáng kể Thuở xưa, ñịa hạt Tây Trà trồng rất nhiều ñậu xanh, loại ñậu phổ biến ở nhiều vùng nhưng có lẽ ñược trồng nhiều ở ñây có thể vì loại cây trồng này chịu ñược nắng hạn Nghề chăn nuôi không thật phát triển Năm 2005, toàn huyện Tây Trà chỉ có 119 con trâu, 1.609 con
bò (trong ñó chỉ có 13 con bò lai), 3.548 con heo, 12.420 con gà, 359 con dê, nếu so với chỉ một xã có nông nghiệp phát triển khá ở miền xuôi, vẫn còn kém xa, mặc dù nơi ñây có thuận lợi hơn về ñồng cỏ Các xã có ngành chăn nuôi khá là Trà Phong, Trà Thọ, Trà Xinh, Trà Nham, tuy nhiên do tập quán chăn nuôi thả rông còn phổ biến, nên chất lượng, năng suất ñều không cao Cây lúa nước ở Tây Trà chưa thể phát triển mạnh Do ñặc ñiểm của ñịa chất, ñịa hình, dòng chảy trên ñịa bàn cư trú
mà người dân Cor ở Tây Trà không có truyền thống canh tác lúa nước như người Việt hay người Hrê ở các huyện láng giềng Từ sau năm 1975, với phong trào ñịnh canh ñịnh cư, người Cor mới dần từ bỏ khu vực cư trú ở cheo leo giữa sườn núi
Trang 18xuống cư trú dưới các trảng bằng và mới bắt ñầu khai ruộng, tập làm lúa nước Nếu không kể huyện Lý Sơn chủ yếu làm nghề cá, thành phố Quảng Ngãi trọng tâm là công - thương nghiệp, thì lương thực bình quân ñầu người hằng năm ở Tây Trà là thấp nhất trong các huyện nông nghiệp trong tỉnh, chỉ bằng một nửa bình quân lương thực ñầu người trong toàn tỉnh (320,3kg/năm 2005)
Sau ñây là thống kê tổng hợp về các cây trồng và vật nuôi chính của Tây Trà năm
2005(3)
Các loại cây trồng chính năm 2005
TT Cây trồng Diện tích canh tác (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất
Nguồn sống của người dân Tây Trà cũng khó có thể trông cậy vào lâm nghiệp
Do sự tàn phá nặng nề của chiến tranh cộng với sự khai thác thiếu kế hoạch của con người, rừng ở ñây từ lâu ñã trở nên nghèo kiệt Theo thống kê của huyện Tây Trà, tổng diện tích rừng và ñất lâm nghiệp của toàn huyện là 30.478ha, trong ñó diện tích ñất có rừng chỉ là 8.733ha (chiếm 9%), diện tích ñất trống có ñến 21.743ha (71%) ðiều này ñặt ra một vấn ñề rất lớn về việc trồng rừng, khoanh nuôi, bảo vệ rừng Do vậy, sản lượng khai thác lâm sản ngoài cây quế trồng như ñã
kể, chủ yếu vẫn là khai thác ñót (sản lượng khoảng 303 tấn năm 2005) và lồ ô (khoảng 143 ngàn cây) Dân vùng Trà Niêu xưa kia còn trồng nhiều chè, cắt chè lá cõng ñi bán sang chợ Di Lăng (huyện Sơn Hà), nay chè cũng không phát triển Người dân Tây Trà có nghề ñi lấy mật ong về bán Ong hoa quế khá thơm ngon
ðặc biệt, ở xã Trà Xinh có rừng nguyên sinh, thường có mật ong tốt Rừng ñã
nghèo kiệt nên ñối với Tây Trà ngày nay, lâm nghiệp chủ yếu tập trung vào việc trồng rừng và khoanh nuôi tái sinh rừng tự nhiên Nguồn sống từ vật nuôi cây trồng khó khăn, người dân ở Tây Trà tiếp tục săn bắt, hái lượm ñể bù ñắp sự thiếu
Trang 19hụt về lương thực, thực phẩm của mình, như bắt cá, săn thú rừng, hái rau, bắt ốc quanh các suối, thác
Công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở ñịa hạt Tây Trà hầu như chưa có gì ñáng
kể, ngoài nghề ñan lát cổ truyền của các dân tộc nhằm tự cung, tự cấp các vật dụng hằng ngày Năm 2005, toàn huyện chỉ có 25 cơ sở công nghiệp cá thể với 40 lao
ñộng, giá trị sản xuất công nghiệp trên ñịa bàn chỉ 882,9 triệu ñồng theo giá hiện
hành
Về thương mại - dịch vụ, xưa kia, những thương nhân người Việt từng lặn lội
tận các làng trên cao ñể mua quế và bán các vật dụng thiết yếu cho ñồng bào Cor ở
ñây Từ sau 1975, ngành thương nghiệp quốc doanh và hợp tác xã mua bán hình
thành và hoạt ñộng Chuyển sang cơ chế thị trường, ở Tây Trà (mà chủ yếu là ở Trà Phong trung tâm huyện) mới mọc lên một số tiệm buôn bán, dịch vụ Năm
2005, chỉ mới có 163 hộ kinh doanh mua bán nhỏ với 326 lao ñộng Tổng mức bán
lẻ hàng hóa và dịch vụ chỉ ñạt 727,7 triệu ñồng Phương thức hàng ñổi hàng giữa người dân với nhau còn phổ biến ðể ñảm bảo nhu cầu của người dân còn ñang rất khó khăn, nhà nước ñã tổ chức cấp không một số mặt hàng và bán trợ giá, trợ cước một số mặt hàng thiết yếu cho dân Hiện ñời sống kinh tế của nhân dân ở Tây Trà vẫn hết sức khó khăn và không thể một sớm một chiều có thể khắc phục ñược Một cái nhìn tổng quát ñối với Tây Trà thì ñó là một huyện rất nghèo, thu nhập bình quân ñầu người năm 2004 chỉ khoảng 130.000 ñồng/tháng Tất cả các xã trong huyện ñều là xã ñặc biệt khó khăn Theo ñiều tra của huyện ở thời ñiểm tháng 6.2004, số lượng hộ nghèo ở Tây Trà là 2.577 hộ, chiếm ñến 83,6% tổng số
hộ trong huyện theo chuẩn cũ; còn theo chuẩn mới diện ñói nghèo chiếm ñến 95% Tất cả các xã ñều có số hộ nghèo từ 83% trở lên, xã Trà Trung ở lưng chừng núi
Cà ðam có 100% số hộ nghèo Nguyên nhân của tình trạng ñói nghèo ở Tây Trà ngoài ñịa hình tự nhiên không thuận lợi, thiếu ñất sản xuất, cây trồng chủ lực là cây quế truyền thống bị xuống giá nghiêm trọng, còn có nguyên nhân thiếu kinh nghiệm làm ăn, thiếu vốn, thiếu lao ñộng và ñông người ăn theo
ðể thúc ñẩy, kích thích sự phát triển mọi mặt của ñời sống nhân dân, công tác
xây dựng cơ sở hạ tầng ñược nhà nước cấp trên tập trung ñầu tư, chú ý ñẩy mạnh
Về ñiện, trước kia ở các xã thuộc huyện Tây Trà hầu như không có nguồn ñiện
nào, những năm từ ñầu thế kỷ XXI ñã kéo lưới ñiện quốc gia về trung tâm huyện
và dần dần ñến tất cả các xã trong huyện Tuy nhiên, ñến năm 2004 chỉ mới có 10% số hộ dùng ñiện, do dân cư có thu nhập quá thấp và do tình trạng cư trú tản mát, xa xôi
Về giao thông, tổng chiều dài ñường giao thông toàn huyện là 145km, trong ñó
có nhiều ñường nhỏ khó ñi lại Trục giao thông huyết mạch của huyện là tuyến
ñường từ huyện lỵ Trà Bồng (tỉnh lộ 622) ñi huyện lỵ Tây Trà (Trà Phong) dài gần
40km, trong ñó tuyến ñường nằm trên ñịa hạt Tây Trà dài 21km ñã hình thành từ rất lâu ñời Tuy vậy, ñây chỉ là nền ñường ñất, qua nhiều ñèo dốc cao, khe suối sâu, nên
Trang 20ñến mùa mưa ñường sá thường bị tắc, chia cắt các xã trong vùng với bên ngoài, gây
trở ngại rất lớn cho sản xuất và ñời sống Từ năm 2004, tuyến ñường này bắt ñầu
ñược xây dựng, nhựa hóa và cho ñến cuối năm 2005 ñã xong về cơ bản Tuyến ñường
liên huyện thứ hai từ Di Lăng (huyện lỵ Sơn Hà) chạy theo hướng tây bắc qua xã Sơn Bao, nối với Trà Thọ dẫn ñến huyện lỵ tại Trà Phong, dài 9km, ñường ñất, trong tương lai sẽ không còn tồn tại vì ở ñây sẽ xây dựng hồ Nước Trong ðường liên xã
có tổng chiều dài 70,7km, từ huyện lỵ ñi ñến các xã và giữa các xã trong huyện với nhau Riêng từ Trà Phong ñi Trà Thanh, xã cực bắc của huyện ñến năm 2004 vẫn chưa có ñường ô tô Các tuyến ñường liên xã, nội hạt xã vẫn ñang trong quá trình xây dựng Cũng cần biết thêm rằng, tỉnh lộ 622 từ Bình Sơn ñến huyện lỵ Trà Bồng thì rẽ qua sông (phía tả ngạn sông Trà Bồng) qua các xã Trà Thủy, Trà Hiệp (huyện Trà Bồng), ñã băng qua xã Trà Thanh nối liền với huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam) Như vậy, tuy chưa có ñường ôtô nối với huyện lỵ, nhưng xã Trà Thanh thông với Trà Bồng và huyện Trà My, có khả năng phát triển tốt về dân sinh
Nhiều công trình thuỷ lợi cỡ nhỏ ñã ñược xây dựng ñể phục vụ sản xuất Tuy
