TRÊN LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI Giai ựoạn 1990 - 2000, Quảng Ngãi ựã có các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hoá và con người Quảng Ngãi; nghiên cứu các di sản văn hoá gắn liền với t
Trang 1Việc sử dụng phân bón vô cơ, thuốc bảo vệ thực vật và các chế phẩm hóa sinh học ngày càng ñược người sản xuất nông nghiệp sử dụng hợp lý Nông dân Quảng Ngãi ñã nắm bắt ñược kỹ thuật bón phân cân ñối N-P-K và sử dụng thuốc trừ sâu, trừ bệnh hợp lý; ñồng thời họ cũng ñã biết sử dụng các loại sản phẩm hóa - sinh học ñể bổ sung dinh dưỡng cho cây trồng thông qua kỹ thuật bón phun lá, hay kích thích cho ra nhiều hoa, ñậu nhiều quả, tăng ñộ chín ñồng ñều của quả ðặc biệt, quy trình sản xuất an toàn của chương trình IPM ñã thành công ở Quảng Ngãi, với hàng ngàn hộ nông dân ứng dụng
Trong một số lĩnh vực khoa học nông nghiệp khác, như xác ñịnh mùa vụ gắn với thị trường, ứng dụng cơ giới hóa trong các khâu sản xuất, các công nghệ sau thu hoạch, thực hiện tưới - tiêu nước tiết kiệm, xác ñịnh công thức luân - xen canh cây
4.3 KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN THỦY SẢN
Hoạt ñộng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực thủy sản ñã tập trung ñẩy mạnh
áp dụng các tiến bộ kỹ thuật phục vụ công tác khai thác, nuôi trồng và chế biến, tiếp thu tiến bộ kỹ thuật trong ñóng mới tàu thuyền có công suất 100CV với trang thiết bị ñồng bộ có khả năng bám biển dài ngày và khai thác ở ngư trường xa Các thiết bị máy móc, tiến bộ kỹ thuật mới ñược bà con ngư dân áp dụng vào sản xuất như máy ñàm thoại, máy tầm ngư, máy ñịnh vị, hải ñồ ñã nâng cao hiệu quả ñánh bắt, tránh rủi ro, giảm chi phí sản xuất, tránh các thiệt hại ñáng tiếc xảy ra cho ngư dân Nhờ áp dụng các tiến bộ kỹ thuật vào khai thác mà các chỉ tiêu về số lượng tàu thuyền, năng lực ñánh bắt, sản lượng khai thác thủy sản ñều tăng qua các năm
Hoạt ñộng nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu khoa học vào nuôi trồng thủy sản ñã tạo ra những sản phẩm mới, ña dạng hoá vật nuôi có giá trị kinh tế, tạo thêm nguồn nguyên liệu thủy sản phục vụ xuất khẩu, tiếp nhận, làm chủ và ứng dụng thành công việc cho cá tra ñẻ, khuyến cáo mô hình nuôi cá tra tại Quảng Ngãi, ứng dụng có hiệu quả các chế phẩm sinh học trong sản xuất tôm sú giống, hạn chế ô nhiễm môi trường tại các vùng nuôi tôm Mô hình nuôi luân - xen canh cá rô phi ñơn tính trong hồ nuôi tôm sú ñã hạn chế ô nhiễm môi trường nước do chất thải của tôm gây ra, giảm ñược tỉ lệ nhiễm bệnh và tôm phát triển tốt, ñồng thời còn mở
ra hướng ña dạng hoá vật nuôi trong lĩnh vực nuôi trồng thủy sản
Trình ñộ khoa học công nghệ trong việc nuôi trồng thủy sản, ñặc biệt là nuôi tôm ñã ñược nâng lên rõ rệt Trên ñịa bàn Quảng Ngãi ñã hình thành một số cơ sở sản xuất tôm giống ñể cung cấp cho người nuôi tôm trong và ngoài tỉnh Nhiều mô hình nuôi tôm (ñặc biệt là nuôi tôm trên cát) có năng suất, chất lượng tốt ñược nhân rộng ðến năm 2005, toàn tỉnh ñã phát triển hơn 150ha diện tích mặt nước nuôi tôm trên cát Tuy nhiên, vấn ñề ô nhiễm môi trường trong việc nuôi tôm trên cát cần phải ñược ñặc biệt quan tâm
4.4 KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN CÔNG
Trang 2Công nghiệp
Hoạt ñộng khoa học và công nghệ trong công nghiệp ñã góp phần chuyển dịch
cơ cấu kinh tế Quảng Ngãi theo hướng tăng dần tỷ trọng công nghiệp - xây dựng - dịch vụ Mức tăng trưởng ngành công nghiệp trung bình ñạt 14%/năm Bức tranh công nghiệp của tỉnh có sự thay ñổi tích cực Một số doanh nghiệp mạnh dạn áp dụng tiến bộ kỹ thuật, ñổi mới thiết bị, tiếp thu công nghệ mới ñã tự khẳng ñịnh sự tồn tại và phát triển ñi lên Ngành công nghiệp Quảng Ngãi ñã sản xuất ñược những sản phẩm ñạt chất lượng tốt như ñường, bánh kẹo, bia, nước khoáng, cồn, bơm nước cao áp, luyện thiếc, graphít ñược người tiêu dùng trong và ngoài tỉnh chấp nhận, một số sản phẩm ñã ñược xuất khẩu
Giai ñoạn 2001 - 2005, hoạt ñộng khoa học và công nghệ trong lĩnh vực công nghiệp ñã tập trung giải quyết các vấn ñề nhằm phát triển những lĩnh vực chủ yếu của ngành công nghiệp Nhiều doanh nghiệp sản xuất triển khai việc ứng dụng tiến
bộ kỹ thuật, thử nghiệm công nghệ mới nhằm sản xuất ra những sản phẩm có chất lượng, ñáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong tỉnh và xuất khẩu Một số mặt hàng xuất khẩu mới có khả năng tăng cao như: nguyên liệu giấy, tinh bột sắn, thủy sản, ñồ gỗ…
Năng lực tiếp thu ứng dụng công nghệ của các doanh nghiệp sản xuất công nghiệp ñã có sự phát triển tích cực, xuất hiện một số doanh nghiệp có năng lực tiếp nhận, làm chủ công nghệ nhập Tiêu biểu như Công ty ðường Quảng Ngãi, Công
ty Cơ khí và Xây lắp An Ngãi, Công ty Cổ phần Nông sản Thực phẩm ðặc biệt Công ty Cổ phần Nông sản Thực phẩm ñã tiếp thu, làm chủ công nghệ sản xuất tinh bột mì Năm 2004, ñội ngũ cán bộ kỹ thuật của công ty có khả năng nghiên cứu chế tạo, vận hành dây chuyền sản xuất tinh bột mì công suất 50 tấn sản phẩm/ngày với chi phí thấp hơn 50% so với thiết bị nhập của Thái Lan Cùng với việc ñầu tư ñổi mới thiết bị công nghệ sản xuất, các doanh nghiệp Quảng Ngãi ñã chú trọng áp dụng hệ thống quản lý chất lượng quốc tế Năm 2005, toàn tỉnh có 19 doanh nghiệp ñược cấp chứng chỉ hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9001:
2000
Giao thông - Vận tải
Nhờ ngành giao thông - vận tải từng bước phát triển mà Quảng Ngãi ñã có khả năng chủ ñộng thiết kế và thi công ñược các cầu lớn như cầu vượt lũ sông Rhe, cầu tràn sông Rinh, ñáp ứng nhu cầu giao thông cho miền núi; xây dựng ñược ñề án phát triển giao thông nông thôn; xây dựng sổ tay ñường bộ; thử nghiệm ñưa chất phụ gia gia cố nền ñường giao thông nông thôn nhằm xử lý nhanh, tiết kiệm nguyên vật liệu
Vấn ñề ñặt ra cho khoa học và công nghệ trong lĩnh vực giao thông - vận tải ở Quảng Ngãi trong thời gian ti là tiếp tục nghiên cứu vấn ñề gắn kết phát huy hiệu quả tối ña các tuyến ñường của Khu Kinh tế Dung Quất với hệ thống cầu ñường
Trang 3hiện nay trong tỉnh như thế nào; ứng dụng các công nghệ hiện ựại trong thi công;
sử dụng hợp lý và hiệu quả nguyên vật liệu sẵn có của tỉnh và nhiều vấn ựề khác
dự án cấp, thoát nước, vệ sinh môi trường cho thành phố Quảng Ngãi; nghiên cứu khảo sát vật liệu của Quảng Ngãi làm ceramic, sử dụng bazan phun trào của núi lửa ở núi Voi (Sơn Tịnh) làm phụ gia ximăng Trên cơ sở bản ựồ tài nguyên khoáng sản vật liệu xây dựng, ngành xây dựng ựã lập quy hoạch vật liệu xây dựng toàn tỉnh, từ ựó xây dựng các Nhà máy gạch tuynen Phong Niên, Dung Quất, ximăng Vạn Tường và các mỏ ựá xây dựng Tịnh Sơn, đồng Chua, đá Bàn, Bình Mỹ phục vụ cho việc xây dựng Khu Kinh tế Dung Quất
điện lực
điện lực Quảng Ngãi ựã thực hiện tin học hóa trong công tác quản lý sản xuất kinh doanh, nối mạng phục vụ quản lý, truy cập số liệu, thiết kế - dự toán, lập kế hoạch, ựiều hành sản xuất; hiện ựại hóa lưới ựiện phân phối, ựảm bảo cung cấp ựiện an toàn và liên tục Tất cả các xuất tuyến 15kV, 22kV và các máy cắt phân ựoạn ựường dây ựều sử dụng máy cắt tự ựộng, công nghệ kỹ thuật số nhằm nâng cao ựộ tin cậy vận hành và chất lượng cung cấp ựiện Các trạm biến áp trung gian 35kV ựã ựược trang bị các rơle bảo vệ công nghệ số tắch hợp, ựảm bảo cấp ựiện an toàn và liên tục
Bưu ựiện
Bưu ựiện Quảng Ngãi ựã tiến hành các ựề tài nghiên cứu khoa học, phát huy sáng kiến cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, ứng dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao hiệu quả công tác quản lý sản xuất, kinh doanh Hầu hết các lĩnh vực hoạt ựộng của Bưu ựiện ựã ựược tin học hóa, nhiều dịch vụ ựã ựược khai thác trên mạng máy tắnh, nâng cao chất lượng dịch vụ, ựảm bảo "nhanh chóng, chắnh xác, an toàn, tiện lợi, văn minh" Qua thực hiện các ựề tài khoa học và phong trào sáng kiến cải tiến kỹ thuật, khả năng nghiên cứu khoa học và ứng dụng tiến bộ kỹ thuật của ựội ngũ cán bộ Bưu ựiện Quảng Ngãi ựược nâng lên rõ rệt, ựủ sức làm chủ các thiết bị viễn thông hiện ựại nhất ựang hoạt ựộng trên mạng Bưu ựiện tỉnh
4.5 KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ PHỤC VỤ PHÁT TRIỂN Y TẾ
Y tế Quảng Ngãi là ngành có ựông lực lượng cán bộ khoa học kỹ thuật và là một trong những ngành sớm tiếp cận thành tựu khoa học mới, ựưa tiến bộ kỹ thuật vào
Trang 4nghệ mới ựã ựược áp dụng vào khám chữa bệnh, trong ựó có những thiết bị tương ựối tiên tiến, góp phần nâng cao chất lượng và ựáp ứng phần lớn nhu cầu khám chữa bệnh cho nhân dân trong tỉnh
Ngành y tế ựã nghiên cứu các ựề tài khoa học, như: tác dụng của suối nước khoáng trong giải khát và chữa bệnh; phân bố muỗi Anopheles trên ựịa bàn tỉnh Quảng Ngãi và kế hoạch phòng chống; ựiều tra cơ bản mô hình bệnh tật Quảng Ngãi, chăm sóc sức khoẻ ban ựầu cho trẻ em và phụ nữ trong tỉnh Các chương trình, dự án nghiên cứu của ngành y tế ựã tạo cơ sở khoa học cho việc nâng cao chất lượng quản lý, dự phòng và khám chữa bệnh, phục vụ tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân
Giai ựoạn 2001 - 2005, Hội đông y Quảng Ngãi ựã tiến hành ựiều tra, khảo sát
và lập danh mục các loại dược liệu quý hiếm cần ựược bảo vệ và phát triển; lập danh mục cây, con dược liệu thông dụng có khả năng khai thác sử dụng (xác ựịnh
có từ 8 - 10 loại cây có khả năng khai thác làm dược liệu với trữ lượng hàng trăm tấn); xây dựng mô hình vườn cây thuốc Nam phục vụ phát triển y học cổ truyền ở ựịa phương Sở Y tế tổ chức ựiều tra ựánh giá tình hình sức khoẻ nhân dân ở 5 huyện miền núi tỉnh Quảng Ngãi, xây dựng mô hình bệnh tật cho từng khu vực sinh thái và ựề xuất các giải pháp bảo vệ và chăm sóc sức khoẻ hữu hiệu cho nhân dân miền núi Ngành Y tế ựã triển khai ứng dụng thành công nhiều tiến bộ khoa học - công nghệ trong công tác khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe nhân dân, như
mổ nội soi, chụp cắt lớp ựiện toán, siêu âm màu
Tuy nhiên, những thành tựu cũng như kết quả ứng dụng khoa học và công nghệ trong y tế cũng chỉ mới tập trung ở tuyến tỉnh, Bệnh viện đa khoa tỉnh là chủ yếu, còn việc tiếp thu công nghệ ựổi mới thiết bị y tế ở tuyến huyện hầu như chưa có gì, trang thiết bị thiếu thốn, lạc hậu, trình ựộ chuyên môn yếu, cho nên nhiều bệnh nhân phải ựưa về tuyến tỉnh làm cho Bệnh viện tỉnh luôn căng thẳng, quá tải, do ựó chất lượng phục vụ chưa cao
4.6 TRÊN LĨNH VỰC KHOA HỌC XÃ HỘI
Giai ựoạn 1990 - 2000, Quảng Ngãi ựã có các công trình nghiên cứu về lịch sử, văn hoá và con người Quảng Ngãi; nghiên cứu các di sản văn hoá gắn liền với truyền thống, lễ hội và danh lam thắng cảnh, góp phần tuyên truyền giáo dục nâng cao các giá trị ựạo ựức truyền thống; nâng cao khả năng nhận thức và hưởng thụ văn hoá trong nhân dân, góp phần xây dựng nhân cách, lối sống lành mạnh; góp phần bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hoá dân tộc
Nhiều ựề tài nghiên cứu ựã ựược công bố trên các báo, tạp chắ trong tỉnh và Trung ương Các công trình nghiên cứu về lễ hội truyền thống và xây dựng mô hình lễ hội phục vụ du lịch, ựời sống văn hoá các dân tộc thiểu số ở Quảng Ngãi, văn hoá làng miền núi ựã góp phần thiết thực vào việc bảo tồn và phát triển các giá trị văn hóa vật thể và phi vật thể của cư dân Quảng Ngãi qua các thời kỳ lịch
sử
Trang 5Trong lĩnh vực khoa học lịch sử, Quảng Ngãi có những công trình lịch sử đảng
ở các cấp, các ngành, nhiều công trình có sự tham gia của các nhà khoa học ở Trung ương, ựặc biệt là các công trình: Lịch sử đảng bộ tỉnh giai ựoạn 1929 -
1945, giai ựoạn 1945 - 1975 Nhiều ựề tài khoa học xã hội lịch sử ựã ựược Trung ương phối hợp với tỉnh tổ chức tại Quảng Ngãi và ựã in thành sách như các cuộc Hội thảo về Lê Trung đình, cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ, Khởi nghĩa Trà BồngẦ
Ngành giáo dục cũng có các công trình nghiên cứu xây dựng và thực nghiệm chương trình Cao ựẳng sư phạm Tiểu học (1993 - 1995) ựã ựược áp dụng tại Trường Cao ựẳng Sư phạm Quảng Ngãi; nghiên cứu ựưa chương trình giáo dục dân số lồng ghép vào các môn học cụ thể dùng cho trường phổ thông; nghiên cứu biên soạn giáo trình giảng dạy lịch sử, ựịa lý ựịa phương tỉnh Quảng Ngãi cho học sinh phổ thông cơ sở, ựổi mới phương pháp dạy học
Giai ựoạn 1996 - 2005, nhiều ựề tài khoa học xã hội ựã ựề xuất các giải pháp khả thi và ựã ựược ựưa vào thực hiện nhằm giải quyết những vấn ựề mà thực tiễn phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh ựặt ra như: các giải pháp khoa học, ựồng bộ giải quyết vấn ựề tái ựịnh cư bền vững phục vụ di dân dự án hồ chứa nước Nước Trong
và các khu vực sạt lở ven sông; lập suất ựầu tư cho nhà ở, vật kiến trúc phục vụ công tác ựền bù giải tỏa của tỉnh; vấn ựề lao ựộng, việc làm ở nông thôn; phương
án tạo nguồn cán bộ người dân tộc thiểu số cho các cơ quan của đảng, Nhà nước
