Chính phủ đã đổi mới một cách cơ bản cơ chế quản lý theo hớngmở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, giảm dần hàng rào phi thuế, hạnchế cơ chế “xin cho”, giảm bớt sự can thiệp của Nhà n
Trang 1BỘ THƠNG MẠI CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
-Hà nội, ngày 16 tháng 9 năm 2000
CHIẾN LỢC PHÁT TRIỂN XUẤT NHẬP KHẨU
THỜI KỲ 2001-2010
-Chiến lợc phát triển xuất - nhập khẩu thời kỳ 2001-2010 đợc xây
dựng nhằm cụ thể hoá những định hớng nêu trong Chiến lợc phát triển kinh
tế xã hội của Đảng đang đợc thảo luận, đề ra những định hớng và biện pháp
cụ thể để phục vụ đắc lực sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Chiến lợc xuất - nhập khẩu đợc trình bày thành 3 phần :
Phần thứ nhất đa ra những đánh giá tổng quát về hoạt động xuất nhập khẩu trong 10 năm trớc
-Phần thứ hai đa ra những định hớng lớn cho công tác xuất - nhậpkhẩu
Phần thứ ba đề xuất các chính sách và giải pháp thực hiện Chiến lợc
PHẦN THỨ NHẤT
ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT HOẠT ĐỘNG XUẤT - NHẬP KHẨU THỜI KỲ 1991-2000
I NHỮNG THÀNH TỰU ĐÃ ĐẠT ĐỢC :
1 Đã đạt đợc mục tiêu đề ra trong Chiến lợc phát triển kinh tế xã hội
thời kỳ 1991-2000 : kim ngạch xuất khẩu năm 2000 dự kiến đạt 13,5 tỷUSD, gấp 5,6 lần kim ngạch năm 1990 (2,4 tỷ USD) Nhịp độ tăng trởngbình quân 18,4%/năm, nhanh hơn tốc độ tăng trởng GDP khoảng 2,6 lần(GDP tăng bình quân 7,6%/năm)
Trang 22 Cơ cấu xuất khẩu đã đợc cải thiện theo hớng “tăng các mặt hàng
chế biến, giảm tỷ trọng các sản phẩm thô, tạo một số mặt hàng có khối lợng lớn và thị trờng tơng đối ổn định” Tỷ trọng sản phẩm chế biến đã tăng từ
8% vào năm 1991 lên khoảng 40% vào năm 2000 Năm 1991 mới có 4 mặthàng đạt giá trị xuất khẩu trên 100 triệu USD là dầu thô, thủy sản, gạo vàhàng dệt may; nay có thêm 8 mặt hàng nữa là cà phê, cao su, điều, giày dép,than đá, điện tử, thủ công mỹ nghệ và rau quả Về một số mặt hàng, nớc ta
đã chiếm lĩnh vị trí cao : gạo đứng hàng thứ hai thế giới, cà phê đúng thứhai, hạt tiêu và hạt điều đứng thứ ba
3 Việc thực hiện chủ trơng “phát triển nhiều hình thức dịch vụ thu
ngoại tệ, nhất là hoạt động du lịch” có nhiều tiến bộ Khách du lịch nớc
ngoài vào Việt Nam đã tăng từ 250 ngàn lợt ngời vào năm 1991 lên khoảng
2 triệu lợt ngời vào năm 2000, doanh thu đạt khoảng 450 triệu USD Laođộng ở nớc ngoài, tính đến năm 2000 có khoảng 9 vạn ngời, đem lại khoảng
500 triệu USD thu nhập hàng năm Các dịch vụ khác nh ngân hàng, hàngkhông, viễn thông, xây dựng, y tế, giáo dục thu đợc khoảng 1 tỷ USD vàonăm 2000
4 Nhập khẩu, về cơ bản, đã “phục vụ có hiệu quả cho phát triển sản
xuất và đổi mới công nghệ, thúc đẩy nâng cao chất lợng và sức cạnh tranh của hàng hoá, đáp ứng nhu cầu cần thiết của đời sống” T liệu sản xuất hiện
nay chiếm gần 95% kim ngạch nhập khẩu, trong đó 26-27% là máy mócthiết bị, 68% là nguyên nhiên vật liệu; hàng tiêu dùng chỉ chiếm khoảng 5%(năm 1990 là 15%) Nhập siêu giảm cả về giá trị tuyệt đối lẫn tơng đối: năm