nhiên, ở ñây cũng có hai khía cạnh khác nhau của một vấn ñề về phát triển thủy lợi Công trình thủy lợi phải gắn liền với ruộng lúa nước, và có công trình thủy lợi mới có thể mở rộng diện tích cây lúa nước (nếu ñịa hình cho phép) Nhìn vào các công trình thủy lợi ñã có của Tây Trà, người ta không khỏi băn khoăn: trong tổng
số 5 ñập nước ñáng chú ý nhất là ñập Nước Doanh (Trà Lãnh), ñập Trà Ong (Trà Quân), ñập Nước So (Trà Phong), ñập Nước Tiên (Trà Quân), ñập Suối Lót (Trà Xinh) xây dựng trong các năm từ 1985 ñến 2001, mà năng lực thiết kế chỉ tưới
ñược cho 42,5ha, nhưng năng lực tưới thực tế lại còn thấp hơn (23ha) Theo tính
toán của huyện Tây Trà, nếu một số ñập ñược tu sửa, nâng cấp, cũng chỉ tăng ñược năng lực tưới lên 100 - 150ha ðiều này ñặt ra vấn ñề có nên ñầu tư cho việc xây dựng ñập hay không, hay nên ñầu tư vào chăn nuôi gia súc hoặc theo hướng khác Các trường học, trạm y tế ở Tây Trà cũng phần nào ñược xây dựng, kiên cố hóa Bưu ñiện Tây Trà ñã ñược thiết lập với tổng ñài dung lượng 250 số, ñã có 5 nhà bưu ñiện văn hóa xã ñược xây dựng và ñưa vào hoạt ñộng Số máy ñiện thoại trên
ñịa bàn năm 2004 là 160 máy, năm 2005 là 210 máy
Trọng tâm trước mắt của Tây Trà trong công tác xây dựng cơ sở hạ tầng vẫn là xây dựng trung tâm huyện lỵ, với các trụ sở hành chính và các thiết chế văn hóa xã hội ñều ñang phải bắt tay xây dựng mới, làm nền tảng kích thích sự phát triển của
cả huyện Sự phát triển kinh tế - xã hội còn phải tính những bước ñường dài
*
* *
Về văn hóa - xã hội, ñịa hạt Tây Trà có nhiều ñiểm ñáng lưu ý Bốn dân tộc anh
em trong huyện có vốn văn hóa cổ truyền rất quý giá, cùng góp phần làm phong phú cho di sản văn hóa của huyện và của tỉnh Văn hóa Cor ở Tây Trà là văn hóa Cor "ñường rừng", mang nét riêng của vùng cao nhất Người Cor ở Tây Trà có
Trang 21nhiều truyện cổ, dân ca, dân nhạc mang đậm bản sắc dân tộc, cĩ các lễ hội như lễ
ăn trâu, cĩ các loại cột lễ trong đĩ cĩ loại nêu dù, "nêu đu đủ" rất độc đáo Người
Cor ở đây cũng rất giỏi nghề đan lát Văn hĩa ẩm thực thì cĩ loại rượu đoak lấy từ cây đoak Về văn hĩa vật thể, đáng chú ý cĩ di chỉ khảo cổ từ thời kỳ đồ đá ở Trà Phong mới được khai quật, bao gồm các loại rìu đá khá tinh xảo Trên địa bàn huyện cũng cĩ nhiều thắng cảnh đẹp, kỳ thú, mà hùng vĩ nhất là ngọn Cà ðam gắn với các di tích lịch sử Núi Cà ðam đang được thăm dị để lập dự án xây dựng thành khu du lịch sinh thái tầm cỡ quốc gia và quốc tế
Xưa kia, các làng người Cor sống theo lối chung cư trong một ngơi nhà dài và rộng Sau 1975, với sự phát triển xã hội, định canh, định cư, ngơi nhà chung như vậy tỏ ra khơng cịn thích hợp Bà con người Cor hầu hết đã làm nhà trệt theo kiểu người Việt ở miền xuơi, và các nĩc nhà của một làng vẫn cịn châu tuần san sát nhau, thể hiện truyền thống cố kết cộng đồng rất cao Những thuần phong mỹ tục như tinh thần tương trợ, giúp nhau trong cơng ăn việc làm, lịng hiếu khách được bảo tồn và phát huy Một số tập tục lạc hậu dần dần được xố bỏ Phong trào tồn dân đồn kết xây dựng đời sống văn hĩa cĩ sự phát triển Trong sinh hoạt tinh thần, văn hĩa văn nghệ, các tinh hoa văn hĩa dân tộc như trang phục, dân ca, dân nhạc, đặc biệt là cồng chiêng, hát xà ru, a giới được chú ý phát huy Phong trào văn nghệ, thể thao quần chúng đều cĩ sự tiến bộ
Tây Trà là huyện mới tách lập, do địa hình thung lũng núi, thơng tin cĩ nhiều khĩ khăn Thuở trước đất này là một vùng hẻo lánh, biệt lập, sống cách biệt với thơng tin từ bên ngồi Cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 mở ra khả năng hịa nhập văn hĩa của cộng đồng Cor nơi đây với tồn dân tộc Văn hĩa mới, văn hĩa cách mạng bắt đầu hình thành và thâm nhập trong đời sống nhân dân trong hai cuộc kháng chiến Từ năm 1975 về sau, thay đổi lớn nhất của người dân trên địa hạt Tây Trà là sự chuyển dịch vùng cư trú, từ cheo leo trên các sườn núi cao, xuống định
cư dưới các trảng bằng trong các thung lũng Nhiều hình thức thơng tin mới đã xác lập Truyền thanh, thu thanh dần phát triển Ở Trà Phong cĩ chảo parabol xem truyền hình từ những năm chín mươi của thế kỷ XX Ngày nay, đài truyền thanh và phát lại truyền hình của huyện đang được xây dựng, kiện tồn ðội chiếu bĩng cĩ
từ trước vẫn được duy trì, hằng năm đi lưu động để phục vụ đồng bào ở các thơn làng xa xơi Một phần truyện cổ Cor, các lễ hội đã được sưu tầm, nghiên cứu
Về giáo dục, Tây Trà là huyện miền núi xa xơi nên là nơi giáo dục phát triển
muộn nhất trong tỉnh Quảng Ngãi Thời điểm năm học 2004 - 2005, ở Tây Trà cả 9
xã đều cĩ trường Mẫu giáo, Tiểu học, Trung học cơ sở (riêng xã Trà Phong cĩ 2 trường), huyện cĩ 1 trường Trung học phổ thơng Tổng số cĩ 4.218 học sinh phổ thơng, trong đĩ cĩ 2.771 học sinh Tiểu học, 1.238 học sinh Trung học cơ sở, 209 học sinh Trung học phổ thơng Tổng số giáo viên là 283 người, trong đĩ cĩ 161 giáo viên Tiểu học, 76 giáo viên Trung học cơ sở, 11 giáo viên Trung học phổ thơng Tổng số lớp học phổ thơng là 177 lớp, trong đĩ cĩ 128 lớp Tiểu học, 44 lớp Trung học cơ sở, 5 lớp Trung học phổ thơng Hệ Mẫu giáo cĩ 30 lớp với 711 học
Trang 22sinh Số lượng học sinh bỏ học còn nhiều (8%) và trường ốc vẫn còn tạm bợ, cần phải tiếp tục xây dựng
Về y tế, Tây Trà có trung tâm y tế huyện và các trạm y tế xã thực hiện khám
chữa bệnh cho dân, có ñội vệ sinh phòng dịch của Trung tâm y tế huyện Tình trạng cầu cúng lúc ốm ñau ñã ñược hạn chế Tuy ñã có vận ñộng kế hoạch hóa gia
ñình, việc tăng dân số trong huyện vẫn còn khá cao (1,68%) Trung tâm y tế Tây
Trà ñóng ở trụ sở xưa kia chỉ là phòng khám khu vực của huyện Trà Bồng (cũ), cơ
sở chật hẹp, xuống cấp, nhưng chưa ñược xây dựng lại Toàn huyện chỉ có 50 giường bệnh tập trung ở Trung tâm y tế huyện, có 8 trạm y tế xã trong huyện (trừ
xã Trà Trung vẫn chưa có trạm y tế), toàn huyện chỉ có 4 bác sĩ (trạm y tế các xã
ñều không có bác sĩ) Hoạt ñộng y tế vì vậy còn phải tiếp tục tăng cường
Về xã hội, vấn ñề cấp bách và cơ bản nhất ở Tây Trà là vấn ñề mức sống của
nhân dân còn quá thấp, tỉ lệ ñói nghèo còn quá cao với hầu hết dân cư trong huyện; buộc các cấp chính quyền và tự thân nhân dân phải nỗ lực cao trong việc tìm phương hướng, biện pháp giải quyết ðiều này thể hiện rõ trong ñề án xóa ñói giảm nghèo ở Tây Trà giai ñoạn 2005 - 2010 và báo cáo chính trị của ðại hội ðảng
bộ huyện lần thứ I (2005)
(1) Theo Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi 2005
(2) Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tây Trà
(3) Nguồn: Niên giám thống kê huyện Tây Trà
Trang 23HUYỆN SƠN HÀ
SƠN HÀ là huyện miền núi ở phắa tây tỉnh Quảng Ngãi Phắa ựông giáp các
huyện Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Minh Long; phắa tây giáp huyện Sơn Tây; phắa nam giáp huyện Ba Tơ và tỉnh Kon Tum; phắa bắc giáp các huyện Trà Bồng và Tây Trà Diện tắch 750,31km2 Dân số 65.937 người (năm 2005) Mật ựộ dân số khoảng 88 người/km2(1) đơn vị hành chắnh trực thuộc gồm 13 xã, ựều lấy chữ Sơn làm ựầu (Sơn Trung, Sơn Thượng, Sơn Bao, Sơn Thành, Sơn Hạ, Sơn Nham, Sơn Giang, Sơn Linh, Sơn Cao, Sơn Hải, Sơn Thuỷ, Sơn Kỳ, Sơn Ba), 1 thị trấn (Di Lăng huyện lỵ, nguyên là xã Sơn Lăng), với 77 thôn và tổ dân phố; trong ựó:
