Tuy nhiên qua quá trình quan sát ở những giờ hoạt động chung đặc biệt là qua môn nhận biết tập nói, tôi thấy các cháu rất thích được trò chuyện, thích được giao tiếp và thích được nói nh
Trang 1MỤC LỤC
Phần một
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
1 Lý do chọn đề tài……….…….……….2
2 Mục đích nghiên cứu……… ……… … 3
3 Nhiệm vụ nghiên cứu……… ……… … …3
4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu… ……… ……… ……….3
5 Phương pháp nghiên cứu……… ……… …….3
6 Thời gian nghiên cứu……… ……… …3
Phần hai NỘI DUNG 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn……… …….4
1.1 Cơ sở lý luận……… ……….… ……5
1.2 Cơ sở thực tiễn……… ……… ….… ……5
2 Điều tra thực trạng……… ……… ………6
2.1 Thực trạng… ……… …………6
2.2 Đánh giá thực trạng……….….…….………6
3 Biện pháp giải quyết… ……… ………7- 10 4 Kết quả và bài học kinh nghiệm……… ……… 11
Phần ba KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1 Kết luận……… ………… 12
2 Kiến nghị……….……… ……….13
3 Tài liệu tham khảo……… …….14
Trang 2Phần một
PHẦN MỞ ĐẦU
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI.
Trong một lần nói chuyện với lớp cán bộ đào tạo mẫu giáo, Bác Hồ đã từngnhắc nhở: “ làm mẫu giáo tức là thay mẹ dạy trẻ Muốn làm thế thì trước hết phải yêu trẻ Các cháu nhỏ hay quấy, phải bền bỉ, chịu khó mới nuôi dạy được các cháu Dạy trẻ như trồng cây non Trồng cây non được tốt thì sau này cây lên tốt Dạy trẻ nhỏ tốt thì sau này cháu trở thành người tốt”
Xuất phát từ nhận thức ấy tuân theo lời căn dặn của Người Hiện nay trẻ
em, những thế hệ mầm non đang rất được quan tâm vì các em là - “mầm nhân tài”, “mầm trí tuệ” của đất nước Do đó người giáo viên mầm non không chỉ
chú trọng đến nội dung chăm sóc mà cần chú trọng đến cả phương pháp dạy học
và giáo dục trẻ
Ai cũng biết ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của con người Ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển tâm
lý ở trẻ
Ở trẻ nhà trẻ, bộ máy phát âm còn yếu ớt rất nhạy cảm và còn tiếp tục hoàn chỉnh cùng với sự phát triển chung của cơ thể Tuy nhiên qua quá trình quan sát ở những giờ hoạt động chung đặc biệt là qua môn nhận biết tập nói, tôi thấy các cháu rất thích được trò chuyện, thích được giao tiếp và thích được nói nhưng vì ngôn ngữ còn hạn chế, các cháu sử dụng ngôn ngữ thụ động nhiều Đa
số các cháu còn nói ngọng, nói lắp, nói không rõ chữ, rõ ý, hay lặp lại các câu nói của cô Mặt khác các cháu còn nhỏ nên thường có phản ứng chậm chạp hoặc rất khó khăn để hiểu những yêu cầu của cô giáo
Đơn vị trường Mầm non Nùng Nàng nơi tôi công tác với đặc điểm là một
xã đặc biệt khó khăn thuộc vùng 135, 100% trẻ là người dân tộc H’Mông nên việc dạy trẻ nhà trẻ nhận biết tập nói phải sử dụng kết hợp 2 thứ tiếng: Tiếng Việt và tiếng dân tộc còn gặp rất nhiều khó khăn với tôi và khả năng nắm bắt ngôn ngữ của trẻ
Chính vì những khó khăn trên, tôi đã mạnh dạn xây dựng đề tài: “ Một số biện pháp giúp trẻ phát triển tốt ngôn ngữ qua môn nhận biết tập nói ở nhóm trẻ
25 – 36 tháng trung tâm - Trường Mầm non Nùng Nàng”
Trang 32 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Đề tài nghiên cứu các biện pháp giúp trẻ phát triển tốt ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ độ tuổi 25 – 36 tháng nhằm mục đích:
* Đối với trẻ:
- Giúp trẻ phát triển vốn từ, nói rõ chữ, rõ ý, hiểu và làm theo lời nói của
cô giáo và những người xung quanh
- Nhận biết, tập nói chính xác các đặc điểm của đối tượng từ đó nâng cao vốn từ của trẻ
* Đối với giáo viên:
- Giúp giáo viên lựa chọn phương pháp, hình thức phát triển ngôn ngữ cho trẻ phù hợp với kiến thức của bài dạy để áp dụng vào thực tế ở địa phương
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
- Nghiên cứu các tài liệu có liên quan đến việc thực hiện đề tài.
