Bi kịch nội tâm của Thúy Kiều trên con đờng lu lạc những ngày đầu đã đợc ngòi bút của thiên tài Nguyễn Du miêu tả qua hình thái ngôn ngữ tả cảnh ngụ tình đặc sắc.Những vần thơ buồn thơng
Trang 1Đề bài 1
Nhận xét về số phận ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến, Nguyễn Du đã xót xa:
“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”
Bằng các tác phẩm đã học “ Chuyện ng ời con gái Nam Xơng” của Nguyễn Dữ và Truyện Kiều“ ” của Nguyễn Du, em hãy làm sáng tỏ nhận xét trên
Gợi ýA.Mở bài
Trong vô số những nạn nhân của xã hội phong kiến, có một tầng lớp mà hết thảy các nhà văn nhân đạo đều
đau xót và tập trung viết về họ đó là ngời phụ nữ họ là những hình tợng tiêu biểu cho những số kiếp bi đát,
họ là những con ngời có đủ tài sắc, có đức hạnh nhng lại bị cuộc đời vùi dập xô đẩy Truyện Kiều củaNguyễn Du và Chuyện ngời con gái Nam Xơng của Nguyễn Dữ là những tác phẩm mà cho đến nay vẫncòn vọng tiếng kêu não nùng của những con ngời quằn quại trong vũng lầy của xã hội Nhận xét về sốphận ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến Nguyễn Du đã phải xót xa mà thốt lên rằng:
Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung
B.Thân bài
1.Giải thích hai câu thơ của Nguyễn Du
- Phận là thân phận, là số phận Theo quan niệm cũ số phận của con ngời đợc sung sớng hay đâu khổ là domột thế lực huyền bí, thiêng liêng định đoạt Câu thơ thứ nhất là lời cảm thán cho số phận đau khổ của ng-
ời phụ nữ
- Bạc mệnh là số phận mỏng manh, đen tối, trải qua nhiều đau thơng, bất hạnh Bạc mệnh không chỉ riêng
ai mà là lời chung, là số phận đáng thơng của hầu hết những ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến
- Hai câu thơ trên là tiếng khóc của Thúy Kiều khi đứng trớc nấm mồ Đạm Tiên Đó là tiếng khóc củanàng cho ngời phụ nữ tài hoa mà bạc mệnh và cũng là tiếng khóc cho chính mình ý thơ mang tính kháiquát cao biểu hiện cảm hứng nhân đạo của Nguyễn Du trong Truyện Kiều
2.Qua hai tác phẩm của Nguyễn Dữ và Nguyễn Du số phận ngời phụ nữ hiện lên càng rõ nét
a.Nàng Vũ Nơng là nạn nhân của chế độ phong kiến nam quyền đầy bất công đối với ngời phụ nữ
- Cuộc hôn nhân của Vũ Nơng và Trơng Sinh có phần không bình đẳng ( Trơng Sinh xin mẹ trăm lạngvàng để cới Vũ Nơng về làm vợ ) Sự cách bức giàu nghèo khiến Vũ Nơng luôn sống trong mặc cảm “
thiếp vốn con kẻ khó đợc nơng tựa nhà giàu” và cũng là cái thế để Trơng Sinh đối xử với vợ một cách thô
bạo, vũ phu và gia trởng
- Chỉ vì lời con trẻ ngây thơ mà Trơng Sinh đã hồ đồ , độc đoán, mắng nhiếc, đánh đập và đuổi Vũ Nơng
đi, không cho nàng minh oan Vũ Nơng phải tìm đến cái chết để tự minh oan cho mình
- Cái chết đầy oan ức của Vũ Nơng cũng không hề làm cho lơng tâm Trơng Sinh day dứt Anh ta cũngkhông hề bị xã hội lên án, ngay cả khi biết Vũ Nơng bị oan, Trơng Sinh cũng coi nhẹ vì chuyện đã trót quarồi Kẻ bức tử Vũ Nơng hoàn toàn vô can
b.Nàng Kiều là nạn nhân của xã hội đồng tiền đen bạc
- Vì tiền mà bọn sai nha gây nên cảnh tan tác, chia lìa trong gia điình Kiều
Một ngày lạ thói sai nha Làm cho khốc hại chẳng qua vì tiền
- Để có tiền cứu cha và em khỏi bị đánh đập, Kiều đã phải bán mình cho Mã Giám Sinh – một tay buônthịt bán ngời, để trở thành một món hàng cho hắn đong, đo, cân, đếm
Cò kè bớt một thêm hai Giờ lâu ngã giá vâng ngoài bốn trăm
- Cũng vì món lợi là đồng tiền mà Mã Giám Sinh và Tú Bà đã đẩy Kiều vào chốn lầu xanh nhơ nhớp, khiếnnàng phải đau đớn, cay đắng suốt mời năm năm lu lạc, phải “ Thanh lâu hai l ợt, thanh y hai lần”
c.Những ngời phụ nữ nh Vũ Nơng, Thúy Kiều đều phải tìm đến cái chết để giải mọi nỗi oan ức của mình,
để giải thoát cuộc đời đầy đau khổ và oan nghiệt của mình
C.Kết bài
Truyện Kiều và Chuyện ngời con gái Nam Xơng cho ta thấy lại cả một quãng đời đầy đau thơng, tủi nhục
của cả một tầng lớp ngời xa trong xã hội và nỗi cảm thơng sâu sắc của những nhà văn đối với họ Câu thơcủa Nguyễn Du cho đến nay vẫn còn làm xúc động lòng ngời Cách mạng đã xác nhận quyền nam nữ bình
đẳng, ngời phụ nữ đã có vai trò quan trọng trong xã hội Họ giỏi việc nớc, đảm việc nhà , ngời phụ nữ đã
và đang phát huy tài năng trong công cuộc đổi mới và xây dựng đất nớc, làm cho xã hội và cuộc sống ngàycàng tốt đẹp hơn
Đề bài 2.1 Nhận xét về đoạn trích Kiều ở lầu Ngng Bích ( Truyện Kiều – Nguyễn Du ), có ý kiến cho
rằng: “ Ngòi bút của Nguyễn Du hết sức tinh tế khi tả cảnh cũng nh khi ngụ tình Cảnh không đơn thuần
là bức tranh thiên nhiên mà còn là bức tranh tâm trạng Mỗi biểu hiện của cảnh phù hợp với từng trạng thái của tình”
Em hãy phân tích tám câu thơ cuối của đoạn trích để làm sáng tỏ nhận xét trên
Gợi ýA.Mở bài
Kiều ở lầu Ngng Bích là một trong những đoạn thơ hay nhất trong Truyện Kiều, một kiệt tác của thi hào
dân tộc Nguyễn Du Bi kịch nội tâm của Thúy Kiều trên con đờng lu lạc những ngày đầu đã đợc ngòi bútcủa thiên tài Nguyễn Du miêu tả qua hình thái ngôn ngữ tả cảnh ngụ tình đặc sắc Những vần thơ buồn th -
Trang 2ơng mênh mang đã gieo vào lòng ngời đọc nhiều xót xa khôn nguôi về những kiếp ngời bạc mệnh ngày
x-a Đoạn thơ gồm tám câu nh thấm đầy lệ làm vơng vấn hồn ta:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
2.Sau nỗi nhớ là nỗi đau tê tái, sự hoang mang và lo sợ triền miên Nỗi đau buồn nh vò xé tâm can, cứ xiếtchặt lấy hồn nàng Đoạn thơ tám câu đầy ắp tâm trạng Nhà thơ đã lấy khung cảnh thiên nhiênlàm nền cho
sự vận động nội tâm của nhân vật trữ tình
- Mỗi câu thơ, mỗi hình ảnh, ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên, miêu tả ngoại cảnh mang ý nghĩa và giá trị
nh một ẩn dụ, một tợng trng về tâm trạng đau khổ và số phận đen tối của một kiếp ngời trong bể trầm luân.+ Cánh buồm thấp thoáng xa xa nơi cửa bể chiều hôm gợi cho nàng một nỗi buồn da diết nhớ thơng quê h-
ơng gia đình, không biết ngày nào nàng mới có thể trở về đoàn tụ
+ Một cánh hoa trôi man mác trên ngọn nớc mới sa cũng gợi cho nàng nỗi buồn man mác về cái số kiếpcủa nàng rồi sẽ đi đâu về đâu
+ Nhìn nội cỏ dầu dầu nơi chân mây mặt đất nàng chạnh lòng nghĩ đến cuộc sống tẻ nhạt, vô vị ở nơi vắng
vẻ cô quạnh này không biết sẽ kéo dài đến bao giờ
+ Cuối cùng là tiếng sóng ầm ầm nh bủa vây lấy nàng, khiến nàng kinh hãi nh đứng trớc những cơn taibiến dữ dội sắp ập lên cuộc sống của nàng
- Một hệ thống từ láy: thấp thoáng, xa xa, man mác…tạo nên âm điệu hiu hắt trầm buồn, ghê sợ ở vị trí
mở đầu bốn dòng thơ, điệp ngữ “ buồn trông” bốn lần cất lên nh một tiếng kêu ai oán não nùng kêu thơngdiễn tả nét chủ đạo chi phối tâm trạng Kiều, làm cho ngời đọc vô cùng xúc động:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Buồn trông ngọn nớc mới sa
Buồn trông nội cỏ dầu dầu
Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh
- Kiều ở lầu Ngng Bích là một đoạn thơ kì diệu Một bức tranh đa dạng, phong phú cả về ngoại cảnh vàtâm cảnh đã khắc hoạ nỗi đau buồn sợ hãi mà Kiều đang nếm trải Dự báo sóng gió bão bùng mà nàng sẽphải chịu đựng trong 15 năm trời lu lạc: thanh lâu hai lợt, thanh y hai lần, có lửa nồng, có dấm thanh, cời
“ ời buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Đoạn thơ có giá trị nhân bản sâu sắc Nó dấy lên trong lòng mỗi
chúng ta những xót thơng về những con ngời tài hoa mà bạc mệnh Một thái độ yêu thơng trân trọng, mộttấm lòng nhân hậu cảm thông chia sẻ của nhà thơ đối với nỗi đau của Thúy Kiều đã để lại ấn t ợng sâu sắctrong trái tim ngời đọc qua mấy trăm năm nay
Dàn ý chi tiết
Kiều ở lầu Ngng Bích là một trong những đoạn thơ hay nhất, cảm động nhất trong Truyện Kiều, một
kiệt tác của thi hào dân tộc Nguyễn Du Bi kịch nội tâm của Thúy Kiều trên con đờng lu lạc những ngày
đầu đã đợc ngòi bút của thiên tài Nguyễn Du miêu tả qua hình thái ngôn ngữ tả cảnh ngụ tình đặc sắc.Những vần thơ buồn thơng mênh mang đã gieo vào lòng ngời đọc nhiều xót xa khôn nguôi về những kiếpngời bạc mệnh ngày xa Đoạn thơ gồm tám câu nh thấm đầy lệ làm vơng vấn hồn ta:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
…
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Sau khi bị lừa, bị thất thân với Mã Giám Sinh, rồi lại bị Tú Bà làm nhục, Kiều dùng dao tự vẫn.Nàng đợc cứu sống, Tú Bà lập mu mới, dỗ dành Kiều giam lỏng nàng ở lầu Ngng Bích
Thân gái nơi đất khách quê ngời, lo âu, bơ vơ Nàng sợ hãi những ngày bão tố hãi hùng vừa qua, lo
sợ cho chặng đờng phía trớc còn mịt mờ cạm bẫy Giờ đây nàng sống một mình nơi lầu Ngng Bích với baotâm trạng bẽ bàng, chán ngán Biết lấy ai, cùng ai để tâm sự? Nỗi nhớ thơng nh lớp sóng dâng lên tronglòng Kiều Nàng nhớ thơng cha mẹ già yếu, không ai đỡ đần nơng tựa “ quạt nồng ấp lạnh những ai đógiờ” Nàng cảm thấy mình có lỗi với chàng Kim, nhớ chàng Kim “ Bên trời góc biển bơ vơ”
Sau nỗi nhớ là nỗi đau tê tái, sự hoang mang và lo sợ triền miên Nỗi đau buồn nh vò xé tâmcan, cứ xiết chặt lấy hồn nàng Đoạn thơ tám câu đầy ắp tâm trạng Nhà thơ đã lấy khung cảnh thiênnhiênlàm nền cho sự vận động nội tâm của nhân vật trữ tình Còn đâu nữa cảnh vật thân quen nơi v ờnThúy? Tất cả đều trở lên xa lạ và hoang sơ: cửa bể chiều hôm, con thuyền và thấp thoáng cánh buồm;ngọn nớc mới sa; một cánh hoa trôi man mác; nội cỏ dầu dầu; màu xanh của mặt đất chân mây; gió cuốn
và tiếng sóng ầm ầm Chính những cảnh vật ấy, âm thanh ấy đã góp phần đặc tả tâm trạng Kiều Một bikịch đang giày vò tan nát lòng nàng suốt đêm ngày
Mỗi một hình ảnh, một ngôn từ xuất hiện lại gợi ra trong tâm hồn ngời đọc một trờng liên ởng chua xót về nỗi đau và số kiếp bạc mệnh của ngời con gái đầu lòng họ Vơng Mỗi một hình ảnh ẩn dụ
Trang 3t-mang ý nghĩa tợng trng cho nỗi lo âu và sợ hãi của Kiều Cánh buồm thấp thoáng xa xa nơi cửa bể chiềuhôm gợi cho nàng một nỗi buồn da diết nhớ thơng quê hơng gia đình, không biết ngày nào nàng mới cóthể trở về đoàn tụ:
Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa
Một cánh hoa trôi man mác trên ngọn nớc mới sa cũng gợi cho nàng nỗi buồn man mác về cái số kiếp củanàng rồi sẽ đi đâu về đâu:
Buồn trông ngọn nớc mới xa Hoa trôi man mác biết là về đâu
Nhìn nội cỏ dầu dầu nơi chân mây mặt đất nàng chạnh lòng nghĩ đến cuộc sống tẻ nhạt, vô vị ở nơi vắng
vẻ cô quạnh này không biết sẽ kéo dài đến bao giờ:
Buồn trông nội cỏ dầu dầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Cuối cùng là tiếng sóng ầm ầm nh bủa vây lấy nàng, khiến nàng kinh hãi nh đứng trớc những cơn tai biếndữ dội sắp ập lên cuộc sống của nàng:
Buồn trông gió cuốn mặt duyền
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Mỗi câu thơ, mỗi hình ảnh, ngôn ngữ miêu tả thiên nhiên, miêu tả ngoại cảnh mang ý nghĩa và giá trị
nh một ẩn dụ, một tợng trng về tâm trạng đâu khổ và số phận đen tối của một kiếp ngời rong bể trầm luân.Một hệ thống từ láy: thấp thoáng, xa xa, man mác…tạo nên âm điệu hiu hắt trầm buồn, ghê sợ ở vị trí mở
đầu bốn dòng thơ, điệp ngữ “ buồn trông” bốn lần cất lên nh một tiếng kêu ai oán não nùng kêu thơng diễntả nét chủ đạo chi phối tâm trạng Kiều, làm cho ngời đọc vô cùng xúc động:
Buồn trông cửa bể chiều hôm
Buồn trông ngọn nớc mới sa
Buồn trông nội cỏ dầu dầu
Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh
Kiều ở lầu Ngng Bích là một đoạn thơ kì lạ về nỗi đoạn trờng Một bức tranh đa dạng, phong phú cả về
ngoại cảnh và tâm cảnh đã khắc hoạ nỗi đau buồn sợ hãi mà Kiều đang nếm trải Dự báo sóng gió bãobùng mà nàng sẽ phải trải qua trong 15 năm trời lu lạc: thanh lâu hai lợt, thanh y hai lần, có lửa nồng, códấm thanh, cời ra tiếng khóc, khóc nên trận cời
Nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của Nguyễn Du vô cùng điêu luyện Cảnh mang hồn ngời, cảnh và tình hoàhợp, sống động, hình tợng biểu cảm Tả cảnh để tả tình, trong cảnh có tình, lấy cảnh để phô diễn tâm trạng
Ng
“ ời buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Mỗi một cảnh vật là một nét đau, nỗi lo, nỗi buồn tê tái mà ngời
con gái phải chịu đựng
Đoạn thơ có giá trị nhân bản sâu sắc Nó dấy lên trong lòng mỗi chúng ta những xót th ơng về những conngời tài hoa mà bạc mệnh Một thái độ yêu thơng trân trọng, một tấm lòng nhân hậu cảm thông chia sẻcủa nhà thơ đối với nỗi đau của Thúy Kiều đã để lại ấn tợng sâu sắc trong trái tim ngời đọc qua mấy trămnăm nay
Đề bài 2.2 ( tc-157)
Phân tích đoạn trích Kiều ở lầu Ngng Bích ( Truyện Kiều Nguyễn Du ) – để làm nổi bật tâm trạng củaKiều trên bớc đờng lu lạc
Gợi ý
Kiều ở lầu Ngng Bích là một trong hững đoạn thơ cảm động nhất trong Truyện Kiều, kiệt tác của thi hào
dân tộc Nguyễn Du đoạn thơ không chỉ biểu lộ tình cảm xót thơng của Nguyễn Du đói với kiếp ngời tàihoa bạc mệnh mà còn thể hiện một bút pháp nhệ thuật đặc sắc về tự sự, về tả cảnh ngụ tình, về ngôn ngữ
độc thoại để biểu đạt tâm trạng và nỗi lòng của nhân vật Thuý Kiều
Sáu câu thơ đầu là một không gian nghệ thuật và một tâm trạng nghệ thuật đồng hiện Có “ non xa” và “
trăng gần” , có cát vàng cồn nọ“ ” và “ bụi hồng dặm kia ” Giữa một thiên nhiên vắng lặng và mênhmông, không một bóng ngời, Kiều chỉ còn biết “ Bốn bề bát ngát xa trông” Một cảm giác cô đơn, buồntủi và bẽ bàng cho thân phận và duyên số mình Chỉ có một mình một bóng đối diện với “ mây sớm đèn khuya” , nối lòng ngời con gái lu lạc đau khổ và tủi nhục vô cùng:
Bẽ bàng mây sớm đèn khuya Nửa tình nửa cảnh nh chia tấm lòng
Bốn chữ “ nh chia tấm lòng” diễn tả một nỗi niềm, một nỗi lòng tan nát, đau thơng Vì thế, tuy sống giữa
một khung cảnh êm đềm, có non xa, trăng gần nhng nàng vẫn cảm thấy cô đơn bẽ bàng, bởi lẽ “ Ng ời buồn cảnh có vui đâu bao giờ” Kiều sao không khỏi cô đơn, bẽ bàng trong một cảnh ngộ đầy bi kịch:
Chung quanh những nớc non ngời
Đau lòng lu lạc nên vài bốn câu
Tám câu thơ tiếp theo nói lên niềm tởng nhớ ngời yêu và nỗi xót thơng cha mẹ của Thúy Kiều khi sốngmột mình nơi lầu Ngng Bích Với Kim Trọng thì Kiều “ T ởng ngời ” Với cha mẹ thì nàng đã “ Xót ng - ời ,” mỗi đối tợng Kiều có một nỗi nhớ thơng riêng
Nơi lầu Ngng Bích Kiều tởng nhớ chàng Kim, nhớ lời thề dới trăng đêm tình tự “ d ới nguyệt chén đồng” ,
thơng ngời yêu đau khổ “ rày trông mai chờ ” và “ bơ vơ” cô đơn sầu tủi Đến bao giờ mới nguôi phai đợcnỗi nhớ thơng ấy? Những từ ngữ chỉ không gian và thời gian cách biệt nh: “ d ới nguyệt chén đồng , tin s” “ -
ơng , rày trông mai chờ , bên trời góc bể , tấm son gột rửa ” “ ” “ ” “ ” đã diễn tả và bộc lộ một cách sâu sắccảm động tình cảm thơng nhớ ngời yêu trong mối tình đầu, nay vì cảnh ngộ mà chia lìa đau đớn Các động
từ - vị ngữ: tởng, trông, chờ, bơ vơ, gột rửa, phai đã liên kết thành một hệ thống ngôn ngữ độc thoại biểu
đạt nội tâm nhân vật trữ tình Kiều nhớ thơng ngời yêu không nguôi, xót xa cho mối tình đầu nặng lời thềson sắt mà nay bị tan vỡ:
Trang 4Tởng ngời dới nguyệt chén đồng Tin sơng luống những rày trông mai chờ
Bên trời góc bể bơ vơ
Tấm son gột rửa bao giờ cho phai.
Nhớ chàng Kim rồi Kiều xót thơng cha mẹ Các từ ngữ chỉ thời gian xa cách: “ hôm mai , cách mấy” “
nắng ma ” Các điển cố văn học Trung Hoa nh: “ sân Lai , gốc tử” “ ” và thành ngữ “ quạt nồng ấp lạnh ,”
đặc biệt là hình ảnh mẹ già tựa cửa ngóng trông đứa con lu lạc quê ngời đã cực tả nỗi nhớ thơng cha mẹ,nỗi đau buồn của đứa con đầu lòng không thể, không đợc chăm sóc phụng dỡng cha mẹ khi cha mẹ giàyếu
Nguyễn Du đã sử dụng ngôn ngữ độc thoại kết hợp hài hoà giữa phong cách cổ điển và phong cách dântộc, tạo nên những vần thơ biểu cảm thể hiện một tâm trạng, một cảnh ngộ đầy bi kịch của Kiều Là mộtngời con chí hiếu, giàu đức hi sinh, khi cha mẹ già yếu không đợc sớm hôm phụng dỡng chăm sóc, Kiềucàng nhớ thơng càng xót xa Giọng thơ rng rng lệ, nỗi đau của nàng Kiều nh thấm vào cảnh vật, thấm vàothời gian và lòng ngời:
Xót ngời tựa cửa hôm mai Quạt nồng áp lạnh những ai đó giờ Sân Lai cách mấy nắng ma
Có khi gốc tử đã vừa ngời ôm
Tám câu thơ cuối đoạn, điệp ngữ “ buồn trông” xuất hiện bốn lần, đứng ở vị trí đầu câu 6 của mỗi cặplục bát Hai chữ “ buồn trông” là cảm xúc chủ đạo của tâm trạng tê tái đau thơng: thơng mình, thơng ngờithân, thơng cho thân phận và duyên số “ Buồn trông” vì càng buồn thì càng trông, càng trông lại càngbuồn Đây là đoạn thơ tả cảnh ngụ tình hay nhất trong Truyện Kiều Cứ mỗi cặp lục bát là một nét tâmtrạng “ buồn trông ” Ngoại cảnh và tâm cảnh, khung cảnh thiên nhiên và diễn biến tâm trạng của nhân vật
đợc diễn tả qua một hệ thống hình tợng và ngôn ngữ mang tính ớc lệ, mở ra một trờng liên tởng bi thơng:
Buồn trông cửa bể chiều hôm Thuyền ai thấp thoáng cánh buồm xa xa?
Cửa bể mênh mông lúc ngày tàn chiều hôm càng làm tăng thêm nỗi buồn đau cô đơn của kiếp ngời lulạc Thuyền ai lúc ẩn lúc hiện “ thấp thoáng cánh buồm xa xa” đầy ám ảnh Buồn trông con thuyền ai xalạ, cánh buồm xa xa thấp thoáng, Kiều càng nghĩ đến thân phận bơ vơ của mình nơi quê ngời đất khách.Rồi nàng lại buồn trông về phía “ ngọn n ớc mới sa” , dõi theo những cánh hoa trôi dạt và tự hỏi về“
đâu ,” đến phơng trời vô định nào Cánh hoa trôi man mác ấy tợng trng cho số phận chìm nổi trên dòng đờikhông biết đến đâu, về đâu Kiều nhìn hoa trôi trên ngọn nớc mà cảm thơng cho số phận của mình:
Buồn trông ngọn nớc mới sa Hoa trôi man mác biết là về đâu?
Sau hai câu hỏi tu từ về “ thuyền ai ,” về hoa trôi “ biết là về đâu ,” Kiều buồn trông về bốn phía “ chân mây mặt đất ” về nội cỏ, nàng chỉ nhìn thấy trên cái nền xanh mờ mịt bao la là màu sắc tàn úa, vàng héo “ dầu dầu” của nội cỏ Màu sắc tê tái thê lơng ấy đã phản chiếu nỗi đau tê tái của ngời con gái lu lạc Nội cỏ
dầu dầu tàn úa hiện lên giữa màu xanh xanh nhạt nhoà của “ chân mây mặt đất” chính là tâm trạng lo âucủa Kiều khi nghĩ đến tơng lai mờ mịt, héo tàn của mình:
Buồn trông nội cỏ dầu dầu Chân mây mặt đất một màu xanh xanh
Nhìn xa rồi nhìn gần, vừa buồn trông vừa lắng tai nghe Nghe tiếng gió, gió gào, gió cuốn trêm mặtduyềnh Nghe ầm ầm của sóng, không phải sóng reo mà sóng kêu Gió và sóng đang bủa vây “ quanh ghế ngồi ” Một tâm trạng cô đơn lẻ loi đang trải qua những giờ phút hãi hùng, ghê sợ, lo âu Phải chăng âmthanh dữ dội ấy của sóng của gió là biểu tợng cho những tai hoạ khủng khiếp đang bủa vây, sắp giángxuống số phận ngời con gái bé nhỏ đáng thơng? Kiều buồn trông mà lo âu sợ hãi:
Buồn trông gió cuốn mặt duyềnh
ầm ầm tiếng sóng kêu quanh ghế ngồi
Bức tranh nớc non ngời, cận cảnh là lầu Ngng Bích, viễn cảnh là con thuyền và cánh buồm xa xa trêncửa bể chiều hôm, là ngọn nớc và hoa trôi, là nồi cỏ dầu dầu giữa màu xanh chân mây mặt đất, là gió cuốn
và tiếng sóng ầm ầm kêu nơi mặt duyềnh mang ý nghĩa tợng trng và giàu giá trị thẩm mĩ Màu sắc, âmthanh ấy của thiên nhiên vừa bao la mờ mịt, vừa dữ dội, tất cả nh đang bủa vây ngời con gái lu lạc đau th-
ơng trong nỗi buồn đau hãi hùng lẻ loi
Một bức tranh phong phú cả về ngoại cảnh và tâm cảnh, với bút pháp khắc họa có chọn lọc về cảnh vậtthiên nhiên, với ngôn ngữ độc thoại phù hợp với lôgíc nội tâm và lôgíc hoàn cảnh Với hệ thống ngôn ngữ
là chủ yếu, Nguyễn Du đã khắc họa hình ảnh Thúy Kiều trong một chặng đờng yên tĩnh trớc cơn bão tố.Hoàn cảnh tha hơng và cô đơn, tâm trạng chua xót về mối tình đầu tan vỡ, đau buồn vì cách biệt với cha
mẹ và cuối cùng là dự cảm về một tơng lai mù mịt hãi hùng, là trực giác về một tai họa sắp ập đến đờinàng
Một tâm hồn cảm nhận đợc sự diễm lệ phong phú của thiên nhiên, một mối đồng cảm với số phận và tâm
t con ngời, đó là những yếu tố nhân văn kết hợp với tài hoa đã sáng tạo nên một trong những đoạn thơ tảcảnh ngụ tình hay nhất trong Truyện Kiều
Trang 5Trong Truyện Kiều, Nguyễn Du đã rất tài tình trong việc khắc họa nhân vật Nhng tác giả không chỉ dừng lại ở dáng vẻ bề ngoài, với ông, tả ngoại hình là để giúp cho ngời đọc hình dung rõ hơn bản chất, tính cách bên trong của nhân vật.