Xã Sơn Trung có 6 thôn: Tà Màu, Gò Rộc, Làng Nà, Làng Rin, Làng đèo, Gia Ri;
Xã Sơn Thượng có 5 thôn: Nước Năm, Gò Ren, Tà Ba, Làng Vố, Làng Nưa;
Xã Sơn Bao có 6 thôn, tên gọi theo thứ tự từ thôn 1 ựến thôn 6: thôn 1 (Nước Bao), thôn 2 (Mò O), thôn 3 (Mang Kmuồng), thôn 4 (Tà Lương), thôn 5 (Pó Rang), thôn 6 (Làng Mùng);
Xã Sơn Thành có 5 thôn: Gò Ra, Nước Chu, Hà Thành, Gò Rin, Gò Gạo;
Xã Sơn Hạ có 5 thôn: Cà Tu, đèo Gió, Trường Khay, Hà Bắc, đèo Rơn;
Xã Sơn Nham có 5 thôn: Bàu Sơn, Cận Sơn, Xà Riêng, Xà Nay, Chàm Rao;
Xã Sơn Giang có 6 thôn: đèo đinh, Làng Rê, Gò Ngoài, đồng Giang, Làng Lùng, Làng Rắ;
Xã Sơn Linh có 5 thôn, tên gọi theo thứ tự từ thôn 1 ựến thôn 5: thôn 1 (Gò Da), thôn 2 (Làng Ghè), thôn 3 (Bồ Nung), thôn 4 (Ca La), thôn 5 (Làng Xinh);
Xã Sơn Cao có 5 thôn, tên gọi theo thứ tự từ thôn 1 ựến thôn 5: thôn 1 (Xà Ây), thôn 2 (Làng Gung), thôn 3 (Làng Mon), thôn 4 (Làng Trăng), thôn 5 (Làng Trá);
Xã Sơn Hải có 4 thôn: Tà Bắa, Tà Mát, Gò Sim, Làng Lành;
Xã Sơn Thuỷ có 4 thôn, tên gọi theo thứ tự từ thôn 1 ựến thôn 4: thôn 1 (Tà Bi), thôn 2 (Tà Bần), thôn 3 (Tà Cơm), thôn 4 (Làng Rào);
Xã Sơn Kỳ có 7 thôn: Làng Riềng, Làng Rút, Làng Rê, Tà Gâm, Làng Trăng,
Bồ Nung, Nước Lát;
Xã Sơn Ba có 5 thôn: Tà Gâm, Di Ôi, Làng Già, Mò O, Làng Bưng, Di Hoăn;
Trang 24Thị trấn Di Lăng có 8 tổ dân số (tương ựương thôn): Cà đáo, Nước Nia, Làng
Bồ, Gò Dép, Di Lăng, Hàng Gòn, nước Bung, Làng Dầu
Từ tỉnh lỵ Quảng Ngãi ựến thị trấn Di Lăng 55km Từ thị trấn Di Lăng ựi huyện
lỵ Sơn Tây 30km, Ba Tiêu - Ba Tơ 42km, Trà Phong (huyện lỵ Tây Trà) 35km, Trà Xuân (huyện lỵ Trà Bồng) 40km
Sơn Hà là huyện có tiềm năng kinh tế nông, lâm nghiệp khá phong phú, ựã và
ựang ựược khai thác ựể phát triển Tuy nhiên, tiềm lực kinh tế của huyện còn nhiều
hạn chế, ựời sống của nhân dân còn thấp
*
* *
Về hành chắnh, huyện Sơn Hà nguyên xưa kia là nguồn Cù Bà, một trong bốn
nguồn của tỉnh Quảng Ngãi đời Minh Mạng, nguồn Cù Bà ựổi là nguồn Thanh
Cù Năm 1915, nguồn Thanh Cù ựổi thành ựồn Sơn Hà đồn Sơn Hà ựược chia thành 5 tổng: Sơn Hạ, Sơn Trung, Sơn Thượng, Sơn Nham, Sơn Thạch, với 47 sách (làng) Lỵ sở của Sơn Hà lúc này ựóng ở Hà Thành (nay thuộc xã Sơn Thành) Còn Di Lăng (sau này là huyện lỵ) chỉ là căng an trắ, nơi lưu ựày phạm nhân
Sau Cách mạng tháng Tám 1945, chắnh quyền cách mạng ựổi là huyện Sơn Hà, cấp tổng ựược bãi bỏ, các xã mới ựược hình thành với 15 xã, ựều lấy chữ Sơn làm
ựầu: Sơn Tinh, Sơn Liên, Sơn Hiệp, Sơn Thượng, Sơn Thọ, Sơn Tân, Sơn Trung,
Sơn Kỳ, Sơn Thuỷ, Sơn Thành, Sơn Hạ, Sơn Nham, Sơn Linh, Sơn Giang, Sơn Cao Từ năm 1952, 15 xã lại chia thành 28 xã: Sơn Hạ, Sơn Nam, Sơn Tong (thuộc Sơn Hạ cũ), Sơn Thành, Sơn Kim (Sơn Thành cũ), Sơn Trung, Sơn Lăng (Sơn Trung cũ), Sơn Thượng, Sơn Mùng (Sơn Thượng cũ), Sơn Linh, Sơn đông (Sơn Linh cũ), Sơn Thuỷ, Sơn Hải (Sơn Thuỷ cũ), Sơn Kỳ, Sơn Ba (Sơn Kỳ cũ), Sơn Tinh, Sơn Dung, Sơn Màu, Sơn Long (Sơn Tinh cũ), Sơn Liên, Sơn Mùa, Sơn Bao (Sơn Liên cũ), Sơn Hiệp, Sơn Thọ, Sơn Tân, Sơn Cao, Sơn Giang, Sơn Nham (giữ nguyên) Huyện lúc này bao gồm cả huyện Sơn Tây và một phần các huyện Tây Trà, Trà Bồng ngày nay đầu năm 1954, tỉnh Kon Tum giao thêm xã Sơn Bua; giữa năm 1954 thành lập thêm xã Sơn Lập, Sơn Bùi Huyện Sơn Hà lúc này có ựến
31 xã
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, hành chắnh huyện Sơn Hà có sự thay
ựổi Sau khi tiếp quản một thời gian, từ giữa năm 1958, chắnh quyền Sài Gòn ựồng
loạt ựổi huyện thành quận Quận Sơn Hà ựược thành lập và ựổi tên các xã, lấy chữ
Hà làm ựầu: Hà Trung, Hà Lâm, Hà Bắc, Hà Thành, Hà Thạch, Hà Long, Hà Tây,
Hà đông, Hà Châu, Hà Nam, Hà Thượng, Hà Khê Quận lỵ ựóng ở Hà Trung (nay
là xã Sơn Giang) Nhưng chắnh quyền Sài Gòn quản lý chưa lâu thì phong trào cách mạng ở Sơn Hà ựã phát triển Một phần huyện Sơn Hà trở thành vùng căn cứ
ựịa của cách mạng Việc hoạch ựịnh lại các ựơn vị hành chắnh là một yêu cầu cấp
bách trong hoàn cảnh lúc bấy giờ
Trang 25Năm 1955, các xã Sơn Hiệp, Sơn Thọ, Sơn Bùi nhập về huyện Trà Bồng Tháng 7.1957, các xã Sơn Kỳ, Sơn Ba nhập với 9 xã của huyện Ba Tơ thành khu VI (sau
ựổi là huyện Sông Rhe) 9 xã khu tây là Sơn Tinh, Sơn Màu, Sơn Dung, Sơn Long,
Sơn Liên, Sơn Bua, Sơn Mùa, Sơn Bao, Sơn Lập thành lập khu VII (sau gọi là huyện Sơn Tây); các xã còn lại của huyện hợp thành khu III (sau gọi là huyện Sơn Hà)
Sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, năm 1976 huyện Sơn Tây và hai xã Sơn Kỳ, Sơn Ba nhập lại về Sơn Hà; và sau khi tách nhập một số xã, huyện Sơn
Hà có 16 xã: Sơn Mùa, Sơn Tân, Sơn Bao, Sơn Dung, Sơn Tinh, Sơn Lăng, Sơn Thượng, Sơn Thuỷ, Sơn Kỳ, Sơn Ba, Sơn Thành, Sơn Giang, Sơn Linh, Sơn Cao, Sơn Hạ, Sơn Nham
Năm 1994, bốn xã phắa tây huyện là Sơn Mùa, Sơn Tinh, Sơn Tân, Sơn Dung
ựược tách ra hình thành huyện Sơn Tây Huyện Sơn Hà còn 12 xã Năm 1998, xã
Sơn Lăng tách lập thành thị trấn Di Lăng và xã Sơn Trung; xã Sơn Thuỷ tách lập thành 2 xã Sơn Thuỷ, Sơn Hải Huyện Sơn Hà có 14 xã, thị trấn (như ựã kể ở phần
ựầu)
Về tự nhiên, Sơn Hà là huyện có diện tắch tự nhiên rộng thứ hai trong tỉnh
Quảng Ngãi (chỉ sau huyện Ba Tơ) địa bàn Sơn Hà trải rộng, ựồi núi, sông suối chằng chịt, chia cắt bạo biệt; ựộ cao trung bình 500 - 1000m so với mặt nước biển
Núi rừng: Chiếm hầu hết diện tắch tự nhiên của toàn huyện Phắa ựông có ngọn
Thạch Bắch (đá Vách) giáp giới với huyện Tư Nghĩa, phắa nam tiếp liền với dãy Cao Muôn (Ba Tơ), núi Mum (Minh Long), phắa bắc tiếp liền với các núi cao ở các huyện Trà Bồng và Tây Trà, phắa tây là các khối núi cao giáp với huyện Sơn Tây Rừng núi Sơn Hà có các loại gỗ quý như lim, sơn, chò, nhiều loại thú như hổ, nai, trăn, nhiều mật ong, song mây
Sông suối: Sơn Hà có mạng lưới sông suối chằng chịt, lớn nhất là các sông:
sông Rhe, sông Rinh, sông Xà Lò, sông Tang Sông Rhe từ phắa Nam (Ba Tơ) chảy
ra, hợp với sông Rinh, sông Xà Lò ở khu vực Hải Giá, chảy về phắa ựông, là ựầu nguồn của sông Trà Khúc lớn nhất trong tỉnh Quảng Ngãi Sông suối ở Sơn Hà có nhiều loại cá, ốc, ựặc biệt có ựặc sản cá niêng nổi tiếng Các sông suối là nguồn nước quan trọng và còn chứa tiềm năng về thuỷ lợi, thuỷ ựiện nhằm phục vụ sản xuất và sinh hoạt Các sông ở ựây ựều có lòng sông ựào sâu, khuất khúc, lòng sông dốc, nước chảy xiết, nên thường gây lũ lớn về mùa mưa và dễ khô kiệt về mùa nắng
đồ ng bằng: Nằm dọc theo thung lũng các sông, ựất ựai khá màu mỡ, như ựồng
bằng dọc sông Rhe chảy qua các xã Sơn Ba, Sơn Kỳ, Sơn Thuỷ, Sơn Hải, Sơn Cao, Sơn Linh, Sơn Nham, Sơn Hạ đồng bằng thường có các cánh ựồng lúa, hoặc trồng các loại hoa màu
Trang 26Khoáng sản: Rải rác trong các xã ở Sơn Hà có vàng sa khoáng, ñá vôi, cao lanh,
suối khoáng
Nhìn chung, ñất ñai ở Sơn Hà khá tốt Các vùng thung lũng nhiều nơi tương ñối thoáng rộng, ñược cư dân trong vùng khai phá thành ñất canh tác từ lâu ñời ðất
ñai tốt nhất là ở các làng Tà Bần, Tà Bi xã Sơn Thủy, Làng Rút xã Sơn Kỳ