1996 còn nhập siêu gần 4 tỷ USD, tới năm 1999 chỉ còn khoảng 0,2 tỷ USD;
tỷ trọng nhập siêu so với xuất khẩu đã giảm từ 33% trong kỳ 1991-1995xuống còn 18% trong kỳ 1996-2000
5 Đã vợt qua đợc sự khủng hoảng thị trờng vào đầu những năm 90 do
chế độ XHCN ở Liên Xô và Đông Âu bị xoá bỏ; đã đẩy lùi đợc chính sách
bao vây, cấm vận và về cơ bản thực hiện đợc chủ trơng “đa dạng hoá thị
tr-ờng và đa phơng hoá quan hệ kinh tế tích cực thâm nhập, tạo chỗ đứng ở các thị trờng mới, phát triển các quan hệ mới” Nay nớc ta có quan hệ thơng
mại với trên 160 nớc và vùng lãnh thổ trong đó đã ký Hiệp định Thơng mại
với 61 nớc Chủ trơng “gia nhập các tổ chức và hiệp hội kinh tế quốc tế
khác khi cần thiết và có điều kiện” đã đợc thực hiện bằng việc gia nhập
ASEAN (1995), ASEM (1996), APEC (1998) và trở thành quan sát viênWTO (1995)
Trang 36 Chính phủ đã đổi mới một cách cơ bản cơ chế quản lý theo hớng
mở rộng quyền kinh doanh xuất nhập khẩu, giảm dần hàng rào phi thuế, hạnchế cơ chế “xin cho”, giảm bớt sự can thiệp của Nhà nớc vào hoạt động kinhdoanh của doanh nghiệp, nâng cao vai trò của các công cụ vĩ mô nh thuế, lãisuất, tỷ giá Chính phủ cũng đã dành sự quan tâm đặc biệt cho xuất khẩuthông qua các chơng trình hỗ trợ nh trợ cấp, trợ giá, lập Quỹ Hỗ trợ, QuỹThởng Hành lang pháp lý từng bớc đợc hoàn thiện; trong đó đã thôngqua đợc Luật Thơng mại
Nhìn chung lại, trong 10 năm qua, lĩnh vực xuất - nhập khẩu đã đạt
đ-ợc nhiều thành tựu to lớn, về cơ bản đã thực hiện đđ-ợc những chủ trơng nêu
ra trong Chiến lợc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000, góp phần đáng kể vào sự phát triển kinh tế - xã hội của đất nớc, thúc đẩy sản xuất, tạo thêm nhiều công ăn việc làm, thu ngoại tệ để trang trải nhu cầu nhập khẩu và tích luỹ.
Những thành tựu trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ yếu sau :
Một là, công cuộc đổi mới đã thúc đẩy lực lợng sản xuất phát triển, cơ
cấu sản xuất chuyển dịch dần, từ đó thúc đẩy xuất khẩu và cải thiện cơ cấuxuất - nhập khẩu
Hai là, xuất khẩu đợc đặt thành một nhiệm vụ trọng tâm, sản xuất gắn
liền với lu thông, xuất khẩu; các cơ chế chính sách ngày càng phù hợp,thông thoáng, tạo thuận lợi cho các ngành sản xuất, các địa phơng và cácthành phần kinh tế tham gia xuất nhập khẩu
Ba là, chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, đa dạng hoá, đa phơng
hoá, từng bớc hội nhập vào nền kinh tế khu vực và thế giới đã góp phần đẩylùi chính sách bao vây cấm vận, mở rộng thị trờng xuất - nhập khẩu Đầu tnớc ngoài chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong kinh doanh xuất - nhập khẩu(từ 4% năm 1994 lên 22,3% năm 1999, nếu kể cả dầu khí thì lên tới 35%)
II NHỮNG VẤN ĐỀ TỒN TẠI :
1 Quy mô xuất khẩu còn quá nhỏ so với các nớc trong khu vực; bình
quân tính theo đầu ngời khoảng 175 USD năm 2000, trong khi Malaysianăm 1996 đã đạt mức 3700 USD, Thái lan 933 USD và Philippin là 285USD Riêng Trung Quốc năm 1999 kim ngạch xuất khẩu đạt 195 tỷ USDbình quân đầu ngời 163 USD