- Tìm hiểu, khảo sát thực trạng việc sử dụng ngôn ngữ và sự phát triển ngôn ngữ của trẻ qua môn nhận biết tập nói ở nhóm trẻ 25 – 36 tháng trung tâm trường mầm non Nùng Nàng
- Thiết kế và thử nghiệm các biện pháp giúp trẻ phát triển tốt ngôn ngữ cho trẻ tại nhóm /lớp
- Đánh giá, kết luận việc thực hiện đề tài
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU:
- Đối tượng: Nhóm trẻ 25- 36 tháng trung tâm - trường Mầm non Nùng Nàng
- Phạm vi nghiên cứu: Một số biện pháp giúp trẻ phát triển tốt ngôn ngữ qua môn nhận biết tập nói cho trẻ nhà trẻ 25- 36 tháng
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
- Phương pháp dùng lời nói
- Phương pháp hoạt động với đồ vật
- Phương pháp trực quan hành động
- Phương pháp dùng hình ảnh minh hoạ
6 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU:
Bắt đầu từ tháng 9/ 2009 đến tháng 3/ 2010:
- Tháng 9/ 2009: Tìm hiểu thực trạng
- Tháng 10/ 2009: Xác định đề tài và xây dựng đề tài
- Tháng 11/ 2009: Nghiên cứu cơ sở lý luận
- Tháng 12/ 2009: Vận dụng lý luận vào thực tiễn
Trang 4- Tháng 01/ 2010: Nộp về Phòng xét duyệt lần 1.
- Tháng 02/ 2010: Tiếp tục vận dụng lý luận vào thực tiễn
- Tháng 03/ 2010: Nghiệm thu đề tài, viết đề tài
Phần hai
NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN.
1 Cơ sở lý luận:
Trong chương trình chăm sóc giáo dục trẻ nhà trẻ từ 3 đến 36 tháng, môn nhận biết tập nói là một môn học giúp trẻ nhận biết và tập nói về tên gọi và một
số đặc điểm nổi bật của các đối tượng gần gũi xung quanh để tăng thêm vốn từ
và mở rộng hiểu biết về thế giới xung quanh Những kiến thức mà trẻ nắm được
ở môn học này là một quá trình quan sát, ghi nhớ, tư duy, tưởng tượng Từ đó thấy được ý nghĩa quan trọng của ngôn ngữ và thấy rằng việc phát triển ngôn ngữ cho trẻ nhà trẻ qua môn nhận biết tập nói là công việc hàng đầu của giáo dục, giúp trẻ không chỉ biết lắng nghe để thể hiện suy nghĩ, tình cảm và ý kiến của mình mà còn chuẩn bị cho việc làm quen với văn học và chữ viết ở những lớp học trên
2 Cơ sở thực tiễn:
Hoạt động nhận biết tập nói của trẻ nhà trẻ là việc dạy trẻ phát triển ngôn ngữ qua việc sử dụng ngôn ngữ đối thoại (miệng nói, tai nghe) và việc kết hợp trực quan minh hoạ bằng hành động, bằng hình ảnh Trong thực tiễn, đặc điểm
về việc dạy trẻ 25- 36 tháng phát triển ngôn ngữ qua môn nhận biết biết tập nói như sau:
2.1 Về nhận biết tên gọi:
- Dạy trẻ nhận biết và tập nói về đối tượng, cho trẻ tập nói nhiều lần theo các hình thức: cả lớp, cá nhân