Quá trình khai thác, phát triển ñất ñai ở Sơn Hà nói chung ñã diễn ra nhiều ñời, trong khắp huyện Tình hình sử dụng ñất vào năm 2005 như sau: 1) ðất nông nghiệp 19.227,57ha; 2) ðất lâm nghiệp 36.081,43ha; 3) ðất chuyên dùng 1.003,07ha; 4) ðất khu dân cư 628,27ha; 5) ðất chưa sử dụng 16.325,70ha
Khí hậu: Tương tự như khí hậu các huyện miền núi trong tỉnh Quảng Ngãi Mùa
mưa hay ñến sớm hơn các huyện ñồng bằng và lượng mưa khá lớn Khí hậu lúc bình thường ở Sơn Hà khá dễ chịu Tuy nhiên, Sơn Hà là nơi có "ngã ba sông", nơi tiếp giáp giữa 3 nguồn nước lớn là sông Rhe, sông Rinh và sông Xà Lò, nên về mùa mưa thường xảy ra lụt lớn Vùng Sơn Ba, Sơn Cao ñến Sơn Kỳ thường có hiện tượng xảy ra lốc lớn, tốc mái nhà Lụt nặng nhất thường là ở thị trấn Di Lăng
và xã Sơn Giang
Về dân cư, Sơn Hà có cư dân chủ yếu là dân tộc Hrê, dân tộc Kinh, dân tộc Ca
Dong, một ít người dân tộc Cor và các dân tộc khác Diễn tiến dân số phát triển khá mạnh, trong vòng 30 năm từ 1975 ñến 2005, dân số Sơn Hà tăng gấp ñôi (từ 32.737 lên 65.937 người - chưa kể huyện Sơn Tây tách lập từ năm 1994) Mật ñộ dân số ở Sơn Hà là 88 người/km2,cao nhất trong các huyện miền núi, nhưng thấp hơn nhiều so với các huyện ñồng bằng Quảng Ngãi
Tình hình diện tích ñất, dân số, mật ñộ dân số của 14 xã, thị trấn ở Sơn Hà năm 2005 như sau:
TT Xã, thị trấn Diện tích
(km 2 )
Dân số (người)
Mật ñộ dân số (người/km 2 )
Trang 27có nơi tập trung buôn bán dịch vụ, thấp nhất là xã Sơn Kỳ (41 người/km2) Có 7
xã, thị trấn có mật ựộ dân số trên 100 người/km2, có 7 xã mật ựộ từ 40 - 100 người/km2
Trong tổng số dân 65.937 người có ựến 54.434 người dân tộc Hrê đến 31.12.2005, ở Sơn Hà, tắnh theo dân tộc có: 1) dân tộc Hrê 54.434 người, cư trú ở khắp các ựịa phương trong huyện, nhưng ựông nhất là ở xã Sơn Hạ (6.447 người),
kế ựến là Sơn Kỳ (5.474 người), thị trấn Di Lăng (4.607 người), Sơn Thành (4.930 người), Sơn Cao (4.126 người), xã ắt nhất là Sơn Hải cũng có ựến 2.343 người; 2) dân tộc Kinh 11.331 người, cư trú ở khắp các xã, ựông nhất là ở thị trấn Di Lăng (3.777 người), xã Sơn Thành (1.840 người), xã Sơn Hạ (1.472 người), xã ắt nhất là Sơn Ba (182 người); 3) Dân tộc Ca Dong 327 người, cư trú chủ yếu ở thị trấn Di Lăng (218 người); 4) Dân tộc Cor 161 người, chủ yếu ở Di Lăng (141 người) Ngoài ra, còn có các dân tộc khác và khách vãng lai
đồng bào dân tộc Hrê ở Sơn Hà chủ yếu làm ruộng nước, nương rẫy, còn lưu
giữ ựược những di sản văn hóa dân tộc quý báu dân tộc Kinh cư trú chủ yếu ở huyện lỵ và các xã phắa ựông huyện, có ựặc ựiểm chung của người Kinh và có sự giao lưu, giao thoa văn hóa với các dân tộc anh em trong huyện Dân tộc Ca Dong
có ựặc ựiểm chung với người Ca Dong ở huyện Sơn Tây Các dân tộc anh em ở Sơn Hà sống ựoàn kết, tương trợ nhau, có lúc ựã vượt qua thử thách lớn lao ựối phó với chắnh sách chia rẽ dân tộc của bọn thực dân ựể cùng thắt chặt tình nghĩa anh em
*
* *
Ngược dòng lịch sử, nhân dân Sơn Hà có truyền thống yêu nước từ rất sớm
đó là các cuộc nổi dậy chống lại ách áp bức, bóc lột của quan quân chúa Nguyễn,
chống lại quan quân phong kiến triều Nguyễn và chống lại thực dân Pháp xâm lược Nhân dân vùng Sơn Hà cũng từng tham gia cuộc khởi nghĩa đă Boăk King
và Boăk Xuân hưởng ứng phong trào nông dân Tây Sơn; tham gia phong trào chống càn quét, chống sưu thuế của thực dân, cuối thế kỷ XIX ựầu thế kỷ XX và tham gia phong trào "Nước Xu ựỏ" với các dân tộc anh em ở Bắc Tây Nguyên trong những năm 1937 - 1938
Phong trào cách mạng dưới sự lãnh ựạo của đảng Cộng sản Việt Nam dần dần thâm nhập vào nhân dân, qua hoạt ựộng của cán bộ cách mạng từ thời tiền khởi
Trang 28nghĩa, nhất là trong Cách mạng tháng Tám 1945, khi ñội du kích Ba Tơ do các
ñồng chí Nguyễn Chánh, Phạm Kiệt chỉ huy ñánh chiếm ñồn Di Lăng từ tay thực
dân Pháp
Trong kháng chiến chống Pháp xâm lược, năm 1946, tổ chức ðảng ñã ñược thành lập, nhân dân Sơn Hà nỗ lực xây dựng chính quyền cách mạng và ñóng góp cho kháng chiến Thực dân Pháp chiếm thị xã Kon Tum và từ cao nguyên ñánh xuống Lợi dụng một số sai lầm của cán bộ cách mạng, ñịch dùng bọn tay sai kích
ñộng, gây nên vụ phiến loạn Sơn Hà năm 1950 ðảng bộ và nhân dân Sơn Hà ñã
cùng với tỉnh dập tắt vụ bạo loạn, ổn ñịnh tình hình, góp phần giữ vững vùng tự do Liên khu V
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Sơn Hà nằm trong vùng căn cứ ñịa của cuộc kháng chiến, nhân dân Sơn Hà tạo lập ñược nhiều chiến công, kiên cường chiến ñấu và ñóng góp nhiều nhân tài vật lực cho kháng chiến Toàn huyện giải phóng ngày 17.3.1975
Qua các cuộc kháng chiến, quân và dân Sơn Hà, quân và dân 4 xã Sơn Thành, Sơn Lăng, Sơn Kỳ, Sơn Thuỷ, 4 cá nhân là ðinh Banh, ðinh Tía, ðinh Kméo,
ðinh Nghít của huyện ñã ñược phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ
trang nhân dân
*
* *
Cũng như nhiều huyện khác trong tỉnh Quảng Ngãi, kinh tế Sơn Hà là kinh tế
nông nghiệp Năm 2005, trong tổng số 33.678 lao ñộng ñang làm việc của toàn huyện, có ñến gần 30.146 lao ñộng nông, lâm nghiệp, chỉ có 18 lao ñộng thủy sản Nghề nông là nghề sinh sống chính của nhân dân Sơn Hà xưa nay Kinh tế nông nghiệp ở Sơn Hà xưa mang nặng tính tự túc tự cấp, nay ñã có sự chuyển biến ñáng
kể, nhưng dấu ấn xưa vẫn còn rất rõ Ngày nay, lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thương mại - dịch vụ ở Sơn Hà ñã hình thành và phát triển, nhưng nhìn chung còn chiếm tỷ trọng thấp trong nền kinh tế
Nông nghiệp
Xưa kia, bà con các dân tộc Sơn Hà canh tác nông nghiệp ñã có nhiều tiến bộ, nhất là trong việc làm lúa nước Tuy vậy, ñời sống của nhân dân vẫn rất thấp do các tập quán lạc hậu và do chính sách áp bức bóc lột của phong kiến, thực dân Sau năm 1975, nông nghiệp ñã phát triển mạnh Diện tích canh tác lúa ñược mở rộng
ðồng lúa ven sông Rhe từ xưa ñã ñược ghi nhận là một ñồng lúa ñẹp mắt với trình
ñộ canh tác khá cao của bà con Hrê Ở vùng thấp, người Kinh cũng có trình ñộ
thâm canh lúa khá phát triển Ở vùng cao, bà con người Ca Dong, người Cor có khó khăn hơn Trong nông nghiệp, ở Sơn Hà xưa nay thì cây lúa vẫn chiếm vị trí hàng ñầu và có sự phát triển theo thời gian
Trang 29Cùng với việc mở rộng diện tích, làm thuỷ lợi, thâm canh tăng năng suất, trong vòng 30 năm, từ 1975 ñến 2005, sản lượng lương thực có hạt cũng như bình quân lương thực ñầu người ở Sơn Hà ñều tăng cao, như bảng sau ñây(2):
người hằng năm (kg) 153,9 304,1 198,8 265,3 284,2
Trừ năm 1995, sản lượng lương thực và bình quân lương thực ñầu người ñều ñột ngột giảm do tách lập huyện Sơn Tây và do mất mùa, các chỉ số trên ñều khả dĩ phản
ảnh trung thực sự phát triển Bình quân lương thực ñầu người ở Sơn Hà năm 1985 là
cao nhất có thể do dân số còn ít và lúc này nông nghiệp tập trung chủ yếu vào cây lương thực Sản lượng lương thực bình quân ñầu người năm 2005 cao nhất là xã Sơn
Ba (376kg), kế ñến là xã Sơn Thành (347kg), xã Sơn Hạ (338kg), xã Sơn Thủy (330kg), thấp nhất là thị trấn Di Lăng (120kg) không hoàn toàn chuyên nông nghiệp Trong thành phần lương thực thì lúa chiếm ña số tuyệt ñối, ngô chỉ là một phần phụ Ngoài lúa và ngô, Sơn Hà là nơi trồng khá nhiều sắn, mía làm nguyên liệu cho công nghiệp và chăn nuôi Trong những năm gần ñây, do giá cả không ổn ñịnh, cây mía có
