1. Trang chủ
  2. » Y Tế - Sức Khỏe

SÁCH TỐ VẤN - Thiên bảy mươi tư ppt

43 247 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 43
Dung lượng 251,31 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những năm Thái âm Tại toàn, bị thấp râm nó thắng, gần xa tăm tối, dân mắc bệnh ẩm, tích, tâm thống, tai điếc, bừng bừng nóng nẩy, ách thũng, hầu tý, âm bệnh, ra huyết, thiếu thống và thũ

Trang 1

Quyết âm Tư thiên, hóa của nó là phong Thiếu âm tư thiên, hóa của

nó là nhiệt, Thái âm tư thiên, hóa của nó là thấp Thiếu dương Tư thiên, hóa của là hỏa, Dương minh Tư thiên, hóa của nó là táo, Thái dương tư thiên, hóa của nó là hàn Lấy cái Tàng vị sáu khí nó lâm, mà nhận định bệnh danh (tức là thiên khí ở trên lâm xuống, mà dưới hợp với Tàng vị của con người, tùy theo 6 khí nó phạm vào tàng nào, để ấn định tên bệnh) [2]

Địa hóa (tức Tại toàn) như thế nào? [3]

Trang 2

Cùng “hậu” như tư thiên, gián khí cũng vậy [4]

Gián khí như thế nào? [5]

“Tư” ở tả, hữu gọi là gián khí [6]

Lấy gì để phân biệt là khác? [7]

Chủ tuế thời kỳ tuế, gián khí thời kỳ bộ (1) [8]

sự cháy nóng) Thái âm tư thiên là thấp hóa, Tại toàn là Cam hóa, tư khí là kiềm hòa, gián khí là Nhu hóa, Thiếu dương Tư thiên là hỏa hóa, Tại toàn là khổ hóa, tư khí là đan hoá (hóa sắc đỏ), gián khí là minh hóa (hóa sự sáng tỏ) Dương minh Tư thiên là táo hóa, Tại toàn là tân hóa, tư khí là tố hóa, gián khí là thanh hóa Thái dương Tư thiên là hàn hóa, Tại toàn là hàn hóa,

tư khí là huyền hóa, gián khí là Tàng hóa Cho nên muốn trị bệnh phải biết

Trang 3

rõ sáu khí, chia trị năm vị, năm sắc sinh ra thế nào, năm tàng nên như thế nào Mới có thể nói được lẽ doanh, hư và cái nguyên nhân sinh ra bệnh hoạn (1) [10]

Hoàng Đế hỏi:

Chủ bệnh như thế nào? [13]

Kỳ Bá thưa rằng:

Tư thế, bị vật (1), thời không sót nữa [14]

Trước tuế mà bị vật, như thế nào? [15]

Trang 4

Đó là chuyên tính của trời đất [16]

Tư tuế như thế nào? [17]

Tư khí để nhận chủ tuế, do đó lại xét cả hữu dư và bất túc [18]

Nếu không tư tuế, bị vận, thì sao? [19]

Vì khi nó tán, chất tuy đồng mà lực khác nhau Khí vị có hậu bạc, tính dụng có táo tĩnh, trị, bảo có nhiều ít, lực hóa có thiển, thâm Vì vậy nên phải tư tuế bị vật (2) [20]

Trị liệu như thế nào? [23]

Ở trên mà “râm” xuống dưới thời lấy cái “sở thắng” để làm cho yên,

do bên ngoài mà “râm” vào trong, thời lấy cái “sở thắng để điều trị (2)

Trang 5

Về năm Bắc chính, Thiếu âm Tại toàn thốn khẩu không ứng, Quyết

âm tại toàn, thời bên “hữu” không ứng, Thái âm Tại toàn thời bên “tả” không ứng Về năm Nam chính, Thiếu âm tư thiên thời Thốn khẩu không ứng Quyết âm Tư thiên thời bên hữu không ứng Thái âm Tư thiên thời

Trang 6

bên tả không ứng Phàm những “không ứng” “phản chấn” thời sẽ thấy (2) [29]

Hoàng Đế hỏi:

Khí của trời đất, do nóäi tâm mà sinh ra bệnh như thế nào? [32]

Kỳ Bá thưa rằng:

Những năm Quyết âm Tại toàn, bị phong râm nó thắng, thời địa khí u

ám, cỏ cây sớm tốt Dân mắc bệnh ghê ghê sợ rét, hay vươn vai, Tâm thống, chi mãn, lưỡng hiếp lý cấp (đau rút hai bên sườn) uống ăn không chịu, cách yết không thông, ăn vào thời nóân, phúc trường hay ợ, được hậu (đại tiện)