Bằng hiểu biết của em về các nhân vật: Thúy Vân, Thúy Kiều, Mã Giám Sinh, hãy làm rõ ý kiến trên
………
Đề bài 3
Nhận xét về Chuyện ngời con gái Nam Xơng của Nguyễn Dữ có ý kiến cho rằng : Câu chuyện vừa“
có ý ngợi ca vẻ đẹp của lòng vị tha, của đức hạnh, vừa thể hiện số phận bi kịch của ngời phụ nữ trong xã hội cũ……
Phân tích tác phẩm Chuyện ngời con gái Nam Xơng để làm rõ ý kiến trên
Gợi ýA.Mở bài
Bớc sang thế kỉ 16, tình hình xã hội Việt Nam không còn ổn định nh trớc Con ngời nhất là phụ nữ, phảichịu nhiều đau khổ bất hạnh do chế độ phong kiến bất công gây nên Truyền kì mạn lục là một tập truyện
đợc viết bằng chữ Hán của Nguyễn Dữ, một nhà nho ở ẩn sống ở thế kỉ 16 Tác phẩm đã phản ánh bộ mặtxấu xa của chế độ phong kiến đơng thời một cách có ý thức, qua đó bày tỏ thái độ của tác giả đối với sốphận của ngời phụ nữ trong chế độ Chuyện ngời con gái Nam Xơng cũng nh nhiều truyện trong tập Truyền
kì mạn lục có giá trị về nhiều mặt Nhận xét về Chuyện ngời con gái Nam Xơng có ý kiến cho rằng: Câu“
chuyện…xã hội cũ …
B.Thân bài
1.Truyện phản ánh sinh động thân phận của ngời phụ nữ trong xã hội phong kiến, một xã hội bất công gâynhiều đau khổ bất hạnh, bi kịch cho ngời phụ nữ
a.Chiến tranh loạn lạc gây ra bao đau khổ cho con ngời
- Trơng Sinh đi lính, phải xa cách mẹ già vợ trẻ
- Buổi chia li thật ngậm ngùi xót xa Bà mẹ dặn con: “ nh ng trong chỗ binh cách phải biết giữ mình làm trọng, gặp khó nên lui, lờng sức mà tiến, đừng nên tham miếng mồi thơm để lỡ mắc vào cạm bẫy ” Ngời vợtiễn chồng : “ Chàng đi chuyến này, thiếp chẳng mong đeo đ ợc ấn phong hầu, mặc áo gấm trở về quê cũ, chỉ xin ngày về mang theo đợc hai chữ bình yên, thế là đủ rồi”
- Xa con, bà mẹ nhớ con sinh ra ốm Vũ Nơng vừa nuôi con thơ, vừa tận tình thuốc thang chạy chữa cho
mẹ chồng, nhng không cứu nổi Mẹ chồng mất , nàng lại một mình lo liệu ma chay nh lo cho chính cha
mẹ đrẻ của mình
b.Lễ giáo phong kiến bất công khiến cho ngời đàn ông có quyền đợc hành hạ ruồng rẫy ngời phụ nữ, dẫn
đến cái chết của ngời đàn bà chung thủy hiếu nghĩa Đọc truyện ta phẫn uất trớc cái chết đầy oan khuấtcủa ngời vợ thủy chung hiếu nghĩa Vì đâu gây nên nỗi oan khuất đó ?
- Có phải do chiến tranh xa cách ba năm mà Trơng Sinh hiểu lầm nghi ngờ vợ? Có phải do thói ghen tuôngcủa ngời chồng thất học đa nghi, nghe lời con ghen tuông thiếu suy xét? Đúng là có điều đó
- Nhng căn nguyên sâu xa là do bất công của lễ giáo phong kiến Trong quan hệ vợ chồng dới chế độphong kiến chỉ có ngời chồng là có toàn quyền đối với ngời vợ bất kể điều đó đúng hay sai Trơng Sinhnghi oan cho vợ, không nói tẳng với vợ, không thèm nghe lời thanh minh, nên đã dẫn đến cái chết thảm th-
ơng của ngời vợ vô tội
- Bi kịch càng đợc đẩy cao khi Vũ Nơng oan đã đợc giải, nhng nàng không thể trở lại trần gian với chồngcon đợc nữa Vũ Nơng thà trở về sống nơi thuỷ cung còn hơn sống trên cõi đời đầy oan khuất, đau khổ củachế độ phong kiến đơng thời
2.Truyện đề cao phẩm chất tốt đẹp của ngời phụ nữ đảm đang, hiếu nghĩa, thuỷ chung Truyện đã xâydựng đợc một hình tợng phụ nữ đẹp với những đức tính đáng quí
- Vũ Nơng một phụ nữ đảm đang: Khi chồng ra lính Vũ Nơng phải một mình nuôi dạy con thơ, chăm sóc
mẹ chồng, thuốc thang khi bà ốm đau, lo liệu ma chay khi mẹ chồng mất
- Vũ Nơng là ngời phụ nữ hiếu nghĩa: Với mẹ chồng, Vũ Nơng giữ trọn chữ hiếu của ngời con đối với cha
mẹ, thay chồng nuôi mẹ chồng, coi mẹ chồng nh mẹ đẻ của mình
- Với chồng nàng là ngời phụ nữ thủy chung: Trớc sau vẫn giữ trọn nghĩa vẹn tình Biết chồng vốn tính đanghi nàng luôn luôn giữ gìn khuôn phép không từng lúc nào để vợ chồng phải xảy đến thất hoà Khi xachồng nàng không để xảy ra điều tai tiếng gì Khi bị chồng nghi oan, không thể giãi bày đợc nàng đã lấycái chết để chứng thực nghĩa tình của mình Sau khi đã tự vẫn đợc cứu sống, trong cuộc sống thần tiênsung sớng nàng vẫn nhớ đến chồng mong đợc chồng biết đến nỗi oan và giải oan cho mình
- Nhà văn đã thể hiện sự đồng cảm xót thơng trớc số phận của Vũ Nơng, ông đã lên tiếng tố cáo, đề cao,
ca ngợi phẩm chất tốt đẹp của ngời phụ nữ, đồng thời nói lên khát vọng của họ là muốn đợc tôn trọng.3.Giá trị nghệ thuật
- Cách kể chuyện sinh động, nhiều chi tiết độc đáo, tạo nên kịch tính của câu chuyện ( thắt nút, mở nút chỉbằng chi tiết cái bóng )
- Kết hợp yếu tố hiện thực và yếu tố hoang đờng tạo nên sự hấp dẫn, thu hút ngời đọc và nâng giá trị nộidung tác phẩm
C.Kết bài
- Chuyện ngời con gái Nam Xơng là một câu chuyện tình yêu đầy oan khuất làm xúc động lòng ngời
- Qua tác phẩm ta thấy đợc hiện thực xã hội, sự bất công phi lí dành cho ngời phụ nữ trong xã hội phongkiến và phẩm chất đáng quí của họ
- Truyện là một tác phẩm văn học có giá trị cao
Trang 6* Câu chuyện bắt đầu từ một bi kịch gia đình, một vụ ghen tuông nhỏ, nhng mất mát của nó quá lớn.Tuy đây là câu chuyện của năm thế kỉ trớc nhng bài học để đời của nó còn vang vọng và làm tê tái lòngngời đến ngàn năm sau Thông qua số phận Ngời con gái Nam Xơng tác giả đã tố cáo, phơi bày mặt tráicủa đạo đức xã hội: chà đạp lên nhân phẩm, quyền sống của ngời phụ nữ Vũ Nơng chỉ đợc giả oan lúcchết Nỗi đau lớn nhất, là lời tố cáo lớn nhất cũng là ở chỗ đó Với niềm đau khôn cùng, và lòng nhân đạosâu sắc, Nguyễn Dữ đã khắc họa thành công nhân vật Vũ Nơng – một ngời có số phận bi kịch song cũng
là ngời phụ nữ Việt Nam với tất cả vẻ đẹp truyền thống của dân tộc Chuyện ngời con gái Nam Xơng củaNguyễn Dữ đã giáo dục chúng ta lòng yêu thơng con ngời, phấn đấu cho những ngời phụ nữ có cuộc sốngngày càng tốt đẹp hơn
Làng
Đề bài 4.1
Với truyện ngắn Làng, Kim Lân nói với chúng ta: Cách mạng và kháng chiến không những không làm
mất đi tình yêu làng quê truyền thống mà còn đa đến cho tình cảm ấy những biểu hiện hoàn toàn mới mẻ.
Hãy làm sáng tỏ nhận định trên qua việc phân tích niềm hãnh diện của nhân vật ông Hai về làng chợDầu của ông và nỗi đau buồn tủi hổ của ông khi lầm tởng làng mình theo giặc
Đề bài 4.2
Dựa vào đoạnh trích truyện ngắn Làng của Kim Lân hãy phân tích diễn biến tâm trạng của ông Hai từkhi nghe tin làng mình theo giặc để thấy đợc sự gắn bó máu thịt của ngời nông dân với quê hơng làng xómvới cách mạng và kháng chiến
và càng thấu hiểu đợc vẻ đẹp ẩn chứa trong bức tranh nội tâm nhân vật Trong truyện ngắn Làng, nhà vănKim Lân đã thể hiện một cách sinh động và tinh tế diễn biến tâm trạng của ông Hai khi nghe tin làng chợDầu theo giặc
B.Thân bài
1.Ông Hai nhân vật chính của tác phẩm là ngời rất yêu làng, nhng phải xa làng đi tản c Tình yêu làng của
ông đợc đặt vào một tình huống đầy thử thách: tin làng chợ Dầu theo giặc, phản bội kháng chiến Ông Hai
đã trải qua tâm trạng dằn vặt, đau đớn, phải đấu tranh rất quyết liệt để lựa chọn con đờng đi đúng đắn chomình
- Khi nghe tin làng theo giặc, ông bàng hoàng, sững sờ “ Cổ ông lão nghẹn ắng hẳn lại, da mặt tê rân rân ”
- Ông nghi ngờ, cố cha tin nhng khi cái tin ấy đợc khẳng định từ chính miệng những ngời tản c dớixuôi lên thì ông không thể không tin Từ lúc ấy, tâm trạng ông bị ám ảnh, day dứt với mặc cảm là kẻ phảnbội Nghe tiếng chửi bọn Việt gian, ông “ cúi gằm mặt xuống mà đi”
- Ông sống trong tâm trạng nơm lớp lo sợ, xấu hổ, nhục nhã “ Cứ nghe thấy tiếng Tây, Việt gian, cam nhông…là ông lủi ra một góc nhà nín thít…
- ông tủi thân thơng con, thơng dân chợ Dầu, thơng thân mình phải mang tiếng là dân làng Việt gian
N
“ ớc mắt ông lão cứ giàn ra”
2.Ông Hai tiếp tục bị đầy vào tình huống thử thách căng thẳng khi nghe tin ngời ta không chứa ngời làngchợ Dầu
- Ông Hai cảm nhận hết nỗi nhục nhã, lo sợ vì tuyệt đờng sinh sống “ đi dâu bây giờ? , Rồi đây biết” “
làm ăn, buôn bán ra sao ”
- Bị đẩy vào đờng cùng, tâm trạng ông vô cùng bế tắc Mâu thuẫn nội tâm đợc đẩy đến đỉnh điểm
Ông nghĩ “ Hay là quay về làng?”, nhng ông hiểu rõ “ Về làng tức là chịu quay lại làm nô lệ cho thằng Tây” , là phản bội cách mạng, phản bội Cụ Hồ
- Ông đã dứt khoát lựa chọn theo cách của ông “ Làng thì yêu thật, nh ng làng theo Tây mất rồi thì phải thù” Tình yêu nớc đã rộng lớn hơn bao trùm lên tình cảm làng quê Nhng dù xác định nh thế, ông
vẫn không dứt bỏ tình cảm với làng Vì thế mà ông càng đau xót tủi hổ
- Trong tâm trạng bị dồn nén và bế tắc ấy, ông chỉ còn biết trút nỗi lòng của mình vào những lời tâm
sự với đứa con để củng cố niềm tin vào cách mạng và kháng chiến
3.Diễn biến tâm trạng của ông Hai đợc tác giả miêu tả một cách tinh tế và sinh động
- Tác giả miêu tả cụ thể, gợi cảm các diễn biến nội tâm qua các ý nghĩ, hành vi, ngôn ngữ, đăc biệtdiễn tả rất đúng và gây ấn tợng mạnh mẽ về sự ám ảnh day dứt, day dứt trong tâm trạng nhân vật Điều đóchứng tỏ Kim Lân am hiểu sâu sắc ngời nông dân và thế giới tinh thần của họ
Trang 7- Ngôn ngữ kể, ngôn ngữ của nhân vật thật đặc sắc, đặc biệt là ngôn ngữ nhân vật ông Hai giàu tínhkhẩu ngữ, vừa có nét riêng của ngời nông dân, vừa mang đậm cá tính của nhân vật.