- Dạy trẻ nói đúng chính tả, rõ lời, rõ ý
2.2 Nhận biết các đặc điểm, công dụng của đối tượng:
- Dạy trẻ nhận biết các đặc điểm nổi bật của đối tượng, sau đó kết hợp cho trẻ tập nói và nói về công dụng của những đối tượng đó
- Dạy trẻ phân biệt 2 đối tượng qua tên gọi, một số đặc điểm nổi bật, công dụng của chúng
Trang 52.3 Về mở rộng kiến thức:
- Dạy trẻ phát triển ngôn ngữ qua việc mở rộng vốn từ, tư duy tưởng tượng cho trẻ liên hệ với thực tế kể về những đối tượng mà trẻ đã thấy có liên quan đến bài học
II ĐIỀU TRA THỰC TRẠNG:
1.Thực trạng:
1.1 Điều kiện thực tế:
- Tống số học sinh trong nhóm/ lớp: 13 cháu
- Môi trường lớp học chưa đảm bảo về diện tích, ánh sáng và trang thiết bị dạy và học
- Giáo viên: 2 cô/ nhóm
- Trình độ: Cao đẳng: 02
1.2 Thực trạng về việc phát triển ngôn ngữ của trẻ tại nhóm lớp:
* Về nhận biết tên gọi:
- Trẻ nhận biết và gọi được tên của đối tượng, song chủ yếu là do cô nói trước rồi trẻ bắt chước nói theo, trẻ nói còn ngọng chưa rõ lời vì vậy tên gọi của đối tượng về cơ bản không chính xác
*Về nhận biết các đặc điểm, công dụng của đối tượng:
- Trẻ có thể nhận biết tập nói được một số đặc điểm nổi bật của đối tượng, song trẻ chưa hiểu và nói được hết công dụng của các đặc điểm đó Đó là cơ sở của hoạt động làm quen với môi trường xung quanh sau này
- Việc phân biệt giữa 2 đối tượng dựa nhiều vào cảm tính, trực quan đồ vật Trẻ nhận biết và phân biệt các đối tượng bằng trực quan, chưa có kỹ năng vì vậy còn ảnh hưởng bởi sự tác động của các yếu tố bên ngoài như: màu sắc, kích thước, sự phân bố không gian
* Về mở rộng kiến thức:
- Trẻ đã nói được một số đối tượng gần gũi quen thộc song trẻ chưa mở rộng được những đối tượng khác ngoài bài dạy
Từ những đặc điểm trên đây cùng với kinh nghiệm của bản thân tôi thấy
để trẻ 25- 36 tháng phát triển tốt ngôn ngữ qua hoạt động nhận biết tập nói thì trong mỗi tiết học, mỗi hoạt động cô giáo cần phải khuyến khích trẻ phát triển ngôn ngữ bằng hình thức cho trẻ tập nói theo cô nhiều lần, dạy trẻ nói rõ chữ, rõ
ý, không nói ngọng Bên cạnh đó cô giáo cần nghiên cứu sử dụng các đồ dùng trực quan đa dạng (vật thật, đồ chơi, tranh ảnh) bằng các nguyên vật liệu khác nhau, kích thước khác nhau để khuyến khích trẻ hứng thú phát triển ngôn ngữ
Trang 6Để một tiết học về cơ bản vẫn đảm bảo về nội dung, phương pháp, thời gian quy định mà vẫn mang hình thức là một giờ chơi
2 Đánh giá thực trạng nhóm trẻ 25 – 36 tháng trung tâm trường mầm non Nùng Nàng.