Trang 42 Việc chuyển dịch cơ cấu sản xuất, ngành hàng cha bám sát tín hiệu
của thị trờng thế giới nên nhiều sản phẩm làm ra không tiêu thụ đợc Khả
năng cạnh tranh của nhiều hàng hóa còn thấp do giá thành cao, chất lợng cònkém, mẫu mã cha phù hợp với nhu cầu thị trờng Đầu t vào khâu nâng caokhả năng cạnh tranh và khả năng tiêu thụ cha thoả đáng Tỷ trọng hàng thô
và sơ chế trong cơ cấu xuất khẩu còn khá cao Trong số sản phẩm chế biến,
hàng gia công còn chiếm tỷ trọng lớn Tỷ trọng sản phẩm có hàm lợng côngnghệ và trí tuệ cao còn rất nhỏ Xuất khẩu dịch vụ còn thấp xa so với tiềmnăng
3 Nhập khẩu cha cải thiện đợc tình trạng lạc hậu về công nghệ ở một
số ngành; ít tiếp cận đợc với công nghệ nguồn Tình trạng nhập siêu lớn tuy
đã đợc khắc phục nhng cha thật vững chắc
4 Sự hiểu biết về thị trờng ngoài còn hạn chế Nhà nớc cha cung cấp
đợc thông tin đầy đủ cho các doanh nghiệp Ngợc lại, nhiều doanh nghiệpcòn ỷ lại vào Nhà nớc, thụ động chờ khách hàng Đối với một số thị trờng,hàng xuất khẩu vẫn còn phải qua trung gian
5 Việc hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới còn không ít lúng
túng Cho tới nay cha hình thành đợc chiến lợc tổng thể, cha có lộ trình giảm
thuế và hàng rào phi quan thuế dài hạn Nhiều doanh nghiệp còn trông chờvào sự bảo hộ của Nhà nớc và Nhà nớc cũng cha đa ra đợc lộ trình giảm dần
sự bảo hộ
6 Công tác quản lý nhà nớc về thơng mại tuy đã có nhiều sự cải tiến
nhng nhìn chung còn khá thụ động Sự phối hợp giữa các Bộ, ngành, địa ơng đã có chuyển biến tích cực nhng nhìn chung cha tạo đợc sức mạnh tổnghợp Còn thiếu cán bộ quản lý có trình độ
ph-Những tồn tại trên bắt nguồn từ những nguyên nhân chủ yếu sau :
Một là, trình độ phát triển kinh tế của nớc ta còn thấp, cơ cấu kinh tế
nói chung còn lạc hậu, từ năm 1997 lại chịu tác động không ít của cuộckhủng hoảng trong khu vực Toàn bộ tình hình đó tác động tiêu cực tới hoạtđộng xuất - nhập khẩu
Trang 5Hai là, nền kinh tế nớc ta trên thực tế mới chuyển sang cơ chế thị
tr-ờng và mới tiếp cận với thị trtr-ờng toàn cầu trong khoảng mơi năm trở lại đây,trình độ cán bộ còn cha theo kịp nhu cầu nên không thể tránh khỏi bỡ ngỡ
Ba là, còn lúng túng trong việc đề ra cơ chế quản lý nhằm thực hiện
phơng châm hớng mạnh ra xuất khẩu và chủ động hội nhập kinh tế khu vực
và thế giới Đặc biệt, nhiều chủ trơng chính sách đã đợc ban hành nhng việctriển khai thực hiện còn chậm, kém hiệu quả
PHẦN THỨ HAI
ĐỊNH HỚNG PHÁT TRIỂN XUẤT - NHẬP KHẨU THỜI KỲ 2001-2010
I TÌNH HÌNH TRONG NỚC, THẾ GIỚI VÀ NHỮNG THUẬN LỢI, KHÓ KHĂN ĐẶT RA CHO HOẠT ĐỘNG XUẤT NHẬP KHẨU :
Bớc vào thời kỳ 2001-2010, thế và lực của nớc ta đã khác hẳn 10 nămtrớc đây Đất nớc đã ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, cơ sở hạ tầng vànăng lực sản xuất đợc cải thiện đáng kể, thị trờng đợc mở rộng Tuy nhiên,trình độ phát triển kinh tế của nớc ta còn thấp, GDP bình quân đầu ngời năm