C.Kết bài
Xây dựng nhân vật ông Hai, tác giả đã tô thêm những nét đẹp cho con ngời Việt Nam Họ khôngnhững cần cù, chăm chỉ thông minh mà còn có tình yêu quê hơng đất nớc sâu sắc mãnh liệt, sẵn sàng hisinh mọi thứ vì Tổ quốc thân yêu Có cùng tiếng nói với Kim Lân, nhà văn Anh Đức cũng khắc họa hình
ảnh ông lão vờn chim – một lão nông nghèo sống cô đơn, gắn bó với từng tấc đất U Minh, yêu từng gốctràm, yêu từng con chim nhỏ Tình cảm yêu quê hơng đất nớc của con ngời Việt Nam thật giống nh lời tácgiả Ê-ren-bua khẳng định: “ lòng yêu nhà, yêu làng xóm, yêu miền quê trở nên lòng yêu Tổ quốc”
Lặng lẽ sa pa
Đề bài 5
Đọc truyện Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long, tuổi trẻ chúng ta cảm nhận đợc bao nhiêu điều bổích và thú vị: Cuộc đời thật đẹp và đáng yêu Chung quanh ta có biết bao nhiêu con ngời đẹp, tâm hồn họ,việc làm của họ làm ta cảm phục kính yêu
Em có suy nghĩ gì về ý kiến trên
Gợi ýA.Mở bài
- Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa của Nguyễn Thành Long là một truyện ngắn hay Với cốt truyện đơn giảnxoay quanh một tình huống gặp gỡ bất ngờ giữa ông họa sĩ già, cô kĩ s trẻ với anh thanh niên làm công táckhí tợng trên đỉnh Yên Sơn thuộc Sa Pa, đã để lại trong lòng ngời đọc một niềm vui sớng thú vị
- Vì thế có ý kiến cho rằng : … Đọc truyện Lặng lẽ Sa Pa…kính yêu…
B.Thân bài
1.Tóm tắt truyện: Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa gần nh không có cốt truyện Một anh thanh niên làm côngtác khí tợng kiêm vật lí địa cầu và sống đơn độc trên đỉnh Yên Sơn cao 2600 mét Công việc của anh bìnhthờng nhng vô cùng quan trọng, góp phần phục vụ cho sản xuất và chiến đấu Cuộc gặp gỡ tình cờ của ônghọa sĩ già, cô kĩ s trẻ với anh đã làm nổi bật mẫu ngời lí tởng và để lại một cuộc chia tay đầy lu luyến.2.Đúng nh ý kiến đã nhận định: Cuộc đời của anh thanh niên cũng nh ông kĩ s vờn rau Sa Pa, anh cán bộnghiên cứu khoa học trong truyện thật đáng yêu
a.Anh thanh niên còn rất trẻ vậy mà chấp nhận một cuộc sống lẻ loi cô độc trên đỉnh núi cao quanhnăm chỉ có cỏ cây và mây mù Sa Pa
- Anh biết tự tạo cho mình một cuộc sống bình thờng: trồng hoa, nuôi gà, đọc sách Mặc dù ở một nơiquanh năm vắng bóng ngời, trong điều kiện thời tiết thật khắc nghiệt nhng anh vẫn làm tròn nhiệm vụ, bởivì ở anh có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc: “ Nửa đêm đang nằm trong chăn, nghe chuông
đồng hồ mà chỉ muốn đa tay tắt đi
Anh có nhận thức, suy nghĩ đúng đắn về vai trò của công việc đối với cuộc sống con ngời Nhận thấycông việc của mình có ích cho mọi ngời, cho quê hơng đất nớc
- Ông kĩ s vờn rau Sa Pa với công việc thầm lặng tởng nh bình thờng nhng lại có ý nghĩa rất lớn đếncuộc sống: suốt ngày rình xem ong thụ phấn, sau đó thụ phấn nhân tạo cho hàng vạn cây để cho củ su hào
đợc to hơn, ngọt hơn, phục vụ cho đời sống của con ngời
- Anh cán bộ nghiên cứu sét đã hơn mời một năm ròng không một ngày rời xa cơ quan, suốt ngày chờsét để hoàn thành bản đồ sét, tìm tài nguyên cho đất nớc Anh đã hi sinh cả việc riêng, không đi đến đâu
mà tìm vợ, trán thì cứ hói dần đi
- Những con ngời ấy đã tạo thành cái thế giới những con ngời miệt mài trong lao động lặng lẽ màkhẩn trơng vì lợ ích của đất nớc, vì cuộc sống của con ngời Đó là nhữngcon ngời sống cống hiến hết mìnhcho đời, cho nhân dân Đúng nh Nguyễn Thành Long đã nhận định: “ Trong cái lặng im của Sa Pa , d ới những dinh thự cũ kĩ của Sa Pa, Sa Pa mà chỉ nghe tên ngời ta đã nghĩ đến chuyện nghỉ ngơi, có những con ngời làm việc và lo nghĩ nh vậy cho đất nớc”
3.Bàn luận
- Trong cuộc sống hôm nay giữa bao bộn bề của cuộc sống thì hình ảnh những con ngời nh anh thanhniên và cái thế giới những con ngời nh anh thật đáng quí và đáng trân trọng Nếu nh ai cũng có những suynghĩ và việc làm nh họ thì cuộc sống này tốt đẹp biết bao
- Hình ảnh những nhân vật trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa thật đẹp, thật đáng để mọi ngời khâmphục
C.Kết bài
- Truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa đã gợi ra những vấn đề về ý nghĩa và niềm vui của những con ngời lao
động vì những mục đích chân chính cho cuộc đời
- Đọc truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa ta thấy con ngời thật đẹp, cuộc đời thật tơi đẹp biết bao Mỗi ngờichúng ta, nhất là thế hệ trẻ cần phải sống tốt hơn, sống có lí tởng, có ớc mơ hoài bão vì tơng lai của đất n-
Trang 8Ra đời cách đây gần 50 năm ( 1966 ), nhng truyện ngắn Chiếc lợc ngà của Nguyễn Quang Sáng, mỗi lần
đọc lại, vẫn đem đến cho chúng ta niềm xúc động mới mẻ lạ thờng Sức hấp dẫn của Chiếc lợc ngà không phải chỉ ở cốt truyện ít nhiều li kì, hay tích cách nhân vật khác lạ mà chính là ở nội dung sâu sắc và cảm
động của câu chuyện Thêm nữa tác giả của nó – nhà văn Nguyễn Quang Sáng lại truyền đến ngời đọc bằng một lối kể chuyện thủ thỉ thấm đẫm nỗi niềm đau đáu của ngời cầm bút về số phận của con ngời, tìnhcảm con ngời trong những năm đất nớc phải đối mặt với cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỉ XX
Đã có nhiều tác phẩm văn học nói về tình mẫu tử, còn tình phụ tử - đây chính là một đóng góp của tác giả
Chiếc lợc ngà.
Anh Sáu xa nhà đi kháng chiến, lúc đứa con duy nhất cha đầy một tuổi Vợ chồng chỉ đợc gặp nhau trongnhững khoảnh khắc ngắn ngủi Lúc anh ở xa nhà, chị đi thăm không mang theo con đợc, anh chỉ đợc nhìncon qua tấm ảnh nhỏ Lần này đợc về qua nhà chuẩn bị cho một chuyến đi xa : “ cái tình ng ời cha cứ nôn nao trong anh” Rồi không thể chờ xuồng cập lại bến, anh nhún chân nhảy thót lên, bớc vội vàng với
những bớc dài Chỉ thế thôi ta có thể hiểu đợc sự nóng lòng gặp con của anh đến chừng độ nào NguyễnQuang Sáng đã khắc hoạ hình ảnh một ngời cha yêu thơng con thật mãnh liệt, vồ vập, bản năng Bản năngcủa ngời cha trong anh dờng nh đã truyền sang ngời kể chuyện, ông đoán “ chắc anh nghĩ rằng, con anh
sẽ chạy xô vào lòng anh, sẽ ôm chặt lấy cổ anh ” Quả có thế, chúng ta hãy xem động tác của anh Sáu : “
vừa bớc, vừa khom ngời đa tay đón chờ con ” Tởng nh bé Thu sẽ hồ hởi đón chờ anh, nhng thật lạ “ con bé giật mình, tròn mắt nhìn ngơ ngác lạ lùng ” Anh Sáu bị bất ngờ trớc thái độ sợ hãi của con gái Một cúsốc thật sự làm cho trái tim của ngời cha bị tổn thơng Từ xúc động, anh Sáu chuyển sang đau đớn và thấtvọng
Ba ngày ngắn ngủi trong gia đình, vợ chồng anh Sáu đã làm tất cả để cho cái tình cha con đ ợc trở lại Tuynhiên, dờng nh mọi ngời càng cố gắng bao nhiêu thì khoảng cách tình cảm giữa anh Sáu và đứa con gáiduy nhất càng xa cách bấy nhiêu Mâu thuẫn của câu chuyện cứ tăng dần Ngời cha chỉ mong sao có đợcmột tiếng gọi “ ba ,” nhng con bé chẳng bao giờ chịu gọi Nghe mẹ giục gọi ba thì nó bảo : “ Thì má cứ kêu đi ” Khi bắt buộc phải gọi thì sự đáp lại của con bế là những lời trống không tức tởi: “ Vô ăn cơm , ” “
Cơm chín rồi , Con kêu rồi mà ng” “ ời ta không nghe ” Hai tiếng “ ng ời ta” phát ra từ miệng một đứa trẻ
bảy, tám tuổi gọi cha của mình, đã không ít lần làm cho ngời đọc phải buông tiếng thở dài buồn bã Thêm một tình huống, lần nữa lại đẩy mâu thuẫn của câu chuyện lên cao Bé Thu bị đặt vào một hoàn cảnhkhó khăn, nồi cơm hơi to so với đứa bé bảy, tám tuổi lại đang sôi Để hoàn thành công việc mẹ giao chokhông thể không cầu cứu ngời trợ giúp Nhng con bé vẫn những câu nói trổng : “ Cơm sôi rồi chắt nớc
giùm cái!- Cơm sôi rồi nhão bây giờ ” Hình ảnh bé Thu lúc này thật tội nghiệp “ nhìn xuống, hơi sợ, lại nhìn lên, nhăn nhó muốn khóc luýnh quýnh loay xoay” Và thật bất ngờ, Thu đáo để tự giải quyết “ lấy cái vá múc ra từng vá nớc, miệng lẩm bẩm điều gì không rõ ”
Tình cha con nh mõi lúc một xa, điểm nhấn cuối cùng của mâu thuẫn là bữa ăn Một bên là ngời cha gắpcái trứng cá to vàng vào bát cho con; một bên là ngời con “ lấy đũa soi vào chén bất thần hất cái trứng cá
ra, cơm văng tung toé cả mâm” Đây chính là giọt nớc tràn li, anh Sáu vung tay đánh con, còn Thu, cô bé
cứng đầu không khóc mà “ ngồi im, đầu cúi gằm xuống cầm đũa, gắp lại cá để vào chén, rồi lặng lẽ đứng dậy bớc ra khỏi mâm” sang bên ngoại dỗ mãi cũng không về trớc khi đi còn cố ý khua dây cột xuồng rổn
rảng thật to
Đừng vội trách đứa con gái bé bỏng tội nghiệp Niềm tin ngây thơ trong trắng của nó cha hề vớng bận vàochiến tranh, nhng chiến tranh đã can thiệp vào đời sống tình cảm của nó Vết thẹo dài trên má anh Sáu “ bị Tây bắn bị thơng” hồi nào không ai ngờ lại là vật cản đờng con bé đến với ba nó Sự sung khắc giữa hai
bố con anh có nguồn gốc từ đây Đúng vậy, chiến tranh đã không chỉ làm hình dạng con ngời thay đổi màtheo đó còn làm con ngời ta xa cách ngay cả khi gần nhau
