Tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam Đỗ Quyên Chúng ta – những tác giả và độc giả của trường ca Việt Nam – dường như thường ở tâm trạng: “Thức dậy, con khủng long trường ca vẫn còn đó
Trang 1Tác giả và tác phẩm trường ca Việt Nam
(Đỗ Quyên)
Chúng ta – những tác giả và độc giả của trường ca Việt Nam – dường như thường ở tâm trạng: “Thức dậy, (con khủng long) trường ca vẫn còn đó!”
“Từ thời niên thiếu, tôi đã có một ham muốn mãnh liệt hơn hết thảy: Hiểu và
giải thích được bất cứ những gì tôi quan sát thấy;
Nghĩa là sắp xếp được tất cả những dữ kiện vào các định luật phố quát nào
các cập nhật của nửa năm qua
Sang bước tiếp theo, xin được công bố danh sách TÁC PHẨM TRƯỜNG CA
Trang 2Phần IV: Lời tạm kết - “Thức dậy, (con khủng long) trường ca vẫn còn đó!”
*
I LỜI DẪN CỦA TRẦN THIỆN KHANH
“Đỗ Quyên và trường ca Việt Nam Trường ca là một thể loại có đóng góp đáng kể vào sự phát triển của tư duy thơ Việt Nam hiện đại Thế nhưng, sự quan tâm đến nó, cả ở phương diện văn học
sử lẫn lí luận thể loại lại có phần muộn mằn, lẻ tẻ
Cho đến nay mới chỉ có “Tuyển tập trường ca” (Nxb Quân đội nhân dân, 1997) là cung cấp được cho độc giả một cái nhìn tập trung về văn bản thể loại này Trong Lời nói đầu của tuyển tập đó các tác giả biên soạn nhận định:
“Trường ca là thể loại chiếm tỉ lệ nhỏ (…) mười trường ca được tuyển chọn trong cuốn này (…) là những trường ca tiêu biểu cả về nội dung lẫn hình thức cũng như bối cảnh lịch sử tác phẩm ra đời” Như vậy số lượng trường ca được chú ý ở đây còn ít, lại chủ yếu là các trường ca sáng tác trong khoảng 30 năm, tính từ Bài thơ Hắc Hải (1955) của Nguyễn Đình Thi đến Gọi nhau qua vách vúi (1987) của Thi Hoàng “Vùng trường ca” đến nay vẫn còn nhiều chỗ trống, cần có người tâm huyết lục khảo lại, chọn tuyển công phu hơn, nhất là thể hiện được cái nhìn khái quát, công bằng hơn nữa về diễn tiến của thể loại này Nhìn từ những yêu cầu, đòi hỏi như thế, chúng tôi xin giới thiệu những nỗ lực tìm hiểu khái quát các “hiện tượng trường ca” từng xuất hiện trong lịch sử văn học Việt Nam của tác giả Đỗ Quyên Ở một góc độ nào đó, có thể nói, chính anh cũng là một tác giả tiêu biểu trong việc tìm tòi thể nghiệm cách tân trường
ca ở nước ngoài (đã sáng tác 13 trường ca, 7 bài thơ dài) Cuộc lục khảo và hệ thống hóa có quy mô lớn lần đầu tiên về các hiện tượng trường ca này có thể xem là cuộc đi khai vỡ thêm những miền đất mới đầy hào hứng của anh, đồng thời cũng là sự trở về vùng đất quen thuộc của người trong cuộc giàu tâm huyết Hy vọng, sau dịp này, tác giả Đỗ Quyên sẽ nhận được sự ủng hộ nhiệt
Trang 3thành hơn nữa của nhiều tác giả, độc giả.”
II QUAN NIỆM VỀ TÍNH TRƯỜNG CA VÀ VIỆC LẬP DANH SÁCH TÁC
GIẢ, TÁC PHẨM TRƯỜNG CA VIỆT NAM
Cùng tác giả và độc giả gần xa!