và các ựoàn thể; giải pháp nâng cao chất lượng học tập môn tiếng Việt cho học sinh các dân tộc ắt người; ựổi mới và hoàn thiện công tác quản lý kinh tế ngân sách
xã phường; giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản lý về an ninh ựối với người nước ngoài trên ựịa bàn tỉnh; giải pháp kết hợp phát triển kinh tế với quốc phòng; nghiên cứu ựề xuất giải pháp tăng cường ựại ựoàn kết dân tộc tại các huyện miền núi của tỉnh; nghiên cứu các giải pháp xây dựng nguồn nhân lực phục vụ hình thành Trường đại học Phạm Văn đồng tại tỉnh Quảng Ngãi
Nhiều công trình nghiên cứu lĩnh vực văn hoá ựã ựược hoàn thành và phát huy tác dụng như: Quảng Ngãi - ựất nước, con người, văn hóa; Hoa văn họa tiết dân tộc Cor; Văn hóa dân gian của người Việt ở Quảng Ngãi; Văn hoá vật thể và phi vật thể trên ựảo Lý Sơn; Văn hóa truyền thống, âm nhạc dân gian của các dân tộc Hrê, Cor, Ca DongẦ góp phần bảo tồn, phát huy bản sắc văn hoá dân tộc và cung cấp luận cứ khoa học cho các nhà quản lý, các nhà chuyên môn trong việc xây dựng kế hoạch bảo tồn và phát huy giá trị các loại hình văn hoá truyền thống tiêu biểu, phục
vụ cho công tác quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội tại các huyện miền núi của tỉnh và phục vụ phát triển du lịch
Khoa học và công nghệ Quảng Ngãi trong những năm 1989 - 2005 tuy còn khó khăn về cán bộ ựầu ngành, về cơ sở vật chất kỹ thuật nhưng ựã có sự phát triển khá, góp phần quan trọng vào việc thực hiện có hiệu quả các mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội của tỉnh đây là cơ sở ựể hoạt ựộng khoa học và công nghệ Quảng Ngãi tiếp tục phấn ựấu phát triển, phát huy vai trò của mình trong tương lai
Trang 61 VÀI NÉT VỀ MÔI TRƯỜNG TRƯỚC 1975
Vùng ñất Quảng Ngãi hình thành trên nền ñịa khối cổ Kon Tum và ñược mở rộng do tác ñộng qua lại giữa sông và biển ðiều kiện ñịa chất ñó quy ñịnh ñặc ñiểm ñịa hình ñồi núi với dải ñồng bằng nhỏ ven biển, lớp vỏ thổ nhưỡng chủ yếu
là ñất feralit ñỏ vàng có ñộ phì kém, tài nguyên không ñáng kể Trong lịch sử khai phá lãnh thổ với những dòng nhập cư từ phía Bắc vào và ñộ gia tăng dân số tự nhiên lớn dẫn ñến tình trạng "ñất hẹp người ñông", phần lớn các nguồn tài nguyên,
ðầu thế kỷ XX, chính quyền thời bấy giờ phần nào ñã có ý thức quản lý, bảo vệ các khu rừng có lâm sản quý, giữ gìn và phục hồi những ñai rừng phòng hộ ven biển, thu thuế khai thác lâm sản
Giai ñoạn từ năm 1954 ñến 1975, rừng ở Quảng Ngãi bị chiến tranh tàn phá nặng nề, một phần do bom ñạn, một phần do hoá chất ñộc khai quang của Mỹ Giai ñoạn này, quân ñội Mỹ và chính quyền Sài Gòn dùng máy bay rải bom xăng, thuốc khai quang tàn phá nhiều cánh rừng ñể dễ bề kiểm soát các hoạt ñộng của cách mạng, do ñó ñộ che phủ rừng bị suy giảm nghiêm trọng
Về hệ thống cấp thoát nước, mạng lưới thoát nước ñã ñược xây dựng ở thị xã Quảng Ngãi từ trước năm 1975, ñã bị hư hỏng nhiều Hệ thống cấp nước ñược xây dựng từ thời Pháp Năm 1961, công trình thu nước ngầm có 03 giếng ñào mạch nông Mạng lưới cấp nước với tổng chiều dài ñường ống là 25km; có một tháp
Nói chung thời kỳ trước năm 1975, do khoa học kỹ thuật, công nghiệp chưa phát triển, việc khai thác tài nguyên còn hạn chế, sản xuất nông nghiệp sử dụng thuốc bảo vệ thực vật không nhiều, nên mức ñộ ô nhiễm môi trường còn thấp
2 MÔI TRƯỜNG TỪ NĂM 1975 ðẾN NĂM 2005
Sau giải phóng 1975, các vùng ñất cát ven biển Quảng Ngãi ñược nhân dân trồng rừng chủ yếu bằng cây phi lao nhằm chắn gió, cát ven biển, cải thiện môi trường sinh thái Nhà nước bắt ñầu có những dự án ñầu tư trồng rừng, phủ xanh ñất trống ñồi trọc, môi trường khu vực ñầu nguồn các con sông dần ñược cải thiện từng bước
Với truyền thống cần cù trong lao ñộng, yêu nước và tiếp thu nhanh những tiến
bộ kỹ thuật, từ năm 1989 ñến năm 2005, nhất là giai ñoạn 1995 - 2005, Quảng Ngãi ñã trở thành một trong những tỉnh ven biển miền Trung tự túc ñược lương thực, sản lượng mía có lúc ñứng hàng ñầu cả nước, sản xuất công nghiệp có mức tăng trưởng khá cao Hiện trạng môi trường Quảng Ngãi vì thế cũng có sự biến ñổi liên tục, nhanh chóng
Trang 7Cùng với quá trình hình thành và phát triển của Khu Kinh tế Dung Quất, các khu công nghiệp của tỉnh như Tịnh Phong, Quảng Phú ựược thành lập, các hoạt ựộng kinh tế nông nghiệp, thủy lợi, thủy sản, thương mại dịch vụ ở Quảng Ngãi phát triển mạnh kéo theo sự suy thoái và ô nhiễm môi trường, diễn biến môi trường trở nên phức tạp, ngày một khó kiểm soát
Sau ựây là hiện trạng môi trường tỉnh Quảng Ngãi tại mỗi tiểu vùng sinh thái ựặc trưng (7)
2.1 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI TIỂU VÙNG đÔ THỊ HÓA
Hệ thống thoát nước mưa và nước thải sinh hoạt của thành phố Quảng Ngãi có chiều dài 21km ựược xây dựng từ năm 1975, năm 1998 ựã sửa chữa, nạo vét ựược 2,72km Hệ thống này gồm 67 hố ga thoát nước; 1.475 cống hộp; 13.780 cống ngầm; 5.000m cống lộ thiên hoạt ựộng kém hiệu quả do không ựồng bộ, chắp vá nên bị tắc nghẽn gây ngập úng, ảnh hưởng ựến ựiều kiện vệ sinh môi trường ựô thị Một số khu vực trong thành phố không có cống thoát
đối với các thị trấn thuộc các huyện, hệ thống thoát nước mưa và nước thải sinh hoạt nhìn chung chưa ựược quy hoạch và ựầu tư xây dựng Một số thị trấn dọc theo Quốc lộ 1A có hệ thống thoát nước nhưng ựã quá cũ, nước mưa và nước thải sinh hoạt thoát rất chậm hoặc bị ứ ựọng
Năm 2005, dự án xây dựng hệ thống xử lý nước thải sinh hoạt tập trung (dự án cải thiện môi trường ựô thị miền Trung) cho khu vực thành phố Quảng Ngãi ựã ựược triển khai thực hiện Vấn ựề thoát nước và ô nhiễm môi trường kênh Hào Thành, sông đào ựược cải thiện Hoạt ựộng thu gom, xử lý rác cũng ựược tập trung
xử lý tại khu vực thị trấn, thị tứ ở các huyện ựồng bằng và thành phố Quảng Ngãi đến năm 2005, ở các thị trấn, thị tứ các huyện ựồng bằng và thành phố Quảng Ngãi ựã có bãi tập trung xử lý rác thải sinh hoạt và công nghiệp
Theo khảo sát và ựánh giá của Trung tâm Công nghệ Môi trường ENTEC về hiện trạng chất lượng môi trường khắ, kết quả ựo ựạc nồng ựộ các chất ô nhiễm không khắ tại khu vực thị xã Quảng Ngãi và các thị trấn trong giai ựoạn 1995 -
2001, thì hàm lượng bụi ở khu vực ựô thị khá cao vào các giờ cao ựiểm, tuyệt ựại
ựa số các ựiểm khảo sát có nồng ựộ bụi cao hơn tiêu chuẩn Nồng ựộ bụi tại các trục ựường giao thông dao ựộng trong khoảng 0,45 - 1,15mg/m3, cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 ựến 4 lần, hàm lượng bụi trong không khắ ở khu vực ựô thị
có chiều hướng gia tăng Nguyên nhân gây ô nhiễm bụi là do chất lượng ựường sá
và xe cộ còn thấp, xuống cấp nhiều, công tác vệ sinh ựường phố chưa ựược thực hiện một cách ựồng bộ Nồng ựộ các chất khắ khác như SO2, NOx, CO, THC hiện còn thấp hơn tiêu chuẩn
Về tình hình ô nhiễm tiếng ồn, ựộ ồn ở khu vực dân cư lao ựộng tập trung có ựộ
lớn từ 45 - 70 dBA, khu vực thành phố Quảng Ngãi dao ựộng từ 53 - 77 dBA đối
Trang 8Tại khu vực trung tâm của các thị trấn thuộc các huyện miền núi, nhìn chung chất lượng không khắ ựều ựạt tiêu chuẩn môi trường, chưa có dấu hiệu ô nhiễm do sản xuất và sinh hoạt gây nên Một số vị trắ hàm lượng bụi trong không khắ có cao
hơn tiêu chuẩn nhưng không ựáng kể, chủ yếu do hoạt ựộng giao thông
Về cấp nước sinh hoạt, Nhà máy nước tại thành phố Quảng Ngãi hiện có công
các phường nội thành Quảng Ngãi ựều ựược dùng nước sạch Ngoài ra, Công ty Cấp thoát nước Quảng Ngãi ựã triển khai các dự án cấp nước ở Tư Nghĩa, Mộ
đức, đức Phổ, Bình Sơn, Sơn Tịnh
Diện tắch cây xanh trong nội thành, nội thị của thành phố và thị trấn ựược trồng
bổ sung qua các năm, như các loại cây phượng vĩ, bằng lăng, sấuẦ Thời gian gần ựây, vấn ựề trồng cây xanh ựã ựược các cấp, các ngành có quan tâm nhiều hơn
2.2 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI TIỂU VÙNG CÔNG NGHIỆP HOÁ
Tại các khu công nghiệp, môi trường không khắ có nhiều biến ựổi về chất lượng Tùy theo ựặc tắnh sản xuất và hiện trạng ựầu tư phát triển từng khu công nghiệp mà mức ựộ biến ựổi chất lượng không khắ khác nhau đối với Khu Công nghiệp
nhà máy chế biến thủy hải sản, công nghiệp mắa ựường Các khu công nghiệp còn lại phần lớn hàm lượng bụi trong không khắ cao do sản xuất vật liệu xây dựng, xây dựng công trình hạ tầng kỹ thuật Nhưng nhìn chung thì ô nhiễm không khắ từ các khu công nghiệp ựến môi trường xung quanh là chưa ựến mức nghiêm trọng
Ô nhiễm do nước thải công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp ở Quảng Ngãi chủ yếu
do các nhà máy gây nên, như: Nhà máy đường Quảng Ngãi, Nhà máy Chế biến Tinh bột sắn Tịnh Phong, các nhà máy chế biến thủy sảnẦ Hầu như tất cả các nhà máy tại Quảng Ngãi ựều thiếu hệ thống xử lý nước thải hoặc có xử lý sơ bộ nhưng không ựảm bảo tiêu chuẩn cho thải vào môi trường
Quảng Ngãi là một tỉnh chưa có nền công nghiệp phát triển mạnh, song vấn ựề ô nhiễm cục bộ do nước thải sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp gây ra là hết sức nghiêm trọng Nguyên nhân chắnh là do các cơ sở sản xuất chưa quan tâm ựúng mức tới việc xử lý nước thải và các vấn ựề môi trường khác
đến năm 2005, phần lớn chất thải rắn tại các khu công nghiệp ở Quảng Ngãi vẫn chưa ựược thu gom xử lý ựúng quy ựịnh Lượng chất thải rắn này chỉ ựược tập trung cùng với các loại chất thải rắn ựô thị và ựem ựốt hoặc chôn lấp tùy theo ựặc tắnh từng loại Hiện nay, việc thu gom và xử lý rác thải tại Khu Công nghiệp Quảng Phú và một số nhà máy, xắ nghiệp trong thành phố ựều do Công ty Môi trường đô thị thu gom xử lý chung cùng rác sinh hoạt tại Bãi rác Nghĩa Kỳ Các khu công nghiệp và các cơ sở sản xuất tự xử lý bằng cách chôn lấp hoặc ựốt Do
Trang 9ñó, rác thải công nghiệp ñang là vấn ñề nan giải của tỉnh Quảng Ngãi, cần phải có biện pháp quản lý phù hợp
2.3 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI TIỂU VÙNG NÔNG THÔN
Về hiện trạng chất lượng nước phục vụ sinh hoạt vùng nông thôn Quảng Ngãi, theo kết quả phân tích nước giếng ñóng và giếng ñào tại một số hộ dân do Trung tâm Công nghệ Môi trường thực hiện năm 2002, ở khu vực ven bãi biển, nước có hàm lượng clorua cao (260mg/l), ñộ pH thấp (5,65) Nguyên nhân do các giếng ở tiểu vùng này ñào rất cạn và phân bố trên nền bồi tụ Hơn nữa, vào mùa hạ thượng nguồn trữ lượng nước ít, nhu cầu sử dụng lại tăng do ñó xảy ra hiện tượng xâm nhập mặn vùng hạ lưu Nhìn chung, các mẫu nước ngầm chưa có dấu hiệu bị ô nhiễm do hoạt ñộng sản xuất công nghiệp Mặc dù có một vài chỉ tiêu chưa ñạt tiêu chuẩn, nhưng nguồn nước ngầm có khả năng dùng vào mục ñích cấp nước sinh hoạt, sau khi áp dng một số biện pháp xử lý có thể ñưa vào sử dụng
Hiện trạng vệ sinh môi trường nông thôn ở tỉnh Quảng Ngãi còn nhiều hạn chế Tình hình cung cấp nước sinh hoạt còn nhiều khó khăn do chất lượng nước suy giảm và khối lượng nước cấp trên ñầu người còn thấp Tình trạng thiếu nước sạch tại các vùng nông thôn Quảng Ngãi hiện nay vẫn còn phổ biến Tính ñến tháng 7.1998, tỉ lệ người dân ñược sử dụng nước sạch khoảng 58,40%, trong ñó vùng nông thôn là 54,20% Theo bộ chỉ thị môi trường tỉnh Quảng Ngãi năm 2000, tỷ lệ dân cư ñược sử dụng nước sạch toàn tỉnh là 58,62%, trong ñó vùng nông thôn là 54,31% Tập quán của nhân dân các tiểu vùng nông thôn là thải trực tiếp toàn bộ chất thải chăn nuôi ra môi trường, gây ảnh hưởng ñến chất lượng nước mặt, nước ngầm tầng nông và môi trường không khí Ngoài ra, ô nhiễm bụi, tiếng ồn, ñộ rung dọc theo các trục lộ giao thông gia tăng không ngừng theo sự gia tăng dân số, số lượng xe máy và hoạt ñộng thương mại - dịch vụ phát triển ở khắp nơi tại các vùng nông thôn
Sông rạch ở Quảng Ngãi bị ảnh hưởng do sử dụng các loại phân bón và thuốc bảo vệ thực vật trong nông nghiệp Theo số liệu thống kê năm 2000, lượng hoá chất sử dụng trong nông nghiệp là 60.100 tấn, tăng hơn 2,05% so với năm 1999 Trong ñó, lượng phân bón vô cơ là 59.900 tấn và lượng hoá chất bảo vệ thực vật là
200 tấn Như vậy, bình quân mỗi hécta ñất canh tác ñã sử dụng 915kg phân bón vô
cơ và 2,1kg hoá chất bảo vệ thực vật
Tác ñộng do sử dụng thuốc bảo vệ thực vật tại tiểu vùng nông thôn tỉnh Quảng Ngãi ñang là vấn ñề rất bức xúc của cơ quan quản lý môi trường và người dân nông thôn Sự khai thác ñất quá mức, ñộc canh lâu năm ñã gây nên hiện tượng ñất bạc màu, giảm ñộ phì Việc sử dụng quá nhiều phân vô cơ, ñồng thời giảm tỷ lệ bón phân hữu cơ cũng chính là nguyên nhân làm cho ñất bạc màu Diện tích ñất bạc màu của tỉnh lên ñến 40.000ha, chiếm trên 40% diện tích ñất nông nghiệp
2.4 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI TIỂU VÙNG VEN BIỂN