Trang 7

với khí (trung tiện), thời trong bụng nhẹ ngay như bớt Thân thể đều nặng [33]

Những năm Thiếu âm Tại toàn, bị nhiệt râm nó thắng, nơi tối lại sáng Dân mắc bệnh trong bụng thường sôi, (kêu réo), khí xông lên hung, thở suyễn, không thể đứng lâu, hàn, nhiệt, bì phu thống, mắt mờ, răng đau, quai hàm sưng Ố hàn, phát nhiệt, như Ngược, trong Thiếu phúc đau, bụng lớn (vì nhiệt ở Trung tiêu nên bụng lớn) [34]

Những năm Thái âm Tại toàn, bị thấp râm nó thắng, gần xa tăm tối, dân mắc bệnh ẩm, tích, tâm thống, tai điếc, bừng bừng nóng nẩy, ách thũng, hầu tý, âm bệnh, ra huyết, thiếu thống và thũng, không tiểu tiện được, khí bốc đầu nhức, mắt như mờ , cổ như gãy, lưng đau, đùi duỗi không thể co, bộng chân đau nhức như bị nứt [35]

Những năm Thiếu dương Tại toàn bị hỏa râm nó thắng, hàn nhiệt thay đổi đến Dân mắc bệnh chú tiết xích hoặc bạch (tức kiết lỵ); Thiếu phúc thống, niệu xích, quá lắm thời tiện huyết Thiếu âm cùng hậu (1) [36]

Những năm Dương minh tại toàn, bị táo râm nó thắng, dân mắc bệnh hay ẩn (ọe) ra vị đắng, hay thở dài, Tâm, Hiếp thống, không thể trở mình, quá lắm thời họng khô, mặt nhồm, da dẻ khô rộp, ngoài chân lại nhiệt

Trang 8

Những năm Thái dương, Tại toàn, bị hàn râm nó thắng, dân mắc bệnh đau ở Thiếu dương, rút xuống Dịch hoàn, suốt ra yêu tích; xung lên thành Tâm thống, ra huyết, họng đau, quai hàm sưng [38]

Hoàng Đế hỏi:

Điều trị như thế nào? [39]

Cái khí trong thời kỳ Tại toàn, bị phong râm vào bên trong, nên trị bằng vị tân và lương, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị cam làm cho hoãn lại, dùng vị tân làm cho tán đi (1) [40]

Bị nhiệt râm vào bên trong, nên trị bằng vị hàm, và hàn, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị toan để thâu lại, dùng vị khổ đế phát đi (2) [41]

Bị thấp râm vào bên trong, nên trị bằng vị khổ và nhiệt, tá bằng vị toan và đạm, dùng vị khổ làm cho táo lại, dùng vị đạm làm cho tiết đi (3) [42]

Bị hỏa râm vào bên trong nên trị bằng khổ và ôn, tá bằng vị cam và tân, dùng vị toan để thâu lại, dùng vị khổ để phát đi (4) [43]

Bị táo râm vào bên trong, nên trị bằng khổ và ôn, tá bằng vị cam và tân, dùng vị khổ để hạ xuống (5) [44]

Trang 9

Bị hàn râm vào bên trong, nên trị bằng vị cam nhiệt, tá bằng vị khổ và tân, dùng vị hàm để tả đi, dùng vị tân để nhuận thêm, dùng vị khổ để làm cho kiên lại (6) [45]

Thiếu âm Tư thiên, bị nhiệt râm nó thắng Dân mắc bệnh trong Hung phiền nhiệt, ách can, hữu hiếp mãn, bì phu thống, phát hàn nhiệt, khái và suyễn, thóa huyết (nhổ ra huyết), huyết tiết, cừu, nục, xị, ẩu, tiểu tiện, sắc biến Quá lắm thời thương dương, phù thũng: Kiên (vai) bối (lưng), tý nhu (cánh tay), và trong khuyết bồn đều đau Tâm thống, Phế trướng, bụng lớn

và mãn hoặc, bụng trướng mà khái và suyễn Gốc bệnh ở phế, Mạch ở xích trạch tuyệt, chết, không thể chữa [48]

Trang 10

Thái âm Tư thiên, bị thấp râm nó thắng, dân mắc bệnh, phù thũng, cốt thống, âm tý, án tay vào không được, yêu, tích, đầu hạng thống, thỉnh thoảng hoa mắt; đại tiện khó, âm khí không phát triển, đói mà không muốn ăn; khái; thóa thời thấy có cả huyết, trong bụng nghe bào hao Bệnh ở gốc Thận Mạch ở Thái khê tuyệt, thời chết không thể chữa [49]