Đây đang là cơ sở cho một đề tài không dễ dàng, và có lẽ là lần đầu tiên về khái niệm “tác gia trường ca Việt Nam”, về việc phân loại, nhận định có hệ thống và toàn diện loại hình này trong văn học Việt Nam hiện đại Hai năm qua, chúng tôi thấy có một số bài liên quan như sau:
-“Đến trường phái thơ Việt từ cảm thức hậu hiện đại Việt”;Đỗ Quyên,Tạp chí Sông Hương, số 257, tháng 7/2010, và tapchisonghuong.com.vn 30/7/2010
- “Đối thoại về trường ca và trường ca Việt Nam hiện đại”; Phỏng vấn của Trần Thiện Khanh, Tạp chí Thơ (Hội Nhà văn Việt Nam) số 11/2009, và
vanhocquenha.vn 17/9/2010
- “Yếu tố tự sự trong trường ca trữ tình hiện đại”; Diêu Thị Lan Phương, Tạp
chí Nghiên cứu văn học số 4/2009, và vienvanhoc.org
- “Những thể loại văn vần có dung lượng lớn như là tiền đề của tư duy về hình thức” (Trích bản thảo luận án); Diêu Thị Lan Phương, Đại học Quốc gia Hà
Nội
- “Trường ca về thời chống Mỹ trong văn học hiện đại Việt Nam” (Tóm tắt
luận án);Nguyễn Thị Liên Tâm, phongdiep.net 3/9/2010
- “Trường ca với tư cách là một thể loại mới”; Nguyễn Văn Dân, Tạp chí Sông Hương số 230, tháng 4/2008, và tapchisonghuong.com.vn 16/4/2008
- “Đôi nét về trường ca những năm gần đây từ góc nhìn thể loại”; Lưu Khánh
Thơ, vannghequandoi.com.vn 22/5/2010
- “Trường ca hôm nay viết về thời đánh Mỹ”; Nguyễn Thanh Tú, Tạp chí Văn
Trang 4nghệ Quân đội, số 705 đầu tháng 27 cuối tháng 12/2009,
vannghequandoi.com.vn 4/1/2010
- “Trường ca Việt, một cách nhìn ”; Yến Nhi, vanchuongviet.org 27/1/2010
- “Tọa đàm về trường ca của Trần Anh Thái”;Nguyễn Minh, viet-studies.info
15/6/2009
- “Thanh Thảo với trường ca”; Chu Văn Sơn, vietvan.vn, và phongdiep.net
12/1/2010 -“Nghĩ về một số “phản trường ca”; Diêu Lan Phương, Tạp chí Văn nghệ Quân
đội, số cuối tháng 12/2010, và vannghequandoi.com.vn 4/1/2011
Nói về số lượng, kể từ thời Thơ Mới tới nay, con số chúng tôi đang có được là khoảng 361 tác giả Việt Nam đã viết ít nhất một trường ca hoặc một bài thơ dài
mang ý nghĩa tương đương trường ca, với tổng số 842 tác phẩm
Một cách tương đối, có thể xem Huy Thông là trường ca gia Việt Nam đầu tiên với tác phẩm nổi tiếng Tiếng địch Sông Ô ra đời năm 1935, và mới nhất, vào tháng 9/2010, là Nguyễn Trọng Văn với Tổ quốc - đường chân trời (Nxb Quân
đội nhân dân)
Các yếu tính nghệ thuật của thể loại để khu biệt “trường ca” giữa các tác phẩm thơ khác luôn là nan đề trong cả sáng tác lẫn lí luận văn học đương đại, ở Việt Nam và trên thế giới Có lẽ, nhờ tự mang trong mình sự bất định thể loại, trường ca đã là một trong những Đứa Con kỳ khôi - già xưa nhất, tươi lạ nhất -
của Người Mẹ Văn Chương
Bằng quan niệm mới về thể tài, và trong sự cẩn trọng thông lệ cho một công việc phân định không thể tránh được độ bấp bênh nào đó, chúng tôi thử đề nghị một số tiêu chí, trong khi thành lập danh sách, cũng như phân loại tác giả, phê
bình tác phẩm
Với trường ca, và các loại hình tương tự (anh hùng ca, sử thi, ngâm khúc, diễn
ca, trường thi…) thường không khó khăn lắm để nhận dạng qua cấu trúc và
Trang 5dung lượng, dù được viết theo khuynh hướng nào: cổ điển, hiện đại, hay hậu hiện đại Riêng với thơ dài có tính trường ca – điểm mới của khảo cứu này – quả là không dễ dàng định vị! Đến nay, trong tổng số361 tác giả, có 263 tác giả trường ca và 98 tác giả thơ dài có tính trường ca: trung bình mỗi tác giả đã viết hơn 2 tác phẩm có tính trường ca (Mời xem dưới đây các Danh sách số 1, 1a,