Trang 10Kết quả khảo sát nước biển và vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi năm 2000 cho thấy: ñộ pH trong nước biển ven bờ tại các ñiểm khảo sát ở Dung Quất, Cổ Lũy, Sa Huỳnh dao ñộng từ 7,5 - 8,1 Các giá trị ño ñược ñều ñạt tiêu chuẩn cho phép Hàm lượng chất rắn lơ lửng (SS) trung bình tại Dung Quất trong mùa khô là 18,9mg/l, mùa mưa là 30,6mg/l, giao mùa là 51,7mg/l Các giá trị này ñạt tiêu chuẩn chất lượng nước biển ven bờ nhưng không ñạt tiêu chuẩn nước cho hoạt ñộng bãi tắm Giá trị SS có xu hướng tăng nhanh so với những năm khảo sát trước ñây Hàm lượng chất rắn lơ lửng trong nước biển ven bờ khu vực Mỹ Khê, Cổ Lũy vào giao mùa và mùa mưa ñạt tiêu chuẩn cho phép ñối với chất lượng nước khu vực bãi tắm Do vậy, khu vực này hoàn toàn có thể sử dụng vào mục ñích tắm biển, du lịch Riêng khu vực Sa Huỳnh hàm lượng chất rắn lơ lửng trong 2/3 số mẫu nước biển khảo sát ñều thấp dưới mức cho phép của tiêu chuẩn nước biển ven bờ nhưng không ñạt tiêu chuẩn cho nuôi trồng thủy sản và khu vực bãi tắm Hàm lượng chất hữu cơ (BOD) ño ñược trong nước biển ven bờ khu vực Dung Quất và Cổ Lũy ñều nhỏ hơn tiêu chuẩn cho phép
Mặc dù trong thời gian gần ñây, sản lượng khai thác hải sản ở Quảng Ngãi có gia tăng, nhưng tình trạng suy thoái của hệ sinh thái biển ñã có nhiều biểu hiện rõ rệt Cụ thể là nguồn lợi thủy sản bị kiệt quệ và nhiều loại hải sản có giá trị kinh tế cao ñã bị giảm ñáng kể, thể hiện qua sản lượng ñánh bắt Nguyên nhân của tình trạng này là do nạn phá rừng ngập mặn làm ñầm nuôi thủy sản có chiều hướng gia tăng Việc khai thác hải sản không hợp lý và ở gần bờ dùng chất nổ ñánh bắt ñã làm suy giảm trữ lượng cá của tỉnh
Về sạt lở và bồi tụ các cửa sông, ven biển sau ñợt lũ lụt năm 1999, toàn tỉnh có
25 ñiểm sạt lở bờ sông, 2 ñiểm lở bờ biển, 4 ñiểm lở cửa biển làm ảnh hưởng ñến hàng trăm hộ dân sống gần khu vực ðồng thời, lũ lụt làm bồi tụ hàng trăm hécta ñất canh tác gây khó khăn cho sản xuất nông, diêm nghiệp của nhân dân ñịa phương
Về sự cố môi trường, tính ñến năm 2005 tại khu vực các cảng biển của Quảng Ngãi chưa xảy ra sự cố tràn dầu với quy mô lớn, nhưng trong tương lai khi cảng Dung Quất ñi vào hoạt ñộng thì khả năng xảy ra các sự cố môi trường do tràn dầu
là rất lớn, cần ñặc biệt quan tâm Do ñiều kiện tự nhiên, nên hàng năm Quảng Ngãi phải chịu nhiều thiên tai như bão, lụt Năm 1999, cơn bão số 5 ñã gây nên trận lũ lụt lớn, làm thiệt hại trên 392.000 triệu ñồng, ảnh hưởng nghiêm trọng ñến tính mạng và tài sản của nhân dân
2.5 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI TIỂU VÙNG RỪNG NÚI VÀ ðỒI TRỌC
Rừng tại Quảng Ngãi rất ña dạng về chủng loại và phong phú về loại cây gỗ, các loại gỗ quý nhưng trữ lượng rừng ñang bị giảm dần do hoạt ñộng khai thác diễn ra một cách quá mức Do thực vật bậc cao bị cưa, chặt phá nên thực vật bậc thấp cần bóng râm bị chết theo, mặt ñất trở nên khô cằn do thiếu nguồn bổ sung chất dinh
Trang 11dưỡng, quá trình bốc thoát hơi nước nhanh hơn, do ñó cây cối không có khả năng sinh trưởng và phát triển
Hiện trạng nứt, trượt, xói lở ñất là một trong những thiên tai nguy hiểm nhất ở miền núi Quảng Ngãi Qua ñợt lũ lụt vào tháng 11, 12 năm 1999, trượt lở ở miền núi Quảng Ngãi càng trở nên trầm trọng và thực sự ñe dọa ñến tính mạng và tài sản của nhân dân trong vùng, gây nhiều khó khăn cho việc phát triển kinh tế - xã hội ở miền núi, nơi có nhiều ñồng bào dân tộc thiểu số sinh sống
Về hiện trạng chất lượng nước mặt, do tình hình phát triển công nghiệp và nông nghiệp tại tiểu vùng rừng núi và ñồi trọc không cao, nên chất lượng nước mặt tại tiểu vùng này còn khá tốt ñối với các chỉ tiêu hoá lý Tuy nhiên, hàm lượng vi sinh trong nước mặt chưa ñạt tiêu chuẩn ðây chính là yếu tố gây nên các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm ở các tiểu vùng rừng núi Nguyên nhân chính là do nhận thức của người dân chưa cao, vệ sinh môi trường không tốt, ñiều kiện chăm sóc sức khoẻ, y
tế còn yếu kém Ngoài ra, nguồn nước mặt còn bị ô nhiễm do phân người, gia súc, xác chết của ñộng vật, do con người thải bừa bãi xuống các con sông, suối
Chất lượng nước ngầm tại khu vực miền núi nói chung ñạt tiêu chuẩn về các chỉ tiêu lý hoá, ngoại trừ hàm lượng sắt trong nước còn cao Nguyên nhân chính gây ô nhiễm sắt là do cấu trúc ñịa chất tầng laterit chứa nước Các chỉ tiêu vi sinh trong nước ngầm tại khu vực miền núi chưa ñạt tiêu chuẩn của Bộ Y tế quy ñịnh
Nhìn chung, tại khu vực các tiểu vùng miền núi ñồi trọc, thành phần dân cư chính là ñồng bào dân tộc thiểu số Do một số phong tục tập quán của ñịa phương còn lạc hậu nên môi trường sống của người dân tại ñây ñã bị ô nhiễm do hoạt ñộng chăn nuôi gia súc, gia cầm gần nơi sinh hoạt Lượng chất thải từ hoạt ñộng này không ñược quản lý ñã tạo ñiều kiện cho các mầm mống bệnh tật phát sinh và lan truyền
2.6 HIỆN TRẠNG MÔI TRƯỜNG TẠI TIỂU VÙNG DU LỊCH
Do hoạt ñộng du lịch ở Quảng Ngãi chưa phát triển mạnh, nên chất lượng môi trường tại các khu vực này nhìn chung chưa có biểu hiện bị ô nhiễm nặng Chất lượng không khí tại tiểu vùng này nhìn chung ñạt tiêu chuẩn môi trường, ñảm bảo cho các hoạt ñộng du lịch Vấn ñề trọng tâm tại các khu du lịch là quản lý rác thải Hiện nay, rác thải tại các khu du lịch trong ñó có các loại bao bì (nilông, giấy, lon bia, nước ngọt…) chưa ñược thu gom, quản lý và xử lý, gây ô nhiễm môi trường
và làm mất cảnh quan khu du lịch Nếu tính trung bình khối lượng rác thải ra từ một lượt khách du lịch là 0,25kg/lượt khách, thì trong năm 2000 tổng khối lượng rác thải của hoạt ñộng du lịch tại các tiểu vùng du lịch khoảng 29,5 tấn/năm Kết quả phân tích mẫu cho thấy nồng ñộ một số chất ô nhiễm trong nước biển tại các bãi tắm chưa ñạt Tiêu chuẩn Việt Nam (TCVN 5943 - 1995) về chất lượng nước bãi tắm Kết quả phân tích cũng cho thấy chất lượng nước tại một số giếng ñóng xung quanh bãi tắm bị nhiễm mặn Nếu muốn có chất lượng nước ngọt tốt thì phải
Trang 12Ngãi ựang bị thu hẹp diện tắch ựể phục vụ cho các hoạt ựộng khác (công nghiệp, nông nghiệp), ựặc biệt là các khu di tắch lịch sử bị lấn chiếm, và ựang trong tình trạng báo ựộng
Quảng Ngãi ựang trên ựường ựẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện ựại hoá, nên việc quản lý môi trường còn nhiều vấn ựề ựặt ra, cần tiếp tục nghiên cứu và lập những
dự án kinh tế - xã hội ựể triển khai theo hướng sử dụng tổng hợp các dạng tài nguyên môi trường cho thế hệ hôm nay, ựồng thời tái tạo lại tài nguyên cho thế hệ mai sau, bảo vệ ựược môi trường sống lành mạnh, bền vững
(1) Theo Phạm Trung Việt: Non nước Xứ Quảng, Nxb Khai Trắ, Sài Gòn, 1971
(2) Theo Báo cáo khoa học ựề tài điều tra cơ bản các ựiều kiện tự nhiên và tài nguyên môi trường, Trương đình Hiển chủ nhiệm, 1996, và các tài liệu bằng tiếng Pháp còn lưu trữ tại Thư viện tỉnh Quảng Ngãi
(3) Theo Thông tin sáng tạo, số 1, năm 1987, do Ủy ban Khoa học và Kỹ thuật Nghĩa Bình xuất bản
(4) Theo Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi: đề án ựào tạo nguồn nhân lực thuộc lĩnh vực hành chắnh, sự nghiệp của tỉnh Quảng Ngãi giai ựoạn 2005 - 2010, 2005
(5) Kỹ sư đào Minh Hường: Ứng dụng khoa học công nghệ vào sản xuất nông nghiệp - thành tựu và ựịnh hướng phát triển Tập san Thông tin Khoa học và Công nghệ Quảng Ngãi, số 1.2005
(6) Theo báo cáo ựề tài khoa học: đánh giá tổng hợp ựiều kiện tự nhiên tài nguyên thiên nhiên và kinh tế - xã hội tỉnh Quảng Ngãi, Giáo sư Tiến sĩ đặng Trung Thuận chủ nhiệm, 07.1990
(7) Theo Quy hoạch môi trường phục vụ phát triển kinh tế - xã hội bền vững tỉnh Quảng Ngãi, Trung tâm công nghệ môi trường ENTEC, Thành phố Hồ Chắ minh, 06.2002
Trang 13VĂN HĨA – THƠNG TIN THỂ DỤC - THỂ THAO
Ở các chương trước đã giới thiệu các di sản văn hĩa phi vật thể và văn hĩa vật thể ở Quảng Ngãi Chương này giới thiệu chủ yếu về văn hĩa - thơng tin, thể dục - thể thao với tư cách là những hoạt động cĩ tổ chức từ 1945 đến nay trên đất Quảng Ngãi
I VĂN HĨA - THƠNG TIN
1 VĂN HĨA - THƠNG TIN THỜI KỲ 1945 - 1975
1.1 THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG PHÁP (1945 - 1954)
Bộ máy quản lý và hoạt động
Ngay sau khi Cách mạng tháng Tám thành cơng, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hịa ra đời, ở Quảng Ngãi đã hình thành bộ máy quản lý và hoạt động của ngành văn hố - thơng tin theo mơ hình, thể thức chung của cả nước, phù hợp với đặc thù của địa phương
Thơng tin - Tuyên truyền Ty cĩ các đơn vị nghiệp vụ: phịng chuyên mơn, cơ quan
ấn lốt (1945), nhà in (1946), nhà in Kháng chiến (1947), tờ Thơng tin hằng tuần (1945 - 1946), báo Tiền phong hằng tháng (từ năm 1947)
Cuối năm 1945, Liên đồn Văn hĩa Cứu quốc ra đời; năm 1948 đổi tên là ðồn Văn hĩa Kháng chiến; năm 1952 thành lập Phân hội Văn nghệ tỉnh Tổ chức Văn hĩa - Văn nghệ Quảng Ngãi gồm các đơn vị nghiệp vụ trực thuộc: Phịng sáng tác,
Tuần báo Tiến hĩa (1946), Tạp chí ðời sống mới và Tạp chí Thi đua Ái quốc (từ
năm 1948) mỗi năm ra 4 số, ðội tuồng (hát bội), ðội kịch nĩi, ðội Tuyên truyền Văn nghệ quốc dân thiểu số
Thơng tin - Tuyên truyền Trong phịng cĩ ðội Tuyên truyền Văn nghệ Từ năm
1946, các huyện đồng bằng cĩ trạm truyền thanh, bản tin hằng tháng (in litơ)
ở đồng bằng cĩ bản ghi tin tức, chịi phát thanh, đội văn nghệ
Trang 14chiến lược "kháng chiến, kiến quốc", Quảng Ngãi nằm trong vùng tự do Liên khu
V, nên công tác quản lý và hoạt ñộng trên lĩnh vực văn hóa - thông tin khá toàn diện và ña dạng, trong ñó chú trọng ñặc biệt ñến công tác thông tin tuyên truyền
Công tác thông tin tuyên truyền cổ ñộng
Ty Thông tin - Tuyên truyền và hệ thống tổ chức của ngành ở các huyện, xã ñã bám sát các nhiệm vụ chính trị của ðảng bộ và Chính quyền ñịa phương ñể phục
vụ một cách có hiệu quả cao nhất Trong hoàn cảnh thiếu thốn mọi bề, ngành ñã tận dụng tối ña mọi phương tiện sẵn có ñể hoàn thành nhiệm vụ của mình, trong ñó
có những công cụ, những phương tiện vào loại cổ sơ nhất, nhưng nếu không có nó
sẽ hết sức khó khăn Panô, áp phích, khẩu hiệu ñược cán bộ ngành và ñồng bào kẻ
vẽ, in, viết, dán trên giấy, trên mọi bề mặt có thể Trong tỉnh có phong trào "Nhà nhà làm khẩu hiệu" Ty ñã biên soạn, xuất bản các bản tin hằng tuần, tờ báo hằng tuần, hằng tháng Nhiều trạm truyền thanh của xã dựng trên những cây cao, có kẻng (bằng tà vẹt ñường sắt); ban ngày nghe máy bay ñịch từ xa, ñánh kẻng báo ñộng cho ñồng bào chuẩn bị ñề phòng, ñối phó ñịch oanh tạc, ban ñêm dùng loa quấn bằng mo cau hoặc bằng tole, phát thanh viên thông báo tin tức cho ñồng bào Chòi ñặt trên cây cao, nên nghe ñược máy bay ñịch từ xa, tiếng kẻng, tiếng loa cũng vang xa Ở vùng biển, nhiều xã dựng trụ bồ trên ñồi cao, có tàu thủy ñịch ñến gần, bồ ñược kéo lên nửa trụ, tàu thủy ñịch dừng lại chuẩn bị bắn phá, bồ ñược kéo lên ñỉnh trụ ðồng bào theo tín hiệu này ñối phó với ñịch có hiệu quả, giảm bớt tổn thất Ngành ñã tổ chức các cuộc triển lãm về thành quả sản xuất tự cấp tự túc, về thành tích tham gia kháng chiến của nhân dân ñịa phương
Phong trào văn hóa, văn nghệ
Thực hiện chủ trương "Văn hóa hóa kháng chiến", "kháng chiến hóa văn hóa", văn nghệ quần chúng phát triển rộng khắp với phong trào toàn dân ca hát, thanh thiếu nhi biểu diễn văn nghệ trong các ñêm lửa trại Nhiều chiến sĩ Vệ quốc ðoàn trên ba lô có ñàn măngñôlin hoặc ghita, dừng chân ở ñâu là biểu diễn văn nghệ phục vụ nhân dân, dạy ñàn, dạy hát cho thanh thiếu nhi ở ñó Các ñội văn nghệ, tuyên truyền văn nghệ của tỉnh, huyện, xã liên tục tổ chức biểu diễn phục vụ nhân dân Các trường học có chương trình dạy nhạc, dạy hát, dạy vẽ, dạy biểu diễn sân khấu cho học sinh
Hoạt ñộng sáng tác phục vụ cho kháng chiến và kiến quốc ñược ñông ñảo văn nghệ sĩ ở Quảng Ngãi hưởng ứng sôi nổi, qua ñó có nhiều tác phẩm văn nghệ có
Bên cạnh ñó, phong trào sáng tác ca dao, hò, vè trong nhân dân cũng khá sôi nổi ðảng, Chính phủ có chủ trương gì, thì phong trào văn nghệ quần chúng có ca dao, hò, vè tuyên truyền cho chủ trương ñó
Trong lòng của vùng tự do Liên khu V, ở Quảng Ngãi có cơ sở sản xuất ñàn, có hiu sách bày bán nhiều loại sách báo của Trung ương, của Liên khu V, sách dịch
Trang 15của Liên Xô, Trung QuốcẦ, có "quán văn nghệ", nơi gặp gỡ trao ựổi tâm tình, kinh nghiệm, nghề nghiệp của giới văn nghệ sĩ kháng chiến của tỉnh và Liên khu
V
Phong trào toàn dân thực hiện ựời sống mới
Trong phong trào "tam tinh, tứ diệt", ựồng bào tắch cực thực hiện: ăn sạch, uống sạch, ở sạch, diệt chuột, diệt ruồi, diệt muỗi, diệt chấy, rận, rệp Trong nhân dân có nhiều sáng kiến rất hay, ựạt hiệu quả cao Trong ựiều kiện thiếu thuốc men, chưa
có cơ sở và cán bộ y tế ở xã thôn, phong trào "tam tinh, tứ diệt" ựã có tác dụng rất quan trọng trong bảo vệ sức khỏe cho nhân dân
Việc cưới, việc tang ựược tổ chức theo ựời sống mới, văn hóa truyền thống của dân tộc ựược chú tâm giữ gìn và phát huy, trong ựời sống ựã hạn chế sự phô trương hình thức, lãng phắ Các tệ nạn cờ bạc, trộm cắp, nấu rượu lậu, mê tắn dị ựoan ựược triệt ựể bài trừ Ban ựêm, nhân dân ựi ngủ không cần ựóng cửa