2.1 Thuận lợi:
- Trong năm học được sự quan tâm giúp đỡ của Phòng GD, cũng như sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương trong địa bàn xã, của ban giám hiệu nhà trường:
- Lớp được biên chế 2 giáo viên, các cô có lòng nhiệt tình, yêu nghề, mến trẻ Nắm vững phương pháp chăm sóc giáo dục trẻ phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương
- Độ tuổi của trẻ đến lớp tương đối đồng đều
- Đa số trẻ được ăn ngủ bán trú tại lớp (12/13 cháu) Tỉ lệ chuyên cần đạt khoảng 85%
- Phòng học đã được xây dựng kiên cố nên rất thuận lợi cho việc dạy và học của cô và trẻ
- Lớp học có đầy đủ các trang thiết bị như: điện thắp sáng, quạt điện, bàn ghế đồng bộ phù hợp với lứa tuổi trẻ ở nhà trẻ Đặc biệt là tranh chủ đề luôn thay đổi để trẻ nhận biết và tập nói để phát triển ngôn ngữ Trang trí đầy đủ các góc theo chủ đề để dạy trẻ theo chương trình đổi mới hình thức
2.2 Khó khăn:
- Địa bàn các điểm bản rộng nên ảnh hưởng nhiều đến việc các bậc phụ huynh đưa, đón con em đến lớp đúng giờ qui định
- Trình độ nhận thức của một số phụ huynh còn hạn chế nên ảnh hưởng đến việc phối kết hợp chăm sóc giáo dục trẻ giữa gia đình và nhà trường
- Ngôn ngữ của trẻ phát triển chưa đồng đều, một số trẻ ở đầu độ tuổi còn nói ngọng, bập bẹ, nhút nhát, khả năng nhận thức chậm
- Lứa tuổi của trẻ còn nhỏ, năm đầu tiên ra lớp nên việc sử dụng ngôn ngữ qua các hoạt động học tập và giao tiếp với cô còn rất nhiều hạn chế do bất đồng ngôn ngữ
- Đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho các hoạt động nhận biệt tập nói còn thiếu thốn, chưa đảm bảo về kích thước, màu sắc và độ rõ nét của đối tượng
- Môi trường cho trẻ hoạt động chưa đảm bảo, diện tích lớp học, sân chơi chưa đảm bảo diện tích tối thiểu cho trẻ hoạt động
Trang 7Từ những thuận lợi và khó khăn trên tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá đúng khả năng của trẻ để có phương hướng phấn đấu đạt được kết quả cao trong giảng dạy, ngay từ đầu năm học tôi đã tiến hành khảo sát đánh giá xếp loại trẻ ở các câu hỏi, bài tập theo 3 mức độ:
1 Nhận biết gọi tên
2 Nhận biết phân biệt
3 Mở rộng kiến thức liên hệ thực tế
Số trẻ thực hiện được yêu cầu của bài tập được xếp loại chung như sau:
Xếp loại
Nội dung
bình Không đạt
Số trẻ %
Số trẻ %
Số trẻ %
Số trẻ %
Qua đó tôi thấy việc phát triển ngôn ngữ qua môn nhận biết tập nói còn rất kém, với kết quả trên bản thân tôi thấy cần phải tìm ra các biện pháp để giúp trẻ phát triển tốt ngôn ngữ để từ đó nâng dần kết quả học tập của trẻ
III BiÖn ph¸p gi¶i quyÕt
1.Biện pháp 1: Tăng cường dạy Tiếng việt cho trẻ vùng dân tộc thiểu số.