xu hướng giảm nhanh Ngược lại, cây mì (sắn) có xu hướng tăng mạnh do có Nhà máy tinh bột mỳ Sơn Hải ñóng ngay trên ñịa bàn huyện, có nhu cầu thu mua lớn
Mì trồng ở Sơn Hà năm 2005 nhiều nhất so với các huyện trong tỉnh Quảng Ngãi Tuy nhiên, việc phát triển ồ ạt ñã dẫn ñến việc phá rừng trồng mì khá phức tạp, gây tác hại môi trường
Chỉ số về các loại cây trồng chính ở Sơn Hà năm 2005 như sau:
TT Cây trồng Diện tích canh tác (ha) Sản lượng (tấn) Năng suất (tạ/ha)
Trang 30Sắn trồng nhiều nhất ở các xã Sơn Cao (385ha, 5.621 tấn), xã Sơn Hải (250ha, 3.707 tấn), ắt nhất là ở xã Sơn Ba cũng có ựến 145ha với 2.073,5 tấn
Mắa trồng nhiều nhất ở các xã Sơn Hạ (409ha, 17.820 tấn), Sơn Thành (250ha, 11.450 tấn), hai xã này nằm ở vùng thấp của huyện và có nhiều người Kinh sinh sống Các xã hầu như không trồng mắa là Sơn Thủy, Sơn Kỳ, Sơn Ba, Sơn Bao
Lạc trồng nhiều nhất ở các xã Sơn Thủy (97ha, 153,4 tấn), Sơn Nham (34ha, 54 tấn), Sơn Thượng (31,5ha, 50,4 tấn), ắt nhất ở Sơn Trung chỉ 1,5ha với sản lượng 2,3 tấn
Rau các loại, ựậu các loại ở các xã, thị trấn có chênh lệch nhau nhưng không quá cao
Về vật nuôi, nuôi trâu, heo, gà là nghề truyền thống Trâu là vật nuôi truyền
thống từ lâu ựời của ựồng bào dân tộc Hrê đàn trâu ở Sơn Hà rất ựáng kể, tắnh trong toàn tỉnh thì chỉ xếp sau huyện Ba Tơ về số lượng đàn trâu Sơn Hà năm
2005 có 10.392 con, cùng với ựàn trâu huyện Ba Tơ (17.862 con) chiếm tỉ lệ cao tuyệt ựối so với các huyện khác trong tỉnh Quảng Ngãi (với tổng số 48.283 con) Trâu ựược nuôi nhiều nhất ở xã Sơn Hạ (1.248 con), xã Sơn Thủy (1.187 con), thấp nhất là xã Sơn Bao cũng có ựến 314 con Các xã có khá nhiều trâu là Sơn Thành (920 con), Sơn Kỳ (912 con), Sơn Ba (824 con), Sơn Trung (810 con) đàn bò ở Sơn Hà xưa chủ yếu ở vùng thấp và phổ biến trong người Kinh, nay phát triển ở khắp nơi trong huyện với các hộ ựồng bào Hrê Từ 1975 ựến 2005, số lượng bò tăng khá nhanh, cứ năm năm tăng trung bình 3.000 con (từ 1.788 con năm 1975 lên 20.378 con năm 2005), cao nhất trong các huyện miền núi ở Quảng Ngãi Bò nuôi nhiều nhất ở xã Sơn Thành (2.092 con), Sơn Hạ (1.981 con), Sơn Giang (1.784 con), xã ắt nhất là Sơn Hải cũng có ựến 785 con Chăn nuôi heo cũng phát triển với trên 32.187 con năm 2005 Heo nuôi nhiều nhất ở xã Sơn Thành, thị trấn Di Lăng,
xã Sơn Hạ
Công tác thuỷ lợi ở Sơn Hà luôn ựược coi trọng Xưa kia, bà con Sơn Hà dựa
vào nguồn nước tự nhiên và dẫn thuỷ nhập ựiền theo phương pháp thủ công (ựắp
ựập bổi bằng ựá, tre), hiệu quả thấp, không chủ ựộng ựược nguồn nước Từ sau
năm 1975, có 29 công trình thuỷ lợi ựược xây dựng, có những công trình lớn như
hồ chứa nước Di Lăng, ựập Prinh (Sơn Linh), ựập dâng nước Lác (Sơn Kỳ), diện tắch tưới bằng công trình kiên cố ựạt 1/2 diện tắch canh tác điều ựáng chú ý là, trên ựịa hình bị chia cắt bởi nhiều núi ựồi, sông suối, thuỷ lợi ở Sơn Hà chỉ có thể giải quyết bằng các công trình quy mô nhỏ Các công trình ựã thực hiện ựều chỉ có năng lực tưới phổ biến 10 - 25ha diện tắch canh tác Xây dựng công trình thuỷ lợi quy mô lớn là không thể, nhưng nếu quá nhỏ cũng sẽ không ựạt hiệu quả cao Sơn
Hà là huyện có diện tắch canh tác lúa khá rộng nên huyện không có chủ trương khai hoang, chỉ tập trung làm công tác thủy lợi, tăng chất lượng, tăng năng suất các vật nuôi, cây trồng trên diện tắch ựã có Có nhiều trường hợp trồng lúa không bảo
ựảm về nguồn nước tưới nên cần phải chuyển ựổi sang cây trồng khác, hiệu quả
kinh tế sẽ cao hơn
Trang 31Giá trị sản xuất nông nghiệp của Sơn Hà năm 2005 là 124.612,4 triệu ñồng, trong ñó trồng trọt là 86.282,8 triệu ñồng, chăn nuôi 38.329,6 triệu ñồng theo giá hiện hành
Lâm nghiệp
Nghề rừng là một hoạt ñộng không thể thiếu từ xưa ñến nay của nhân dân Sơn
Hà Bên cạnh trồng lúa và chăn nuôi, người dân Sơn Hà còn vào rừng lấy cây làm nhà, lấy củi ñun, săn bắn, hái lượm, lấy mật ong Từ sau năm 1975, vấn ñề khoanh nuôi và trồng rừng ñặt ra như một nhu cầu cấp bách sau một thời gian dài rừng ở Sơn Hà bị tàn phá nặng do chiến tranh và con người Sơn Hà khoanh nuôi 19.500ha rừng tự nhiên, trồng 6.296ha rừng phòng hộ và rừng nguyên liệu, nâng
ñộ che phủ của rừng lên gần 40% Tình trạng phá rừng trái phép vẫn diễn ra, nhằm
mục ñích lấy gỗ hoặc lấy ñất trồng sắn (mì) cung cấp cho Nhà máy sản xuất tinh bột mì Sơn Hải Về rừng trồng, Sơn Hà trồng nhiều cây keo lai là cây có xu hướng phát triển về lâu dài ñể xuất khẩu, trồng và khai thác tre, nứa, lồ ô ñể làm nguyên liệu chế biến bột giấy Giá trị sản xuất lâm nghiệp của Sơn Hà năm 2005 là 12.118,5 triệu ñồng theo giá hiện hành
Về tiểu thủ công nghiệp, xưa kia bà con dân tộc Hrê, Ca Dong chủ yếu ñan lát
các vật dụng ñể ñáp ứng cho nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của mình Bà con dân tộc Kinh ở vùng thấp thường có một số nghề thủ công thông dụng như mộc, rèn Trên ñịa bàn huyện chưa có cơ sở công nghiệp nào Từ năm 1975 trở về sau, một
số cơ sở công nghiệp ñã mọc lên, ñáng chú ý có cụm công nghiệp Sơn Hải, cụm công nghiệp Sơn Thượng, nhà máy sản xuất tinh bột mì Sơn Hải và nhiều cơ sở tiểu thủ công nghiệp tư nhân khác Tuy nhiên, nhìn chung công nghiệp ở Sơn Hà chưa chiếm tỉ trọng cao trong cơ cấu kinh tế Sản phẩm công nghiệp chủ yếu là ñá xây dựng, gạch nung, xay xát, may quần áo, xẻ gỗ, sản xuất ñồ mộc gia dụng Thời
ñiểm 2005, Sơn Hà có 470 cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cá thể, nhưng
cũng chỉ có 721 lao ñộng trên lĩnh vực này Giá trị sản xuất công nghiệp năm 2005
là 73.930 triệu ñồng theo giá hiện hành
Hoạt ñộng buôn bán xưa kia ở Sơn Hà thường diễn ra giữa người Kinh với các
dân tộc anh em Người Kinh mang hàng ñến tận các làng ñể trao ñổi, mua bán Việc trao ñổi, mua bán xuôi ngược ở Sơn Hà còn ñược thực hiện qua các chợ Di Lăng, Hà Thành, chợ ðồng Ké (tây Sơn Tịnh), chợ Phước Lâm (tây Tư Nghĩa) là những cửa ngõ thông thương xuôi ngược Người Hrê cũng tiến hành buôn bán, ñổi chác với người Cor ở vùng Trà Tân (Trà Bồng), Trà Niêu (Tây Trà), chủ yếu là trao ñổi chè lá sản xuất ở các vùng này Việc buôn bán như vậy vẫn tiếp diễn liên tục, ngay cả trong thời kỳ chiến tranh Từ năm 1975, nhất là từ ngày ñổi mới (1986) trở về sau, việc buôn bán ngày càng phát triển Trên ñịa bàn huyện có 3 chợ
là chợ Di Lăng, chợ Sơn Hạ và chợ Sơn Giang Trung tâm buôn bán của Sơn Hà trước kia nằm tại Sơn Hạ, gần với ngã ba Hà Thành, nơi ñóng lỵ sở của huyện Từ sau năm 1975, huyện lỵ ñược xây dựng ở Di Lăng, chợ của huyện tập trung ở ñây (thường gọi là chợ Hàng Gòn), trở thành nơi mua bán ñổi chác trong huyện, thu
Trang 32hút cả người dân ở các huyện láng giềng Tại các trung tâm xã ñều có các hộ buôn bán và chợ búa Ở Di Lăng và ven ñường có nhiều người sống bằng nghề mua bán Bên cạnh việc mua bán, ở Sơn Hà cũng như các huyện miền núi khác trong tỉnh Quảng Ngãi, bà con ñược cấp phát một số mặt hàng thiết yếu Thống kê cho biết năm 2005, Sơn Hà có 945 cơ sở kinh doanh thương mại - dịch vụ cá thể với 1.141 lao ñộng, nhiều nhất ở thị trấn Di Lăng với 255 cơ sở và 305 lao ñộng, xã Sơn Hạ với 111 cơ sở và 170 lao ñộng Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ là 58.772 triệu ñồng