Về ựào tạo, Ty Thông tin - Tuyên truyền và Liên ựoàn Văn hóa, Phân hội Văn nghệ phối hợp mở nhiều lớp huấn luyện ngắn ngày ựể bồi dưỡng chắnh trị, ựào tạo nghiệp vụ cho hầu hết cán bộ của ngành
Quảng Ngãi là cái nôi của vùng tự do Liên khu V nên trên ựịa bàn tỉnh còn có nhiều ựơn vị văn hóa thông tin của Khu và các ựơn vị khác trú ựóng và hoạt ựộng đội Thiếu binh Tuyên truyền của Ủy ban Kháng chiến miền Nam Việt Nam (năm
1946 cơ quan ựặt tại thị xã Quảng Ngãi) ra ựời, ựội hoạt ựộng tuyên truyền văn nghệ phục vụ các lực lượng vũ trang và nhân dân nhiều tỉnh đài Tiếng nói Nam
Bộ, ựầu tiên ựặt tại ựình Thọ Lộc thuộc xã Tịnh Hà, huyện Sơn Tịnh Xưởng in tắn
phiếu Liên khu V, ựầu tiên ựặt tại xã Tịnh Giang, huyện Sơn Tịnh Tờ báo Kháng chiến và Nhà in Kháng chiến của Ủy ban Kháng chiến Hành chắnh miền Nam
Trung Bộ ựầu tiên ựặt tại Chợ Chùa, thuộc xã Hành Minh, huyện Nghĩa Hành đoàn Văn công Liên khu V, di chuyển nhiều nơi Lớp huấn luyện sáng tác hội họa
và triển lãm mỹ thuật hội họa của Hội Văn nghệ miền Nam Trung Bộ tổ chức tại thị xã Quảng Ngãi
Các hoạt ựộng thông tin, văn hóa, văn nghệ ở Quảng Ngãi thời kỳ 1945 - 1954
ựã thiết thực góp phần chuyển tải ựường lối, chủ trương, chắnh sách của đảng, Chắnh phủ do Hồ Chủ tịch lãnh ựạo, nhất là ựường lối kháng chiến, kiến quốc ựến tận quần chúng ở cơ sở; tuyên truyền phổ biến sâu rộng các chủ trương của Liên khu ủy V, của Uỷ ban Kháng chiến Hành chắnh, Mặt trận Việt Minh và Liên Việt miền Nam Trung Bộ cùng các chủ trương của Tỉnh ủy, Uỷ ban Kháng chiến Hành chắnh, Mặt trận Việt Minh, Liên Việt tỉnh Quảng Ngãi, làm cho nó thâm nhập vào nhân dân, biến thành hành ựộng cách mạng, ựẩy mạnh công cuộc kháng chiến, kiến quốc tại ựịa phương, góp phần làm cho Quảng Ngãi ựạt ựược nhiều thành tựu rất quan trọng, trên các mặt chắnh trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng Nếu nhìn xuyên suốt về thời gian thì ựây là thời kỳ ựầu, các hoạt ựộng trên lĩnh
Trang 16Nhiều cán bộ văn hĩa thơng tin và văn nghệ sĩ thời kỳ này tiếp tục phấn đấu trở thành những cán bộ, văn nghệ sĩ nổi tiếng, cĩ nhiều đĩng gĩp lớn trong hoạt động
ở hai miền Nam - Bắc ở các thời kỳ sau
1.2 THỜI KỲ KHÁNG CHIẾN CHỐNG MỸ, CỨU NƯỚC (1954 - 1975)
Trong 21 năm kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, Quảng Ngãi đã trải qua nhiều chặng đường hy sinh gian khổ mất mát do địch đánh phá vơ cùng ác liệt, nhưng qua đĩ, cũng sáng ngời phẩm chất anh hùng của mình Trên đà tiến triển của cách mạng, ngành văn hĩa thơng tin Quảng Ngãi cũng dần dần hình thành và phát triển, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ phục vụ kháng chiến và nhu cầu đời sống tinh thần của nhân dân Cĩ thể phân các chặng đường ấy như sau:
Từ cuối năm 1954 đến năm 1960
Tổ chức bộ máy cơng tác văn hĩa - thơng tin trong kháng chiến chống Pháp khơng được duy trì trong thời kỳ này Dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy ðảng trong tỉnh, cán bộ ở lại, những người kháng chiến cũ và quần chúng đã sử dụng nhiều nội dung, loại hình, phương thức thơng tin tuyên truyền văn hĩa, văn nghệ để phát huy thắng lợi và chính nghĩa của cách mạng, giữ vững niềm tin của nhân dân đối với ðảng và Bác Hồ, hướng dẫn, cổ vũ nhân dân đấu tranh chống lại mọi âm mưu thủ đoạn "tố Cộng, diệt Cộng" của địch, bảo vệ ðảng, bảo vệ cán bộ, bảo vệ các quyền
tự do, dân chủ, dân sinh ðồng thời tập hợp, đồn kết nhân dân dưới các hình thức biến tướng (tổ tuần sương, bảo vệ hoa màu, hội vịng đổi cơng) để canh gác thơn xĩm, chống địch do thám, ruồng bố, tương trợ giúp đỡ những gia đình bị địch khủng
bố, bắt bớ, tù đày, giết hại, chống trị hề bầu cử quốc hội và tổng thống chế độ Sài Gịn…
Trước khi chuyển quân tập kết, các tổ chức ðảng, các cơ sở cách mạng đã tổ chức nhiều cuộc mít tinh, nhiều buổi nĩi chuyện, nhiều đêm biểu diễn văn nghệ, nhiều cuộc tiễn đưa cán bộ, bộ đội, học sinh ra miền Bắc, in và phát hành rộng rãi Hiệp định Giơnevơ, giúp đồng bào nắm được cơ sở pháp lý để đấu tranh với địch Sau khi địch tiếp quản, ta huy động nhân dân tham gia nhiều cuộc đấu tranh trực diện với địch, kể cả tuần hành thị uy, biểu tình ngồi trước cơ quan chính quyền địch, buộc chúng thi hành hiệp định Tỉnh ủy chỉ đạo thành lập tổ ấn lốt, in
litơ, phát hành các tờ báo ðồn kết, Hịa bình (về sau tờ Hịa bình đổi tên là Thống nhất) nhằm phổ biến đường hướng của ðảng đến nhân dân Trong nhân dân xuất
hiện nhiều ca dao, hị, vè đả kích những hành động xấu xa, những âm mưu nham hiểm của địch
Khi nhận được ðề cương Cách mạng miền Nam của Trung ương Cục miền Nam
và Nghị quyết 15 của Ban Chấp hành Trung ương ðảng (khĩa II), được Tỉnh ủy chỉ đạo, các hoạt động thơng tin tuyên truyền, văn hĩa, văn nghệ tập trung tuyên truyền giải thích về con đường "Dùng bạo lực cách mạng - cả bạo lực chính trị và
Trang 17bạo lực vũ trang - ựánh ựổ chế ựộ Mỹ - Diệm, lập nên chắnh quyền cách mạng của nhân dân, giải phóng miền Nam, thống nhất ựất nước" Cụ thể là:
- đả kắch chế ựộ ựộc tài gia ựình trị Ngô đình Diệm, tay sai của ựế quốc Mỹ;
- Cổ vũ thanh niên thoát ly gia ựình, lên căn cứ, gia nhập các lực lượng bất hợp pháp chống Mỹ Diệm;
- Phát huy thắng lợi của các nhóm "trả ựầu" ở miền núi, các vụ diệt ác trừ gian ở ựồng bằng, phát huy thanh thế của cách mạng, uy hiếp tinh thần của ựịch;
- Phát huy thắng lợi của Hội nghị Gò Rô (tháng 7.1958) - Hội nghị Diên Hồng của Quảng Ngãi - ựoàn kết nhân dân theo đảng, theo Bác Hồ làm cách mạng ựến cùng;
- Kịp thời phát huy những chiến công của các ựơn vị lực lượng vũ trang cách mạng của tỉnh (339, 89, 299) và bạo lực chắnh trị của quần chúng làm nên cuộc Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, ựánh ựổ chắnh quyền ựịch, lập nên chắnh quyền cách mạng của nhân dân tại 40 xã ở các huyện miền núi
Các hoạt ựộng thông tin tuyên truyền, báo chắ, văn nghệ quần chúng ở Quảng Ngãi ựã góp phần ựánh bại kiểu "chiến tranh một phắa" của Mỹ - Diệm, góp phần chuyển cách mạng miền Nam sang thế tiến công, ựẩy chế ựộ Mỹ - Diệm lâm vào thế bị ựộng và liên tiếp chịu thất bại
Từ năm 1961 ựến năm 1965
Các tổ chức thông tin tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ cách mạng Quảng Ngãi ra ựời, hoạt ựộng, phát triển, tham gia ựánh bại chiến lược "chiến tranh ựặc biệt" của
ựế quốc Mỹ Trong Ban Tuyên huấn Tỉnh ủy có tiểu ban Tuyên Văn chuyên lo
công tác thông tin tuyên truyền, văn hóa, văn nghệ Năm 1962, các tờ báo đoàn kết, Thống nhất hợp nhất thành tờ báo Cờ giải phóng Quảng Ngãi, năm 1964 ựổi gọi là báo Giải phóng Quảng Ngãi đầu năm 1962, Nhà in Giải phóng Quảng Ngãi
ra ựời
Tháng 6.1964 đoàn Văn công Giải phóng Quảng Ngãi ựược thành lập Từ năm
1965, Ban Tuyên huấn Khu V ựã cử ựạo diễn, biên ựạo múa về giúp cho ựoàn xây dựng những chương trình tiết mục mới đoàn ựã tổ chức nhiều ựêm biểu diễn sát vùng ựịch, thu hút khá ựông ựồng bào trong vùng ựịch tạm kiểm soát và binh sĩ quân ựội Sài Gòn ựến xem
Các huyện và hầu hết các xã ựồng bằng thành lập ựội công tác tuyên truyền vũ trang, vừa diệt ác trừ gian, vừa phát ựộng quần chúng ựứng lên chống Mỹ và chắnh quyền Sài Gòn Các ựội thường xuyên gọi loa, hát dân ca, bài chòi, tấn phát truyền ựơn, khẩu hiệu, báo chắ cách mạng vào các "ấp chiến lược", khu dồn, ựồn bót ựịch
và vùng ựịch tạm kiểm soát; tổ chức nhiều cuộc dạ náo, ựại náo ựể uy hiếp ựịch, cổ
Trang 18vũ quần chúng nổi dậy diệt "tề ngụy", phá "ấp chiến lược", khu dồn, giành quyền làm chủ ðến năm 1965, các huyện ñồng bằng thành lập ñược ñội tuyên truyền văn nghệ và bộ phận in litô Học sinh các trường Trần Quốc Tuấn, Bồ ðề tại thị xã Quảng Ngãi xuống ñường hát vang bài "Dậy mà ñi", cổ vũ học sinh, thanh niên và nhân dân ñứng lên chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn… Hàng trăm thanh niên học sinh thoát ly gia ñình ra vùng giải phóng tham gia kháng chiến
Các hoạt ñộng văn hóa - thông tin, văn nghệ thời kỳ này tập trung tuyên truyền
về Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam và cương lĩnh của Mặt trận, phát huy thắng lợi phá "ấp chiến lược", chống ñịch càn quét, ñồng khởi nông thôn, thu hẹp vùng ñịch tạm kiểm soát, mở rộng và xây dựng vùng giải phóng, tuyên truyền các ñiển hình về chiến tranh du kích, ñấu tranh chính trị, binh vận (như: xã ðức Phong biến ấp chiến lược của ñịch thành làng chiến ñấu của ta; xã Phổ Hiệp ñấu tranh chính trị, binh vận làm thất bại nhiều âm mưu ñịch; ñội du kích xã Tịnh Khê làm cho ñịch "quân ñi mất mạng, quan về mất lon"), ñặc biệt là phát huy chiến thắng Ba Gia (cuối tháng 5.1965), góp công cùng toàn miền Nam ñánh bại chiến lược "chiến tranh ñặc biệt" của ñế quốc Mỹ
Từ năm 1965 ñến năm 1968
Quảng Ngãi ñược Trung ương chi viện thêm nhiều cán bộ văn hóa - thông tin ñược ñào tạo cơ bản ở miền Bắc, có trình ñộ chuyên môn nghiệp vụ tốt, cùng nhiều thiết bị, phương tiện phục vụ cho hoạt ñộng Báo, tạp chí của Tỉnh ủy thường xuyên ñược xuất bản Năm 1966, một số cán bộ tuyên truyền ñược học ñể viết truyền ñơn, ñọc lời gọi loa bằng chữ và tiếng Triều Tiên (do chuyên gia Bắc Triều Tiên dạy) ñể tấn công vào ñồn bót lính Nam Triều Tiên hoặc lúc chúng ñi càn
Năm 1967, Quảng Ngãi có thêm tờ báo Vùng lên, phát hành vào vùng ñịch tạm
kiểm soát, phục vụ tấn công ñịch ở phía trước Tỉnh ủy quyết ñịnh thành lập nhà in Tiền phương in ấn tài liệu phục vụ Tỉnh ủy chỉ ñạo công tác vùng ñịch Cũng năm này, ðoàn Văn công miền Tây sáp nhập vào ðoàn Văn công Giải phóng của tỉnh ðoàn dàn dựng thêm nhiều tiết mục mới phục vụ nhân dân, ñược ñồng bào rất hoan nghênh, nhất là các kịch mục "Trước giờ xuất kích", "ðội kịch chim chèo bẻo", "Bà mẹ cầm súng", "Phố phường nổi dậy"… Tháng 8.1968, ðội Chiếu bóng Giải phóng Quảng Ngãi ñược thành lập, những năm sau phát triển thành 3 ñội, mang ñến cho nhân dân, chiến sĩ và cán bộ cách mạng nhiều bộ phim hay như "Vĩ tuyến 17 ngày và ñêm", "Rừng O Thắm’, "Vợ chồng A Phủ", "Công phá Bá Linh" (phim Liên Xô)… Lần ñầu tiên, người Quảng Ngãi ñược xem phim cách mạng Các ñội công tác tuyên truyền vũ trang hoạt ñộng mạnh và sâu vào vùng ñịch tạm chiếm, tấn phát truyền ñơn, khẩu hiệu chống Mỹ vào các ñồn bót ñịch, các khu dồn, các thị trấn, thị xã Thanh niên học sinh thị xã mắc loa lớn trên ôtô chạy khắp thị xã, các thị trấn, hô vang các khẩu hiệu chống Mỹ - Thiệu bằng cả tiếng Việt và tiếng Anh Các ñội công tác tuyên truyền vũ trang còn huy ñộng ñồng bào tổ chức nhiều cuộc mít tinh, biểu tình, xuống ñường, nhập thị ñấu tranh với ñịch, ñòi chồng con, ñòi bồi thường thiệt hại Công tác văn hóa - thông tin, văn nghệ trong những
Trang 19năm này, tập trung vào các nhiệm vụ chính: phổ biến rộng rãi lời kêu gọi vang dậy non sông của Hồ Chủ tịch "Không có gì quý hơn ðộc lập, Tự do", tố cáo tội ác man
rợ của lính Mỹ, lính Nam Triều Tiên và chính quyền, quân ñội Sài Gòn, nhất là các
vụ thảm sát hàng loạt ñồng bào ta ở Bình Hòa, Sơn Mỹ, Khánh Giang - Trường Lệ
Các hoạt ñộng văn hóa - thông tin góp phần cổ vũ, ñộng viên các tầng lớp nhân dân, các lực lượng vũ trang kiên ñịnh ñường lối chiến tranh nhân dân với phương châm "2 chân 3 mũi giáp công", nêu cao ý chí quyết chiến quyết thắng giặc Mỹ xâm lược; tìm Mỹ mà ñánh, tìm ngụy mà diệt, nắm thắt lưng Mỹ mà ñánh, quyết tâm giải phóng miền Nam, bảo vệ miền Bắc; ñộng viên nhân dân các vùng tích cực ñóng góp sức người sức của phục vụ cho kháng chiến với tinh thần tất cả cho tiền tuyến, tất cả ñể ñánh thắng giặc Mỹ xâm lược; kịp thời phát huy thắng lợi ba mũi giáp công của quân dân ta tấn công tiêu diệt, làm tan rã tinh thần và lực lượng của ñịch, nhất là các chiến thắng Vạn Tường, mùa khô 1965 - 1966, 1966 - 1967, chiến thắng xuân Mậu Thân 1968…
Những hoạt ñộng trên góp sức cùng quân dân toàn tỉnh, toàn miền, toàn quốc ñánh bại chiến lược "chiến tranh cục bộ" của ñế quốc Mỹ
Từ năm 1969 ñến năm 1975
Thất bại trong chiến lược "chiến tranh cục bộ", ñế quốc Mỹ một mặt xuống thang chiến tranh, ngồi vào bàn ñàm phán với ta tại Pari; mặt khác, chuyển sang chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh", hòng kéo dài chiến tranh và chia cắt lâu dài ñất nước ta
Dưới sự lãnh ñạo của ðảng, Bác Hồ, dân tộc và quân ñội ta nêu cao quyết tâm
"ñánh thắng bất kỳ kiểu chiến tranh nào của ñịch", "Vì ðộc lập Tự do, ñánh cho
Mỹ cút, ñánh cho ngụy nhào" ðể phục vụ cho mục tiêu ñó, ngành văn hóa - thông tin Quảng Ngãi ñã có nhiều hoạt ñộng thiết thực cụ thể
Báo Giải phóng Quảng Ngãi ñược tăng thêm phóng viên, máy mới, từ 10
ngày/số tăng lên 7 ngày/số; kịp thời chuyển tải ñường lối, chủ trương của Trung ương, của Tỉnh ủy ñến cơ sở và nhân dân Nhiều tờ báo ñược chuyển vào sâu trong thị xã, các thị trấn
ðoàn Văn công Giải phóng và các ñội chiếu bóng liên tục hoạt ñộng khắp vùng giải phóng, vùng giáp ranh giữa ta và ñịch, giữ vững và nâng cao khí thế tấn công ñịch, mở rộng và xây dựng vùng cách mạng kiểm soát ngày càng lớn mạnh