Thiếu dương Tư thiên, hỏa và thấp thắng Dân mắc bệnh đầu thống, phát nhiệt, ố hàn mà ngược Nhiệt phát ra bì phu, bì đau, sắc biến ra vàng hoặc đỏ, gây nên chứng thủy, mình, mặt phù, thũng, bụng đầy vượt, phải ngửa lên mà thở, kiết lỵ đỏ hoặc trắng, mụn lở, ho, nhổ ra huyết, phiền Tâm, trong Hung nhiệt, quá lắm thời cừu, nục Bệnh gốc ở Phế Mạch ở huyệt Thiên phủ tuyệt, sẽ chết, không chữa được [50]

Dương minh Tư thiên, bị Táo râm nó thắng Dân mắc bệnh tả khư hiếp đau, khí hàn tràn lan, cảm thành bệnh ngược, khái, trong bụng sôi, tiết

tả, như phân cò, Tâm huyết bạo thống, không thể trở mình, ách can, mặt nhờm, yêu thống Đàn ông đồi sán, đàn bà Thiếu phúc đau, mắt mờ và toét,

lở láy Bệnh gốc ở Can mạch ở Thái sung tuyệt, sẽ chết không thể chữa [51]

Thái dương Tư thiên, bị hàn râm nó thắng Dân mắc bệnh, huyết biến

ở trong, phát thành ung dương (mụn, lở), quyết, tâm thống, ẩu huyết, huyết tiết, cừu, nục, hay bị (thương, cảm), thỉnh thoảng chóng mặt, ngã ngất, hung,

Trang 11

phúc, mãn, lòng bàn tay nóng, khủyu tay co lại, nách sưng, trong lòng lạnh lẽo khó chịu, bụng hiếp, vị quản đều không yên, mặt đỏ, mắt vàng, hay ợ, họng khô Quá lắm thời sắc mặt đen sạm, khát, muốn uống nước Bệnh gốc ở Tâm, mạch ở huyệt Thần môn tuyệt sẽ chết, không thể chữa [52]

Đó chính là: chỉ xét ở động khí, thời sẽ biết được năm Tàng ra sao Hoàng Đế hỏi:

Điều trị như thế nào? [54]

Bị thấp râm nó thắng, bình bằng vị khổ và nhiệt, tá bằng vị toan và tân, dùng vị khổ để làm cho táo, dùng vị đạm để làm cho tiết, thấp ở bộ phận trên, quá lắm mà nhiệt, trị bằng vị khổ và ôn, tá bằng vị cam và tân, để cho hãn ra, thời thôi (3) [57]

Trang 12

Bị hỏa râm nó thắng, bình bằng vị toan và lãnh, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị toan để thâu lại, dùng vị khổ để phát ra, lại dùng vị toan để cho phục lại Cùng một phương pháp trị chứng nhiệtrâm (4) [58]

Bị táo râm nó thắng, bình bằng vị khổ và ôn, tá bằng vị toan và tân, dùng vị khổ để hạ xuống (5) [59]

Bị hàn râm nó thắng bình bằng vị tân và khíệt, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị hàm để tả (6) [60]

Trang 13

Hỏa tư ở đất, nhiệt lại thắng nó, trị bằng vị cam và nhiệt, tà bằng vị khổ và tân, dùng vị hàm để bình [65]

Táo tư ở đất, nhiệt là thắng nó: trị bằng vị bình và hàn, tá bằng vị khổ

và cam, dùng vị tân để bình, lấy hòa làm lợi [66]

Hàn tử ở đất, nhiệt lại thắng nó, trị bằng vị hàm và lãnh, tá bằng vị cam tân, dùng vị khổ để bình (1) [67]

Trang 14

Hỏa hóa ở trời, hàn lại thắng nó Trị bằng vị cam và nhiệt tá bằng bị khổ và tân [72]

Táo hóa ở trời, nhiệt lại thắng nó Trị bằng vị tân và hàn, tá bằng vị khổ và cam [73]

Hàn hóa ở trời, nhiệt lặi thắng nó Trị bằng vị hàm và lãnh, tá bằng vị khổ, và tân (1) [74]

Hoàng Đế hỏi:

Sáu khí tương thắng như thế nào? [75]

Thắng của Quyết âm, sinh ra các chứng: tai ù, đầu váng: trong bụng rộn rực như muốn thổ Vị cách như hàn, khí dồn vào khư và hiếp mà thành nhiệt, tiểu tiện vàng và đỏ, Vị quản thống, dồn lên hai hiếp, trường minh, xôn, tiết, kiết lỵ đỏ hoặc trắng, quá lắm thời ẩu thổ, cách yết không thông 91) [76]