Mâu thuẫn của câu chuyện không thể đẩy cao hơn đợc nữa Là ngời trong cuộc, anh Sáu tởng nh khôngcòn hi vọng có đợc tình cảm của con trong lần về thăm nhà ngắn ngủi này Nhng không, ngời xa từng nói
phụ tử tình thâm ,
“ ” ngời đọc không thể mất hi vọng, anh Sáu cũng có quyền hi vọng Và tình cha con củaanh trở lại đúng vào thời khắc ngắn ngủi nhất của, đem lại cho ngời đọc nỗi xúc động nhẹn ngào Bé Thucũng có mặt trong buổi tiễn đa, nhng lại mang tâm trạng hoàn toàn khác “ không b ớng bỉnh hay nhăn mày cau có nữa, vẻ mặt nó sầm lại buồn rầu” và cái nhìn của nó cũng khác đôi mắt của nó to hơn, cái nhìn“
của nó không ngơ ngác, không lạ lùng, nó nhìn với vẻ nghĩ ngợi sâu xa” Ngời đọc nhận thấy thái độ, tình
cảm của bé Thu đã biến chuyển trong ánh mắt “ xôn xao” của con bé Nỗi khát khao tình cha con bấy lâunay bị kmf nén trong bé Thu nay bỗng bật lên Bát đầu là tiếng gọi: “ Ba a a ba! ,” rồi “ nó vừa kêu vừa chạy xô tới dang tay ôm chặt lấy cổ ba nó , nó nói trong tiếng khóc: - Ba! Không cho ba đi nữa, ba ở” “
nhà với con! , nó hôn ba nó cùng khắp Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của” “
ba nó nữa ” Tất cả hành động của bé Thu thật gấp gáp, dồn dập trái hẳn với những gì chúng ta chứng kiến
ở đầu câu chuyện
Vâng! Đúng là thế, tình cảm cha con anh Sáu không thể mất dẫu có bị chiến tranh làm tổn thơng, trái lại
nó sẽ còn làm xúc động bao trái tim ngời đọc Ai đã từng đọc một lần truyện Chiếc lợc ngà không thểkhông xúc động rơi nớc mắt nh những ngời chứng kiến buổi chia li hôm ấy Tất cả mọi ngời không thể ngờtới đó là lần gặp nhau cuối cùng, là buổi chia xa mãi mãi của cha con anh Sáu Mọi sự cố gắng của ng ờicha không thể vợt qua đợc sự khắc nghiệt của chiến tranh : “ Trong một trận càn của Mĩ Nguỵ, anh Sáu–
bị hi sinh sinh Anh bị viên đạn của máy bay Mĩ bắn vào ngực ” Niềm mong mỏi đợc gặp lại đứa con yêudấu của mình đã không thể trở thành hiện thực Anh đã ra đi mãi mãi Cây lợc ngà có thể gỡ rối đợc phầnnào cho nỗi khổ tâm của anh, nhng anh không còn cơ hội tận tay mang nó đến cho đứa con yêu dấu củamình mặc dù niềm tin vào tình cha con của anh không bao giờ mất Nhng “ Cây lợc ngà”, kỉ vật anh Sáu
đã dành bao tâm sức, chất chứa bao tâm sự với con thì cuối cùng đã trở về với đứa con gái yêu dấu theo
đúng lời hẹn ớc Đó cũng chính là một minh chứng hùng hồn cho tình cha con bất tử
Trang 9Thời gian rồi sẽ trôi đi, bé Thu ngày nào đã trở thành một cô giao liên dũng cảm, tiếp tục con đờng cáchmạng của ba mình Câu chuyện Chiếc lợc ngà của Nguyễn Quang Sáng đã kết thúc mà nỗi ám ảnh của nó
về bi kịch một thời chiến tranh, d âm của nó về tình cha con bất tử vẫn còn làm thổn thức bao trái tim ngời
đọc Hiểu đợc nh vậy là chúng ta đã tri ân ngời cầm bút đã có công sáng tạo ra nó, góp thêm một tiếng nóikhẳng định: vợt qua bi kịch, phụ tử bao giờ cũng tình thâm
Truyện Chiếc lợc ngà đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết sâu nặng của cha con ông Sáutrong hoàn cảnh éo le của chiến tranh Qua đó, tác giả khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con nh thiêngliêng nh một giá trị nhân bản sâu sắc , nó càng cao đẹp trong cảnh ngộ khó khăn và éo le của chiến tranh.Truyện thành công nổi bật ở nghệ thuật xây dựng tình huống bất ngờ mà tự nhiên hợp lí, ở ngòi bút miêutả tâm lí và tính cách nhân vật, nhất là nhân vật trẻ em
đọc bằng một lối kể chuyện thủ thỉ thấm đẫm nỗi niềm đau đáu của ngời cầm bút về số phận của con ngời,tình cảm con ngời trong những năm đất nớc phải đối mặt với cuộc chiến tranh tàn khốc nhất thế kỉ XX.B.Thân bài
- Trong buổi sáng cuối cùng trớc phút ông Sáu lên đờng, thái độ và hành động của Thu đã đột ngộtthay đổi hoàn toàn: lần đầu tiên Thu cất tiếng gọi ba, tiếng kêu của nó nh xé Nó chạy xô tới, nhanh nhmột con sóc, nó chạy thót lên và dang hai tay ôm chặt lấy cổ ba nó “ Nó hôn ba nó cùng khắp Nó hôn tóc, hôn cổ, hôn vai và hôn cả vết thẹo dài trên má của ba nó nữa ”
- Trong đêm bỏ về nhà ngoại, Thu đã đợc bà giải thích về vết thẹo làm thay đổi khuôn mặt của ba nó
Sự nghi ngờ bấy lâu đợc giải tỏa và ở Thu nảy sinh một trạng thái nh là sự ân hận nuối tiếc “ Nghe bà kể
nó nằm im, lăn lộn và thỉnh thoảng lại thở dài nh ngời lớn” Vì thế trong giờ phút chia tay với cha, tình
yêu và nỗi mong nhớ với ngời cha xa cách đã bị dồn nén bấy lâu, nay bùng ra thật mạnh mẽ và hối hả,cuống quýt, có xen lẫn cả sự hối hận
2.Nhân vật ông Sáu
- Trong đợt nghỉ phép: Đầu tiên là sự hụt hẫng, buồn khi thấy đứa con sợ hãi và bỏ chạy Tiếp theo là
sự kiên nhẫn cảm hóa, vỗ về để con nhận cha Đến phút chia tay có cảm nhận bất lực và buồn Khi đứa conkêu thét lên gọi ba thì hạnh phúc đến tột đỉnh
- Khi ở chiến khu: Say sa tỉ mẩn làm chiếc lợc ngà để tặng con, rên có khắc dòng chữ “ Yêu nhớ tặng Thu con của ba” Trớc khi trút hơi thở cuối cùng “ hình nh chỉ có tình cha con là không thể chết đợc”
trong trái tim nhân vật ông Sáu
3.Nhận xét đánh giá nội dung và nghệ thuật
- Nội dung: Phụ tử tình thâm vốn là nét đẹp văn hóa trong đời sống tinh thần của ngời phơng Đông nóichung và ngời Việt Nam nói riêng Ngời ta cho rằng đó là một thứ tình cảm thiêng liêng, nó vừa là vô thứcvừa là ý thức và thờng ít khi bộc lộ ra một cách ồn ào lộ liễu Tuy nhiên trong đoạn trích truyện ngắnChiếc lợc ngà, tác giả đã xây dựng đợc một tình huống truyện độc đáo, chỉ có trong chiến tranh và nhờ cótình huống này mà tình phụ tử đã đợc nén chặt để sau đó bùng nổ thành một cảm xúc nhân văn sâu sắc,cảm động Nói cách khác, tác giả đã tô đậm và ngợi ca tình phụ tử nh là một lẽ sống mà vì nó con ngời cóthể bình thản hi sinh cho lí tởng
- Nghệ thuật:
+ Cốt truyện chặt chẽ, có những tình huống bất ngờ nhng vì xảy ra trong hoàn chiến tranh nên vẫn
đảm bảo tính hợp lí trong mạch vận động của cuộc sống thực tế
+ Ngời kể ở ngôi thứ nhất, vừa là nhân chứng vừa là ngời tham gia vào một số sự việc của câu chuyện,
do đó ngời kể đã chủ động đợc nhịp điệu kể tạo ra sự hài hòa giữa các sự việc với các diễn biến tâm trạng,các cung bậc tình cảm của nhân vật
+ Nhân vật sinh động, nhất là các biến thái tình cảm và hành động của nhân vật bé Thu
+ Ngôn ngữ giản dị, mang đậm màu sắc Nam Bộ
C.Kết bài
Truyện Chiếc lợc ngà đã diễn tả một cách cảm động tình cha con thắm thiết sâu nặng của cha con ôngSáu trong hoàn cảnh éo le của chiến tranh Qua đó, tác giả khẳng định và ca ngợi tình cảm cha con nhthiêng liêng nh một giá trị nhân bản sâu sắc , nó càng cao đẹp trong cảnh ngộ khó khăn và éo le của chiếntranh Truyện thành công nổi bật ở nghệ thuật xây dựng tình huống bất ngờ mà tự nhiên hợp lí, ở ngòi bútmiêu tả tâm lí và tính cách nhân vật, nhất là nhân vật trẻ em
………
Trang 10Đề bài 7.1 Phân tích bài thơ Sang thu của Hữu Thỉnh
Dàn ý chi tiết
Hữu Thỉnh là một nhà thơ trởng thành từ trong quân đội, thơ của ông ấm áp tình ngời mà giàu sứcbiểu cảm Một trong những tác phẩm nổi tiếng của ông là Sang thu Bài thơ biểu hiện những cảm nhậntinh tế của nhà thơ khi đất trời chuyển từ mùa hạ sang mùa thu
Mở đầu bài thơ là những cảm nhận nhạy bén, bất ngờ của tác giả:
bỗng , phả ” “ ” Tiếp đó là cảm nhận về làn sơng “ chùng chình” là một sự gợi tả chuyển động rất chậm, ờng nét giăng mắc từ cành nọ sang cành kia, từ mái nhà này sang mái nhà khác Nhng từ “ chùng chình”cũng dùng để chỉ ngời Chính bởi vậy câu thơ khiến cho ngời đọc cảm thấy sơng cũng có tình cảm, nó d-ờng nh muốn chờ đợi ai đó, điều này làm cho sơng có nét thi vị Sau một loạt những cảm nhận ấy, cuốicùng nhà thơ cũng nhận ra “ Hình nh thu đã về Hình nh” “ ” là một từ không khẳng định nhng khi đứng ởtrong câu thơ trê thì điều khẳng định ấy lại là điều mong đợi, giọng điệu câu thơ nh có ý chào đón Từ đây
ta có thể thấy chỉ những ngời thực sự yêu mùa thu, yêu làng quê và gắn bó với quê hơng, đất nớc mới có
Vắt nửa mình sang thu
Sự vật ở thời điểm giao mùa hạ - thu bắt đầu chuyển đổi Sông đã không còn chảy xiết nh mùa hè Từ
dềnh dàng
“ ” nhân hóa con sông, sau những ngày vất vả nh đang đợc lúc để nghỉ ngơi, thanh thản trôi êm
ả…Những chú chim thì vội vã bay về phơng Nam để tránh rét Con sông và cánh chim, dềnh dàng và vộivã là hai nét cảnh đối lập nhng đều góp phần làm sinh động thêm cảnh sang thu của đất trời Trong khổ thơnày, có lẽ hình ảnh kì thú, ấn tợng nhất là hình ảnh đám mây Không gian nh có một sự ngăn cách vô hìnhgiữa mùa hạ và mùa thu, đám mây vắt qua đó để một nửa còn còn nắng rực mùa hè, nửa kia đã dịu mát sắcthu “ Nửa mình” phải chăng còn gợi hình ảnh của một con ngời?