Trong giờ hoạt động chung cũng như trong các giờ chơi tôi luôn chú ý biện pháp tăng cường Tiếng việt cho trẻ Nếu trong bài học nào có từ mới mà trẻ chưa biết, tôi có thể giới thiệu bằng tiếng dân tộc về từ mới đó cho trẻ biết rồi dịch ra bằng Tiếng việt để trẻ hiểu VD: Con cá - (tù trề), Bố - (tù chí) Trong quá trình đó tôi kết hợp sửa sai khi trẻ nói ngọng, nói không rõ chữ.Với biện pháp trên tôi thấy đa số trẻ lớp tôi đã hiểu, nhận biết và tập nói được đối tượng, trẻ nói rõ ràng, mạch lạc hơn
Trang 82 Biện pháp 2: Dùng thủ thuật khi dạy trẻ nhận biết tập nói:
Môn nhận biết tập nói là môn học rất đa dạng và phong phú về ngôn từ, ở môn học này trẻ rất thích được khám phá để phát triển ngôn ngữ Nắm được đặc điểm này tôi đã áp dụng một số thủ thuật để kích thích trẻ phát triển ngôn ngữ như: cho trẻ bắt chước tiếng kêu, động tác của đối tượng để trẻ đoán tên và ngược lại hay gợi ý một số đặc điểm nổi bật của đối tượng để trẻ đoán tên Qua quá trình đó tôi thấy trẻ hào hứng học bài hơn và thích được nói hơn Trong khi trẻ hứng thú tôi dần hướng trẻ vào tiết học một cách nhẹ nhàng, tự nhiên
Trong quá trình dạy trẻ nhận biết tập nói tôi thường sử dụng những câu hỏi đơn giản, dễ hiểu phù hợp với lứa tuổi của trẻ đặc biệt là với trẻ dân tộc thiểu số nơi tôi đang công tác
VD: Khi dạy nhận biết con gà trống: tôi hỏi : Con gà gì gáy ò ó o?
Sau khi dạy trẻ nhận biết về tên gọi tôi tiến hành cho trẻ phân biệt giữa các đối tượng Tôi thường cho trẻ phân biệt qua tên gọi, một số đặc điểm, tiếng kêu nổi bật như:
- Tên gọi
- Đặc điểm nổi bật
- Tiếng kêu
- Ích lợi
- Con chó
- Tai thính
- Gâu gâu
- Nuôi để trông nhà
- Con mèo
- Mắt tinh
- Meo meo
- Nuôi để bắt chuột
Với những phương pháp và thủ thuật trên tôi thấy trẻ phát triển đựợc ngôn ngữ và đặc biệt hơn trẻ đã bước đầu tiếp thu được những kiến thức cơ bản về tiếng việt
Trang 93 Biện pháp 3: Tăng cường khả năng diễn đạt cho trẻ:
Khoảng thời gian này trẻ đang dần hoàn thiện về bộ máy phát âm, chính
vì vậy phải tăng cường khả năng diễn đạt cho trẻ, tôi luôn luôn chú ý lắng nghe trẻ thể hiện tình cảm suy nghĩ của mình Tôi đã áp dụng các “bài tập” để dạy trẻ nói chuyện lưu loát hơn theo các mức độ từ dễ đến khó, từ đơn giản đến phức tạp Và kịp thời chỉnh sửa các lỗi dùng từ hoặc phong cách không hợp lý Mới đầu tôi hướng dẫn trẻ “Tự giới thiệu về mình, về gia đình mình” Sau đó tôi dạy trẻ sử dụng các ngôn từ trong giao tiếp hàng ngày như: cảm ơn, xin lỗi, chào
cô, các bạn, người lớn tuổi , tập cho trẻ thành phản xạ nói tự nhiên Và từ đó trẻ
có thể thể hiện bản thân như: hát, đọc thơ những bài cô đã dạy Qua những cách tập nói đó tôi thấy các cháu mạnh dạn, tự tin hơn trong giao tiếp giữa cô với trẻ, trẻ với trẻ