Theo báo cáo chính trị tại ðại hội XX của ðảng bộ huyện Sơn Hà, thu nhập bình quân ñầu người ở Sơn Hà năm 2005 ước ñạt 2.596.000 ñồng
Cơ sở hạ tầng
Về ñiện: 10 năm sau giải phóng (1985), nhà máy thuỷ ñiện Di Lăng ñược xây
dựng với công suất 180kW, phục vụ khoảng 300 hộ dân, lần ñầu tiên người dân ở Sơn Hà ñược dùng ñiện Từ năm 1998, ñiện lưới quốc gia kéo về huyện lỵ Sơn Hà Cho ñến 2004, tất cả các xã, thị trấn trong huyện ñều ñã có ñiện lưới quốc gia với trên 60% số hộ dùng ñiện ðến cuối năm 2005, có 66/77 thôn trong huyện có ñiện, với trên 65% số hộ dùng ñiện
Về giao thông, cũng có những tiến bộ vượt bậc Trục ñường xương sống là tỉnh
lộ 623 nối từ tỉnh lỵ Quảng Ngãi ñến huyện lỵ Sơn Hà dài khoảng 55km, có từ thời phong kiến, ñến thời Pháp và chế ñộ Sài Gòn ñều có rải ñá, nhưng chỉ là dã chiến, tạm thời Từ năm 1975 về sau, việc giao thông ở Sơn Hà ñã có một bước tiến rất dài Tỉnh lộ 623 ngày nay ñã ñược trải nhựa Từ thành phố tỉnh lỵ Quảng Ngãi ñi Sơn Hà có thể theo 2 ngả, hoặc từ huyện lỵ Sơn Tịnh ñi trực chỉ, hoặc theo tỉnh lộ
625 ñi băng qua công trình ñầu mối Thạch Nham, gặp tỉnh lộ 623 tại Tịnh Giang
ðến Hà Thành, có ngã ba trực chỉ huyện lỵ, một nhánh băng qua vùng xã Sơn
Giang, gặp lại ñường kia tại thị trấn Di Lăng, qua các xã Sơn Hải, Sơn Thủy, Sơn
Kỳ, gặp Quốc lộ 24 tại Ba Tiêu ðường Sơn Hà nối với Ba Tơ qua thung lũng sông Rhe ðường nối với huyện lỵ Tây Trà cũng ñược duy trì, bảo dưỡng, nhưng chỉ là
ñường ñất ðường Sơn Hà nối với Sơn Tây ñã ñược trải nhựa Các cầu ñược xây
dựng, trong ñó có cầu lớn bắc qua sông Rinh, cầu Hải Giá Các xã ñều có ñường ôtô ñến trung tâm xã Một số tuyến ñường cụm xã ñã ñược trải nhựa Huyện có 2 bến xe ôtô, một ở thị trấn Di Lăng và một ở xã Sơn Giang Giao thông phát triển ñã tạo ñiều kiện cho sự phát triển mọi mặt của Sơn Hà
Thông tin liên lạc: Từ sau năm 1975, mạng lưới bưu chính viễn thông ở Sơn Hà
ñã ñược thiết lập Ngày nay, ở huyện lỵ có bưu ñiện huyện và ở các xã có 7 bưu ñiện văn hóa xã Trạm viba viễn thông ñặt ở trung tâm huyện và ở Sơn Hạ, Sơn
Kỳ Thông tin liên lạc khá thuận tiện Tổng số máy ñiện thoại trong huyện lắp ñặt trên 1.300 chiếc năm 2004, 1.872 chiếc năm 2005 Hầu hết các xã ñều ñã có báo
ñọc trong ngày
Trang 33Huyện Sơn Hà xác ựịnh có 4 trung tâm cụm xã: 1) Cụm xã Sơn Hạ - Sơn Thành
- Sơn Nham, trung tâm ở xã Sơn Hạ; 2) Cụm xã Sơn Cao - Sơn Linh - Sơn Giang, trung tâm ở xã Sơn Linh; 3) Cụm xã Di Lăng - Sơn Thượng - Sơn Bao - Sơn Trung, trung tâm tại xã Sơn Thượng; 4) Cụm xã Sơn Hải - Sơn Thủy - Sơn Kỳ - Sơn Ba, trung tâm tại xã Sơn Kỳ
Bên cạnh việc xây dựng thuỷ lợi, ựiện, ựường sá, bưu ựiện, các thiết chế trường học, bệnh xá cũng ựược xây dựng, tạo nên cho Sơn Hà một diện mạo mới đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ựã ngày càng nâng lên
*
* *
Trong di sản văn hóa các dân tộc ở Sơn Hà, thì di sản văn hóa dân tộc Hrê là
ựáng chú ý nhất Là một bộ phận quan trọng với số dân ựông trong tổng dân số,
người Hrê ở Sơn Hà còn lưu giữ những giá trị văn hóa dân tộc Hrê hết sức ựặc sắc Người Hrê có truyện cổ (một phần ựã ựược sưu tầm và xuất bản), có các loại nhạc
cụ như chiêng, trống và các nhạc cụ tự tạo khác, có các ựiệu dân ca ca lêu, ca choi (ựã sưu tầm một phần), có kiến trúc nhà sàn Bộ phận người Kinh cũng có những giá trị văn hóa nhưng chưa ựược sưu tầm ựúng mức Người Ca Dong có nhiều di sản văn hóa vẫn còn ựược lưu giữ và ựã ựược sưu tầm phần nào Các dân tộc ở ựây cũng có sự giao thoa văn hóa, qua kết quả giao lưu tự ngàn xưa và ựể lại những dấu ấn ựẹp ựẽ trong di sản văn hóa của nhau Về di tắch và thắng cảnh, ở Sơn Hà
có các di tắch chiến thắng Di Lăng, chiến thắng ựồn Tà Ma (ựều ựã xếp hạng di tắch cấp tỉnh), thắng cảnh sông Hải Giá
Từ sau Cách mạng tháng Tám 1945, văn hóa mới ở Sơn Hà dần dần ựược xác
lập, nhưng trải qua hai cuộc chiến tranh, từ sau năm 1975, văn hóa ở Sơn Hà mới thực sự chuyển mình sâu sắc Ở huyện lỵ có nhà văn hóa huyện, có thư viện huyện,
có ựài truyền thanh huyện, có 3 trạm thu phát sóng truyền hình ở huyện lỵ và ở các trung tâm cụm xã (thị trấn Di Lăng, xã Sơn Kỳ, xã Sơn Linh), ở xã có ựài truyền thanh xã; phủ sóng ựến vùng sâu, vùng xa Tivi, raựiô ựược cấp phát Số người xem truyền hình ước tắnh ựã có trên 70% và nghe đài Tiếng nói Việt Nam khoảng 85% Các ựội thông tin lưu ựộng, ựội chiếu bóng thường xuyên ựi phục vụ ở các làng xã Phong trào văn nghệ quần chúng, phong trào toàn dân ựoàn kết xây dựng
ựời sống văn hóa phát triển khá tốt Từ trong kháng chiến, một thế hệ mới trong
hoạt ựộng văn hóa ở Sơn Hà ựã hình thành, có người trở thành văn nghệ sĩ nổi tiếng như Nghệ sĩ ưu tú đinh Kim Nhớ (quê tại Di Lăng), nhà thơ đinh Xăng Hiền (quê xã Sơn Kỳ), Nghệ sĩ nhân dân đinh Thị Xuân Va (xã Sơn Hạ)
Về giáo dục, cũng như các huyện miền núi khác ở Quảng Ngãi, trước năm
1945, tuyệt ựại ựa số nhân dân Sơn Hà mù chữ Từ sau Cách mạng tháng Tám
1945, việc học mới thực sự bắt ựầu và phát triển khó khăn trong hoàn cảnh chiến tranh ác liệt của hai cuộc kháng chiến Từ năm 1975 ựến nay, giáo dục ở Sơn Hà phát triển khá nhanh, từ ựiểm xuất phát 2.460 học sinh với khoảng 107 cán bộ, giáo viên, ựến thời ựiểm 2005, Sơn Hà có 5 trường Mẫu giáo với 84 lớp, 86 giáo
Trang 34viên, 1.997 học sinh; về giáo dục phổ thông, có 1 trường Trung học phổ thông,
ñóng ở huyện lỵ với 35 lớp, 61 giáo viên, 1.441 học sinh; 7 trường Trung học cơ sở
(tại các xã Sơn Kỳ, Sơn Linh, Sơn Giang, Sơn Hạ, Sơn Thành, Sơn Bao và thị trấn
Di Lăng) với 150 lớp, 233 giáo viên, 4.975 học sinh; 16 trường Tiểu học (thị trấn Di Lăng 2 trường, mỗi xã 1 trường) với 334 lớp, 351 giáo viên, 6.868 học sinh
Về y tế, từ sau 1975, mạng lưới y tế ở Sơn Hà ñược xác lập, trong ñó ở huyện có
bệnh viện huyện, 1 ñội vệ sinh phòng dịch, 14 xã thị trấn ñều có trạm xá Bệnh
110 giường bệnh ðến năm 2005, Sơn Hà có 143 cán bộ y tế, trong ñó có 18 bác sĩ
Có 3 trạm y tế xã ñã có bác sĩ là Sơn Hạ, Sơn Linh, Sơn Kỳ Việc khám chữa bệnh của nhân dân ñược chăm lo, ñã hạn chế việc cầu cúng khi ñau ốm Công tác vệ sinh phòng dịch ñược ñề cao và thực hiện thường xuyên Công tác kế hoạch hóa gia ñình có những tiến triển tốt, tỉ lệ tăng dân số còn 1,25%
Về xã hội: Sơn Hà có hai vấn ñề xã hội lớn, thứ nhất huyện phải giải quyết chế
ñộ cho những người ñược hưởng chính sách ưu ñãi là khá lớn (với gần 2.690 người
có công), thứ hai là phải tập trung xoá ñói giảm nghèo Tuy không có nhiều người phải ñi làm ăn xa, nhưng ở Sơn Hà ñến năm 2000 vẫn còn ñến gần 70% số hộ nghèo, năm 2003 còn ñến trên 44% hộ nghèo (với số lượng trên 6.000 hộ), năm
2004 còn trên 35% Bảo ñảm chế ñộ chính sách và xoá ñói giảm nghèo là một trọng tâm trong công tác ở Sơn Hà trong thời gian tới
Ngoài ra, trong ñồng bào Hrê ở Sơn Hà rải rác còn một số tập tục lạc hậu như tảo hôn, nghi kỵ cầm ñồ thuốc ñộc, tục chia của cho người chết cần tiếp tục vận
ñộng bãi bỏ
(1) Theo Niên giám Thống kê tỉnh Quảng Ngãi 2005