1b, 1c, 1d) Trong khi khảo sát, chúng tôi coi trường ca và thơ dài có ý nghĩa tương đương bao gồm các loại hình văn vần -trừ truyện thơ vàkịch thơ - mang dung lượng lớn với phương thức tự sự hay trữ tình, cấu trúc có hay không có cốt truyện, câu chuyện Ở các sáng tác đó, tính trường ca được thể hiện hài hòa qua: a) Thể tài: mang tinh thần và nội dung không như của từng cá thể, hay giữa các cá thể,
mà nâng lên giá trị chung (đất nước, quê hương, nhân loại, dân tộc, cộng đồng…) trong một chủ đề nhân văn nhất định có ý nghĩa xã hội rộng lớn (Đây nên được xem như kim chỉ nam về tư duy thể loại trên bản đồ nghệ thuật thơ có tính trường ca!); b) Cảm hứng: ấn tượng chấn động, cảm xúc cao sâu; c) Giọng điệu và tư duy: mạnh hoặc nhanh, hùng ca hoặc bi ai hoặc hài hước, với chủ đích lôi cuốn; d) Cấu trúc và thủ pháp: sử dụng một số hình thức, kỹ thuật của
“trường ca chuẩn tắc” (chương/khúc/đoạn, pha trộn thể loại, đa ngữ điệu, cân bằng các giá trị đối lập, v.v…); e) Dung lượng: Khoảng 750 chữ trở lên (có thể
ít hơn, tùy ý nghĩa từng bài)
Và chúng tôi mạnh dạn dùng một tên gọi mới, không thuộc về thể tài mà với ý biểu tượng, như một sự “vinh danh”: Tiểu trường ca.Đó là các thi phẩm có: Dung lượng hơn một bài thơ bình thường (tùy ý nghĩa từng bài); Thi pháp mang tính trường ca; Tác giả đã quen thuộc; Và nhất là, từng tạo tiếng vang trong dư luận xã hội và môi trường văn học, mang dấu ấn thời đại, lịch sử…
(Xem Danh sách số 2 – Phác thảo)
Do lấy tính trường ca làm đích, ở đây cũng phân biệt 2 loại: thơ dài có tính
trường ca và thơ dài không có tính trường ca
Sắp tới, sẽ hoàn thiện Danh sách số 2 (Những bài thơ như là “tiểu trường ca” Việt Nam),và hy vọng sớm công bố Danh sách số 3 (Tác giả thơ dài tiêu biểu
Việt Nam)
Trang 6Dường như vẫn còn một dấu hỏi luôn neo trong đầu mỗi người ham thích tìm hiểu sinh hoạt sáng tác văn học: Tổng số các nhà thơ Việt, từ thời Thơ Mới đến nay, khoảng chừng bao nhiêu? (Xin nêu luôn một xác định riêng về “nhà thơ” ở đây: Đó là các tác giả của những sáng tác thơ được đánh giá, lưu giữ trong một
cộng đồng nhất định)
Ở tầm tay hạn hẹp, bằng phương pháp thống kê, chúng tôi tạm thời ước tính: Tất cả có lẽ là khoảng 2000 nhà thơ Việt Nam hiện đại? Tóm tắt2cách định lượng: Một, ngoại suy từ một số danh sách chuẩn, hoặc tương đối chuẩn, như: khoảng 460 nhà thơ hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; 785 nhà thơ tiêu biểu thế
kỷ 20 (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Việt Nam cinet.gov.vn); danh sách tác giả thơ của những trang mạng văn học quan trọng nhất ở trong và ngoài nước (vanvn.net, thivien.net, vanchuongviet.org, phongdiep.net, thica.net, tienve.org, damau.org, gio-o.com, talachu.org, newvietart.com, vi.wikipedia.org) Hai, suy diễn theo số lượng tác giả trường ca và thơ dài mà chúng tôi “có trong tay” (có thể vuông tròn thừa thiếu con số 361 trên thực tế là 400) và theo 5 danh sách quen thuộc (45 tác giả trong Thi nhân Việt Nam / Hoài Thanh – Hoài Chân,
200 tác giả trong Thơ Việt Nam thế kỷ 20 / Hội Nhà văn Việt Nam, 123 tác giả thơ tình 1954-1975 miền Nam Việt Nam / gio-o.com, 100 bài thơ Việt Nam hay nhất thế kỷ 20 / Trung tâm Văn hóa Doanh nhân, và 100 bài thơ chọn lọc thế kỷ 20 / Gia Dũng), chúng tôi đã rút ra được “tỷ lệ vàng 1/5” cho số các thi
sĩ sáng tác theo phong cách trường ca trên tổng số các nhà thơ nói chung Thật cân xứng: bàn tay có 5 ngón tay thơ thì người Việt dành 1 ngón cho thơ trường
ca!