2000 mới đạt gần 400USD Cơ cấu kinh tế và trình độ công nghệ nhìn chungcòn lạc hậu Khả năng cạnh tranh còn thấp ở cả cấp độ quốc gia, doanhnghiệp lẫn sản phẩm
Trên bình diện quốc tế, khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ vàđang trở thành lực lợng sản xuất trực tiếp, đa thế giới vào thời kỳ phát triểnmới : thời kỳ kinh tế tri thức và xã hội thông tin Các ngành dịch vụ và cácngành kinh tế giàu hàm lợng chất xám phát triển mạnh Khái niệm thơngmại đợc mở rộng, bao gồm cả các sản phẩm hữu hình của nền sản xuấttruyền thống lẫn các sản phẩm “mềm” của nền sản xuất dựa vào tri thức.Mức độ phổ cập của mạng Internet khiến tỷ trọng của thơng mại điện tử tăngnhanh, qua đó thay đổi hẳn phơng thức kinh doanh (theo số liệu củaUNCTAD thì năm 1995, giá trị thơng mại điện tử mới có 100 triệu USD thìnăm 1999 đã là 180 tỷ USD và năm 2002 sẽ lên tới khoảng 1.234 tỷ USD)
Trang 6Xu hớng toàn cầu hoá, khu vực hoá với các mặt tích cực và tiêu cựccủa nó sẽ tiếp tục diễn biến thông qua sự hợp tác - đấu tranh phức tạp giữacác đối tác Đặc biệt, cuộc khủng hoảng vừa qua cho thấy kinh tế thế giới vàkhu vực còn ẩn chứa nhiều nhân tố bất trắc Không loại trừ khả năng sẽ cònxảy ra các cuộc khủng hoảng về kinh tế và tài chính mới
Trong nền kinh tế thế giới, các nớc công nghiệp phát triển vẫn giữ vịtrí áp đảo Mỹ sẽ tiếp tục là siêu cờng hàng đầu, vừa cạnh tranh gay gắt, vừatìm cách dung hoà lợi ích với Tây Âu, Nhật, Nga Trung Quốc, và ở mộtchừng mực nào đó là Ấn Độ, sẽ chiếm vị trí ngày càng lớn trong nền kinh tế
và thơng mại thế giới Châu Á - Thái Bình Dơng đang hồi phục nhanh chóngsau khủng hoảng, tiếp tục là một thị trờng tiêu thụ rộng lớn và cùng châu Âuhình thành không gian kinh tế Á - Âu (Eurasia)
Nhìn chung lại, vào thập kỷ đầu của thế kỷ XXI, hoạt động xuất nhập khẩu của nớc ta có những thuận lợi và khó khăn chủ yếu sau :
-1 Về thuận lợi :
Nh trên đã nói, "thế" và "lực" của nớc ta đã khác trớc Các nguồn lực
nh lao động, đất đai, tài nguyên còn khá dồi dào Cơ sở hạ tầng đợc cảithiện hơn, tạo thuận lợi cho phát triển kinh tế và đẩy mạnh xuất khẩu Vớibên ngoài, ta đã có quan hệ kinh tế - thơng mại với nhiều nớc và nhiều tổchức kinh tế, tài chính quốc tế Hàng hoá Việt nam đã có mặt tại tất cả các n-
ớc lớn và các trung tâm kinh tế lớn Quá trình hội nhập sẽ tạo cơ hội cho ta
mở rộng thị trờng để phát triển kinh tế và tăng cờng quan hệ thơng mại
2 Về khó khăn, thách thức :
- Nớc ta vẫn là một nớc nghèo và kém phát triển Dự kiến 10 năm tớichỉ có thể đa GDP lên gấp đôi Cơ cấu sản xuất sẽ tiếp tục chuyển dịch theohớng tiến bộ hơn song nhìn chung còn lạc hậu so với chiều hớng phát triểncủa thế giới Thực trạng đó ảnh hởng tiêu cực tới quy mô, cơ cấu và hiệu quảcủa hoạt động xuất - nhập khẩu
- Năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm cònthấp trong khi nớc ta lại phải nhập cuộc đua tranh ngày càng gay gắt trên thịtrờng khu vực và thế giới Trình độ của đội ngũ cán bộ làm công tác xuấtnhập khẩu và công tác tham mu về chiến lợc, chính sách còn bất cập