Tháng 9.1969, Bác Hồ qua ñời, một tổn thất của toàn ðảng, toàn quân, toàn dân
ta không gì bù ñắp nổi Ngành ñã in hàng ngàn bản Di chúc của Bác, ðiếu văn của
Ban Chấp hành Trung ương ðảng và 5 lời thề của toàn ðảng, toàn quân, toàn dân trước anh linh Bác, ñưa về tận xã thôn, góp phần tuyên truyền, giáo dục nhân dân, chiến sĩ, cán bộ, ñảng viên toàn tỉnh biến ñau thương thành sức mạnh, quyết tâm
Trang 20của ngành ựã nặn tượng Bác Hồ, thể hiện lòng tôn kắnh, niềm tiếc thương nhớ Bác không nguôi của đảng bộ và quân dân Quảng Ngãi Tượng Bác hiện ựang ựược lưu giữ tại Bảo tàng Quảng Ngãi
Ngành ựã ựẩy mạnh các hoạt ựộng tuyên truyền phát huy thắng lợi cuộc tiến công chiến lược 1972 ở chiến trường miền Nam và thắng lợi điện Biên Phủ trên không ở miền Bắc Tháng 1.1973, Hiệp ựịnh Pari ựược ký kết, ngành ựã in hàng ngàn bản Hiệp ựịnh phổ biến sâu rộng trong nhân dân và các lực lượng vũ trang giải phóng, ựể ựồng bào, chiến sĩ ta có cơ sở ựấu tranh buộc ựịch thi hành Hiệp ựịnh, phát huy thế mạnh, thế thắng của cách mạng miền Nam đài minh ngữ Quảng Ngãi ựược thành lập, hằng ngày ựiện báo tình hình trong tỉnh cho Thông tấn
xã Việt Nam và nhận tin của Thông tấn xã Việt Nam báo cáo cho Tỉnh ủy
Giữa năm 1973, Phân hội Văn nghệ giải phóng Quảng Ngãi ựược thành lập đến cuối năm 1974, phân hội ựã in, phát hành ựược 4 tập san, 2 tập thơ và một số tập chuyện người tốt việc tốt, góp phần làm cho ựời sống văn hóa tinh thần của nhân dân và chiến sĩ ta thêm phong phú
Trong thời kỳ này, ngành ựã tổ chức ựược một số cuộc triển lãm tranh, ảnh, hiện vật phục vụ đại hội lần thứ IV, lần thứ V của đảng bộ tỉnh, phục vụ ựồng bào chiến sĩ ta trong các dịp tết, cùng các ngành, các ựoàn thể cách mạng tổ chức hàng loạt cuộc ựấu tranh chống ựịch vi phạm Hiệp ựịnh Pari, nhổ cờ ựịch, cắm cờ ta, xác ựịnh chủ quyền của nhân dân ta ở vùng giải phóng
Các hoạt ựộng văn hóa - thông tin, văn nghệ ựã kịp thời phát huy thắng lợi của nhân dân ta giải phóng hoàn toàn huyện Ba Tơ (cuối 1972), chống ựịch lấn chiếm vùng Sa Huỳnh và nhiều vùng khác sau Hiệp ựịnh, giải phóng hoàn toàn huyện Minh Long (tháng 8.1974)
Trên các công trường "mở ựường thắng lợi" từ ựường mòn Hồ Chắ Minh xuống các huyện miền núi và các huyện ựồng bằng Quảng Ngãi, ngành ựã tổ chức nhiều ựội gọi loa, nhiều ựêm biểu diễn văn nghệ, dựng nhiều cờ, băng khẩu hiệu cổ ựộng khắ thế thi ựua "ựánh ựịch mà ựi, mở ựường mà tiến" Từ ựó, Quảng Ngãi ựã có ựường cho xe ô tô, kể cả xe tải lớn, xe tăng của Quân Giải phóng tiến xuống ựồng bằng, tiến vào góp phần giải phóng thị xã
Từ tháng 3.1975, toàn bộ hoạt ựộng văn hóa - thông tin tập trung tuyên truyền phát huy chiến thắng Buôn Ma Thuột, giải phóng toàn bộ Tây Nguyên, giải phóng toàn bộ các huyện miền núi Quảng Ngãi, giải phóng toàn tỉnh Quảng Ngãi và các tỉnh miền Trung, tuyên truyền cổ vũ quân dân Quảng Ngãi ựem hết sức người, sức của phục vụ Chiến dịch Hồ Chắ Minh lịch sử, giải phóng Sài Gòn và toàn bộ miền Nam vào ngày 30.4.1975
Những hoạt ựộng văn hóa - thông tin, văn nghệ ở Quảng Ngãi thời kỳ 1969 -
1975 ựã thiết thực góp phần cổ vũ quân dân toàn tỉnh ựánh bại âm mưu ựịch lấn chiếm vùng giải phóng của ta; ựẩy ựịch vào thế co cụm ựối phó lúng túng bị ựộng;
Trang 21ta giữ vững và mở rộng vùng giải phóng sát thị xã, các quận lỵ, tiến lên giải phóng thị xã, giải phóng toàn tỉnh vào ngày 24.3.1975; góp sức cùng toàn miền, toàn quốc ựánh bại chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" của ựế quốc Mỹ, tiến lên tổng công kắch, tổng khởi nghĩa giành toàn bộ chắnh quyền ở miền Nam Việt Nam về tay nhân dân, hoàn thành sự nghiệp giải phóng dân tộc, tiến tới thống nhất Tổ quốc
Trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước, ựã có 43 cán bộ, tác giả, phóng viên, biên tập, diễn viên, nhạc công thuộc ngành văn hóa - thông tin Quảng Ngãi hy sinh, ựem máu xương mình tô thắm thêm lá cờ chiến thắng của cả dân tộc Nhà in Giải phóng và đoàn Văn công Giải phóng Quảng Ngãi ựược nhà nước tặng thưởng Huân chương Giải phóng hạng Ba
2 VĂN HÓA - THÔNG TIN THỜI KỲ 1975 - 2005
2.1 NĂM đẦU TIÊN SAU GIẢI PHÓNG
Sau ngày giải phóng toàn tỉnh Quảng Ngãi, ngày 14.4.1975, Ty Thông tin - Văn hóa Quảng Ngãi ựược thành lập Ty có 10 ựơn vị trực thuộc: Phòng Tổ chức Hành chắnh, Phòng Chuyên môn nghiệp vụ, đội Thông tin lưu ựộng, Báo Quảng Ngãi, đài Phát thanh, đoàn Văn công, Quốc doanh Chiếu bóng, Quốc doanh Phát hành sách, Thư viện, Nhà in Các ựơn vị thông tin lưu ựộng, phát hành sách, thư viện mới thành lập, ựược bố trắ cán bộ, nhân viên, phương tiện ựể hoạt ựộng Trong hệ
thống bộ máy tổ chức, ở cấp huyện, thị có Phòng Thông tin - Văn hóa, ở cấp xã có
Ban Thông tin - Văn hóa
Trong năm ựầu tiên sau giải phóng, hoạt ựộng văn hóa - thông tin tập trung truy quét các sản phẩm phản ựộng, ựồi trụy, nô dịch của chế ựộ cũ ựể lại Phát triển mạnh các loại hình tuyên truyền cổ ựộng trực quan mang nội dung cách mạng, mở lớp huấn luyện cấp tốc giáo dục về tư cách ựạo ựức cách mạng và ựào tạo bồi dưỡng về chuyên môn nghiệp vụ cho 150 cán bộ ngành cấp huyện, xã, 20 diễn viên nhạc công mới, ựáp ứng một bước yêu cầu kiện toàn và nâng cao chất lượng bộ máy và hoạt ựộng của ngành Các ựơn vị văn công, chiếu bóng, ựội tuyên truyền lưu ựộng, báo Quảng Ngãi, ựài phát thanh, hiệu sách nhân dânẦ tắch cực hoạt ựộng, tập trung phục vụ cho ựồng bào vùng mới giải phóng theo yêu cầu của nhiệm vụ chắnh trị lúc này Ngành ựã tổ chức nhiều cuộc mắt tinh lớn, mỗi cuộc có hàng vạn ựồng bào, chiến sĩ, cán bộ tham dự, sôi nổi và hoành tráng nhất là các cuộc mắt tinh chào mừng miền Nam hoàn toàn giải phóng, chào mừng Uỷ ban nhân dân cách mạng tỉnh ra mắt nhân dân, kỷ niệm 85 năm ngày sinh của Bác Hồ (19.5.1890 - 19.5.1975), chào mừng Thủ tướng Phạm Văn đồng về thăm Quảng Ngãi sau 26 năm xa quê, chào mừng các ựoàn khách quý từ Trung ương, từ tỉnh Nghệ An kết nghĩa về thăm Quảng Ngãi, kỷ niệm 30 năm Cách mạng tháng Tám thành công và Quốc khánh 2.9 (1945 - 1975)
Tất cả những hoạt ựộng trên ựã góp phần phát huy thắng lợi vĩ ựại trong sự
Trang 22ựường lối, chủ trương, chắnh sách của đảng và Nhà nước, mang ánh sáng văn hóa cách mạng ựến nhân dânẦ Qua ựó, góp phần nâng cao tinh thần phấn khởi, giác ngộ cách mạng trong các tầng lớp nhân dân, ựộng viên cổ vũ nhân dân hăng hái thực hiện các nhiệm vụ do chắnh quyền cách mạng ựề ra, mặt khác còn góp phần nâng cao tinh thần cảnh giác cách mạng và ý chắ chiến ựấu của quân dân trong tỉnh, tắch cực ựóng góp sức người sức của vào sự nghiệp giải phóng hoàn toàn miền Nam, ựập tan các âm mưu và hành ựộng của các thế lực thù ựịch phá hoại, chống ựối chắnh quyền cách mạng
2.2 TRONG THỜI KỲ TỈNH NGHĨA BÌNH (12.1975 - 6.1989)
Tháng 12.1975, Ty Thông tin - Văn hóa Quảng Ngãi hợp nhất với Ty Thông tin
- Văn hóa Bình định thành Ty Thông tin - Văn hóa tỉnh Nghĩa Bình, năm 1979 ựổi gọi là Sở Văn hóa - Thông tin Các Phòng Thông tin - Văn hóa cấp huyện, Ban Thông tin - Văn hóa cấp xã, cũng ựổi gọi là Phòng (Ban) Văn hóa - Thông tin
Các thiết chế văn hóa - thông tin trên ựịa bàn Quảng Ngãi tiếp tục phát triển, trong ựó có những công trình văn hóa do tỉnh xây dựng, quản lý như: Khu chứng tắch tội ác giặc Mỹ tại Sơn Mỹ (xây dựng năm 1975); Nhà lưu niệm ựồng chắ Nguyễn Nghiêm (xây dựng năm 1980); Nhà lưu niệm ựồng chắ Phạm Văn đồng (xây dựng năm 1981); Nhà Bảo tàng Khởi nghĩa Ba Tơ (xây dựng năm 1985); Nhà Văn hóa Lao ựộng Quảng Ngãi (xây dựng năm 1985); Cơ sở in quốc doanh (xây dựng năm 1985)
Tắnh ựến tháng 6.1989, ở cấp huyện, thị, xã, phường trên ựịa bàn Quảng Ngãi ựã xây dựng ựược khá nhiều thiết chế văn hóa - thông tin, có ựủ cán bộ nghiệp vụ, công nhân và phương tiện ựể hoạt ựộng Trên ựịa hạt Quảng Ngãi có 9 ựài truyền thanh cấp huyện, thị và trên 100 ựài truyền thanh cơ sở (ựến năm 1978 chuyển giao cho đài Phát thanh tỉnh quản lý); 11 ựội thông tin lưu ựộng cấp huyện, thị và 150 ựội ở cơ sở; 2 rạp chiếu bóng ở thị xã và 28 ựội chiếu bóng lưu ựộng; 11 thư viện cấp huyện, thị với gần 75.000 bản sách và 250 thư viện, tủ sách cơ sở với gần 184.000 bản sách; 3 nhà văn hóa cấp huyện (Trà Bồng, đức Phổ, Bình Sơn) và 120 khu sinh hoạt văn hóa ngoài trời; 4 phòng truyền thống cấp huyện (Trà Bồng, Bình Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa); 180 ựội văn nghệ quần chúng ở cơ sở
để ựưa các thiết chế văn hóa - thông tin nói trên ựi vào hoạt ựộng với hiệu quả ngày càng cao, ựã có 124 cán bộ các bộ môn văn hóa, thông tin, nghệ thuật trên ựịa bàn Quảng Ngãi ựược ựào tạo nghiệp vụ ựạt chuẩn trung cấp và 10 cán bộ ựược ựào tạo nghiệp vụ ựạt chuẩn ựại học
Trong thời gian này, khá nhiều ựề tài, tác phẩm về Quảng Ngãi ựã ra ựời, trong
ựó có: 3 bộ phim tài liệu lịch sử (phim nhựa) là Khởi nghĩa Ba Tơ, Bình minh trên Trà Bồng, Sơn Mỹ ựau thương và anh hùng; nhiều ựầu sách ựã ựược xuất bản (2); nhiều tượng ựài và phù ựiêu hoành tráng ựược sáng tác và xây dựng tại các di tắch lịch sử như các tượng ựài: Khởi nghĩa Ba Tơ, Chiến thắng Ba Gia, tưởng niệm 504 ựồng bào Sơn Mỹ, tưởng niệm 69 ựồng bào Khánh Giang - Trường Lệ bị lắnh Mỹ
Trang 23sát hại; các phù ñiêu: kỷ niệm cuộc nổi dậy của nông dân ðức Phổ năm 1930, tưởng niệm ñồng bào Bình Hòa bị lính Nam Triều Tiên sát hại, tưởng niệm ñồng bào bị lính Mỹ sát hại tại mương kênh Sơn Mỹ
Các ñội văn nghệ quần chúng, ñội thông tin, quanh năm hoạt ñộng, bốn mùa hội thi, hội diễn Các ñội chiếu bóng phục vụ tận xã, thôn Các ñơn vị nghệ thuật chuyên nghiệp nhiều tỉnh thành bạn thường xuyên ñến biểu diễn ở Quảng Ngãi Ban ngày lao ñộng sản xuất, ban ñêm ñi xem văn nghệ, chiếu bóng là nếp sống thường xuyên của ñồng bào Quảng Ngãi thời kỳ này (kể cả nông thôn, miền núi), mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân ñược nâng cao Hệ thống thư viện, tủ sách công cộng, thư viện 288 ở các trường học từng bước làm cho việc ñọc sách báo của nhân dân, nhất là trí thức, công chức, học sinh, sinh viên, trở thành một nhu cầu không thể thiếu Cuộc vận ñộng thực hiện nếp sống văn minh, xây dựng gia ñình văn hóa có tác dụng tốt Việc tổ chức cưới, tang giữ ñược nét ñặc trưng văn hóa dân tộc, ñúng pháp luật, tiết kiệm Ngành ñã tích cực tham gia tổ chức các ngày lễ
kỷ niệm lớn trong nước, trong tỉnh, tổ chức các lễ hội văn hóa thu hút ñông ñảo nhân dân vào các ñợt sinh hoạt chính trị và văn hóa có tác dụng giáo dục tốt
Về bảo tồn bảo tàng từ năm 1978, ñược các cơ quan chức năng Trung ương và tỉnh giúp ñỡ, các di chỉ Văn hóa Sa Huỳnh ở Long Thạnh (huyện ðức Phổ), Bình Châu (huyện Bình Sơn), di chỉ Văn hóa Chămpa ở thị xã Quảng Ngãi ñược khai quật, phát hiện thêm ñược nhiều hiện vật quý, giúp các nhà nghiên cứu khoa học
có thêm tư liệu, chứng cứ ñể nhận ñịnh, ñánh giá, kết luận về các tầng văn hóa ở Quảng Ngãi từ hàng chục thế kỷ trước
2.3 TỪ NGÀY TÁI LẬP TỈNH (THÁNG 7.1989) ðẾN CUỐI NĂM 2005
Tháng 7.1989, tỉnh Quảng Ngãi ñược tái lập Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi quyết ñịnh thành lập Sở Văn hóa - Thông tin Quảng Ngãi Sở có các phòng: Phòng
Tổ chức Hành chính, Phòng Quản lý Nghiệp vụ, Phòng Kế hoạch Tài vụ, Thanh tra, Phòng Xây dựng ðời sống Văn hóa (lập năm 2005) Ngoài ra, Sở còn có các ñơn
vị sự nghiệp và kinh doanh trực thuộc
Bảy ñơn vị sự nghiệp: ðội Tuyên truyền Văn hóa miền núi (từ 2004 nhập chung với tổ chức ðiện ảnh), Trung tâm Văn hóa thông tin, ðoàn nghệ thuật ca múa nhạc dân tộc, ðoàn cải lương Sông Trà (năm 1995 giải thể), Thư viện tổng hợp, Bảo
Trang 24Các Phòng Văn hoá - Thông tin huyện, thị và Ban Văn hoá - Thông tin xã, phường, thị trấn cùng các thiết chế văn hóa - thông tin cấp huyện, thị xã, cơ sở ựược củng cố và phát triển vững mạnh thêm
Ngành văn hoá - thông tin trong thời kỳ này thực hiện chức năng quản lý nhà nước và hoạt ựộng sự nghiệp, với những hoạt ựộng ựáng chú ý như sau:
Về thông tin truyên truyền cổ ựộng, biên soạn, phát hành, phổ biến rộng rãi các tài
liệu tuyên truyền về ựường lối, chủ trương, chắnh sách, pháp luật của đảng và Nhà nước, về các nhiệm vụ chắnh trị của đảng bộ, Chắnh quyền, Mặt trận trong tỉnh Từ năm 1990 ựến năm 2005, đội tuyên truyền văn hóa miền núi liên tục hoạt ựộng phục vụ ựồng bào các huyện miền núi Ngành ựã xây dựng hệ thống tuyên truyền cổ ựộng trực quan ngày càng phong phú, ựa dạng; ựã phối hợp với các ngành chức năng tổ chức ựược nhiều cuộc triển lãm, hội chợ, quảng bá cho các sản phẩm văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần của cả nước và của tỉnh Quảng Ngãi
Các thư viện tỉnh, huyện và hệ thống thư viện, tủ sách cơ sở ựã ựược xây dựng
bề thế hơn, có gần 50 vạn bản sách và hàng trăm loại báo chắ, mỗi năm thu hút hàng chục vạn bạn ựọc Mỗi năm tổ chức hàng chục buổi giới thiệu sách mới, hàng chục cuộc thi tìm hiểu sách, kể chuyện theo sách cho thiếu nhi Thư viện tỉnh ựã tổ chức ựược câu lạc bộ ựọc sách cho cán bộ hưu trắ, thu hút trên 100 hội viên, sinh hoạt ựều hàng tuần