Ngoài một số ít tác giả là thi hữu đã cung cấp trực tiếp tác phẩm, nguồn tham chiếu chính của chúng tôi là các trang mạng; một phần vì hiếm có cơ hội cập nhật sách báo in ấn ở Việt Nam Thành thật xin lỗi về thiếu sót, nhầm lẫn chắc
sẽ có ở nhiều mặt (tiêu chí tuyển chọn, vấn đề văn bản và xuất bản…), nhất là với các tác giả, tác phẩm trường ca đã xuất bản mà danh sách chưa có được! Cũng bởi thế, chúng tôi mong nhận được ý kiến đóng góp cũng như thông tin
về tác phẩm, tác giả thơ có tính trường ca Việt Nam Các ý tưởng và bài vở thích hợp – khi được người gửi đồng thuận - có thể tham gia vào bản thảo cuốn
Trang 7sách dự tính mang tên “Một cách tìm hiểu trường ca Việt Nam”
Chân thành cám ơn những cộng tác, giúp đỡ vô giá của các tác giả và độc giả, các thi sĩ và nghiên cứu gia, độc lập hay trong các cơ quan, tổ chức văn học, ở trong và ngoài nước; cũng như những báo chí, trang mạng đã và sẽ giới thiệu các danh sách này Xin ghi nhận tấm thịnh tình từ: Các bạn văn đầu tiên đã đọc
và cổ vũ, như nhà lí luận-phê bình Trần Thiện Khanh và các nhà thơ Khế Iêm, Mai Văn Phấn, Trần Anh Thái, Nguyễn Đức Tùng; Các nhà thơ, các nhà nghiên cứu như Nguyễn Anh Nông, Diêu Lan Phương, Đặng Tiến Huy, Duy Phi, Nguyễn Trọng Văn, Trần Nhuận Minh, Nguyễn Anh Tuấn, Từ Nguyên Tĩnh, cùng nhiều tác giả, độc giả khácđã có những thông tin, trao đổi quý báu
kể từ sau danh sách đầu tiên (7/7/2010), mà đáng kể nhất là có được 30 tác giả cùng khoảng 50 tác phẩm nhờ tham khảo thống kê của nhà nghiên cứu-phê bình Mai Bá Ấn Đặc biệt, nhà thơ Trần Quốc Minh đã nhiệt thành giới thiệu một số tác giả, công phu cung cấp tác phẩm cần thiết, khi đại diện cho chúng tôi liên lạc với các tác giả ở Hải Phòng - một vùng đất sản sinh “trường phái thơ Hải Phòng”, trong đó có dòng trường ca đặc sắc với khoảng 27 tác giả mà
cuốn sách sẽ dành sự quan tâm cần thiết
“Thói quen cứ muốn lập danh sách cho mọi thứ nghe có vẻ tùy tiện hoặc vô lí: Những người lập danh sách đã để ngỏ cả khoảng trống vô tận cho những người bình luận khi mọi sự sáng tỏ, mặc dầu lí do hợp lí nhất của việc lập danh sách
là để khích lệ những nhà bình luận ấy Văn chương hay tự nó nói lên tất cả, và còn nói mãi; những nhà văn hay nhất hôm nay còn đang viết là những người
mà cháu chắt của chúng ta sẽ đọc Thế nhưng, sự quyến rũ của ‘danh sách’ đã
ăn sâu vào não trạng chúng ta (“20 tác giả dưới 40 tuổi của văn học Mỹ”; Ban
biên tập The New Yorker; Theo bản dịch của Hiếu Tân)
Chúng tôi tán đồng! Và đấy là một trong vài lí do để chia sẻ nơi đây các danh
sách tác giả, tác phẩm trường ca Việt Nam
Trang 8Thư từ, bài vở xin gửi về: Đỗ Quyên; email: truongcaviet@yahoo.com
Trân trọng
III CÁC DANH SÁCH TÁC GIẢ, TÁC PHẨM TRƯỜNG CA VIỆT NAM
Sau đây là 6 danh sách (cập nhật 15/2/2011)
Số 1, 1a, 1b, 1c, 1d - Tác giả và tác phẩm trường ca và thơ dài Việt Nam
và Số 2 - Những bài thơ như là “tiểu trường ca” Việt Nam
- Danh sách số 1: 361 Tác giả và 842 tác phẩm trường ca và thơ dài Việt Nam
- Danh sách số 1a: 361 Tác giả trường ca và thơ dài Việt Nam
- Danh sách số 1b: 263 Tác giả trường caViệt Nam
- Danh sách số 1c: 98 Tác giả thơ dài có tính trường ca Việt Nam
- Danh sách số 1d:842 Tác phẩm trường ca và thơ dài Việt Nam
- Danh sách số 2: Những bài thơ như là “tiểu trường ca” Việt Nam (Phác thảo:
98 Tiểu trường ca Việt Nam với 69 tác giả)
*
Danh sách số 1
361 Tác giả và 842 tác phẩm trường ca và thơ dài Việt Nam
Một số quy ước:
- Tên tác giả in nghiêng: Tác giả chỉ viết thơ dài có tính trường ca
- Tên tác phẩm in nghiêng: Thơ dài có tính trường ca
- Tên tác phẩm in đậm: Người biên khảo chưa được tiếp cận văn bản
- Tên tác phẩm cần kiểm chứng: [?]