Trang 7Kinh tế thế giới và khu vực, đặc biệt là tình hình tài chính tiền tệ
-tỷ giá, giá sản phẩm, nhất là giá nông sản, nhiên liệu còn chứa đựng nhiềunhân tố không ổn định, khó dự báo, có thể tác động tiêu cực tới nền kinh tế
và kinh doanh xuất - nhập khẩu của nớc ta
Nhìn toàn cục, nớc ta đứng trớc nhiều thuận lợi hơn so với khi bớcvào thập kỷ 90 Tuy nhiên, không thể xem thờng các thách thức, khó khăn
nh đã trình bày trên
II MỤC TIÊU VÀ QUAN ĐIỂM PHÁT TRIỂN XUẤT - NHẬP KHẨU :
Hoạt động xuất - nhập khẩu trong 10 năm tới cần phục vụ trực tiếpcho mục tiêu chung sẽ đợc thông qua tại Đại hội lần thứ IX của Đảng với
nội dung cơ bản là : nỗ lực gia tăng tốc độ tăng trởng xuất khẩu, góp phần
đẩy mạnh CNH-HĐH, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ; chuyển dịch cơ cấu xuất khẩu theo hớng nâng cao giá trị gia tăng, gia tăng sản phẩm chế biến và chế tạo, các loại sản phẩm có hàm lợng công nghệ và chất xám cao, thúc đẩy xuất khẩu dịch vụ; về nhập khẩu chú trọng thiết bị và nguyên vật liệu phục vụ sản xuất, nhất là công nghệ tiên tiến, bảo đảm cán cân thơng mại ở mức hợp lý, tiến tới cân bằng kim ngạch xuất - nhập khẩu; mở rộng
và đa dạng hoá thị trờng và phơng thức kinh doanh; hội nhập thắng lợi vào kinh tế khu vực và thế giới
Để đạt các mục tiêu trên, cần nắm vững các quan điểm chỉ đạo sau:
Một là, tiếp tục kiên trì chủ trơng dành u tiên cao cho xuất khẩu để
thúc đẩy tăng trởng GDP, phát triển sản xuất, thu hút lao động, có thêmngoại tệ;
Hai là, chủ động hội nhập vào kinh tế khu vực và thế giới trên cơ sở
giữ vững độc lập tự chủ và định hớng XHCN, với kế hoạch tổng thể và lộtrình cũng nh các bớc đi hợp lý, phù hợp với trình độ phát triển của đất nớc
và quy định của các tổ chức mà ta tham gia;
Ba là, lấy việc phát huy nội lực, đẩy mạnh sự chuyển dịch cơ cấu kinh
tế và đổi mới cơ chế quản lý; hoàn chỉnh hệ thống luật pháp; nâng cao hiệuquả và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp cũng nh của toàn bộ nền kinh tếlàm khâu then chốt, có ý nghĩa quyết định đối với việc mở rộng kinh doanhxuất - nhập khẩu, hội nhập quốc tế
Trang 8Bốn là, gắn kết thị trờng trong nớc với thị trờng ngoài nớc; vừa chú
trọng thị trờng trong nớc, vừa ra sức mở rộng và đa dạng hoá thị truờngngoài
Năm là, kiên trì chủ trơng đa dạng hoá các thành phần kinh tế tham
gia hoạt động xuất - nhập khẩu, trong đó kinh tế Nhà nớc giữ vai trò chủđạo;
III CÁC CHỈ TIÊU CỤ THỂ :
A VỀ QUY MÔ VÀ TỐC ĐỘ TĂNG TR ỞNG
Các chỉ tiêu xuất - nhập khẩu một phần quan trọng tùy thuộc vào chỉtiêu chung của nền kinh tế Theo dự thảo Chiến lợc phát triển kinh tế - xã hộithời kỳ 2001-2010 thì trong vòng 10 năm tới GDP sẽ tăng gấp đôi (bìnhquân hàng năm phải tăng khoảng 7,2%); giá trị sản lợng nông nghiệp tăngkhoảng 4%/năm, vào năm 2010 sản lợng lơng thực đạt 40 triệu tấn, nôngnghiệp chiếm tỷ trọng khoảng 16-17% GDP trong đó tỷ trọng sản phẩm chănnuôi tăng từ 18,6% lên 20-25%, thuỷ sản đạt sản lợng 2,5-3 triệu tấn; giá trịgia tăng của công nghiệp tăng bình quân hàng năm 8-9%, đến năm 2010công nghiệp chiếm tỷ trọng 40-41% GDP, tỷ trọng công nghiệp chế tácchiếm 80% giá trị sản xuất công nghiệp