4 Biện pháp 4: Làm đồ dùng, đồ chơi phục vụ cho tiết học
Với tình hình thực tế tại địa phương, đồ dùng đồ chơi để phục vụ cho giảng dạy còn rất thiếu thốn Vì vậy để giờ học đạt được hiệu quả cao tôi luôn
cố gắng làm những đồ chơi sinh động, thu hút trẻ nhưng vẫn đảm bảo tính thẩm
mỹ và mức độ an toàn trong khi sử dụng
Tôi tận dụng những thùng cát tôn, giấy bìa, sách báo cũ để làm những đồ dùng trực quan áp dụng vào bài dạy như:
VD: Tôi dùng 1 thùng cát tôn xung quanh chiếc hộp này tôi dùng bút màu
vẽ về những đối tượng mà trẻ học như: Quả cam, con rùa, con voi để trẻ nhận biết tập nói về các đối tượng trên và kết hợp phát triển vận động thể lực bằng cách phía trên chiếc hộp tôi khoét 1 hình tròn, phía dưới góc của hộp tôi khoét 1 hình vuông để cho trẻ chơi trò chơi “ Thi bỏ bóng”, từ đó trẻ có thể nhận biết được hình tròn ở trên là để bỏ bóng, hình vuông ở dưới để nhặt bóng Với hoạt động này tôi thấy trẻ rất hứng thú tham gia, vừa cung cấp đầy đủ vốn từ lại vừa phát triển vận động cho trẻ Ngoài ra tôi còn làm một số đồ dùng trực quan để sử dụng trong tiết dạy nữa như: dùng giấy báo, keo để bồi các loại quả (quả cam,
Trang 10táo, lê ) và dùng mầu nước để lên màu cho các loại quả để cho trẻ nhận biết Từ những đồ dùng tự tạo trên tôi thấy các cháu rất thích thú được hoạt động và phát triển vốn từ
5 Biện pháp 5: Xem tranh ảnh, sách báo để phát triển ngôn ngữ
Tôi đã đưa giờ tranh ảnh lồng ghép vào trong các giờ hoạt động vui chơi một cách tự nhiên, không gây gò bó nhưng đạt hiệu quả rất cao Thông qua xem tranh ảnh, tôi thấy các cháu nói được rất nhiều về sự hiểu biết của mình như: tên con vật, đặc điểm của chúng Ở đây tôi đã dạy trẻ phát triển được ngôn ngữ và phát triển cho trẻ kỹ năng xem sách, lật sách
6 Biện pháp 6: Nghiên cứu phương pháp dạy để thu hút trẻ học bài.
Để trẻ phát triển ngôn ngữ được tốt và nắm được bài một cách cơ bản và đầy đủ nhất, người giáo viên cần phải nghiên cứu kỹ phương pháp của môn học trước khi lên lớp
- Một tiết NBTN tiến hành phải đầy đủ 3 bước: Quan sát- luyện tập- trò chơi
- Khi quan sát vật, cô không nên nói ra ngay tên gọi, đặc điểm của vật, mà nên đặt thành câu hỏi ngắn gọn, chính xác để hướng sự chú ý của trẻ và phát huy tính chủ động tích cực của trẻ Nếu trẻ không trả lời được, cô nói cho trẻ biết và đặt lại câu hỏi để trẻ nhắc lại
- Trong bước luyện tập, cô nên đưa ra nhiều dạng câu hỏi đối với trẻ như: Con gì đây?, Cái gì đây?; Để làm gì? Với cùng một nội dung cô có thể đặt dưới nhiều dạng câu hỏi khác nhau ( Gà mái kêu thế nào?; Con gì kêu cục ta cục tác)
- Phần trò chơi có thể cho trẻ chơi trò chơi lựa chọn các con vật, chọn tranh lô tô hay thi xem ai nói nhanh
Tõ những phương pháp cơ bản đó tôi thấy trẻ tiÕp thu rất tốt về ngôn ngữ
và kiến thức của bài dạy