- Năm hoàn thành để sau tên tác phẩm; để trống khi không rõ
Trang 94 Đặng Nguyệt Anh
* Trường ca Mẹ (1994)
5 Hoài Anh
Trang 10Trường ca Điện Biên - tổ khúc Hà Nội (1995)
6 Vương Anh
Sao chóp núi (1968)
7 Nguyễn Đình Ảnh
+ Vầng sáng và những kỳ tích [?] (2000)
8 Việt Ánh
+ Anh Ba Thắng (1949)
9 Nguyễn Lương Ba
# Giấc mơ
10 Nguyễn Bá
Hòn Khoai (2000), Nguyễn Trung Trực (2000)
11 Ngọc Bái
Trang 11Lời cất lên từ đất (1999), Miền quê thao thức (2007), Con của phù sa (2009),
15 Nguyễn Nguyên Bẩy
Bài ca rộng khổ chép ở ga Hàng Cỏ đề gửi Nguyễn Khắc Phục;
Ô cửa vầng trăng, Sông Cái mỉm cười
16 Nguyễn Thị Bích
* Sông Hồng phù sa (1995)
17 Nguyễn Thị Thanh Bình
* # Tuyên ngôn của những siêu sao (2007), Đôi giày phụ nữ made in Vietnam, Để nghĩ về một thi sĩ, Nhục ca của bầy chó câm và những con người im lặng
Trang 12(2010), Xin một ngày tháng Tư (2010), Giả định mùa sen nở
18 Nguyễn Trung Bình
+ Bài của trẻ dáng nâu (1996)
23 Thu Bồn + Tiếng hú người Dioloa (1974), Quê hương mặt trời vàng (1975), Thông điệp
Trang 13mùa xuân (1985), Hà Nội ngày nào (1996);
Bài ca chim Chơ rao (1962), Vách đá Hồ Chí Minh (1970), Người gồng gánh phương Đông (1972), Chim vàng chốt lửa (1975), Badan khát (1976), Campuchia hy vọng (1978), Oran 76 ngọn (1979), Người vắt sữa bầu trời
(1985), Đi tìm lá cỏ
24 Nhã Ca
* # Đàn bà là mặt trời (1972), Một đoạn nhã ca (1972)
25 Thái Can
+ Cảnh đoạn trường
28 Đào Cảng + Hải Phòng – 1972 (1975)
Trang 1429 Hoàng Cầm
+ Đêm liên hoan (1947), Tiếng hát sông Lô (1947), Bên kia sông Đuống (1948), Mùa xuân đến rồi đây (1956), Nhân câu chuyện một tuổi trẻ anh hùng chống
Mỹ (1965);
Tiếng hát quan họ (1956), Về Kinh Bắc (1960)
30 Huy Cận
+ Người bác sĩ (1986);
Người thợ ảnh (1986), Cô gái Mèo (1986), Cướp biển đến ngày chết đuối
(1986), Cha ông nghìn thuở (2002)
31 Nguyễn Quốc Chánh
Những mối quan hệ (2001), Triển lãm bản địa (2001), Giữa truyền thống chạy
rong & thủ đoạn phủ sóng (2001)
32 Trúc Chi
Miền Nam là trái tim của Bác (1970);
Thành phố hoa mặt trời (1986)
33 Nguyễn Đình Chiến Cutudốp & Napôlêông (1996)
Trang 1534 Nguyễn Việt Chiến
Cỏ trên đất(2000), Trẻ em trên mặt đất (2004), Con người (2004)
35 Phan Đức Chính Mưa trong đất (2004), Mây trắng bay về đâu (2006)
36 Vũ Trung Chính Việt Nam lịch sử diễn ca (2010)
37 Vũ Thành Chung Một thời nhớ (2006)
41 Hoàng Trần Cương
Trang 16Trầm tích (1999), Đỉnh vua, U minh, Long mạch [?], Đất nện (2010), Cặn muối
(2010)
42 Trúc Cương
+ Bản xô-nát tặng người con gái đánh dương cầm (1968), Mạch nước ngọt ngào
46 Trần Dần
+ Nhất định thắng (1955), Cách mạng tháng Tám(1956);
Đây Việt Bắc (1957), Cổng tỉnh (1960), Mùa sạch (1964), Kể kệ (1976)
Trang 17Ngọn quốc kỳ(1945), Hội nghị non sông (1946), Hoa học trò
50 Nguyễn Văn Dinh
Trường ca Quảng Bình (1956)
51 Phạm Tiến Duật
+ Lửa đèn (1967);