Dự thảo Chiến lợc còn dự kiến nhịp độ tăng trởng xuất khẩu nhanh
gấp đôi nhịp độ tăng trởng GDP, tức là khoảng 14,4%/năm, trong đó nông
sản xuất khẩu qua chế biến đạt kim ngạch 6-7 tỷ USD vào năm 2010, lơngthực bình quân 4-5 triệu tấn/năm, khoáng sản đạt kim ngạch khoảng 3 tỷUSD, sản phẩm công nghiệp chiếm 70-80% tổng kim ngạch xuất khẩu (cácchỉ tiêu này sẽ còn đợc điều chỉnh)
Việc gia tăng xuất khẩu 14,4%/năm là nhiệm vụ không đơn giản vì :
- Xuất phát điểm của thời kỳ 2001-2010 cao hơn nhiều so với thời kỳ
1991-2000 (13,5 tỷ USD so với 2,4 tỷ USD) Với những hạn chế còn tồn tạitrong nhiều lĩnh vực, đặc biệt là những hạn chế mang tính cơ cấu, thì việcgia tăng giá trị tuyệt đối ở mức trên 2 tỷ USD/năm đòi hỏi sự nỗ lực cao độtrong công tác xuất nhập khẩu
- Trong 10 năm qua, khối doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài đã
đóng góp một phần khá lớn cho tăng trởng xuất khẩu, mở ra những mặt hàng
Trang 9mới và khai phá các thị trờng mới Kể từ năm 1998, đầu t nớc ngoài vào nớc
ta có chiều hớng chững lại và giảm dần Hiện nay cha rõ khả năng có chặnđứng đợc chiều hớng này không Nếu chiều hớng đó còn tiếp diễn thì có thểảnh hởng đáng kể tới tốc độ tăng trởng xuất khẩu, chí ít là trong những nămđầu của thời kỳ 2001-2010
Tuy nhiên, yêu cầu tăng nhanh quy mô và tốc độ xuất khẩu là mộtnhiệm vụ cấp thiết đối với nền kinh tế nớc ta Một mặt nó khắc phục nguy
cơ tụt hậu không chỉ đối với các nớc phát triển trên thế giới mà ngay cả vớicác nớc trong khu vực Hiện nay kim ngạch xuất khẩu của Malaysia cao hơn
ta khoảng 6 lần, Thái Lan hơn ta khoảng 4,5 lần Nếu ta phấn đấu đến năm
2010 đạt kim ngạch xuất khẩu khoảng 60 tỷ USD và với mức tăng trởng nhhiện nay của hai nớc thì khoảng cách đó có thể rút ngắn xuống bằng 1/3Malaysia và 1/2 Thái Lan Mặt khác, nó còn tạo ra nguồn ngoại tệ cân đốinhập khẩu, tăng tích luỹ ngoại tệ, tiếp cận nền khoa học công nghệ cao củathế giới phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hóa đất nớc, tạo công ăn việc làmcho ngời lao động
Dựa trên kinh nghiệm 10 năm qua kết hợp với những dự báo về sảnxuất và thị trờng trong 10 năm tới và trên cơ sở phát huy nội lực, có tính đến
sự thay đổi có tính đột biến, Bộ Thơng mại đề xuất phơng án phấn đấu tăngtrởng xuất nhập khẩu thời kỳ 2001-2010 nh sau :
1 Về xuất khẩu :
a) Xuất khẩu hàng hoá :
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 15%/năm,
trong đó thời kỳ 2001-2005 tăng 16%/năm, thời kỳ 2006-2010 tăng14%/năm
- Giá trị tăng từ khoảng 13,5 tỷ USD năm 2000 lên 28,4 tỷ USD vào
năm 2005 và 54,6 tỷ USD vào năm 2010, gấp hơn 4 lần năm 2000
b) Xuất khẩu dịch vụ :
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 15%/năm.