(2) Nguồn: Niên giám thống kê tỉnh Quảng Ngãi
(3) Các số liệu từ năm 1995 trở ñi là các số liệu sau khi ñã tách huyện Sơn Tây
Trang 35HUYỆN SƠN TÂY
SƠN TÂY là huyện miền núi nằm ở cực tây tỉnh Quảng Ngãi Phía ñông và ñông nam giáp huyện Sơn Hà; phía tây nam giáp các huyện ðắk Tô, ðắk Hà, Kon
Plông (tỉnh Kon Tum); phía bắc giáp huyện Trà My (tỉnh Quảng Nam) và huyện Tây Trà Diện tích 380,74km2 Dân số 15.499 người (năm 2005) Mật ñộ dân số khoảng 40,7 người/km2(1) ðơn vị hành chính trực thuộc gồm 6 xã (Sơn Mùa, Sơn Dung, Sơn Tinh, Sơn Tân, Sơn Bua, Sơn Lập), với 24 thôn; trong ñó:
Xã Sơn Mùa có 5 thôn: Huy Em, Nước Min, Mang Tu La, Nước Vương - Tang
Tong, Tang Tong (các từ: Mang tiếng Ca Dong có nghĩa là bãi bằng, Huy có nghĩa
là bạn bè);
Xã Sơn Dung có 6 thôn: Huy Măng, ðắk Lang, Gò Lả, Ra Manh, Ra Pân, ðắk Trên;
Xã Sơn Tinh có 4 thôn: Nước Kỉa, Xà Ruông, Bà He, Ka Năng;
Xã Sơn Tân có 5 thôn: Ra Nhua, ðắk Be, Tà Dô, Ha Leu, Ta Vinh;
Xã Sơn Bua có 2 thôn: Mang Ta Bể, Mang He (Mang Ta Bể có nghĩa là bãi bằng ở
ngã ba);
Xã Sơn Lập có 2 thôn: Mang Rễ, Mang Trẫy
Huyện lỵ ñóng ở xã Sơn Dung Từ tỉnh lỵ Quảng Ngãi ñến huyện lỵ Sơn Tây 90km theo tỉnh lộ 623 trực chỉ hướng tây, băng qua ñịa hạt huyện Sơn Hà (ñã trải nhựa)
Sơn Tây là huyện tách ra từ phần phía tây huyện Sơn Hà ða số cư dân Sơn Tây
là ñồng bào dân tộc Ca Dong (một nhóm của dân tộc Xơ ðăng mà ñịa bàn cư trú chính là cao nguyên Kon Tum) Người Ca Dong ở Sơn Tây sinh sống bằng nghề nông, kiểu nông nghiệp sơ khai, làm rẫy, trồng cau, rèn, dệt, lối sống ñậm chất tự túc, tự cấp, ñồng thời có những di sản văn hóa quý báu Sơn Tây là huyện núi xa xôi của Quảng Ngãi, còn nhiều khó khăn, nhưng ñã dần dần phát triển
*
* *
Về hành chính, Sơn Tây xưa là vùng ñất thuộc nguồn Cù Bà, sau ñổi là nguồn
Thanh Cù Cuối thế kỷ XIX, nguồn Thanh Cù ñổi thành nha Sơn Hà, ñến năm
1915 ñổi là ñồn Sơn Hà ðây là một trong bốn nguồn chính của tỉnh Quảng Ngãi
Từ ñường Thiên Lý (tức Quốc lộ 1) có ñường dẫn lên nguồn Thanh Cù, và thực
Trang 36chất vùng ñất Sơn Tây là ñiểm nút cuối cùng về phía tây của nguồn Thanh Cù ðến sau Cách mạng tháng Tám năm 1945, ñồn Sơn Hà ñổi là huyện Sơn Hà, trong ñó
có tổng Ca Dong hình thành xã Sơn Tinh Năm 1952, Sơn Tinh hình thành 2 xã là Sơn Liên và Sơn Tinh Xã Sơn Liên lại tiếp tục chia thành 3 xã Sơn Liên, Sơn Mùa, Sơn Bao; xã Sơn Tinh chia thành 4 xã Sơn Tinh, Sơn Dung, Sơn Mùa, Sơn Long Xã Sơn Bua từ tỉnh Kon Tum cắt giao cho Sơn Hà Năm 1954, xã Sơn Lập
ñược thành lập từ vùng Tà Ngom, Bù Nít
Sau 1954, khi chính quyền Sài Gòn mới tiếp quản chưa kịp thay ñổi về hành chính, thì vùng Sơn Tây ñã dần trở thành căn cứ ñịa của lực lượng kháng chiến Trong khu căn cứ ñịa, ngày 20.7.1957, khu VII ñược thành lập tương ñương với huyện Sơn Tây ngày nay gồm 9 xã của vùng cao Sơn Hà là Sơn Liên, Sơn Mùa, Sơn Bao, Sơn Tinh, Sơn Dung, Sơn Màu, Sơn Long, Sơn Bua, Sơn Lập Năm
1959, tỉnh Kon Tum giao 6 làng cho khu VII lập xã Sơn Tân Năm 1965, khu VII
ñược gọi là huyện Sơn Tây Trong những năm 1970 - 1972, huyện Sơn Tây nhập
với các xã vùng Tây Trà Bồng thành khu Sơn Trà Từ 1972, huyện Sơn Tây lại
ñược thành lập Từ 1975, huyện Sơn Tây nhập chung vào huyện Sơn Hà, 10 xã của
Sơn Tây nhập lại còn 4 xã là Sơn Mùa, Sơn Tinh, Sơn Tân, Sơn Dung
Ngày 6.8.1994, với Nghị ñịnh 83/CP của Chính phủ, huyện Sơn Hà tách lập thành
2 huyện Sơn Hà và Sơn Tây Huyện Sơn Tây có 4 xã Sơn Mùa, Sơn Tân, Sơn Dung, Sơn Tinh Năm 1999, xã Sơn Mùa tách lập thành 2 xã Sơn Mùa, Sơn Bua;
xã Sơn Tinh tách lập thành 2 xã Sơn Lập, Sơn Tinh Huyện Sơn Tây có 6 xã (như
kể trên)
Về tự nhiên, Sơn Tây là huyện núi cao, có ñộ cao từ 400 - 1.700m
Núi rừng: Chiếm khoảng 4/5 diện tích toàn huyện, có nhiều ñỉnh cao như Hoăn
Plây, Rét, Gò Tăng, Hà Neng, Vá Rẫy, Azin ñều cao từ 1.000m trở lên Núi rừng Sơn Tây có nhiều lâm thổ sản quý như các loại gỗ lim, sơn, chò, gõ, có nhiều loại
ñộng vật, thú rừng như hổ, voi, sơn dương, trăn, khỉ Sơn Tây còn có nhiều trầm
hương, có suối khoáng Tà Meo (ñịa hạt xã Sơn Mùa) Vùng rừng nguyên sinh chủ yếu nằm ở xã Sơn Lập, trên núi Azin, có nhiều trầm hương, song mây
Sông suối: Hai con sông chính chảy qua ñịa hạt Sơn Tây là sông Rinh và sông
Xà Lò
Sông Rinh có nguồn nước từ cao nguyên Kon Tum ñổ về, ở ñịa hạt Sơn Tây có
các phụ lưu như Nước Lao, Nước Bua (Sơn Mùa), Ra Manh, Ra Pân, Huy Măng (Sơn Dung), Nước Màu (Sơn Tân)
Sông Xà Lò phát nguyên từ núi Azin hợp nước với suối Xà Ruông chảy theo
hướng ñông bắc, làm ranh giới tự nhiên giữa hai xã Sơn Lập, Sơn Tinh với xã Sơn
Kỳ (huyện Sơn Hà)
Trang 37Sông Rinh và sông Xà Lò ñổ về phía ñông, hợp nước với sông Rhe ở ñoạn Hải Giá (ñịa hạt huyện Sơn Hà) chảy tiếp về ñông, tạo thành sông Trà Khúc, con sông lớn nhất của tỉnh Quảng Ngãi Sông Rinh, sông Xà Lò là hai trong ba nguồn của sông Trà Khúc, có vị trí vô cùng quan trọng trong việc cung cấp nước, ñồng thời cũng có dòng chảy rất bạo liệt, thường gây ra lũ lụt kinh hoàng về mùa mưa
Về khí hậu: Do nằm sâu trong lục ñịa và nhiều núi cao nên khí hậu ở Sơn Tây
có sự khác biệt rõ rệt so với vùng ñồng bằng ven biển Quảng Ngãi Mưa ở ñây sớm hơn vài tháng so với ở ñồng bằng, bắt ñầu từ cuối tháng tám dương lịch Lượng mưa hàng năm khá cao với khoảng 2.700mm Nhiệt ñộ có phần thấp hơn so với
ñồng bằng Tuy vậy, khí hậu ở Sơn Tây so với ñồng bằng tỉnh Quảng Ngãi cũng
không quá khác biệt ðộ ẩm trung bình hằng năm là 88 - 90% Hạn hán, lũ lụt, bão
tố thường gây nhiều tác hại cho sản xuất và ñời sống nhân dân Vùng này về mùa mưa thường xảy ra lũ quét Lốc xảy ra thất thường, gây tốc nhà, chết người Tình trạng lở núi thường xảy ra
Về ñất ñai, tình trạng sử dụng ở thời ñiểm năm 2005 như sau: 1) ðất nông
nghiệp 3.216,99ha (có 2.105,40ha trồng cây hàng năm); 2) ðất lâm nghiệp 19.411,33ha (có 13.255,14ha rừng tự nhiên); 3) ðất chuyên dùng 910,87ha; 4) ðất khu dân cư 114,69ha; 5) ðất chưa sử dụng 14.420,12ha (có 14.258,33ha là ñất ñồi núi)
Về dân cư, ñịa hạt Sơn Tây có 3 dân tộc sinh sống: Ca Dong, Hrê, Kinh Trong
số dân 15.499 người (năm 2005) ở Sơn Tây, dân tộc Ca Dong có ñến 13.259 người, dân tộc Kinh có 1.138 người, dân tộc Hrê có 1.207 người
Người Ca Dong sinh sống ở tất cả các xã trong huyện, ngoài xã Sơn Lập dưới 1.000 người, các xã khác ñều từ 1.000 người trở lên, ñông hơn cả là ở xã Sơn Dung trên 4.000 người, xã Sơn Mùa trên 3.000 người, xã Sơn Tân trên 2.600 người
Người Hrê nhiều nhất ở các xã Sơn Tân (trên 450 người), Sơn Tinh (trên 370 người), ít nhất là ở các xã Sơn Bua, Sơn Lập
Người Kinh nhiều nhất ở Sơn Dung (trên 560 người), Sơn Tân (trên 180 người), Sơn Mùa (trên 170 người), các xã khác trên 50 người
Phân bố dân số cụ thể ở các xã (2005) như bảng sau:
TT Các xã Diện tích (km 2 ) Dân số (người) Mật ñộ dân số
Trang 386 Sơn Lập 53,47 1.070 20
Tất cả các xã ở Sơn Tây ñều có 3 dân tộc Ca Dong, Hrê và Kinh cùng sinh sống, trong ñó cộng ñồng Ca Dong ở xã nào cũng chiếm số ñông Mật ñộ dân số ở Sơn Tây thấp nhất trong tỉnh Quảng Ngãi (trên 40 người/km2) Xét trong nội hạt thì sự phân bố dân cư không có sự chênh lệch quá lớn giữa các vùng trong huyện