Nếu nh hai khổ thơ đầu là những cảm nhận về thời điểm giao mùa một cách trực tiếp bằng nhiều giácquan thì ở khổ thứ ba, cảm nhận đó đã đi dần vào lí trí Vẫn còn dấu ấn của nắng, ma mùa hạ đã giảm dần
về số lợng để mang nét đặc trng của ma nắng mùa thu:
Vẫn còn bao nhiêu nắng
Đã vơi dần cơn ma
Đặc biệt hai dòng thơ cuối bài là hình ảnh thiên nhiên lúc sang thu đầy sức gợi:
Sấm cũng bớt bất ngờ
Trên hàng cây đứng tuổi
Hai dòng thơ vừa góp phần khép lại trang thơ tài hoa của tác giả khi tả bớc sang thu êm nhẹ của thiênnhiên, vừa gợi những suy ngẫm về con ngời, về cuộc sống Sấm bớt bất ngờ vì sấm rền trên những đámmây cao và xa, tiếng sấm chỉ còn vẳng xa nh mùa hè đã nhạt sắc nắng Hai dòng thơ còn chứa đựng tầngnghĩa ẩn dụ: sấm cũng nh những biến cố, những bất thờng của cuộc đời mà con ngời gặp phải nhng vớinhững con ngời từng trải(hàng cây đứng tuổi ) họ không bất ngờ trớc những bất thờng của ngoại cảnh mà
họ có thể tiếp nhận chúng một cách bình tĩnh hơn Hai câu kết là một khúc sang thu vừa thơ mộng vừabâng khuâng gợi vẻ triết lí
Bằng cảm nhận tinh tế, qua những hình ảnh giàu màu sắc biểu cảm, Hữu Thỉnh đã vẽ một bức tranh vềthời điểm giao mùa giữa hạ và thu thật là đẹp
Vắt nửa mình sang thu
( Hữu Thỉnh, Sang thu trong Ngữ văn 9,
tập hai, NXB Giáo dục, 2005, trang 70 )
Dàn bài chi tiết
Trang 11Nếu mùa xuân là mùa hội tụ của những bàn tay nghệ sĩ tài hoa thì mùa thu bớc vào thơ ca cũng tựnhiên và gần gũi Trớc đây Nguyễn Khuyến nổi tiếng với chùm thơ ba bài về mùa thu, sau này Xuân Diệu
có Đây mùa thu tới Nhỏ nhẹ và khiêm nhờng, Hữu Thỉnh cũng góp vào cho mùa thu đất nớc một góc quêhơng sang thu:
Vắt nửa mình sang thu
Đoạn thơ có cái hơng vị ấm nồng của chớm thu ở một miền quê Tín hiệu đầu tiên mà tác giả nhận ra
là hơng vị ổi phả ra trong gió Mùi quê hơng nhà mộc mạc đợc gió đa trong không gian cứ lan toả, thoangthoảng bay Cảm giác bất chợt đến với nhà thơ “ bỗng nhận ra ” Một sự bất ngờ nh đã đợi sẵn, đợi từ lâurồi, để giờ đây có dịp là buông ra ngay Trong số chúng ta chắc chắn không ai cha một lần nếm vị ổi: giònngọt, chua chua nơi đầu lỡi Cái d vị của hơng thơm đó cứ vấn vít vơng lại trong ta khi chợt đọc câu thơcủa Hữu Thỉnh Có hơng ổi Và gió Và sơng Những hạt sơng thu mền mại, ơn ớt giăng màn qua ngõ.Mùa thu lại về Mùa thu mang theo hơng quê và mang theo sơng thu ớt lạnh Dờng nh có thêm sơng nênthu dễ nhận hơn “ Sơng chùng chình qua ngõ , chùng chình” “ ” hay là chờ đợi gì đây? Cứ dần nh thế, cứnhẹ nhàng và mềm mại nh thế, thu đến từ lúc nào không hay “ Hình nh thu đã về ,” nhà thơ giật mình hơibối rối Tự bao giờ nhỉ? Thu về? Từ hơng ổi, hay từ gió, từ sơng? Hữu Thỉnh cũng hơi ngỡ ngàng trớcthoáng đi bất chợt của mùa thu Thu về, thu lại về trên quê hơng, trên những triền đê, và trên cả những consông, cánh chim trời
Cái bỡ ngỡ ban đầu vụt ta biến đi nhờng chỗ cho sự rung cảm mãnh liệt trớc mùa thu:
Sông đợc lúc dềnh dàng
Chim bắt đầu vội vã
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Con sông quê hơng dềnh nớc chở mùa thu Những cánh chim bay vội vã Tất cả đều hối hả, vội vã khithu về Không còn cái gay gắt của mùa hè nóng nực, chỉ còn lại một bầu không khí ẩm ớt và se lạnh Mộtthoáng rối lòng để rồi nhờng lại cho mùa thu Mùa thu vừa chớm rất nhẹ, rất dịu, rất êm, mơ hồ nh cả đấttrời đang rùng mình thay áo mới Hữu Thỉnh không tả trời thu “ xanh ngắt mấy từng cao” nh NguyễnKhuyến mà chỉ điểm vào bức tranh thu một chút mây vơng lại của mùa hè vừa qua;
Có đám mây mùa hạ
Vắt nửa mình sang thu
Mây vắt nửa mình sang thu Lối diễn đạt của nhà thơ thật độc đáo Hình nh trong đám mây đó còn
v-ơng lại một vài làn nắng ấm của mùa hè nên mới “ vắt nửa mình ” Thu về làm cho cảnh vật đổi thay và
đám mây cũng khác lạ Nó nh là nhịp cầu nối trong khoảnh khắc giao mùa hạ - thu
Với một đoạn thơ ngắn vẻn vẹn chỉ có hai khổ mà nhà thơ đã dựng lại một bức tranh thu nồng đ ợmhơi ấm cuộc đời, hơi ấm quê nhà Những hình ảnh sang thu thân quen, giản dị mà tơi tắn sống động Vớinhững từ láy “ chùng chình , vội vã , dềnh dàng ,” “ ” ” và một giọng thơ vừa có thoáng ngỡ ngàng, vừa vui s-ớng, Hữu Thỉnh đã đa ta về một miền quê dân dã mà ấm áp tình ngời
Sang thu – một hình ảnh quê hơng tự nó đã tôn thêm vẻ đẹp cho đất nớc, cho quê nhà, cho đồng quê
trong mùa thu chung của cả đất trời Việt Nam
độc đáo Nói với con là một bài thơ hay của nhà thơ Bài thơ nh một khúc tâm tình của ngời cha, thể hiệnlòng yêu thơng con của ngời miền núi và ớc mong thế hệ con cái phát huy truyền thống tốt đẹp của quê h-
ơng
Xa nay, tình cảm cha con luôn là một tình cảm thiêng liêng cao đẹp Yêu thơng con, ngời cha luôn córất nhiều điều muốn nói với con Trong bài thơ, điều đầu tiên ngời cha muốn nhắc nhở con của mình, đó làcội nguồn hạnh phúc của con ngời chính là gia đình quê hơng:
Chân phải bớc tới cha
Chân trái bớc tới mẹ
Một bớc chạm tiếng nói
Hai bớc tới tiếng cời
Ngay từ bốn câu thơ đầu, tác giả đã gợi ra một hình ảnh gia đình đầm ấm hạnh phúc Ngời con chậpchững bớc từng bớc đi từ trong mái ấm gia đình ấy Cách liệt kê: chân phải, chân trái, một bớc, hai bớckhiến ta hình dung từng bớc đi của đứa con nhỏ Cả ngôi nhà rung lên những tiếng cời của cha, của mẹ củacon…
Trang 12Rồi ngời con khôn lớn trởng thành dần trong cuộc sống lao động, trong thiên nhiên thơ mộng và trongnghĩa tình sâu nặng của quê hơng Tác giả đã có cách gọi độc đáo về những con ngời quê hơng, một cáchgọi thật gần gũi thân thơng “ ng ời đồng mình” Cách gọi ấy lại gắn liền với lời tâm tình rất tha thiết của
cha đối với con “ Ng ời đồng mình yêu lắm con ơi ” Ngời cha đã lí giải để con có thể hiểu đợc “ ng ời đồng mình” đáng yêu thế nào Họ sống rất đẹp, trong căn nhà của họ bao giờ cũng vang vọng tiếng hát : Đan“
lờ cài nan hoa Vách nhà ken câu hát” Các động từ cài , ken“ ” “ ” gây cảm giác quấn quýt thân thơng, gợicuộc sống lao động êm đềm, vui tơi trong cảnh quê hơng giàu đẹp nghĩa tình:
Rừng cho hoa
Con đờng cho những tấm lòng
Cách nhân hóa “ rừng , con đ” “ ờng” cho ta cảm nhận thiên nhiên quê hơng nh ngời mẹ đã che chở, nuôi
d-ỡng tâm hồn đẹp đẽ của con ngời…
Ngời đồng mình thơng lắm con ơi
….
Không lo cực nhọc
Đoạn thơ tiếp theo, ngời cha đã tha thiết nói với con về những phẩm chất của con ngời quê hơng Cụm từ “
ngời đồng mình” đợc lặp đi lặp lại nhiều lần gây ấn tợng về hình ảnh con ngời quê hơng Lời gọi con thật
thiết tha, lời nhắn nhủ thật chân tình “ Ng ời đồng mình thơng lắm con ơi ,” ngời cha đã lần lợt ca ngợiphẩm chất của ngời đồng mình với cách nói cụ thể, mộc mạc và độc đáo của ngời miền núi Ngời cha nhgiảng giải để đứa con hiểu về ngời đồng mình: họ có thể có những nỗi đau buồn nhng ý chí nghị lực luônvơn lên “ Cao đo nỗi buồn Xa nuôi chí lớn” Ngời đồng mình chấp nhận gian khó không sợ gian khổnghèo đói Điều đó đợc thể hiện trong cách nói “ không lo ,” “ không chê” và cách nói tha thiết yêu quí tựhào về quê hơng Nói với con về ngời đồng mình, ngời cha muốn nhắc nhở con phải sống chung thủy vớiquê hơng, không chê quê hơng dù quê hơng còn có đói nghèo vất vả Ngời cha tiếp tục nói với con về ngời
đồng mình sống mạnh mẽ nh sông, nh suối, dù có lên thác xuống ghềnh, với cặp từ trái nghĩa “ lên , ” “
xuống” càng nhấn mạnh thêm ý chí của ngời đồng mình Dùng những hình ảnh cụ thể của thiên nhiên:
sông, suối, thác, ghềnh mang tính biểu trng cho những gian khổ khó khăn của những con ngời quê hơng làmột cách độc đáo để ngời cha tâm sự với con
Phẩm chất của những con ngời miền núi còn đợc ngời cha ca ngợi qua cách nói đối lập tơng phản giữahình thức bên ngoài và giá trị tinh thần bên trong:
Ngời đồng mình tuy thô sơ da thịt
Chẳng mấy ai nhỏ bé đâu con
Ngời đồng mình là vậy, không biết nói hay, nói khéo, tuy mộc mạc chân chât, tuy thô sơ da thịt nhng phẩmchất cao đẹp của họ, tâm hồn ý chí của họ không bao giờ nhỏ bé Vì thế, trên đờng đời con phải làm những
điều lớn lao, con phải sống cao thợng để xứng đáng là ngời đồng mình Ngời đồng mình xây dựng quê
h-ơng bằng chính sức lực và tính bền bỉ của mình:
Ngời đồng mình tự đục đá kê cao quê hơng
Còn quê hơng thì làm phong tục
Việc đục đá là khó khăn, đòi hỏi phải có tinh thần ý thức cao, vầy mà ngời đồng mình đã làm đợc để rạng
rỡ quê hơng Họ sáng tạo và lu truyền những phong tục tập quán đẹp Ngời cha đã tâm sự, đã truyền chocon mình vẻ đẹp, sức mạnh truyền thống quê hơng
Kết thúc bài thơ là lời dặn, lời khuyên của ngời cha đối với con Đó là lời gọi trìu mến, lời nhắn nhủ thiếttha Điều ngời cha dặn con thật ngắn ngọn, hàm súc mà sâu sắc “ Con ơi tuy thô sơ da thịt Lên đ ờng Không bao giờ nhỏ bé đợc Nghe con” Ngời cha muốn nhắc nhở con là phải biết tự hào về những truyền
thống quê hơng, sống sao cho đẹp, xứng đáng với những phẩm chất của ngời đồng mình và phải vững bớc
tự tin trên đờng đời, phải nhớ về cội nguồn sinh dỡng, cội nguồn quê hơng, đất nớc Đó là cái nôi nuôi ỡng con ngời ta khôn lớn trởng thành Thể thơ tự do, nhịp điệu lúc bay bổng nhẹ nhàng, lúc mạnh mẽ đãtạo ra sự cộng hởng hài hòa với những thang bậc tình cảm khác nhau khiến lời ngời cha truyền thấm sangcon
d-Những phơng tiện ngôn ngữ, những hình thức diễn đạt của ngời miền núi đã góp công lớn rong việc diễn tảtình cảm yêu thơng con của ngời cha Bài thơ đã góp phần tạo nên một tiếng nói riêng độc đáo về tình cảgia đình, tình cảm quê hơng trong làng thơ Việt Nam
Lê Minh Khuê là nhà văn nữ trởng thành trong kháng chiến chống Mĩ Các tác phẩm của chị thờngviết về những nữ thanh niên xung phong trên tuyến đờng Trờng Sơn năm xa Một trong những tác phẩmtiêu biểu là truyện ngắn “ Những ngôi sao xa xôi” sáng tác năm 1971 Bằng giọng văn giản dị, chân thànhgiàu cảm xúc, tác giả đã khắc họa đợc cuộc sống chiến đấu của ba cô gái tại một trọng điểm trên tuyến đ-ờng Trờng Sơn Qua đó giúp chúng ta cảm nhận đợc vẻ đẹp của các cô gái thanh niên xung phong, đặc biệt
là nhân vật Phơng Định
C.Kết bài
Những ngôi sao xa xôi đã làm sống lại trong lòng ngời đọc về những chiến công phi thờng của ba cô gái
trong tổ trinh sát mặt đờng trên tuyến đờng Trờng Sơn những năm đánh Mĩ Hình ảnh của họ sẽ mãi lunglinh tỏa sáng nh những ngôi sao trên bầu trời Đặc biệt, khắc sâu mãi trong lòng ngời đọc là vẻ đẹp củalòng dũng cảm, vẻ đẹp tinh thần lạc quan, yêu đời, vẻ đẹp tâm hồn trong sáng của nhân vật Phơng Định
Trang 13Chiến tranh đã lùi xa, nhng hình ảnh các cô gái thanh niên xung phong, các nữ chiến sĩ trong tổ trinhsát mặt đờng, những nữ anh hùng vô danh trên con đờng chiến lợc Trờng Sơn “ xẻng tay mà viết nên trang