Trang 10- Giá trị tăng từ khoảng 2 tỷ USD năm 2000 lên 4 tỷ USD vào năm
2005 và 8,1 tỷ USD vào năm 2010, tức là gấp hơn 4 lần;
c) Tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ khoảng
15,5 tỷ USD vào năm 2000 lên 32,4 tỷ USD vào năm 2005 và 62,7 tỷ USDvào năm 2010 (hơn 4 lần);
2 Về nhập khẩu :
Do nớc ta còn đang trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá,trình độ phát triển kinh tế còn thấp nên cha thể xoá bỏ đợc ngay tình trạngnhập siêu Tuy nhiên cần phải rất tiết kiệm ngoại tệ trong nhập khẩu, chỉnhập khẩu những hàng hóa cần thiết, máy móc thiết bị công nghệ mới và sảnxuất ra nhiều sản phẩm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng, sản xuất để giảm thiểunhu cầu nhập khẩu, phải giữ đợc thế chủ động trong nhập khẩu, kiềm chế đ-
ợc nhập siêu và giảm dần tỷ lệ nhập siêu tiến tới sớm cân bằng xuất nhập và
xuất siêu Theo hớng đó dự kiến nhập khẩu nh sau:
a) Nhập khẩu hàng hoá :
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 14%/năm,
trong đó thời kỳ 2001-2005 là 15% và thời kỳ 2006-2010 là 13%
- Giá trị kim ngạch tăng từ khoảng 14,5 tỷ USD năm 2000 lên 29,2 tỷ
USD năm 2005 (cả thời kỳ 2001-2005 nhập khẩu 112 tỷ USD) và 53,7 tỷUSD vào năm 2010
b) Nhập khẩu dịch vụ :
- Tốc độ tăng trởng bình quân trong thời kỳ 2001-2010 là 11%/năm.
- Giá trị tăng từ khoảng 1,2 tỷ USD năm 2000 lên 2,02 tỷ USD năm
2005 và 3,4 tỷ USD năm 2010
c) Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ :
Tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hoá và dịch vụ tăng từ khoảng 15,7
tỷ USD năm 2000 lên 31,2 tỷ USD năm 2005 và 57,14 tỷ USD năm 2010
Trang 11Nh vậy, trong 5 năm đầu (2001-2005) nhập siêu về hàng hóa giảm
dần, mỗi năm bình quân 900 triệu USD và cả thời kỳ là 4,73 tỷ USD; 5 nămsau (2006-2010) nhập siêu tiếp tục giảm Đến năm 2008 cân bằng xuất nhậphàng hóa phấn đấu xuất siêu khoảng 1 tỷ USD vào năm 2010 Nếu tính cảxuất khẩu dịch vụ thì tới năm 2002 đã cân bằng xuất nhập và bắt đầu xuấtsiêu, năm 2010 xuất siêu 5,5 tỷ USD
Tuy nhiên, nh trên đã nói, tình hình kinh tế khu vực và thế giới còn ẩnchứa nhiều nhân tố khó lờng; do đó cần đề phòng những tình huống bất trắcnảy sinh
B VỀ CƠ CẤU HÀNG HOÁ XUẤT - NHẬP KHẨU VÀ CƠ CẤU DỊCH VỤ
1 Cơ cấu hàng hoá xuất khẩu :
Cơ cấu xuất khẩu hàng hóa trong 10 năm tới cần đợc chuyển dịch theohớng chủ yếu sau :
- Trớc mắt huy động mọi nguồn lực hiện có thể có để đẩy mạnh xuấtkhẩu, tạo công ăn việc làm, thu ngoại tệ;
- Đồng thời cần chủ động gia tăng xuất khẩu sản phẩm chế biến vàchế tạo với giá trị gia tăng ngày càng cao, chú trọng các sản phẩm có hàm l-ợng công nghệ và trí thức cao, giảm dần tỷ trọng hàng thô;
- Mặt hàng, chất lợng, mẫu mã cần đáp ứng nhu cầu của từng thị ờng;
tr Rất chú trọng việc gia tăng các hoạt động dịch vụ
Tiếc rằng, các mặt hàng xuất nhập khẩu mới đợc đề cập chủ yếu ởtrạng thái "tĩnh", cha thể dự báo đợc những mặt hàng sẽ xuất hiện trong tơnglai do thị trờng mách bảo và năng lực sản xuất của ta