Cư dân Sơn Tây ña số còn nghèo, có cuộc sống thuần phác, chủ yếu sống bằng nghề nông, nghề rừng Việc buôn bán ñã dần phát triển và chủ yếu là người Kinh sinh sống bằng nghề buôn Người Kinh có văn hóa Việt, người Hrê có nét văn hóa tương ñồng với người Hrê ở huyện Sơn Hà Người Ca Dong có sự giao lưu, tiếp biến văn hóa với các dân tộc anh em, song văn hóa bản ñịa nội sinh vẫn rất ñậm nét
*
* *
Trong truyền thống yêu nước của các dân tộc ở Sơn Tây có nhiều ñiểm ñáng
chú ý Thời Pháp thuộc, khoảng 1908 - 1909, trong khi ñồng bào Kinh ở miền xuôi tỉnh Quảng Ngãi rầm rộ ñấu tranh "cự sưu khất thuế" thì người Ca Dong ở Sơn Tây tham gia với nghĩa quân Xơ ðăng ñánh ñịch trên cao nguyên Kon Tum, diệt ñồn
ðắk Sút và ñồn ðắk Tô, giết sĩ quan, binh lính Pháp ðồng bào Ca Dong ở Sơn
Tây lại tham gia phong trào chống xâu thuế do ông ðinh Tôm (dân tộc Hrê) cầm
ñầu trong những năm cuối thập niên mười và thập niên hai mươi của thế kỷ XX
Năm 1922, ñồng bào Ca Dong lại cùng nghĩa quân Xơ ðăng chiến ñấu trên cao nguyên Kon Tum, ñánh ñịch ở ðắk Lây, ðắk Pếch, diệt một toán quân Pháp ở ðắk
Hà, chống thực dân bắt ñi phu ñắp ñường từ Di Lăng (Sơn Hà) ñi Măng Bút, Kon Plông năm 1935 - 1936 Thực dân Pháp phải ñưa quân lên ñóng ở Sơn Tây ñể dễ
bề khống chế ðồng bào Ca Dong do Cha Reo chỉ huy vẫn nổi dậy chống lại việc làm ñường Vọt Tàu và Phó Nía kéo dân làng phối hợp với ñồng bào Hrê ñánh ñồn
Di Lăng Từ 1937 - 1938, ñồng bào Ca Dong do ðinh Nhá, ðinh Nía cầm ñầu ñã tham gia phong trào "Nước Xu ñỏ" với các dân tộc anh em ở bắc Tây Nguyên Phong trào yêu nước của ñồng bào các dân tộc ở Sơn Tây hòa nhập vào cuộc Tổng khởi nghĩa trong Cách mạng tháng Tám 1945 Trong kháng chiến chống Pháp xâm lược, ñồng bào các dân tộc ở Sơn Tây tích cực xây dựng chính quyền cách mạng, xây dựng ñời sống mới, bố phòng chiến ñấu, chống ñịch từ cao nguyên Kon Tum
ñánh xuống, góp phần dẹp bọn phản loạn, giữ vững vùng tự do Liên khu V Trong
kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, toàn huyện Sơn Tây ñược giải phóng vào ngày 05.9.1959 Sơn Tây trở thành vùng căn cứ ñịa cách mạng của tỉnh và của Khu V,
ñã ñóng góp nhiều nhân lực cho cuộc kháng chiến ñi ñến thắng lợi ðường 559 từ
Bắc vào Nam ñi qua ñịa bàn Sơn Tây khoảng 20km, ñược nhân dân góp công xây dựng, bảo vệ, tham gia ñưa cán bộ, bộ ñội, vũ khí, lương thực từ Bắc vào Nam kháng chiến
Trang 39Quân và dân toàn huyện Sơn Tây, quân và dân xã Sơn Dung ñược phong tặng danh hiệu Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân vì công lao trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
*
* *
Về ñời sống kinh tế, Sơn Tây là một huyện miền núi vùng cao, vùng xa ñược xếp
vào diện huyện miền núi ñặc biệt khó khăn, trong ñó 6/6 xã thuộc Chương trình
135 của Chính phủ
Trong tổng số thu chi ngân sách năm 2005 với 19.363,33 triệu ñồng thì số thu chuyển giao từ các cấp ngân sách chiếm ñến 18.705,86 triệu ñồng, tổng số thu trên
ñịa bàn chỉ có 556,13 triệu ñồng Sơn Tây còn mất cân ñối thu - chi rất lớn, chủ
yếu nhờ vào sự chi viện của ngân sách cấp trên
Kinh tế Sơn Tây cơ bản vẫn là nền kinh tế nông, lâm nghiệp và dấu ấn của nền nông nghiệp sơ khai vẫn còn khá ñậm nét Tính ñến năm 2005, có ñến 14.466 nhân khẩu sống bằng nghề nông với 8.451 lao ñộng (chỉ có 273 lao ñộng ngành nghề khác)
Về nông nghiệp
Nông nghiệp Sơn Tây ngày nay còn mang ñậm dấu ấn cổ truyền Trong nông nghiệp cổ truyền ở Sơn Tây, ñồng bào các dân tộc chủ yếu phát rẫy làm nương sinh sống: trồng lúa, mì, bắp, rau (mướp, bí) Cần lưu ý rằng ñất ñai vùng Sơn Tây phần lớn là ñồi núi, cằn cỗi không thuận lợi cho cây trồng, nhất là cây lương thực
ðặc biệt, vùng Sơn Tây bà con các dân tộc trồng nhiều cau Nếu như ở Trà Bồng,
cây trồng ñặc chủng là quế, vùng Minh Long là chè, thì ở Sơn Tây cây cau ñược xem như một loại cây trồng chính Cau ñược trồng ở quanh làng, trên rẫy thành rừng, rừng cau trở thành một nét ñặc biệt trong vùng cư trú của người Ca Dong Lúa rẫy là nguồn lương thực chính Việc khai hoang làm ruộng lúa nước ñược thực hiện cách ñây chưa lâu và ngày càng tỏ rõ tầm quan trọng của nó trong việc giải quyết vấn ñề lương thực tại chỗ và hạn chế nạn khai thác rừng thiếu kế hoạch Sơn Tây xác ñịnh bốn tiểu vùng kinh tế trọng ñiểm của huyện gồm: 1) Cụm xã Sơn Mùa (gồm hai xã Sơn Mùa - Sơn Bua), trung tâm tại Sơn Mùa; 2) Tiểu vùng
Ra Manh (xã Sơn Dung); 3) Cụm xã Sơn Tinh - Sơn Lập, trung tâm tại Sơn Tinh; 4) Khu trung tâm huyện lỵ tại Sơn Dung
Thời ñiểm 2005, Sơn Tây có 1.054,2ha diện tích ñất trồng lúa Ngoài lúa còn nhiều cây trồng khác Năm 1995, mới tái lập huyện, sản lượng lúa chỉ ñạt 1.226 tấn; ñến năm 2005, ñạt 3.863 tấn, tăng hơn 3 lần; diện tích lúa cả năm tăng gần 2 lần Tổng sản lượng lương thực có hạt thời ñiểm 2004 là 4.004,6 tấn, lương thực bình quân ñầu người 260,2kg; năm 2005 là 4.268 tấn, bình quân lương thực ñầu người toàn huyện là 273kg Sản lượng lương thực cao nhất là xã Sơn Dung
Trang 40(1.384,04 tấn), xã Sơn Mùa (964,04 tấn), thấp nhất là xã Sơn Lập (262,39 tấn) Lương thực bình quân ñầu người cao nhất là xã Sơn Bua (385,04kg), xã Sơn Tinh (332,94kg), thấp nhất là xã Sơn Tân (188,22kg)
Thống kê sơ bộ về các cây lương thực, thực phẩm chính ở Sơn Tây năm
Lúa trồng nhiều nhất ở xã Sơn Dung (diện tích 502,2ha, sản lượng 1.281,03 tấn),
xã Sơn Mùa (diện tích 332ha, sản lượng 854,71 tấn); ít nhất ở xã Sơn Lập (diện tích 111,6ha, sản lượng 241,89 tấn)
Ngô trồng nhiều nhất ở xã Sơn Mùa (diện tích 58,50ha, sản lượng 109,73 tấn),
xã Sơn Dung (diện tích 56,60ha, sản lượng 103,01 tấn), thấp nhất ở xã Sơn Lập (diện tích 12,23ha, sản lượng 20,50 tấn)
Sắn trồng nhiều nhất ở xã Sơn Tân (diện tích 185ha, sản lượng 1.595,3 tấn), xã Sơn Mùa (diện tích 170ha, sản lượng 1.465,9 tấn), thấp nhất ở xã Sơn Lập (40ha, sản lượng 344,9 tấn)
Rau các loại ñược trồng nhiều nhất ở xã Sơn Mùa (42ha, sản lượng 258,30 tấn),
ít nhất ở xã Sơn Bua (9,60ha, sản lượng 56,41 tấn) Các xã khác ñều từ 10 ñến 30ha
ðậu các loại ñược trồng nhiều ở các xã Sơn Dung, Sơn Mùa, Sơn Tân
ði ñôi với việc làm lúa nước là việc xây dựng các công trình thuỷ lợi nhỏ, thích
hợp với ñịa hình vùng núi, như các ñập Nước Min, Kà Rá, Nước Ma, Ka Năng với năng lực tưới mỗi ñập vào khoảng 10 - 25ha Nghề làm rẫy và các cây trồng truyền thống tiếp tục ñược duy trì Cây cau ở Sơn Tây nhờ có ñầu ra nên vẫn phát huy Các cơ sở thu mua cau ñến tận nơi ñể thu mua cau về chế biến xuất khẩu Bên cạnh việc khai thác các nguồn lâm sản tự nhiên như mây, tre, ñót, một số người dân còn trồng thêm mây ñể bán và ñem lại hiệu quả, triển vọng ñáng khích lệ Cây ngô, rau xanh, ñậu xanh, sắn, khoai cũng từng bước ñược trồng tỉa trên diện rộng ðặc biệt, cây ñậu xanh ưa khô nóng tỏ ra khá thích hợp với ñiều kiện ñất ñai khí hậu ở ñây
Chăn nuôi cũng là một lĩnh vực quan trọng trong ñời sống của ñồng bào các
dân tộc Sơn Tây Tuy vậy, còn rất bé nhỏ so với tiềm năng Năm 2005, ñàn trâu có 1.402 con, ñàn bò có 5.144 con, ñàn heo 6.605 con, gà 23.833 con