sử hồng” vẫn lung linh trong tâm hồn chúng ta nh những ngôi sao xa xôi“ ”
Đề bài 9.2
Cảm nghĩ của em về hình ảnh thế hệ trẻ Việt Nam trong thời kì kháng chiến chống Mĩ qua ba nhânvật nữ thanh niên xung phong trong truyện ngắn: Những ngôi sao xa xôi của tác giả Lê Minh Khuê
Gợi ýA.Mở bài
Trong đội ngũ cả dân tộc ra trận thời kì kháng chiến chống Mĩ, có sự góp mặt của một “ binh chủng”
đặc biệt: thanh niên xung phong Trên tuyến đờng Trờng Sơn huyền thoại nối liền Bắc – Nam, lực lợngthanh niên xung phong có một vai trò rất quan trọng: tham gia mở đờng, phá bom, san lấp hố bom, bảo
đảm cho con đờng huyết mạch ấy luôn đợc thông suốt cho những đoàn quân, đoàn xe ra trận Viết về ờng Sơn không thể thiếu hình ảnh các cô gái thanh niên xung phong – bởi chiếm số đông trong lực lợngnày là nữ thanh niên Văn học thời kì kháng chiến chống Mĩ đã ghi lại đợc nhiều hình ảnh đẹp, chân thực,cao cả của các cô gái thanh niên xung phong, trong thơ của Phạm Tiến Duật ( Trờng Sơn đông Tr– - ờng Sơn tây ), Lâm Thị Mỹ Dạ ( Khoảng trời Hố bom )– , Nguyễn Đình Thi ( Lá Đỏ )…Truyện ngắn
Tr-Những ngôi sao xa xôi của Lê Minh Khuê góp thêm những chân dung đẹp, chân thực và sinh động về hình
ảnh những cô gái thanh niên xung phong thời chống Mĩ trên tuyến đờng Trờng Sơn huyền thoại
B.Thân bài
1.Những điểm chung
- Hoàn cảnh sống và chiến đấu nguy hiểm và khốc liệt: sống tại một cao điểm, mọi sự sống ở đây gần nh
là bị hủy diệt ( đờng bị đánh lở loét, màu đất đỏ trắng lẫn lộn, hai bên đờng không có lá xanh, thân cây bịtớc khô cháy, rễ cây nằm lăn lóc, ngổ ngang những hòn đá to, một vài thùng xăng, thành ô tô hoen gỉ nằmtrong đất ) Công việc đặc biệt nguy hiểm Họ phải chạy trên cao điểm giữa ban ngày, phơi mình ra giữavùng trọng điểm đánh phá của máy bay địch, từng giờ đối mặt với bom rơi đạn nổ Khi có bom nổ họ phảichạy lên đo khối lợng đất đá lấp vào hố bom, đếm bom cha nổ và phá bom Đó là công việc phải mạohiểm với cái chết, luôn căng thẳng thần kinh, đòi hỏi sự dũng cảm và bình tĩnh hết sức Nhng với họ thìcông việc đó đã trở thành công việc hàng ngày
- Họ là những cô gái còn rất trẻ, có tinh thần trách nhiệm cao đối với công việc, có lòng dũng cảm, không
sự hi sinh vì độc lập, tự do và thống nhất đất nớc: Họ luôn biết tự chủ và bình tĩnh trong mọi tình huống
Lê Minh Khuê đã sử dụng bút pháp hiện thực để tái hiện lại cảnh phá bom vô cùng nguy hiểm của các côgái Hình ảnh Phơng Định dũng cảm, bình tĩnh tiến gần đến quả bom, đàng hoàng mà bớc tới khiến ngời
đọc không tránh khỏi sự hồi hộp, căng thẳng Nhà văn thật tinh tế khi miêu tả những biến thái tâm trạngcủa Phơng Định: có lúc rùng mình và có nghĩ đến cái chết, nhng chỉ là cái chết mờ nhạt, còn quan trọng làquả bom phải nổ Thế rồi quả bom nổ, mảnh bom xé không khí, chị Thao vấp ngã, Nho bị thơng Hình ảnh
họ thật dũng cảm, lẫm liệt ngời sáng trong ma bom bão đạn, hình ảnh đẹp của những nữ anh hùng trên con
đờng chiến lợc Trờng Sơn
- Có tinh thần đồng đội gắn bó keo sơn nh trong một gia đình Ngời đọc thật cảm động trớc cảnh hầm bịsập, Nho bị thơng, chị Thao và Định phải moi đất bới Nho lên Máu túa ra ngấm vào đất Chị Thao nghẹnngào, Định rửa vết thơng, tiêm thuốc và pha sữa cho Nho và rồi chị Thao lại giục Định hát
- Dễ xúc cảm, nhiều mơ ớc, hay mơ mộng, dễ vui mà cũng dễ trầm t: Nho thích thêu thùa, chị Thao chămchép bài hát, Định thích ngắm mình trong gơng, ngồi bó gối mơ mộng và hát
2.Những nét tính cách riêng
* Nhân vật chị Thao: Chăm chép bài hát, chị có ba cuốn sổ để ghi bài hát, nhiều khi ghi cả lời bài hát màtôi đã bịa ra một cách ngớ ngẩn, giọng hát của chị thì chua lòm Chị là ngời lớn tuổi nhất nên không dễdàng hồn nhiên, mơ ớc và những dự tính về tơng lai cũng thiết thực hơn nhng cũng không thiếu nhữngkhát khao rung động của tuổi trẻ Trong chiến đấu thì bĩnh tĩnh gan dạ đến lạ lùng, nhng lại rất sợ khi nhìnthấy máu chảy Trong công việc ai cũng gờm chị về tính kiên quyết táo bạo
* Nhân vật Nho: Một cô gái hồn nhiên vô t, cái hồn nhiên của tuổi trẻ Vừa tắm ở khúc suối có bom nổchậm, cứ quần áo ớt, Nho đòi ăn kẹo Không những thế, Nho còn là một cô gái dũng cảm chịu đựng hisinh Khi Nho bị thơng, mọi ngời lo lắng, còn Nho lại nói: “ Không chết đâu, đơn vị đang làm đ ờng kia
mà Việc gì khiến mọi ngời phải lo lắng”
* Nhân vật Phơng Định
- Phơng Định dù vào chiến trờng đã ba năm nhng vẫn mang rất rõ nét tâm hồn của một cô gái Hà Nội
- Nhạy cảm, thích quan tâm đến hình thức của mình, nhng lại rất kín đáo
- Luôn nhớ những kỉ niệm về gia đình, về Hà Nội
- Hồn nhiên, mơ mộng, thích hát
- Phơng Định dũng cảm, tự tin trong chiến đấu
Cả ba cô gái trong tác phẩm đều đáng mến, đáng cảm phục Nhng ngời đọc vẫn có ấn tợng sâu sắc nhất
đối với nhân vật Phơng Định Vốn là một cô gái thích mơ mộng, cô có một thời học sinh hồn nhiên vô tbên ngời mẹ, một căn buồng nhỏ ở một đờng phố yên tĩnh Những kỉ niệm ấy luôn sống lại trong cô ngaygiữa chiến trờng dữ dội Nó vừa là niềm khao khát, vừa làm dịu mát tâm hồn cô trong hoàn cảnh căngthẳng, khốc liệt Vào chiến trờng đã ba năm, đã quen với những thử thách và nguy hiểm, giáp mặt hàngngày với cái chết, nhng ở cô cũng nh ở những đồng đội không mất đi sự hồn nhiên, trong sáng và cả những
ớc mơ về tơng lai
Định còn là một cô gái rất hồn nhiên, yêu đời và thích hát Định hát ngay cả trong những khoảnh khắc imlặng, khi máy bay trinh sát bay rè rè Cô hát cả khi “ máy bay rít, bom nổ, nổ trên cao điểm cách cái hang này khoảng 300 mét” Cô yêu quí hai ngời đồng đội Đặc biệt cô dành tình cảm và niềm cảm phục cho tất
cả những chiến sĩ mà cô gặp hằng đêm trên trọng điểm của con đờng ra mặt trận Cũng giống nh cô gái
Trang 14mới lớn, Phơng Định nhạy cảm và quan tâm đến hình thức của mình: “ Nói một cách khiêm tốn tôi là một cô gái khá Hai bím tóc dày tơng đối mềm, cái cổ cao kiêu hãnh nh đài hoa loa kèn Còn mắt tôi thì các anh lái xe bảo: Cô có cái nhìn sao mà xa xăm ” Cô biết mình đợc nhiều ngời, nhất là các anh lính để ý và
có thiện cảm Điều đó làm cô thấy vui và tự hào nhng cô cha dành riêng tình cảm của mình cho một ai.Nhạy cảm, nhng cô lại không hay bộc lộ tình cảm của mình, tỏ ra kín đáo giữa đám đông, tởng nh là kiêukì Phơng Định hay hồi tởng về những kỉ niệm tuổi học trò hồn nhiên, vô t, pha chút tinh nghịch và mơmộng của một thiếu nữ: “ Cô hay ngồi trên thành cửa sổ để hát, hát say s a đến nỗi suýt lộn nhào xuống
đất ”
Công việc phá bom đối với cô là một công việc quen thuộc nhng cũng rất nguy hiểm Thậm chí một ngày
có thể phải phá tới năm quả bom Mỗi lần là một thử thách với thần kinh cho đến từng cảm giác Từ khungcảnh và khôn khí chứa đày sự căng thẳng “ thần kinh căng lên nh chão” đến cảm giác là các anh cao xạ ở
trên kia đang theo dõi từng hành động và cử chỉ của mình để rồi lòng dũng cảm của cô nh đợc kích thíchbởi sự tự trọng ở bên quả bom, sát kề với cái chết im lìm và bất ngờ, từng cảm giác của con ngời cũng trởnên sắc nhọn hơn
Nhân vật Phơng Định còn để lại trong lòng ngời đọc những tình cảm sâu sắc bởi chính tâm hồn trong sáng
và mơ mộng của cô Giữa tuyến lửa Trờng Sơn, cô vẫn dành một khoảng tâm hồn mình để nhớ về hình ảnhngời mẹ, nhớ về Hà Nội, nhớ về những ngôi sao đêm trên bầu trời thành phố, nhớ về cái vòm tròn của nhàhát Tất cả những kỉ niệm đó chính là niềm động viên khích lệ cô gái hoàn thành nhiệm vụ cao cả củamình Một lần nữa những vần thơ ca ngợi cô gái thanh niên xung phong của nhà thơ Lâm Thị Mĩ Dạ lạivang lên xúc động đến nao lòng:
Đất nớc mình nhân hậu
Có nớc trời xoa dịu vết thơng đau
Em nằm dới đất sâu
Nh khoảng trời đã nằm im trong đất
Đêm đêm, tâm hồn em toả sáng
Những vì sao ngời chói lung linh.
C.Kết bài
Những ngôi sao xa xôi đã làm sống lại trong lòng ngời đọc về những chiến công phi thờng của ba cô
gái thanh niên xung phong trong tổ trinh sát mặt đờng trên tuyến đờng Trờng Sơn Họ là những con ngời
có tâm hồn trong sáng, cao đẹp, với cuộc sống chiến đấu đầy gian khổ hi sinh nhng rất gắn bó, thơng yêunhau và rất hồn nhiên, lạc quan Họ tiêu biểu cho hàng vạn thanh niên xung phong trên tuyến lửa TrờngSơn, chiến đấu hi sinh quên mình gìn giữ mạch máu giao thông từ hậu phơng lớn miền Bắc vào tiền tuyếnlớn miền Nam Họ cùng với anh Giải phóng quân, ngời lính lái xe…và nhân dân anh hùng làm nên huyềnthoại đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng miền Nam thống nhất Tổ quốc
Đề bài 10.1
Phân tích hai khổ thơ đầu trong bài thơ Bài thơ về tiểu xe không kính của Phạm Tiến Duật
Dàn bài gợi ý1.Việt Nam theo cách nói của một nhà thơ là đất nớc ở “ vùng tâm bão ” với lịch sử liên tiếp chống ngoạixâm rất đỗi quật cờng Những con ngời Việt Nam “ đẹp nh hoa hồng, cứng nh sắt thép”, sẵn sàng hiếndâng cuộc đời mình vì độc lập tự do của Tổ quốc Bởi vậy, hình tợng con ngời đánh giặc cứu nớc đã trởthành một trong những hình tợng nghệ thuật đẹp nhất của văn học nớc ta Phạm Tiến Duật cũng góp vào v-
ờn thơ một hình tợng chiến sĩ khá độc đáo với bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính Trong hai khổ thơ
đầu của tác phẩm, chân dung ngời chiến sĩ lái xe đã hiện ra với vẻ đẹp hài hòa giữa chất hiện thực và lãngmạn
2.Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nớc, không chỉ có những con ngời mà những chiếc xe cũngtrở thành anh hùng, dũng sĩ Điều ấy hẳn đợc nhiều ngời công nhận, nhng đã mấy ai đa những chiếc xevào tác phẩm nh một nguồn cảm hứng, một hình ảnh trung tâm? Phạm Tiến Duật – cây bút trởng thành từmột ngời lính lái xe Trờng Sơn, đã góp phần vào vờn thơ ca Việt Nam một tác phẩm độc đáo: Bài thơ về
tiểu đội xe không kính Viết về những chiếc xe chính là để ca ngợi con ngời Những ngời chiến sĩ lái xe
hiện lên trong bài thơ với vẻ đẹp hài hòa giữa chất hiện thực và lãng mạn Ta nhận thấy điều ấy ngay từ haikhổ thơ đầu của bài thơ
Đoạn thơ mở đầu bằng một hình ảnh không có gì xa lạ trong chiến tranh nhng lại khá độc đáo trongthơ, hình ảnh những chiếc xe không kính
Không có kính không phải vì xe không có kính
Bom giật, bom rung kính vỡ đi rồi
Tất cả sự khốc liệt của chiến tranh toát lên từ một hình ảnh chân thực đến trần trụi Câu thơ giản dị tựnhiên nh lời nói đời thờng Ta hình dung ra một gơng mặt chiến sĩ trẻ đang tơi cời phân bua: xe không cókính chẳng qua vì bom rung làm vỡ kính đó thôi Nói đến hiện thực bom đạn dữ dội của chiến tranh, nói
đến sự gian nan luôn đối mặt với cái chết của cuộc đời ngời lính mà sao giọng điệu ngời chiến sĩ có thểbình thản nh không đến vậy? Phải chăng bản thân giọng điệu ấy đã là một điều đáng quí, đáng yêu?