Công tác bảo tồn bảo tàng, ựã tiến hành trùng tu, nâng cao chất lượng kiến trúc,
tôn tạo và nâng cao chất lượng trưng bày Bảo tàng Khởi nghĩa Ba Tơ, Khu Chứng tắch Sơn Mỹ, Di tắch chiến thắng Ba Gia, các Nhà lưu niệm Nguyễn Nghiêm, Phạm Văn đồngẦ kiểm kê lập hồ sơ, ựề nghị Bộ Văn hoá - Thông tin công nhận và cấp bằng di tắch quốc gia cho trên 24 di tắch và Uỷ ban nhân dân tỉnh công nhận, cấp bằng cho gần 160 di tắch lịch sử văn hóa cấp tỉnh, tiếp tục khai quật khảo cổ học các di chỉ Văn hóa Sa Huỳnh, Văn hóa Chămpa ở Lý Sơn, Bình Châu, Bình đông,
ở Khánh Vân (Tịnh Thọ)
Về phong trào toàn dân ựoàn kết xây dựng ựời sống văn hóa, ựã tổ chức thực hiện
phong trào "Toàn dân ựoàn kết xây dựng ựời sống văn hóa ở cơ sở" Nhiều thôn xóm,
cơ quan, ựơn vị ựược công nhận ựạt tiêu chuẩn văn hóa, góp phần tạo nên diện mạo văn hóa mới trong tỉnh
Về nghiên cứu khoa học - xuất bản, ngành ựã thực hiện ựược các ựề tài nghiên
cứu khoa học trên lĩnh vực văn hóa cấp tỉnh và các ựề tài nghiên cứu văn hóa phi vật thể do Bộ Văn hoá - Thông tin ựầu tư Sở Văn hoá - Thông tin ựã xuất bản nhiều ựầu sách có giá trị, thu hút ựược bạn ựọc
Về nghệ thuật - ựiện ảnh, đoàn Ca múa nhạc dân tộc Quảng Ngãi ựã dàn dựng
nhiều chương trình tiết mục mới, ựi biểu diễn phục vụ ựồng bào vùng sâu vùng xa Phong trào văn nghệ quần chúng tiếp tục phát triển sâu rộng từ xã, phường ựến trường học, cơ quan, ựơn vị lực lượng vũ trang Năm nào cũng tổ chức hội diễn ở
Trang 25huyện, thị, ở tỉnh, các ựơn vị, tiết mục xuất sắc ựược chọn tham gia hội diễn khu vực, hội diễn toàn quốc, nhiều ựơn vị, tiết mục ựạt ựược giải cao Hoạt ựộng ựiện ảnh, băng hình chú trọng phục vụ nhân dân, vừa nâng cao ựời sống tinh thần của nhân dân, vừa có nguồn thu góp cho ngân sách tỉnh
Về xây dựng cơ bản, cơ sở vật chất vốn rất thiếu thốn, tạm bợ, cho nên trong
thời gian này, ngành ựã tập trung xây dựng các cơ sở hoạt ựộng văn hóa và trùng
tu, tôn tạo các di tắch lịch sử - văn hóa Các công trình lớn gồm: Trung tâm Văn hóa - Thông tin tỉnh, Thư viện Tổng hợp tỉnh, Bảo tàng Tổng hợp tỉnh, mộ cụ Huỳnh Thúc Kháng, Khu Chứng tắch Sơn Mỹ (xây dựng lại) Các di tắch: đài Tiếng nói Nam Bộ, Trụ sở Uỷ ban Kháng chiến Hành chắnh miền Nam Trung Bộ, Nhà lưu niệm ựồng chắ Trương Quang Giao và Nhà lưu niệm ựồng chắ Nguyễn Chánh, Bảo tàng và các di tắch về Khởi nghĩa Trà Bồng và miền Tây Quảng Ngãi, Nhà truyền thống huyện Ba Tơ và một số phòng truyền thống các ngành, các xã, Tượng ựài chiến thắng Mỏ Cày và Tượng ựài chiến thắng đình Cương, Tượng ựài tưởng niệm vụ thảm sát Khánh Giang - Trường Lệ Các phù ựiêu tưởng niệm 4 dũng sĩ Vạn Tượng, 68 liệt sĩ xuân Mậu Thân ở thị xã Quảng Ngãi, 60 liệt sĩ tại ựịa ựạo đám Toái (Bình Châu), Nhà tập đoàn ca múa nhạc tỉnh, các nhà văn hóa huyện Mộ đức, huyện Sơn Hà, huyện Sơn Tịnh, Công viên Ba Tơ và Quảng trường Văn hóa tại tỉnh lỵ
II THỂ DỤC - THỂ THAO
1 THỂ DỤC - THỂ THAO TRƯỚC NĂM 1975
Trước Cách mạng tháng Tám năm 1945, thể dục - thể thao ở Quảng Ngãi phát triển theo lối tự phát, chủ yếu là những môn võ cổ truyền, ựáng chú ý có ông Chắn Sửu (Bảo Truy Phong) giành cúp vô ựịch miền Nam tại Sài Gòn vào năm 1939, năm 1940 tiếp tục ựoạt chức vô ựịch đông Dương tại Cămpuchia Về môn quyền anh, Quảng Ngãi có những võ sĩ tên tuổi như đỗ Hy Sinh, đỗ đình Quý, nữ võ sĩ Phi Yến giành nhiều thành tắch trên các võ ựài toàn đông Dương lúc bấy giờ Vào những năm bốn mươi thế kỷ XX, thực dân Pháp tổ chức một số phong trào thể thao ở Việt Nam và các nước đông Dương như tennis, bóng chuyền, quyền anh, bóng ựáẦ trong ựó có tổ chức một lớp huấn luyện viên thể thao tại Quảng Ngãi Lớp học có khoảng 20 người tham gia, sau lớp học này có một số người ựã nổi tiếng về huấn luyện viên và làm trọng tài bóng ựá như ông Trợ Tiên và ông Trần đức Oanh Trong thời gian này, Quảng Ngãi có nhiều ựội bóng ựá như Marado, Costo, Nghĩa Lộ ựược các ựội bóng mạnh ở các tỉnh Thừa Thiên - Huế, Phú Yên, Khánh Hòa ựánh giá cao Môn chạy marathon có Nguyễn Mô, quê ở thị xã Quảng Ngãi ựã giành giải vô ựịch marathon quốc gia tổ chức tại Huế vào năm 1944 và Nguyễn đây giành ựược giải nhì Người ựã từng làm huấn luyện viên cho hai vận ựộng viên này là ông Trần đức Oanh
Cũng trước năm 1945, chương trình hành ựộng của Việt Minh vào năm 1941 ựã nêu: "Cần khuyến khắch nền thể dục quốc dân làm cho nòi giống ngày càng thêm
Trang 26mạng ựã có phong trào rèn luyện võ thuật, côn kiếm ựể chuẩn bị cho ngày Tổng khởi nghĩa Sau Cách mạng tháng Tám, mặc dù chắnh quyền cách mạng còn non trẻ, phải ựối phó với thù trong, giặc ngoài, nhưng Chắnh phủ lâm thời nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ựã ra Sắc lệnh thành lập Nha thể dục Trung ương và Chủ tịch Hồ Chắ Minh ựã ra lời kêu gọi toàn dân tập thể dục Người nhấn mạnh: "Mỗi một người dân yếu ớt là làm cho cả nước yếu ớt một phần, mỗi một người dân mạnh khỏe là góp phần cho cả nước mạnh khỏe" Trong sự nghiệp ựấu tranh giải phóng dân tộc, cũng như nhân dân cả nước, tỉnh Quảng Ngãi tập trung mọi nhân tài, vật lực cho hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Thể dục - thể thao trong thời kỳ này tập trung vào các môn võ thuật cổ truyền, chạy việt dã, leo núi chủ yếu nhằm rèn luyện thể lực chiến ựấu và công tác cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng vũ trang Trong giai ựoạn 1945 - 1954, cùng với phong trào toàn dân tập thể dục, vì nằm trong vùng tự do, nên tỉnh Quảng Ngãi ựã thành lập ựược một số ựội bóng chuyền, bóng ựá, trong số ựó có ựội bóng ựá Ba Tơ nổi tiếng với những cầu thủ như Ba Thân, Tý Bồ, Tạ Khôi và trọng tài bóng ựá Trần đức Oanh Năm 1954, những vận ựộng viên này tập kết ra miền Bắc, có một số trở thành cán bộ lãnh ựạo trong ngành thể dục - thể thao
Từ sau năm 1954, Quảng Ngãi thuộc vùng ựịch tạm chiếm, nhưng vẫn có những
võ sĩ tiếp nối truyền thống võ thuật cổ truyền như võ sĩ Lâm Võ nổi tiếng về võ dân tộc, ựã ựánh thắng võ sĩ danh tiếng miền Nam là Dương Văn Quảng tại Quảng Nam - đà Nẵng vào năm 1956, thắng võ sĩ Mioen người Ấn độ tại Huế vào năm
1957 Những võ sĩ lớp sau như Mười Thừa, Phước Hiệp, Trần Cảnh, Ngô Bông, Tấn Tề, Tấn Diêu, Tấn Hoành, Bùi Tá đợiẦ tiếp tục trở thành những võ sĩ lừng danh Sau ựó, các võ sỹ này trở thành những võ sư góp phần ựào luyện nên nhiều thế hệ võ sinh nổi tiếng như Nguyễn Hồng, Trần Beo, Nguyễn Cách, Nguyễn Ninh Vào những năm ựầu thập niên bảy mươi thế kỷ XX, Quảng Ngãi có hàng chục võ ựường thu hút hàng ngàn thanh niên, học sinh ựến tập luyện Về ựiền kinh
có ông Thái đức Nhàn là một thầy giáo nhưng rất nổi tiếng trong môn ựiền kinh ở miền Nam Tại giải "Toàn quốc vận ựộng hội kỳ II" (tổ chức tại Sài Gòn vào năm 1958), Thái đức Nhàn giành ựược Huy chương Vàng về môn nhảy xa
Trong thời kỳ này, chắnh quyền Sài Gòn ở miền Nam ựã tổ chức một số hoạt ựộng thể dục - thể thao, nhưng nhìn chung hoạt ựộng thể dục - thể thao ở Quảng Ngãi vẫn là những hoạt ựộng tự phát, chủ yếu là các bộ môn võ thuật cổ truyền Hoạt ựộng thể thao thu hút ựược công chúng Quảng Ngãi là những trận thi ựấu võ
Trang 27viên của Ty Thể dục - Thể thao Quảng Ngãi ựã thành lập trước ựó chuyển vào làm việc tại Quy Nhơn, tỉnh lỵ của tỉnh Nghĩa Bình Lực lượng cán bộ thể dục - thể thao Quảng Ngãi ựã ựóng góp công sức vào việc xây dựng phong trào thể dục - thể thao toàn tỉnh đội bóng ựá Thanh niên Nghĩa Bình ựạt thành tắch cao ở miền Trung; năm 1977, ựoàn vận ựộng viên việt dã ựoạt giải 3 ựồng ựội trong thi ựấu
giải việt dã toàn quốc do báo Tiền phong tổ chức tại Quy Nhơn; ựăng cai giải bóng
bàn toàn quốc lần thứ nhất tại Nghĩa Bình Từ những hoạt ựộng này, phong trào thể dục - thể thao của tỉnh Nghĩa Bình ựã lôi cuốn ựược ựông ựảo các tầng lớp thanh niên tham gia; ựồng thời xây dựng ựược một số bộ môn mới như bóng chuyền, bóng bàn, bơi lội, việt dã, ựiền kinh Trong thời gian này, tỉnh Nghĩa Bình ựược coi là một trong những ựịa phương có phong trào thể dục - thể thao mạnh trong cả nước Các vận ựộng viên, huấn luyện viên võ thuật người Quảng Ngãi như Nguyễn Ninh, Tạ Quang, Lê Văn Hùng, Lê Quốc Cường và các cầu thủ giỏi trong ựội tuyển bóng ựá như Mạnh Thôi, Văn Sỹ, Văn Hương, Văn đường ựã có những ựóng góp nổi bật vào thành tắch chung của tỉnh Nghĩa Bình Trong phong trào thể dục - thể thao quần chúng ở Quảng Ngãi lúc này còn có ựội bóng chuyền nữ hạng A1 của Nhà máy đường Quảng Ngãi, là một trong những ựội bóng chuyền nữ thuộc loại mạnh trong khu vực miền Trung
2.2 THỂ DỤC - THỂ THAO SAU NGÀY TÁI LẬP TỈNH QUẢNG NGÃI (1989 - 2005)
Sau khi tái lập tỉnh (1989), ngành thể dục - thể thao Quảng Ngãi ựã xuất phát khá muộn màng so với một số tỉnh trong khu vực miền Trung Cơ sở vật chất phục
vụ cho hoạt ựộng thể dục - thể thao cấp tỉnh gần như không có gì ngoài sân vận ựộng Diên Hồng và sân bóng ựá gần khu Ngã Năm tại tỉnh lỵ còn xây dựng ựơn sơ Sau ựó, Sở Thể dục - Thể thao sáp nhập với Sở Văn hóa - Thông tin thành Sở Văn hóa - Thông tin - Thể thao, ựến năm 1995 tách lập thành Sở Thể dục - Thể thao
Từ khoảng 1989 ựến 1996, trong thể thao ựỉnh cao nổi lên hai môn mũi nhọn của tỉnh là bóng ựá và võ thuật
đội tuyển bóng ựá Quảng Ngãi luôn luôn giữ hạng A1 và giành quyền dự giải bóng ựá Cúp Quốc gia Năm 1992, ựội lọt vào trận bán kết giải A1 toàn quốc Năm
1995, ựội bóng ựá tỉnh Quảng Ngãi ựoạt Huy chương đồng giải bóng ựá trẻ toàn quốc Các vận ựộng viên quyền anh của tỉnh ựoạt chức vô ựịch toàn quốc ở các giải quyền anh và võ thuật cổ truyền Tổng cục Thể dục - Thể thao ựánh giá tỉnh Quảng Ngãi là một trong bốn trung tâm quyền anh mạnh nhất của cả nước
Tắnh từ năm 1985 ựến năm 1996, các võ sĩ Quảng Ngãi ựã giành ựược 116 huy chương Vàng, Bạc, đồng ở các giải võ thuật toàn quốc, toàn đông Dương và đông Nam Á Riêng từ năm 1991 ựến năm 1996, sau hơn 6 năm kể từ ngày tái lập tỉnh, các vận ựộng viên Quảng Ngãi ựã giành ựược 27 Huy chương Vàng, 23 Huy chương Bạc, 23 Huy chương đồng ở các giải thi ựấu thể dục - thể thao, 15 vận ựộng viên ựược phong ựẳng cấp kiện tướng Toàn tỉnh có 130 võ ựường, câu lạc bộ
Trang 28Bộ mơn pencak silat mặc dù mới được du nhập vào tỉnh nhưng đã phát triển khá nhanh Trong các giải thi đấu pencak silát năm 1994, 1995, các vận động viên Quảng Ngãi đã giành 1 Huy chương Bạc, 3 Huy chương ðồng
Cùng với việc phát triển các bộ mơn thể dục - thể thao đỉnh cao, từ năm 1989 đến năm 1996, phong trào thể dục - thể thao Quảng Ngãi đã thu hút hàng ngàn hội viên tham gia vào các liên đồn và hội thể thao như Liên đồn võ thuật, Liên đồn bĩng đá, Liên đồn quần vợt, Liên đồn cầu lơng, Hội cờ tướng, Hội dưỡng sinh ðến năm 1996, tồn tỉnh cĩ 20,5% học sinh, sinh viên, 2,5% số hộ gia đình, 60% đơn vị lực lượng vũ trang tham gia rèn luyện thể dục - thể thao thường xuyên
Cơ sở vật chất của ngành thể dục - thể thao cũng cĩ nhiều chuyển biến Tính đến cuối năm 2005, ngành đã cĩ nhà thi đấu thể thao, bể bơi, sân đá bĩng mini tại khu vực sân vận động Diên Hồng, sân vận động tại khu vực Ngã Năm Mới ở tỉnh lỵ đang từng bước được nâng cấp, trường năng khiếu thể thao đã hình thành và bắt đầu tổ chức các lớp huấn luyện, trung tâm văn hĩa - thể thao ở các huyện đang từng bước được đầu tư xây dựng Trong giai đoạn 2001 - 2005, kinh phí đầu tư xây dựng cơ sở vật chất của ngành thể dục - thể thao từ ngân sách nhà nước khoảng 5
tỷ đồng
ðể đáp ứng nhu cầu tập luyện thể dục - thể thao ngày càng cao của các tầng lớp nhân dân, ngành thể dục - thể thao đã khuyến khích các tổ chức, các thành phần kinh tế đầu tư hàng trăm tỷ đồng cho nhiều loại hình tập luyện thể thao như xây dựng nhà tập, nhà thi đấu, sân quần vợt, sân cầu lơng, bể bơi… Những cơng trình này hoạt động khá hiệu quả Ngành thể dục - thể thao đã tham mưu với Uỷ ban nhân dân tỉnh phê duyệt quy hoạch đất phục vụ cho sự nghiệp thể thao đến năm
2015 Tổng số diện tích đất dành cho hoạt động thể thao từ xã, phường, thị trấn và các huyện, thành phố cĩ hơn 290ha; đồng thời ngành đang triển khai thực hiện một
số đề án như: đề án xã hội hĩa thể dục - thể thao đến năm 2010, đề án sắp xếp lại Trường năng khiếu thể thao, đề án củng cố và phát triển bĩng đá Quảng Ngãi
Việc triển khai thực hiện Pháp lệnh thể dục - thể thao đã tạo nên bước phát triển mới trong cơng tác quản lý Nhà nước, tạo điều kiện cho phong trào thể dục - thể thao quần chúng ngày càng phát triển sâu rộng trong các tầng lớp nhân dân Tính đến cuối năm 2004, số người thường xuyên luyện tập thể dục - thể thao trong tỉnh đạt 17,9%, tăng 4,9% so với năm 2000; đến cuối năm 2005 đạt 18,5% Số gia đình thường xuyên tham gia tập thể thao đạt tỷ lệ 13%, tăng 4% so với năm 2000, đến cuối năm 2005 đạt trên 14% Số trường học đảm bảo giáo dục thể chất vào năm