Những vùng rừng không dân, Tiếng bom và tiếng chuông chùa (1997)
52 Trương Thị Kim Dung
*
Trang 18bát lên đồng (1999)
55 Trần Tiến Dũng Những công dân hạng hai (2004), Ngày - tháng - năm của hoa
56 Khương Hữu Dụng
+ Kinh nhật tụng của người chiến sĩ(1946),Từ đêm Mười chín (1948)
Trang 19Thổ (1992)
59 Lưu Trùng Dương Như hòn Non Nước (1971), 40 năm (1985)
63 Văn Đắc
Khúc hát từ nguồn nước (1978), Trường ca thành Tây Đô (2003)
64 Hà Thanh Đẩu
Việt Nam hùng sử ca (1946)
Trang 2065 Khuất Đẩu
Khúc sinh ca của đồng lúa trổ (1970)
66 Nguyễn Khoa Điềm
Đất ngoại ô (1969), Biển trước mặt (1982);
Mặt đường khát vọng(1971)
67 Trinh Đường
+ Nhớ về một nhịp cầu một khúc sông(1983);
Bạch Đằng giang khúc (1963), Núi canh (1964), Điện Biên phủ trên không
(1997)
68 Nguyễn Hoàng Đức
Kẻ hành hương từ đời đến thơ (1997),Đợi chuyến đò đã lỡ (1998), Ngước lên
cao, Bóng tượng đài ám ảnh
69 Nguyễn Quí Đức
# Ngôn từ (2009)
70 Kiên Giang Lúa sạ miền Nam (1964)
71 Lam Giang
Trang 21Trở lại dấu chân mình (1994)
72 Phan Trường Giang
77 Nguyễn Xuân Hanh
Trang 22Giông bão (2000)
78 Thúc Hà
+ Khúc ca về những mái trường (1969)
79 Nguyễn Hưng Hải
Mảnh hồn chim Lạc (2004), Mưa mặt trời (2005)
80 Phan Tấn Hải
# Giữa những dòng thơ lời chưa nói, Bài thơ mời em theo vào cuộc đời
83 Trần Mạnh Hảo
Trang 23Đất nước hình tia chớp (1975), Thành phố của mỗi người, Mặt trời trong lòng
đất (1981), Ba cặp núi và một hòn núi lẻ (1986), Điện Biên Phủ
84 Phan Nhiên Hạo
# Lịch sử thời đại tường thuật bởi một người lưu vong (2007)
85 Lê Ngân Hằng
* Bài thơ về một buổi sáng và con chim cuốc (2007), Tựa bài thơ viết cho chữ H (2007), Quật mộ (2007), Sưu tập mùa đông, 17, Tựa một bản dự thảo
“marketing”, Làm đàn bà,Về sự trôi đi (2008), Quê (2008), Đan len (2009), Thi
sĩ và những chuyện khác (2009), Tập kể cổ tích mùa Thu, Còn có một bí mật này thủa xưa, Thư Tết bạn xa (2010), Họ - khoa học viễn tưởng (2010)
86 Nguyễn Trung Hậu
Vũ điệu hành tinh (2002), Bánh đất bánh trời (2006), Chuyện cổ tích giữa đời
nay (2010)
87 Đặng Hiển Đôi cánh (1974), Đất nước trong lớp học (2003)
88 Trần Quang Hiển Gió ngàn lau (2009)
89 Vũ Hiển
Trang 24Bản “Xô-nát dưới cống” trong những ngày lụt lội (2008)
90 Ngọc Hiền
Được mùa đẩy mạnh vụ chiêm (1957)
91 Nguyễn Tôn Hiệt
# Chỗ nào khô thì ngủ qua đêm (2008), Một người đang viết (2008)
92 Nguyễn Hiếu
Nhân dân (1988), Nhân loại (2010);
Niềm vui bất tuyệt (1982)
93 Ngọc Thiên Hoa
# Việt Nam lục bát sử (2007), Ngàn năm lục bát (2010)
94 Đông Hoài
Làng nghèo (1957), Tôi đã từng sống (1989);
Vô thanh lệ nhạc (1946)
95 Trịnh Bửu Hoài Giữa hai mùa hẹn ước (1985)
Trang 2596 Nguyễn Chí Hoan Những khúc hoàng hôn (1994)
97 Lưu Quốc Hòa
Những vì sao không tắt (2008)
98 Đông Hồ
+ Thăng Long hành
99 Nguyên Hồ
Bài ca dâng Đảng (1970), Ngọc càng mài càng sáng (1970), Bài ca bốn ngàn