Hai câu thơ tiếp theo miêu tả trực tiếp t thế, phong thái ngời lính cầm vô lăng trong ca bin những chiếc
Trang 15chủ động của ngời ngồi sau tay lái Thái độ ung dung không chỉ thể hiện tinh thần bất chấp hiểm nguygian khó mà còn cho thấy sự tự tin, kiêu hãnh của những con ngời rất đỗi tự hào về sứ mệnh cao cả củamình Họ nhìn thẳng về phía trớc cũng là nhìn thẳng và gian khổ, nhìn thẳng vào hi sinh mà không chútnao núng, nhìn thẳng tới đích với một ý chí quyết tâm vững nh sắt thép.
Trong t thế ung dung anh hùng ấy, ngời chiến sĩ hớng ra thế giới với cái nhìn phóng khoáng, đậm màusắc lính Anh đã thấy những gì?
Nhìn thấy gió vào xoa mắt đắng
Nhìn thấy con đờng chạy thẳng vào tim
Thấy sao trời và đột ngột cánh chim
Nh sa, nh ùa vào buồng lái
ở đây chất hiện thực và và chất lãng mạn đan xen nhau, thấm quyện lẫn nhau Cái hiện thực là nỗigian khổ vì xe mất kính chắn, ngời lính ngồi trong buồng lái mà vẫn phải phơi mặt trớc gió sơng Nhngtrên nền hiện thực ấy, cái lãng mạn vút lên làm cho câu thơ nh bay bổng Bom đạn, gió ma, chiếc xe đầythơng tích nhng hoàn cảnh ấy không thể làm cho tâm hồn ngời lính trơt nên khô cằn, chai sạn Ngợc lại,chiếc xe không kính chắn giúp họ gần thiên nhiên hơn, thấy mình mạnh mẽ, yêu đời hơn Một loạt hình
ảnh phản ánh cảm giác mãnh xuất hiện dồn dập: cơn gió ùa vào xoa dịu nỗi đau nhức của đôi mắt cay xèvì bụi đờng, vì bao đêm mất ngủ; con đờng vùn vụt chạy thẳng vào tim; sao trời lao vun vút và cả nhữngcánh chim nh đột ngột sa vào buồng lái cùng tốc độ băng băng của những chiếc xe không kính Thiênnhiên ùa vào quấn quýt lấy ngời chiến sĩ Đằng sau tay lái, với cái nhìn thẳng đày kiêu hãnh, anh chiến sĩ
đã phát hiện ra những vẻ đẹp bất ngờ của thế giới Và chính trong thế giới thiên nhiên đẹp đẽ kì lạ đó, tầmvóc của ngời lính đợc nâng bổng lên ngang tầm với vũ trụ Ngời đọc không khỏi ngạc nhiên trớc khám phácủa Phạm Tiến Duật Hiện thực khốc liệt là thế mà ngời chiến sĩ – nhà thơ vẫn nhận thấy vẻ đẹp lãng mạncủa đời lính Những câu thơ bung mở cái chất chân thật của ngời chiến sĩ cầm vô lăng: trong gian khổhiểm nghèo, họ vẫn hiên ngang can trờng, chắc tay lái, đa xe ra tiền tuyến Và hơn thế nữa, họ mang mộttrái tim tuổi trẻ sôi nổi nhiệt tình, tất cả vì miền Nam yêu dấu ở họ có một tâm hồn nhạy cảm, phóngkhoáng, phơi phới niềm tin tởng, lạc quan Đó là những nét đẹp, nét thơ của tâm hồn ngời chiến sĩ Bêncạnh đó, chất thơ còn đợc thể hiện ở giọng điệu hồn nhiên, dí dỏm, sôi nổi chất lính và những hình ảnhvừa chân thực, vừa lãng mạn
Đã hơn ba mơi năm kể từ ngày cuộc kháng chiến chống Mĩ oanh liệt của chúng ta kết thúc, nhng hình
ảnh những chiếc xe không kính và những ngời lính lái xe của Phạm Tiến Duật vẫn còn đẹp mãi trong tâmhồn thế hệ bạn đọc hôm nay Xin cảm ơn nhà thơ đã giúp chúng ta thêm hiểu biết và tự hào về một thời ratrận gian khổ nhng hào hùng của tuổi trẻ Việt Nam trong kháng chiến chống Mĩ
Đề bài 10.2 ( 38 – tc )
Phân tích những khổ thơ sau trong bài thơ Bài thơ về tiểu đội xe không kính của Phạm Tiến Duật:
“Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng nh ngời già
Cha cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cời ha ha
Không có kính ừ thì ớt áo
Ma tuôn ma xối nh ngoài trời
Cha cần thay lái trăm cây số nữa
Ma ngừng gió lùa khô mau thôi
Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xớc
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trớc
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Dàn bài chi tiết
Phạm Tiến Duật bằng giọng thơ chắc khỏe, đợm chất văn xuôi, đã tạo nên một giọng nói riêng biệt, mới
mẻ trong nền thơ ca chống Mĩ Những hình ảnh trần trụi, những từ ngữ thờng ngày, những sự vật khôngnên thơ chút nào lại tỏa sáng trong mỗi bài thơ của anh Thơ ca của ông, đặc biệt trong Vầng trăng –
Quầng lửa không phải là sự chắt lọc ra từ đời sống mà là toàn vẹn đời sống thờng nhật ở chiến trờng.
Phạm Tiến Duật đã góp vào vờn thơ đất nớc một hình tợng chiến sĩ khá độc đáo với Bài thơ về tiểu xe
không kính Bài thơ đã ghi lại những nét ngang tàng, dũng cảm và lạc quan của ngời chiến sĩ lái xe trên
tuyến đờng Trờng Sơn thời chống Mĩ, tiêu biểu cho chủ nghĩa anh hùng của tuổi trẻ một trời máu lửa
Ba khổ thơ sau đã thể hiện thái độ bất chấp khó khăn gian khổ, ý chí chiến đấu vì miền Nam ruột thịt:
“Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng nh ngời già
Cha cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cời ha ha
Không có kính ừ thì ớt áo
Ma tuôn ma xối nh ngoài trời
Cha cần thay lái trăm cây số nữa
Ma ngừng gió lùa khô mau thôi
Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xớc
Trang 16Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trớc
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Càng khó khăn càng vững tay lái, càng làm tăng thêm chất kiêu hùng ngang tàng của ngời lính lái xe.Các anh sẵn sàng thách thức chấp nhận:
Không có kính ừ thì có bụi
Bụi phun tóc trắng nh ngời già
Cha cần rửa phì phèo châm điếu thuốc
Nhìn nhau mặt lấm cời ha ha
Khổ thơ đầy ắp những chi tiết, hình ảnh lấy từ hiện thực cuộc sống gian khổ của ngời lính Con đờngTrờng Sơn khét nồng bom đạn kẻ thù, con đờng nắng cháy ma rừng, mỗi vòng bánh xe của các anh là đốimặt với bao hiểm nguy Làn xe lớt dới bom đạn kẻ thù, cái chết có thể ập đến bất cứ lúc nào, song các anhkhông hề nhụt chí, sẵn sàng đón nhận với một thái độ bất chấp Mái tóc của những chàng lính trẻ đã có sựthay đổi “ Bụi phun tóc trắng nh ngời già” Một hình ảnh so sánh khá hóm hỉnh và độc đáo, một kiểu hút
thuốc phì phèo rất lính Một nụ cời lạc quan, yêu đời cất lên từ một gơng mặt lấm khi đồng đội gặp nhau.hình ảnh ngời lính lái xe bỗng sáng ngời lên bởi vẻ lạc quan, tinh nghịch giữa bom đạn kẻ thù Tinh thầnchủ động sẵn sàng chấp nhận thách thức đợc thể hiện rõ nét qua một từ “ ừ thì” vang lên nh một lời thách
đố Cũng viết về nụ cời thân ái giữa những ngời đồng đội với nhau, trong truyện ngắn “ Những ngôi sao xa xôi ” của Lê Minh Khuê đã miêu tả nụ cời của ba nữ thanh niên xung phong: “ C ời thì hàm răng loá lên, khuôn mặt nhem nhuốc ” Những lúc đó, chúng tôi gọi nhau là “ những con quỉ mắt đen ” Đúng, họ là “
những con quỉ mắt đen” hay chính là những anh hùng đã đóng góp bao nhiêu xơng máu cho Tổ quốc.
Khổ thơ thứ hai tiếp tục ghi lại những gian khổ mà ngời lính đã trải qua:
Không có kính ừ thì ớt áo
Ma tuôn ma xối nh ngoài trời
Cha cần thay lái trăm cây số nữa
Ma ngừng gió lùa khô mau thôi
Lại một lần nữa, ngời đọc bắt gặp hình ảnh ngời lính lái xe trong cái ve ngang tàng, chấp nhận mọi sựthử thách: “ ừ thì ớt áo” nh một tiếng tặc lỡi Khó khăn, gian khổ cũng không làm ảnh hởng đến ý chí của
họ, không gì ngăn nổi, không gì cản đợc trái tim ngời chiến sĩ hớng về phía tiền phơng Nhiệt tình cáchmạng của ngời lính không còn là trìu tợng nữa mà đợc tính bằng cung đờng “ lái trăm cây số nữa ” Nhữngcung đờng ấy trong ma bom bão đạn phải trả giá bằng bao mồ hôi xơng máu Gian khổ là vậy, nhng hình
ảnh ngời lính lái xe vẫn phơi phới niềm tin, tràn đầy nghị lực:
Ma ngừng, gió lùa khô mau thôi
Một câu thơ với cấu trúc khá đặc biệt, có bảy từ mà có đến sáu thanh bằng góp phần diễn tả sự nângnâng bay bổng Đoạn thơ trên đây hội tụ biết bao vẻ đẹp ngôn từ nghệ thuật Các điệp từ, điệp ngữ diễn tảthật đẹp chí khí anh hùng của những chiếc xe không kính thời máu lửa đọc thơ Phạm Tiến Duật ta thờngbắt gặp một giọng thơ trẻ trung, ngang tàng, tinh nghịch, một giọng thơ lãng mạn, phơi phới tin yêu Trongcái nhìn của thi sĩ và cũng là cái nhìn của tuổi trẻ Việt Nam anh hùng, những ngời lính Trờng Sơn: “ Đ ờng
ra trận mùa này đẹp lắm”, bởi lẽ đó là nơi thử thách tuổi trẻ, là nơi hò hẹn mộng mơ.
Khổ thơ cuối đã làm nổi bật cái dữ dội và cái khốc liệt của chiến tranh Chiếc xe mang đầy thơng tích:
Không có kính, rồi xe không có đèn
Không có mui xe, thùng xe có xớc
Xe vẫn chạy vì miền Nam phía trớc
Chỉ cần trong xe có một trái tim”
Hai dòng thơ với sự tập hợp của ba cái “ không có” và chỉ có một cái “ có”.Tất cả đã khắc hoạ lêntrớc mắt ngời đọc hình ảnh những chiếc xe vận tải quân sự mang đầy thơng tích của chiến tranh Nhngnhững chếc xe không kính đó vẫn bon bon trên đờng Trờng Sơn với một niềm tự hào, khẳng định dáng
đứng và tâm thế của ngời lính – dáng đứng của tuổi tre Việt Nam:
Chỉ cần trong xe có một trái tim
Hình ảnh hoán dụ “ trái tim” là biểu tợng của ý chí, của bầu nhiệt huyết, của khát vọng tự do và hoàbình cháy bỏng trong trái tim ngời chiến sĩ Không mà lại có, cái có của ngời lính lái xe là một trái tim,một ngời yêu nớc, một lòng khao khát giải phóng miền Nam thì tất cả những cái thiếu kia đâu có hề gì.Vậy đó, khí phách ngang tàng mà vẫn tha thiết yêu thơng, đó là chất lính của ngời chiến sĩ trong thơ PhạmTiến Duật
Đoạn thơ trên đây hội tụ bao vẻ đẹp nghệ thuật Những câu thơ mang màu sắc văn xuôi thể hiện “
chất lính” thời máu lửa Các điệp từ, điệp ngữ, các hình ảnh về những chiếc xe không kính, thái độ và ý
chí của những chiến sĩ lái xe đã diễn tả thật đẹp chí khí anh hùng của tiểu đội xe không kính, đồng thờilàm cho giọng thơ vang lên mạnh mẽ, hào hùng mang âm điệu anh hùng ca
Bài thơ với ngôn ngữ mộc mạc, giọng điệu khỏe khoắn, trẻ trung, các chi tiết chân thực đầy chất lính đãchinh phục ngời đọc chúng ta Bài thơ về tiểu đội xe không kính là một bài thơ hay Chất hiện thực về đờisống chiến đấu gian khổ kết hợp hài hòa với cảm hứng lãng mạn đã tạo nên những vần thơ “ góc cạnh”
đầy ấn tợng Đọc lại bài thơ, dờng nh ta vần còn nghe trong gió rít, bụi mù và bom nổ, tiếng cời nói râmran, sôi nổi của những anh lính lái xe can trờng trên đờng Trờng Sơn những năm đánh Mĩ
Đề bài 11.1
Phân tích đoạn thơ sau đây trong bài thơ Đồng chí của Chính Hữu:
“Ruộng nơng anh gửi bạn thân cày
…
Đầu súng trăng treo”
Đề bài 11.2