Trang 29thể, cơ quan, ựơn vị ựã tổ chức hơn 100 giải thể thao với sự tham gia của gần 8.000 vận ựộng viên trong phong trào thể thao quần chúng
Năm 2005, Quảng Ngãi có 4 liên ựoàn, 5 hội thể thao, trên 400 câu lạc bộ và ựiểm tập thể dục - thể thao với hàng chục bộ môn thể thao khác nhau Hoạt ựộng của những tổ chức này ngày càng ổn ựịnh, góp phần tắch cực vào việc xã hội hóa hoạt ựộng thể dục - thể thao Các Liên ựoàn bóng ựá, Liên ựoàn quần vợt, Liên ựoàn cầu lông, Liên ựoàn võ thuật ựã có nhiều hoạt ựộng hiệu quả với việc phát triển phong trào ở các ựịa phương trong tỉnh và tư vấn, tham mưu cho Sở Thể dục - Thể thao tuyển chọn, tập huấn vận ựộng viên tài năng tham gia các giải thi ựấu thể thao, giành ựược nhiều thứ hạng cao trong các giải thi ựấu khu vực và toàn quốc
Trong các giải thi ựấu thể thao toàn quốc, Quảng Ngãi ựã ựóng góp nhiều vận ựộng viên tài năng và một số huấn luyện viên giỏi cho các ựội tuyển quốc gia tham gia những giải thể thao quốc tế Từ năm 2001 ựến năm 2005, các vận ựộng viên của Quảng Ngãi giành ựược 121 Huy chương Vàng, 117 Huy chương Bạc, 184 Huy chương đồng trong các giải thi ựấu thể thao khu vực, toàn quốc, đông Nam Á
và châu Á, trong ựó các vận ựộng viên Quảng Ngãi ựã ựóng góp cho ựội tuyển quốc gia 2 Huy chương Vàng và 2 Huy chương đồng môn quyền anh, penkak silat, wushu trong giải trẻ châu Á; 3 Huy chương Bạc, 5 Huy chương đồng tại SEA Games 22; 2 Huy chương Vàng, 1 Huy chương Bạc tại ASEAN Para Games 2Ầ Ngành thể dục - thể thao Quảng Ngãi có hàng chục trọng tài và huấn luyện viên cấp quốc gia về bộ môn võ thuật
Tuy nhiên, hoạt ựộng thi ựấu thể thao thành tắch cao của Quảng Ngãi vẫn chưa thực sự khởi sắc, các vận ựộng viên chỉ ựạt thành tắch ở một số bộ môn thể thao mang tắnh truyền thống Tại các giải thi ựấu thể thao khu vực và toàn quốc, thành tắch một số môn thi ựấu chưa tương xứng với tiềm lực vốn có của tỉnh, trong ựó ựội bóng ựá Quảng Ngãi ựã nhiều năm vắng bóng trên sân cỏ trong những giải ựấu lớn của toàn quốc Cơ sở vật chất cho việc tập luyện các bộ môn thể thao thành tắch cao còn nghèo nàn Các thiết chế hoạt ựộng thể dục - thể thao ở cơ sở chưa ựược ựầu tư ựúng mức
để tiếp tục ựẩy mạnh phong trào thể dục - thể thao giai ựoạn 2005 - 2010, ngành thể dục - thể thao Quảng Ngãi ựang phấn ựấu kết hợp giữa hoạt ựộng thể thao phong trào với thể thao thành tắch cao, ựây là yếu tố then chốt ựể tránh sự tụt hậu
và tạo ựà phát triển sự nghiệp thể thao trong những năm tiếp theo Ngành ựang ựẩy mạnh việc xã hội hóa hoạt ựộng thể thao ựể phát huy mọi nguồn lực trong xã hội, từng bước ựáp ứng ựược nhu cầu hoạt ựộng thể dục - thể thao quần chúng, trong ựó
ưu tiên hàng ựầu là ựầu tư phát triển các thiết chế hoạt ựộng thể thao và cơ sở vật chất từ tỉnh ựến cơ sở Hoạt ựộng này ựang từng bước ựược xã hội quan tâm và bước ựầu mang lại một số kết quả thiết thực Tiêu biểu là năm 2005, đội bóng ựá Quảng Ngãi ựã ựược các doanh nghiệp trong tỉnh tài trợ Trong mùa thi ựấu giải hạng 3 năm 2005, đội bóng ựá Quảng Ngãi ựã giành giải nhất bảng B, ựược thăng lên thi ựấu giải hạng 2 vào năm 2006
Trang 30Cùng với việc ñẩy mạnh phong trào thể dục - thể thao quần chúng, Quảng Ngãi tăng cường ñầu tư trọng ñiểm một số bộ môn thể thao mũi nhọn và phát triển thành môn thể thao mang tính ñặc trưng riêng của tỉnh Quảng Ngãi, ñặc biệt là các môn
võ thuật và bóng ñá, từng bước phát triển những môn thể thao hiện ñại trong các giải Olympic và SEA Games…
(1) Xem thê m Chương XXIX: Báo chí - Xuất bản; Chương XXVI: Văn học; Chương XXVII: Nghệ thuật
(2) Xe m Chương XXIX: Báo chí - Xuất bản
Phụ lục 1
DANH SÁCH TRỌNG TÀI, HUẤN LUYÊN VIÊN, VẬN ðỘNG VIÊN CẤP QUỐC GIA
I Trọng tài Quốc gia
III Vận ñộng viên Quốc gia
IV Vận ñộng viên tham gia SEA games 23
1 ðoàn Hỏa Tiễn
2 Trần Quốc Việt
3 Huỳnh Thành
Trang 31GIÁO DỤC – ðÀO TẠO
Về ñại thể ñến ñầu thế kỷ XXI, lĩnh vực giáo dục (và ñào tạo) ở Quảng Ngãi cũng như các ñịa phương khác trải qua ba thời kỳ (hay loại hình) kế tiếp nhau là giáo dục thời Nho học, giáo dục thời Tân học và giáo dục thời kỳ cách mạng
Thời kỳ Nho học ở Quảng Ngãi từ thế kỷ XV ñến năm 1918, trải qua các triều ñại phong kiến thời nhà Lê Sơ, Mạc, Lê Trung hưng, chúa Nguyễn, Tây Sơn, nhà Nguyễn thời tự chủ và thời thuộc Pháp
Thời kỳ Tân học tiếp liền thời Nho học suy tàn ñến năm 1945, trong khoảng trên dưới 30 - 40 năm
Thời kỳ giáo dục cách mạng, từ năm 1945 tính ñến 2005, trong ñó giai ñoạn
1954 - 1975 có tách mảng giáo dục dưới chế ñộ Sài Gòn
Cũng trên ñại thể, về mặt không gian, từ năm 1945 trở về trước, giáo dục chưa lan ñến miền núi trong tỉnh, chỉ từ Cách mạng tháng Tám về sau, thì giáo dục mà chủ ñạo là giáo dục cách mạng mới lan dần lên miền núi và vùng ñồng bào dân tộc thiểu số
Giáo dục các thời kỳ phát triển từ thấp lên cao, theo quy luật có phủ ñịnh, có kế thừa Có thể giáo dục ở Quảng Ngãi xuất hiện không thật sớm, chưa bao giờ có những học hiệu lớn, nhưng qua các thời kỳ càng ngày càng tỏ rõ là "ñất học", ñóng góp cho ñất nước nhiều nhà trí thức lớn
Căn cứ vào dung lượng và tính chất, chương này phân hai phần giáo dục trước
và sau Cách mạng tháng Tám 1945
I GIÁO DỤC TRƯỚC NĂM 1945
1 GIÁO DỤC THỜI NHO HỌC
1.1 NHO HỌC TRƯỚC TRIỀU NGUYỄN
Có thể những người Việt ñầu tiên vào vùng ñất Cổ Lũy ñộng thời nhà Hồ và phủ
Tư Nghĩa thời nhà Lê, ngoài các quan lại chủ yếu là võ quan và binh lính, tuyệt ñại
ña số là nhân dân lao ñộng nghèo khổ phải rời quê hương vào ñây khai hoang, lập
ấp nên giáo dục - ở ñây là giáo dục Nho học - có thể cần phải có một thời gian nào
ñó mới hình thành và phát triển ðến năm 1646, các chúa Nguyễn mới ñịnh phép thi và nội dung thi cử Có hai kỳ thi Chính ñồ và Hoa văn Chính ñồ chọn người làm quan; Hoa văn chọn người làm thư lại Kỳ hạn thi lại khá lâu, 9 năm một lần, thậm chí có lúc còn lâu hơn, như khoa thi ñầu tiên tổ chức vào năm 1647 ñã lấy 9
CHƯƠNG
XXXII
Trang 32Chắnh ựồ và 24 Hoa văn; rồi mãi ựến năm 1667 (20 năm sau) mới có kỳ thi thứ hai lấy 9 Chắnh ựồ và 14 Hoa văn Do tình hình thi cử như vậy nên việc học hành khó
có thể phát triển; người ựỗ ựạt ở đàng Trong nói chung, Quảng Ngãi nói riêng cũng không thể nhiều ựược và cũng chưa thấy có tài liệu nào biên chép cụ thể
Tuy vậy, trên vùng ựất phủ Quảng Nghĩa thời kỳ này, nền giáo dục Nho học cũng ựã xuất hiện, dù còn rất hạn chế, do nhu cầu học vấn của con em các gia ựình quan lại, giàu có và của nhân dân lao ựộng, ựồng thời cũng do nhu cầu phát triển nhân tài ựể giữ vững xứ đàng Trong của các chúa Nguyễn
Giáo dục Nho học hay Nho giáo từ Trung Quốc du nhập vào đại Việt từ thời Bắc thuộc, chắnh thức trở thành một nội dung giáo dục và khoa cử từ thế kỷ XI, ựời nhà Lý, ựời nhà Trần thì nằm trong Tam giáo (Phật, Lão, Nho), ựời Lê, Nho giáo
thì Nho giáo ựã chiếm vị trắ chắnh thống trong học hành, khoa cử và chi phối ựời sống tinh thần của cư dân Việt Tìm hiểu các nguồn thư tịch cổ chưa thấy có ghi chép gì về việc giáo dục Nho học ở Quảng Ngãi từ ựời Lê ựến ựời Mạc, tức từ cuối thế kỷ XV ựến thế kỷ XVI, tuy vậy ta có thể hiểu ở ựâu có cư dân Việt hẳn ở ựó có
tổ chức việc học, việc học không tùy thuộc vào chế ựịnh thi cử có hay chưa Một chức học quan sớm nhất mà ta thấy là ông Phạm đăng Tiên, Huấn ựạo phủ Tư Nghĩa (tương ựương tỉnh Quảng Ngãi ngày nay), rất có thể là từ ựầu thời chúa Nguyễn Mộ ông Phạm đăng Tiên nằm ở xã Tư Cung khá lớn (người ta thường gọi
là Lăng Ông), nay thuộc xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh, có thể là Huấn ựạo ở thời
kỳ ựầu Chúa Nguyễn (sau dòng họ Phạm ựịnh cư ở xã Cù Mông, nay thuộc thành
phố Quảng Ngãi) Một loại sách chép tay chữ Hán Phủ tập Quảng Nam ký sự của
tác giả Mai thị (người họ Mai, không rõ tên) chép về công nghiệp của Bùi Tá Hán, rất có thể là ựồng thời hoặc sau khi Bùi Tá Hán mất, cũng cho chứng liệu rằng, có thể chưa có khoa cử, nhưng việc học ựã phát triển nhất ựịnh, trong tiến trình khai khẩn ựất Quảng Ngãi
đời Tây Sơn tuy ngắn ngủi nhưng cũng có dấu ấn ựậm nét về giáo dục Trong các văn thần võ tướng nhà Tây Sơn có Nguyễn Văn Huấn, Nguyễn Văn Danh người làng đại Phong (Tân Phong) "thông minh hiếu học", Nguyễn Văn Xuân
là những người ựã ựược học hành từ thời cuối Chúa Nguyễn Trong khoa thi văn (gọi là Minh Kinh) tổ chức vào năm Quang Trung thứ hai (1789), trong số người
trọng Nho học, ựồng thời phục hồi việc dùng chữ Nôm như triều nhà Hồ trước kia song song với chữ Hán, dịch các sách mang tắnh kinh ựiển của Nho học ra chữ Nôm ựể phục vụ việc giáo dục theo ngôn ngữ dân tộc, ra "Chiếu lập học" ựể mở trường dạy học ở các làng xã, phổ quát giáo dục trong ựại chúng Trong số các quan Tây Sơn (sau theo Nguyễn Ánh) thời kỳ này có Trần Công Hiến, quê huyện Chương Nghĩa, là "người thanh nhã, trọng Nho học", có dật sĩ Kiệm người huyện
ựã ựược ựào tạo trong thời Tây Sơn Còn Nguyễn Hữu Thể (thân phụ Phó bảng
Trang 33Nguyễn Bá Nghi thời nhà Nguyễn) người làng Lạc Phố huyện Mộ ðức ñược tiến nạp cho vua Thái ðức (Nguyễn Nhạc) từ hồi 15, 16 tuổi, làm một tướng nhỏ, giỏi
võ nghệ, nhưng hễ rỗi việc quân là ông lại ñem sách ra học, nhờ ñám thư lại giảng
giải Nhờ vậy mà ông thạo cả Tứ thư, Ngũ kinh, rất giỏi làm thơ nôm Nguyễn Hữu
Thể có thể xem như một tấm gương học tập, tấm gương hiếu học của người Quảng Ngãi, và suy rộng ra, hình như hiếu học ñã trở thành một truyền thống từ thời kỳ này (5)
ðến thời nhà Nguyễn, thì giáo dục Nho học mới thực sự bài bản và cho thấy nhiều ñiều nổi bật, ñây cũng là thời kỳ mà tài liệu ghi chép ñầy ñủ nhất
1.2 NHO HỌC TRIỀU NGUYỄN
ðời Nguyễn quay lại ñộc tôn Nho học mà chủ yếu là Tống Nho khoác áo Khổng
- Mạnh, tư tưởng giáo ñiều, từ chương, quay lại chữ Hán như triều Lê Chữ Nôm khơi lại ở triều Tây Sơn ñến ñây thêm một lần dang dở và chỉ dùng trong dân gian, trong các sáng tác cá nhân
Buổi ñầu triều Gia Long, ở Quảng Ngãi có ông ðoàn Khắc Cung người làng Nhơn Hòa, huyện Bình Sơn "là người có tiếng về văn học", từng giữ chức ðốc học
việc học Ở tỉnh có trường tỉnh xây dựng từ triều Gia Long, các trường ở huyện Bình Sơn, Mộ ðức ñều xây dựng vào năm Minh Mạng thứ năm (1824) Ở các làng
xã thường có trường, lớp học do các nhà nho tự mở Việc học Nho học ñã ñạt ñược
sự phổ quát nhất ñịnh, song căn cứ vào một số tư liệu, có thể thấy dường như ở ñịa hạt tỉnh Quảng Ngãi thời kỳ ñầu nhà Nguyễn chưa ñạt tới ñỉnh cao Khoa thi ñầu tiên mở ra dưới triều Gia Long năm 1807, nhưng phải ñến 2 khoa thi sau (khoa Kỷ Mão 1819) tức cách 12 năm sau, mới có người ñầu tiên ở Quảng Ngãi ñỗ Hương tiến (Cử nhân) là ông Trương ðăng Quế Qua hai khoa thi nữa, ñến khoa Mậu Tý (1828), mới có thêm một người Quảng Ngãi ñỗ Cử nhân, và từ ñó mới "ñầu xuôi, ñuôi lọt", hầu như không có khoa thi Hương nào không có người Quảng Ngãi ñỗ
Cử nhân Ông Nguyễn Bá Nghi, con trai Nguyễn Hữu Thể (ñã kể trên), ban ñầu học với cha, với trường làng, sau lại ñược thân phụ gửi ra học ở tỉnh, rồi tiếp tục ra
trở thành vị ñại khoa ñầu tiên của Quảng Ngãi khi tiếp tục ñỗ Phó bảng khoa thi Hội năm Nhâm Thìn (1832) Từ sau Nguyễn Bá Nghi ñỗ ñạt, có thể thấy tầm mức giáo dục Nho học ở Quảng Ngãi ñã dần ñược khẳng ñịnh và nâng cao hơn rất nhiều, nếu lấy kết quả khoa cử làm bằng chứng
Cũng cần biết thêm về tình hình khoa cử Khi mới lên ngôi, Gia Long ñã có ý ñịnh tổ chức lại việc giáo dục thi cử, nhưng mãi ñến năm 1807 mới ban hành quy chế thi Hương và tổ chức khoa thi ñầu tiên ở Bắc Thành Dưới triều Nguyễn có 6 trường thi Hương trong cả nước Ở miền Trong thì có trường thi Bình ðịnh và Gia ðịnh Thời gian giữa hai kỳ thi cũng ấn ñịnh cụ thể Năm 1822, dưới thời Minh Mạng mới có kỳ thi Hội ñầu tiên, lấy ñỗ 8 Tiến sĩ Từ những năm sau ñó, các kỳ
Trang 34thi Hương, thi Hội ựược tổ chức ựều ựặn và có quy củ Từ năm 1822 ựến năm
1919, có 39 khoa thi Hội với 558 người ựỗ ựại khoa
Việc dạy - học có thể ựã ựược cải thiện rất nhiều, song sĩ tử Quảng Ngãi vẫn gặp không ắt khó khăn khác trên ựường chinh phục khoa cử Muốn thi Hương thì sĩ tử Quảng Ngãi phải khăn gói ra Huế hoặc vào Bình định Còn muốn thi Hội thì sĩ tử Quảng Ngãi bắt buộc phải "lặn lội" ra kinh ựô Huế Do ựó, việc lều chõng ựi thi ựối với sĩ tử Quảng Ngãi không chỉ là sự thử thách về trình ựộ học vấn mà còn là quá trình vượt qua rất nhiều gian khổ Nội dung học tập chủ yếu là Tứ thư, Ngũ kinh, chuyên về Bắc sử, nặng về thơ, phú Mỗi kỳ thi Hương, Quảng Ngãi chỉ ựược
cử 200 thắ sinh tham dự, chỉ bằng một nửa số sĩ tử của các tỉnh Quảng Nam, Bình định Mặc dù vậy, kết quả thi cử của các sĩ tử Quảng Ngãi vẫn khá lạc quan Bởi
vì học trò Quảng Ngãi "thì tư chất thông minh, nhiều kiến thức, học nghiệp phần
Từ 1819 ựến 1918 (khoa thi Hương cuối cùng), trong vòng gần 100 năm, Quảng Ngãi có 139 người ựỗ Cử nhân trở lên và hàng trăm Tú tài các hạng, trong ựó có
10 người ựỗ Tiến sĩ, Phó bảng Riêng số Tiến sĩ, Phó bảng ở từng tỉnh theo thứ tự