năm tổ quốc Việt Nam (1975)
Trang 26102 Nguyên Hồng
+ Kính chào những viên đạn của Hải Phòng cửa biển quê hương (1967)
103 Nguyễn Thị Hồng
* Cuộc bàn giao Vĩnh cửu và Hồn khèn (2003)
104 Luân Hoán
# Trên vuông chiếu đời ta, Quê hương nhắm mắt như sờ được Ðà Nẵng muôn đời trong trái tim, Trên đường Đà Nẵng Qui Nhơn, Qua ngõ mỹ nhân;
Trang 27112 Cầm Hùng Những người con của bản (2000)
113 Đinh Hùng
+ Thần tụng (1954), Đường vào tình sử (1961), Lạc hồn ca (1968)
Trang 28119 Hoàng Hưng America
120 Vũ Xuân Hương
Trang 29Dòng sông mở đất (2001)
121 Tố Hữu
+ Hoan hô chiến sĩ Điện Biên (1954), Ta đi tới (1954), Việt Bắc (1954), Quang vinh tổ quốc chúng ta (1955), Bài ca mùa xuân (1961), Trên đường thiên lý (1964), Chuyện em (1968), Một nhành xuân (1980), Đường của ta đi (1974);
Ba mươi năm đời ta có Đảng(1960), Theo chân Bác (1970), Nước non ngàn
dặm (1973)
122 Trần Công Hữu
+ Những năm tháng ấy Hải Phòng (2007)
123 Inrasara
Những ngày rỗng;
Chuyện người đời thường, Quê hương (1995), Lễ tẩy trần tháng Tư (2002),
Chuyện 40 năm mới kể (2006)
124 Đỗ Kh
# Bài thơ nhiều phong vị nước ngoài và địa phương màu mètặng các bạn Việt của tôi (1994) Sài Gòn – Hà Nội – Đà Nẵng – Huế(1994),Tấm hình Zagreb,Đừng làm xạ thủ giật mình (2003), Chiến tranh đã chấm dứt từ lâu
(2003)
Trang 30125 Dương Tam Kha
Anh hùng Lò Văn Giá (2003)
126 Đào Anh Kha
Hồ Chí Minh sự thật truyền kỳ (1990)
127 Ngô Kha
+ Ngụ ngôn của người đãng trí (1968), Trường ca Hòa bình (1969)
128 Nguyễn Thụy Kha
Gió Tây Nguyên (1999), Năm tháng và chiều cao (2000), Những người xếp dỡ
131 Nguyễn Minh Khang
Trang 31Hành quân Trường Sơn (2008)
132 Cao Vị Khanh
# Khúc đoạn trường (2001)
133 Vũ Anh Khanh
+ Tha La xóm đạo (1949);
Chiến sĩ hành (1949)
134 Cao Đông Khánh
# + Cánh đồng trầm thủy;
Trường ca Vượt biển (1980), Anh hùng mạt vận, Di tản America
135 Tạ Kim Khánh
Về miền thương nhớ (2005)
136 Bích Khê + Châu III
137 Nguyễn Minh Khiêm Hát với cánh đồng (2007), Cửa Tả (2010)
Trang 32138 Nguyễn Linh Khiếu
Ban mai Diêm Điền (1999), Hoa linh (2000), Khuôn mặt linh [?] (2006), Phồn
sinh (2007)
139 Trần Đăng Khoa
Đi đánh thần hạn (1970), Làng quê, Trường ca Trừng phạt (1973), Khúc hát
người anh hùng (1974), Trường ca Giông bão (1983)
140 Trần Khoái
Chìm nổi làng quê (2007)
141 Dương Kiền
# Sáu mươi (1999)
Trang 33144 Đỗ Trung Lai
Thơ tự do ở Côn Đảo (2010)
145 Nguyễn Thị Ngọc Lan
* # Chuyện của em và Trần Dần
146 Yến Lan
+ Bình Định 1945(1945), Bình Định 1947, 1957 – Hà Nội sang hè (1957), Mùa
xuân lên cao (1958), Những ngọn đèn ngoại ô,Chiếc quả sơn;
Én đào (1979), Khúc ruột miền Trung
147 Bàng Bá Lân
+ Đói (1957)
148 Huyền Lam Phủ Quì
149 Nguyễn Viết Lãm
Những khúc ca về một dòng sông (1972)
Trang 34150 Mã Giang Lân
Hàm Rồng (2010)
151 Mạnh Lê
+ Người đánh thức đất đai (2006), Lửa Hàm Rồng (2007), Đất nước thuở Hùng