Thắng của Thiếu âm, tâm hạ nhiệt, hay đói, dưới rốn rộn rực, khí dẫn lên Tam tiêu, ẩu nghịch, táo phiền, phúc mãn và thống, đường tiết, tiểu tiện

đỏ [77]

Trang 15

Thắng của Thái âm, hỏa khí uất ở bên trong, mụn lở suốt từ trong ra ngoài Bệnh ở khư hiếp, quá lắm thời tâm thống, nhiệt cách lên thành đầu thống, hầu tý, hạng cường Nếu khí âm thấp lại thắng ở nửa năm về sau thời, thấp khí uất ở bên trong, hàn khí bách xuống hạ tiêu, đau suốt từ đỉnh đều đến khoảng lông mày, vị mãn, thiếu phúc mãn, sống lưng và ngang lưng đều cứng, bên trong khó chịu, hay kiết lỵ, dưới chân ấm, đầu nặng, ống chân và chân sưng thũng Chứng ẩm phát ra ở bên trong, phù thũng từ dưới lên trên (1) [78]

Thắng của Thiếu dương, nhiệt“khách” ở Vị phiền tâm, tâm thống, mắt

đỏ, muốn ẩu, ẩu ra nước chua, hay đói, tai đau, nước tiểu đỏ, hay sợ, thiềm ngữ, bao nhiệt, tiêu thước, thiếu phúc thống [79]

Thắng của Dương minh, khí lạnh phát ra ở trong tả khư hiếp đau, đường tiết, trong là ách tắc (nghẽn ở cổ), ngoài là đồi sán Trong bụng khó chịu, ách tắc mà khái [80]

Thắng của Thái dương, sinh ra chứng hài ngược, hàn quyết vào Vị, tâm thống, âm hành lở mụn, đau xuống bên háng, huyết mạch đọng rít, hoặc thành chứng huyết tiết (tả ra huyết), bì phu sưng đau, phúc mãn, ăn kém, nhiệt lại bốc lên, đầu, cổ, thông đính, não bộ đều đau, mắt như mờ đi, hàn vào hạ tiêu, gây nên chứng nhu tả (đại tiện nát) [81]

Trang 17

Sáu kì phục lại, như thế nào? [89]

Kỳ Bá thưa rằng:

Sự “phục” của Quyết âm, sinh ra chứng thiếu phúc kiên và mãn, lý cấp bạo thống, quyết tâm thống, hãn phát, ẩu thổ, muốn ăn mà không nuốt vào được, nuốt vào lại thổ ra Gân, xương choáng váng, thanh quyết, quá lắm thời vào Tỳ, thành chứng thực tý, mà thổ Mạch ở Xung dương tuyệt, sẽ chết, không chữa được (1) [90]

Phục của Thiếu âm, nóng nảy phát sinh ở bên trong, phiền táo, cừu sị, thiếu phúc giảo thống (đau như thất), ách táo “phân chú” có lúc ngừng, khí động ở tả, dẫn lên bên hữu, khái, bì phu đau, uất mạo không biết, ghê ghê rét run, thiềm vọng, hàn rồi lại nhiệt, khát mà muốn uống, thiểu khí, cốt nuy, tiểu trường không thông, ngoài là phù thũng, nhiệtkhi đại hành, sinh ra các chứng phất, chẩn, thương dương, ung thư, tỏa, trĩ v.v quá lắm thời phạm vào Phế, khái mà tỵ uyên (trong mũi nước đặc chảy ra quanh năm, mùi hôi thối) Mạch ở Thiên phủ tuyệt, sẽ chết, không chữa được (1) [91]

Phục của Thái âm, sinh ra mình nặng, bụng đầu, uống ăn không tiêu,

âm khí thượng quyết, trong bụng khó chịu, chứng ẩm phát sinh ở trong, thành chứng khái và suyễn có tiếng, đỉnh đầu đau và nặng, càng thêm chạo

Trang 18

khiết (tay chân vật vã, co quắp) nóân ọe li bì, im lặng, thổ ra nước trong Quá lắm thời vào Thận, khiến tả vô độ Mạch Thái khê tuyệt, thời chết, không thể chữa (1) [92]