từ cao xuống thấp, Quảng Ngãi ựứng vị trắ thứ 13 trong cả nước sau các tỉnh Nghệ
An, Thừa Thiên, Hà Tĩnh, Nam định, Quảng Bình, Hà Nội, Quảng Nam, Bắc Ninh, Thanh Hóa, Quảng Trị, Sơn Tây, Hà đông Trương đăng Quế là người Quảng Ngãi ựầu tiên khai khoa thi Hương vào năm 1819 (ựỗ Hương cống); còn Nguyễn Bá Nghi, ựã khai khoa thi Hội vào năm 1832; Tiến sĩ ựầu tiên là Trương đăng Trinh (cháu gọi Trương đăng Quế bằng chú) vào khoa Nhâm Dần (1842)
Sĩ tử Quảng Ngãi một thời gây tiếng vang ở các trường thi Thừa Thiên, Bình định về khả năng học vấn Trong số 139 người ựỗ Cử nhân, Tiến sĩ, Phó bảng có
11 người ựỗ Giải nguyên (ựỗ ựầu thi Hương), 9 người Á nguyên (thứ 2 thi Hương),
có 5 người về sau làm chủ khảo của 8 khoa thi Hương tại các trường thi trong cả
Các làng có người ựỗ ựạt nhiều nhất là Chánh Mông hay Chánh Lộ, Ba La (thuộc thành phố Quảng Ngãi), Phú Nhơn, Mỹ Khê (thuộc huyện Sơn Tịnh), Năng
An (thuộc huyện Mộ đức), An Ba (thuộc huyện Nghĩa Hành)
Những thầy giáo nổi tiếng, có nhiều học trò ựỗ ựạt là Phó bảng Võ Duy Thành (quê làng đại An, nay thuộc huyện Nghĩa Hành), Tú tài Phan Thanh (làng An Nhơn, nay thuộc huyện Sơn Tịnh), Tú tài đinh Duy Tự (ở Trà Bình Trại, nay thuộc huyện Sơn Tịnh)Ầ
Nhiều gia ựình có truyền thống học hành khoa cử như gia ựình Trương đăng Quế, đoàn Khắc Nhượng, Nguyễn đăng Ngoạn, đỗ đăng đệ, Nguyễn Duy Cung,
Võ Duy Thành Trong số những người ựỗ ựạt có nhiều người nổi tiếng về văn chương, chắnh sự, ựóng góp nhiều mặt cho sự phát triển của ựất nước
Trang 35Nhìn tổng quát Nho học thời nhà Nguyễn, sau tỉnh Quảng Nam và tỉnh Bình định, Quảng Ngãi là tỉnh chiếm vị trắ cao so với các tỉnh khác ở Nam Trung Bộ và Nam Bộ
Tuy nhiên, cuộc "khảo thắ" trong chắnh cuộc sống và hoạt ựộng, tức thông qua kết quả thực tiễn của từng nhà Nho (thi ựỗ hay không) mới là ựiều ựánh giá quan trong nhất, thực chất nhất ựối với thành công của giáo dục Về mặt này, thì nền giáo dục Nho học Quảng Ngãi có nhiều ựiểm nổi bật
Thời nhà Nguyễn tự chủ (trước 1885), Cử nhân Trương đăng Quế, Phó bảng Nguyễn Bá Nghi ựều ựóng vai trọng thần, trải các triều vua Minh Mạng, Thiệu Trị,
Tự đức, hoạt ựộng trải rộng ở các lĩnh vực chắnh trị, quân sự, kinh tế, văn hóa Về giáo dục, hai ông ựều từng làm giám khảo nhiều khoa thi Hương, Hội Về trước tác
văn học, Trương đăng Quế có Học văn dư tập, Nguyễn Bá Nghi có Sư Phần thi văn tập Trương đăng Quế từng giữ vai trò Tổng tài Quốc Sử quán, chủ biên nhiều
bộ sách lớn như đại Nam thực lục, đại Nam liệt truyệnẦ
Thời nhà Nguyễn bù nhìn, tức thời Pháp thuộc, từ 1885 trở về sau, có nhiều nhà yêu nước nổi tiếng xuất thân khoa bảng Nho học, như các ông Cử Nguyễn Duy Cung, Lê Trung đình, Nguyễn Thụy, Nguyễn đình Quản, Lê đình Cẩn, Lê Tựu Khiết, các ông Tú Nguyễn Tự Tân, Phạm Cao Chẩm, Nguyễn Tuyên, Lê Ngung,
Trong cả hai thời kỳ, nổi bật chưa phải là các ông Tiến sĩ, Phó bảng, mà lại là các trắ thức Nho học "Tú tài": thời chưa có xâm lược thì ra sức mở mang dân trắ, dạy học, làm thơ, bốc thuốc, làm thủy lợi, như các Tú tài đinh Duy Tự ở Trà Bình
như các ông Tú ựã kể trên Khác với các ông Cử, ông Nghè (Tiến sĩ), các ông Tú hầu hết ựều thuộc diện không làm quan, sống gần với nhân dân điều ựó cho thấy, chắnh tâm thức dân tộc cộng với nhân cách cao ựẹp của nhà Nho ựã giúp cho các bậc Tú tài trở nên ưu trội Mặt khác, ựiều ựó cũng phần nào biểu hiện, bộc lộ những nhược ựiểm rất cơ bản của giáo dục Nho học trong việc ựào luyện và ựánh giá, phát hiện người tài
Những nhược ựiểm này ựã bộc lộ rõ và một số ắt người vốn xuất thân Nho học cũng lên tiếng xin cải cách, trong ựó có Phó bảng Nguyễn Bá Nghi, Nguyễn Siêu,
Nguyễn Thông Như Chắ sĩ Huỳnh Thúc Kháng ựã viết trên báo Tiếng dân về
Nguyễn Bá Nghi: "Chuyên việc học thực dụng, thường bác Tống Nho, có làm sách
và xin sửa ựổi phép học, ựương lúc bấy giờ, người ta cho ông là lập dị, mở ựường
Tuy vậy, lối học khoa cử với nhiều nhược ựiểm cơ bản ựã tiếp tục ựược duy trì gần 35 năm dưới thời Pháp thuộc mới chắnh thức bị thay thế
Tóm lại, nếu lấy mốc Nho học bắt ựầu từ cuối thế kỷ XV ựến khi nền khoa cử
Trang 36ở Quảng Ngãi có lịch sử trên 400 năm, lưu lại nhiều dấu ấn trong văn hóa Quảng Ngãi, ñồng thời cũng bộc lộ nhiều nhược ñiểm của nó Nho học cho ñến nay vẫn là thời kỳ giáo dục dài nhất, so với thời kỳ Tân học và thời kỳ giáo dục cách mạng sau này
2 GIÁO DỤC THỜI TÂN HỌC
Tân học hay Tây học là thuật ngữ dùng chỉ một loại hình, một thời kỳ giáo dục chính thức thay thế giáo dục Nho học từ khoảng vài thập niên ñầu thế kỷ XX ñến trước tháng Tám 1945, trong thời Pháp thuộc Sau khi ñặt ách ñô hộ lên Trung Kỳ, trong ñó có Quảng Ngãi, thực dân Pháp vẫn duy trì Nho học với chế ñộ khoa cử lỗi thời, lợi dụng nó ñể củng cố trật tự xã hội, kết hợp với việc truyền bá những tư tưởng tiêu cực của văn minh phương Tây ðến năm 1900, thực dân Pháp mở thêm
3 trường Sơ học bản xứ ở các huyện Sơn Tịnh, Nghĩa Hành, ðức Phổ; cả tỉnh mới chỉ có 6 trường Cũng năm 1900, chính quyền thực dân tổ chức Hội ñồng Cải cách Học vụ và trong chương trình thi cử theo lối Nho học ñã có phần thay ñổi nội
vẫn còn có ñến 145 người theo học Hán học ở các trường tỉnh và huyện, có 1.746 học sinh Hán học ở các trường tổng Năm 1912, thực dân Pháp mới mở Trường Tiểu học Pháp - Việt ở tỉnh lỵ với 125 học sinh và 270 học sinh ở các trường Sơ học bản xứ Như vậy, sự chuyển ñổi phương thức giáo dục từ Nho học ñến Tân học diễn ra từ từ từng bước, không ñột ngột
ðến năm 1918, thực dân Pháp bãi bỏ hệ thống giáo dục Hán học Quảng Ngãi cũng như các tỉnh khác có 2 bậc giáo dục: bậc Tiểu học Pháp - Việt và bậc Sơ học bản xứ thuộc hệ công lập Nội dung giáo dục ñược tiến hành theo chương trình
"bản xứ" (Indigène)
Bậc Tiểu học Pháp - Việt dạy trong 3 trường bị thể ở tỉnh thành, Bình Sơn, Mộ ðức; bậc Sơ học bản xứ dạy trong 8 trường sơ ñẳng (Bình Sơn: 2 trường, Sơn Tịnh: 1 trường, Tư Nghĩa: 2 trường, ðức Phổ: 1 trường, Nghĩa Hành: 1 trường và 1 trường Nữ học sinh tại tỉnh thành) và 91 trường Dự bị (1933)
Năm học 1932 - 1933, số giáo viên là 233 người, số học sinh là 4.038 người, trong ñó có 663 học sinh bậc Tiểu học Pháp - Việt
Trong các năm từ 1923 ñến 1933, mỗi năm có từ 20 ñến 60 người ñỗ tốt nghiệp Tiểu học Pháp - Việt và có từ 250 ñến 650 người tốt nghiệp Sơ học yếu lược bản
Trang 37Nhơn, Sài Gòn ðây là thành phần con em gia ñình khá giả, công chức lớn Vì vậy,
số người ñỗ bằng Thành chung và Tú tài ở Quảng Ngãi rất ít
Trong khoảng 1937 - 1938, do ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Bình dân (1936
- 1939), ở Quảng Ngãi nhiều trí thức tân học ñã ñứng ra thành lập các trường Tiểu học và Cao ñẳng Tiểu học tư thục (tương ñương cấp Trung học cơ sở ngày nay) Ông Trần Trọng Hải thành lập Trường Tiểu học tư thục Mai Xưa (dạy từ lớp ðồng
ấu ñến lớp Nhất) và ông Trần Vỹ ñứng ra thành lập trường Nghĩa Lợi (có từ lớp ðồng ấu ñến lớp 3) tại tỉnh lỵ Quảng Ngãi Tiếp ñó, ñến năm 1941, ông Lâm Tô Bích ñứng ra thành lập Trường Trung học tư thục Cẩm Bàn, dạy từ lớp ðệ nhất ñến lớp ðệ tứ (tương ñương Trung học sơ sở ngày nay) Sau khi Nhật ñảo chính Pháp (09.03.1945), Trường Cẩm Bàn ngừng hoạt ñộng Một nhóm nhà giáo ñược
sự trợ giúp về kinh phí của một số nhà hảo tâm ñã thành lập Trường Trung học tư thục Chấn Hưng Trường này tổ chức 2 khóa thi tốt nghiệp, khóa ñầu tiên vào tháng 6.1945 và khóa sau vào tháng 8.1945 ñể lấy bằng Thành chung Cả 2 ñợt thi chỉ có 8 người ñỗ
Sau ngày Nhật ñảo chính Pháp, chương trình giáo dục ở Quảng Ngãi cũng như của cả nước, hoạt ñộng theo chương trình giáo dục của Chính phủ Trần Trọng Kim
do Bộ trưởng giáo dục Hoàng Xuân Hãn khởi xướng, bắt ñầu dùng tiếng Việt làm chuyển ngữ từ bậc Tiểu học ñến bậc ðại học
Nội dung chương trình của giáo dục Tân học nhìn chung ñã khắc phục ñược lối học hư văn, cử tử, xa rời thực tiễn của lối Nho học trước kia Lối học theo khoa học ñã khẳng ñịnh, Quốc ngữ ñã xác lập bên cạnh tiếng Pháp, chữ Hán, ñã xích gần với nền giáo dục hiện ñại
Thời kỳ Tân học hay Tây học khá ngắn ngủi, nhưng nó cũng có vai trò như thời
kỳ bản lề Nó ñào luyện ñược một tầng lớp trí thức mới Bên cạnh số trí thức phục
vụ chế ñộ thực dân - phong kiến, thì từ lớp trí thức này ở Quảng Ngãi cũng xuất hiện nhiều nhà yêu nước nổi tiếng như Tú tài Phạm Văn ðồng, Tú tài Trương
thời kỳ sau như Tú tài Nguyễn Tiên, Tú tài Phan Tiên, Tú tài Hồ Trọng ðiềm, Nguyễn Vỹ, hoặc trở thành các nhà thơ nổi tiếng như Tế Hanh, Nguyễn Vỹ, Bích
Tuy vậy, giáo dục Tân học ở Quảng Ngãi ngoài nhược ñiểm chỉ mới là giáo dục cấp thấp, còn bộc lộ nhược ñiểm lớn là ñộ phổ biến, phổ cập của nó rất hạn chế, khiến ñại ña số nhân dân còn mù chữ, giáo dục chưa lan ñến vùng ñồng bào dân tộc thiểu số miền núi, ñó là những vấn ñề lớn ñể lại cho thời kỳ sau phải giải quyết
II GIÁO DỤC THỜI KỲ 1945 - 1954
1 CÁC NGÀNH HỌC, BẬC HỌC, LOẠI HÌNH TRƯỜNG LỚP
Trang 38Giáo dục Quảng Ngãi trong 9 năm kháng chiến chống Pháp gồm có các ngành học là bình dân học vụ, bổ túc văn hóa và giáo dục phổ thông
1.1 BÌNH DÂN HỌC VỤ VÀ BỔ TÚC VĂN HÓA
Ngay sau khi các Sắc lệnh 17, 18, 20 ngày 28.8.1945 ñược ban bố, thực hiện lời kêu gọi toàn dân chống nạn thất học của Chủ tịch Hồ Chí Minh và Chỉ thị "kháng chiến kiến quốc" của Ban Thường vụ Trung ương ðảng, ở Quảng Ngãi, Ủy ban nhân dân cách mạng lâm thời các cấp từ tỉnh xuống xã, hô hào ñộng viên mọi người ñi học, ñi dạy Với khẩu hiệu: "ði học là yêu nước! Dạy bình dân học vụ là yêu nước! Giúp ñỡ bình dân học vụ là yêu nước! Chống nạn mù chữ cũng như chống ngoại xâm! Giặc dốt diệt, Việt Nam cường", phong trào diễn ra rầm rộ với nhiều hình thức và biện pháp sinh ñộng Cha mẹ dạy con, con dạy cha mẹ, chồng dạy vợ, vợ dạy chồng, anh em trong nhà dạy nhau, nhà nhà học, cả làng, cả thôn học, ban ngày lao ñộng, ban ñêm ñi học Không có giấy dùng lá chuối phơi khô, không có mực, phấn thì dùng than, dùng que viết trên khay cát, sân cát Người biết chữ dạy cho người chưa biết chữ, người thoát mù dạy lại cho người chưa biết chữ
Có nhiều cụ già trên 60, 70 tuổi cũng ñi học làm gương cho con cháu Cán bộ, viên chức ban ngày làm việc cơ quan, ban ñêm lên lớp làm thầy cô giáo Lớp học ñược ñặt ở khắp mọi nơi: trường học, ñình chùa, miếu mạo, nhà dân… Cả tỉnh như một trường học lớn
Một phong trào bình dân học vụ sôi nổi ñã ñược xây dựng và phát triển ñều khắp, liên tục, thu hút ñông ñảo nhiều tầng lớp nhân dân tham gia
Bảng thống kê số liệu về bình dân học vụ ở ñồng bằng Quảng Ngãi
Năm Số lớp Số giáo viên Số học viên Số mãn khóa Ghi chú
Trang 39phủ trao tặng Huân chương ðộc lập hạng Nhất về thành tích tăng gia sản xuất và
Bổ túc bình dân: hình thành và phát triển từ 1948, tồn tại đến 1951, theo
chương trình của Sở Giáo dục bình dân học vụ miền Nam Trung Bộ Học viên phần đơng là cán bộ xã, giáo viên đa số là giáo viên của trường phổ thơng ở địa phương
Tính đến năm 1951, tồn tỉnh mở được 153 lớp với 5.487 học viên do 338 giáo viên dạy, mãn khĩa 536 người
Tiểu học bình dân: do các đồn thể ở huyện mở
Trung học bình dân: Trường Trung học Bình dân miền Nam Trung Bộ là
trường của Liên khu V, được mở từ năm học 1947 - 1948 Cĩ gần 50% tổng số học viên của tồn trường là người Quảng Ngãi Ngồi ra, trường cịn mở một số lớp Tiểu học bình dân và Trung học phổ thơng tư thục ðến niên khĩa 1950 - 1951, trường đổi tên là Trường Bổ túc văn hĩa cấp II (Liên khu V)
Trang 40Lớp công nông: ðể tăng cường học viên là công nông, năm 1950 tỉnh ñã mở
những lớp công nông 4 tháng do Ty Bình dân học vụ phụ trách Học viên phần lớn
là cán bộ xã Chương trình học tương ñương với cấp 1 bổ túc văn hóa
Bổ túc nông thôn: Mở 1 lớp ñiển hình ở xã Tịnh Sơn (huyện Sơn Tịnh) vào ñầu
năm 1954, có 53 cán bộ, học viên học hết học kỳ I; do gần ñến ngày tập kết nên giải thể
1.2 GIÁO DỤC PHỔ THÔNG
Giáo dục phổ thông ở ñồng bằng
Cùng với sự hình thành và phát triển ngành học Bình dân học vụ và Bổ túc văn hóa, giáo dục phổ thông ở Quảng Ngãi cũng từng bước ñược xây dựng và phát triển mạnh mẽ, ñều khắp, liên tục với ñầy ñủ các bậc học, loại hình trường theo chương trình học tương ứng của Bộ Giáo dục và trải qua hai giai ñoạn: từ 1945 ñến
Từ năm học này, giáo dục phổ thông ở vùng ñồng bằng Quảng Ngãi bắt ñầu phát triển với nhiều bậc học và loại hình trường
Bậc tiểu học
ðến năm học 1946 - 1947, các xã trong tỉnh ñều có trường Tiểu học, ít nhất có 2 lớp ñầu bậc Tiểu học (lớp Năm, lớp Tư), nhiều thôn có trường (hương trường), mỗi huyện có từ một ñến hai trường Tiểu học toàn cấp ở huyện lỵ hoặc khu vực (liên xã) Số lượng lớp học, trường học, học sinh và giáo viên không ngừng tăng lên
So với năm học 1944 - 1945, năm học 1945 - 1946 có 314 lớp Tiểu học, với 23.083 học sinh (tăng 205%) và 572 giáo viên (tăng 27%) Sang năm học 1946 -
1947, có 305 trường Tiểu học với 22.687 học sinh