(2008)
152 Du Tử Lê
# Khát vọng cho con (1964), Khởi đầu một kiếp (1969), Vỡ lòng cho một người con gái Mỹ (1969), Du tử lê - thơ - sau nhiều tháng không – thơ (2011), Cuối
năm - chuyện vãn với bệnh Thyroid (2011);
Trường khúc Mẹ về biển Đông (1990)
Trang 35157 Nguyễn Gia Linh
Lệ Chi hận sử (2001)
158 Nguyễn Thế Hoàng Linh
Bức thư gửi tới nhân loại hoặc Không cần đặt tên (2002), Viết tiếp một chuyện
ảo (2002), Bức thư thứ hai gửi tới chính phủ, Đan Kô, Mong mọi người góp ý, Không viết về viết (2003), Không nghĩ ra tên (2003), Nhẹ (2004), Khúc hát đứa
trẻ câm (2004)
159 Vi Thuỳ Linh
*
23 tháng 3 - nơi ánh sáng (2003), Paris đang yêu (2005), Kỳ ngộ xứ cầu vồng
(2005), Cám ơn con (2005), Yêu cùng George Sand (2005)
160 Viên Linh
#
Trang 36Thủy mộ quan (1982)
161 Hữu Loan
+ Tình thủ đô (1951)
162 Thái Thăng Long Gió rừng Sác (1995)
163 Vân Long
Hải Phòng - đêm mùa thu 1967 (1967), Chuyện kể về một vùng biển nóng
164 Lê Xuân Lợi
Sử ca nước Việt (2010)
165 Lưu Trọng Lư
+ Giang hồ (1939), Đường ta đi thế đấy bạn lòng ơi (1975);
Những dấu chân (1964), Trăng xoan (1969)
166 Trần Lưu
Tiếng còi tàu ngày ấy (1972)
Trang 37169 Thế Mạc
+ Suối;
Trường ca Núi Tỏ
170 Lê Huy Mậu Thời gian khắc khoải [?] (2002), Khúc vô thanh [?] (2010)
171 Nguyễn Đức Mậu Trường ca Sư đoàn (1980), Bão và sau bão (1994), Mở bàn tay gặp núi (2008)
172 Lê Thị Mây
*
Tự khúc ánh sáng, Lửa mùa hong áo (2002)
173 Dương Kiều Minh
Trang 38Bày tỏ (1990), Những cuộc tiễn đưa, Những đoạn thơ không đầu - bỏ dở (2007), Những con đường cổ xưa (2008), Chạnh niềm thôn dã, Sực nhớ núi đồi, Khúc tưởng niệm, Mùa nghiêng đổ những ngày buồn bã, Vọng niệm
174 Hồng Minh
Bác về đây hình ảnh của hòa bình (1955)
175 Nguyễn Hữu Hồng Minh
Vỉa từ(2004)
176 Nguyễn Nhật Minh Echos (2009)
177 Trần Quốc Minh Cuộc đời một nhà máy, Gió thổi từ biển (2006)
178 Trần Hồng Minh Bến rừng [?]
179 Trần Nhuận Minh
Trang 39Miền đông (1971), Mùa xuân thứ nhất (1971), Một trăm bước cuối cùng (1979), Đá cháy (1980), Thành phố bên này sông (1982), Bản Xônat hoang dã
(2003), 45 khúc đàn bầu của kẻ vô danh (2007)
180 Vũ Đình Minh
+ Tình con trong lòng mẹ [?]
181 Từ Thế Mộng
+
Má thương yêu (2005)
182 Nguyễn Thanh Mừng Khởi hành cùng ba mươi chín mùa xuân(2005)
183 Giang Nam
Người anh hùng Đồng Tháp (1969), Ánh chớp đêm giao thừa (1998), Sông
Dinh mùa trăng khuyết (2002)
184 Liên Nam
Núi rừng mở cánh [?] (1972), Trên cát trắng (1973), Tiếng hát mùa màng
(1980), Truyền thuyết biển đổi màu (2000)
185 Ngô Quang Nam
Trang 40Trường ca ngày vui thế kỷ (1975)
186 Nguyễn Hoàng Nam
# Làm cha (1995)
190 Anh Ngọc
Khúc khải hoàn của đất đai (1972);
Sóng Côn Đảo (1975), Sông núi trên vai (1977), Sông Mê Công bốn mặt
(1981), Điệp khúc vô danh (1983)
191 Lữ Huy Nguyên
+
Cô Tứ tóc vàng (1971); Dấu chân đồng đội (1974);