Phục của Thiếu dương, sinh ra các chứng kinh, khiết, khái, nục, tâm nhiệt, phiền táo, tiện xác, ghê gió, quyết khí dẫn lên, mặt nhồm như bắt bụi,

mi mắt hay giật, hỏa khí phát ở bên trong dẫn lên thành chứng lở nát trong miệng, ẩu nghịch, huyết giật, huyết tiết, rồi phát ra chứng ngược, ố hàn run rẩy Hàn cực lại nhiệt, gây nên ách lạc khô ráo, khát muốn uống nước lã, sắc mặt biến ra vàng và đỏ, thiếu khí, mạch nuy, hóa làm chứng thủy, gây thành thủy thủng Quá lắm thời vào Phế, khái và đại tiện ra huyết Xích trạch tuyệt thời chết không thể chữa được (1)[93]

Phục của Dương minh, sẽ sinh ra các bệnh: đau ở khư hiếp khí về bên

tả, hay thở dài, quá lắm thời Tâm thống, bĩ mãn, phúc trướng mà tiết tả, nóân ra nước đắng, khái uế, phiền tâm bệnh ở trong cách, đầu nhức, quá lắm thời vào can, sinh ra chứng kinh hãi, co gân, mạch ở Thái xung tuyệt, sẽ không chữa được (1) [94]

Phục của Thái dương, quyết khí dẫn lên, Tâm và Vị sinh hàn; Hung cách không lợi, tâm thống, bĩ, mãn, đầu thống, hay bị, có khi ngã ngất, ăn sút, yêu chùy đau, co duỗi không tiện, đau ở Thiếu phúc, rút xuống Dịch

Trang 19

hoàn, lây lên cả yêu, tích, xung lên Tâm, nhổ ra nước trong, hay ọe hay ợ, quá lắm thời vào Tâm, hay quên, hay bi Mạch ở Thầu môn tuyệt, sẽ chết, không thể chữa (1) [95]

Phục của Thái âm, trị bằng vị khổ và nhiệt, tá bằng vị toan và tân, dùng vị khổ để làm cho tả, làm cho táo, làm cho tiết [99]

Phục của Thiếu dương, trị bằng vị hàm và lãnh, tá bằng vị khổ và tân, dùng vị hàm để làm cho nhuyễn, dùng vị toan để làm cho thâu, dùng vị tân

và khổ để làm cho phát Phát không lánh xa nhiệt, không phạm ôn, lương Phục ở Thiếu âm cũng một phương pháp điều trị [100]

Trang 20

Phục của Dương minh, trị bằng vị tân và ôn, tá bằng vị khổ và cam, dùng vị khổ để làm cho tiết, làm cho hạ, dùng vị toan để bổ [101]

Phục của Thái dương, trị bằng vị hàm và nhiệt, tá bằng vị cam và tân, dùng vị khổ để làm cho kiên (1) [102]

Phàm trị về cái khí thắng và phục, hàn thời làm cho nhiệt, nhiệt thời làm cho hàn, ôn thời làm cho thanh, thanh thời làm cho ôn, tán thời thâu lại, uất thời tán đi, táo thời làm cho nhuận, cấp thời làm cho hoãn, kiên thời làm cho nhuyễn, nhuế (mềm) thời làm cho kiên, suy thời bổ thêm vào, cương thời tả bớt đi Phải làm cho chính khí được yên, phải thanh, phải tĩnh thời bệnh khí giảm đi, rút về bản vị, đó là đại thể của phương pháp điều trị [103]

sẽ nói đến bệnh “Bán” (nửa), tức là chỉ về Thiên khu (1) [105]

Trang 21

Cho nên ở trên thắng mà ở dưới cũng mắc bệnh, thời lấy thuộc về

“địa” để đặt tên, ở dưới thắng mà ở trên cũng mắc bệnh, thời lấy thuộc về

“thiên” để đặt tên (1) [106]

Như nói là “thắng” đến, tức là “báo khí” khuất phụ mà chửa phát, nói

“phục” đến, thời không cần, vì trời đất mà khác danh, cũng đều coi như phục khí ở đâu để lập thành trị pháp (2) [107]

Hoàng Đế hỏi:

Sự động của thắng và phục, thời có thường chăng? Khí có nhất định chăng? [108] ?

Kỳ Bá thưa rằng:

Thời có thường vị mà khí không có nhất định [109]

Xin cho biết rõ ngành ngọn ra làm sao? [110]

Sơ khí, cuối cùng về tam khí, thiên khí làm chủ đó là lẽ thường của thắng khí, tứ khí cuối cùng có chung khí, đó là lẽ thường của phục khí Có thắng thời có phục, không thời không (1)

Hoàng Đế hỏi:

Ngày đăng: 10/07/2014, 03:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w