Theo các hớng nói trên, chính sách các nhóm hàng có thể hình dung
nh sau:
1.1 Nhóm nguyên nhiên liệu :
Trang 12Hiện nay nhóm này, với hai mặt hàng chính là dầu thô và than đá,đang chiếm khoảng trên 20% kim ngạch xuất khẩu của nớc ta Sau khi nhà
máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động, lợng dầu thô xuất khẩu sẽ giảm
dần Dự kiến vào năm 2005 lợng dầu thô xuất khẩu chỉ còn khoảng gần 12
triệu tấn (hiện nay là 16 triệu tấn) Tới năm 2010 có hai phơng án, tuỳ thuộc
dự kiến sẽ chỉ còn dới 1% so với 22% hiện nay; theo phơng án 2 thì tỷ lệ đó
sẽ còn khoảng 3%) Thị trờng xuất khẩu chính vẫn là Ô-xtrây-lia, Singapore,Nhật Bản và Trung Quốc, có thể thêm Hoa Kỳ
Việc giảm xuất khẩu dầu thô sẽ đi đôi với việc giảm nhập khẩu sảnphẩm xăng dầu từ nớc ngoài Dự kiến đến năm 2010 sản xuất trong nớc sẽđáp ứng đợc gần 80% nhu cầu về sản phẩm dầu và khí, tức là khoảng 13triệu tấn sản phẩm/năm, trị giá trên 3 tỷ USD Nhập khẩu xăng dầu vào năm
2010 chỉ còn khoảng 4 triệu tấn, giảm 50% so với 8 triệu tấn hiện nay; nếutính theo thời giá hiện nay thì sẽ giảm khoảng 850 - 900 triệu USD
Về than đá, dự kiến nhu cầu nội địa sẽ tăng đáng kể do xây các nhà
máy nhiệt điện mới nên dù sản lợng có thể lên tới 15 triệu tấn/năm (hiện nay
là 10-12 triệu tấn/năm) xuất khẩu cũng sẽ chỉ dao động ở mức 4 triệutấn/năm trong 10 năm tới, mang lại kim ngạch mỗi năm khoảng 120-150triệu USD Nhìn chung, giá xuất khẩu than khó có khả năng tăng đột biến donguồn cung trên thị trờng thế giới tơng đối dồi dào, vả lại vì lý do môi trờngnên cầu có xu hớng giảm Nhiệm vụ chủ yếu trong những năm tới là cố gắngduy trì những thị trờng đã có nh Nhật Bản, Trung Quốc, Tây Âu và tăng c-ờng thâm nhập vào thị trờng Thái Lan, Hàn Quốc
Khả năng tăng xuất khẩu các loại khoáng sản khác để bù vào thiếu hụt của dầu thô là rất hạn chế Cho đến năm 2010, quặng apatit khai thác ra
chỉ có thể đáp ứng một phần cho nhu cầu sản xuất phân bón, cha có khả
năng tham gia xuất khẩu Khả năng sản xuất và xuất khẩu alumin sẽ tuỳ
Trang 13thuộc vào việc triển khai dự án (nếu có thì chỉ từ sau 2005) Quặng sắt khó
có khả năng xuất khẩu với số lợng lớn bởi nhu cầu trong nớc sẽ tăng mạnh,
khả năng khai thác quặng Thạch Khê còn cha rõ nét Đất hiếm tuy có nhng
trữ lợng thơng mại không nhiều, việc xuất khẩu lại rất khó khăn do côngnghệ chế biến phức tạp, cung cầu thế giới đã ổn định Các loại quặng kháctrữ lợng đều không đáng kể
Nh vậy, tới năm 2005, nhóm nguyên nhiên liệu có khả năng chỉ còn
đóng góp đợc khoảng 9% kim ngạch xuất khẩu (2,5 tỷ USD) so với trên 20% hiện nay ; đến năm 2010, tỷ trọng của nhóm này sẽ giảm xuống còn cha đầy 1% (dới 500 triệu USD) hoặc 3,5% (khoảng 1,75 tỷ USD), tuỳ theo phơng
án khai thác dầu thô Vì vậy, việc tìm ra các mặt hàng mới để thay thế là một thách thức lớn đối với việc gia tăng xuất khẩu.
1.2 Nhóm hàng nông, lâm, thủy sản :
Hiện nay nhóm này đang chiếm gần 25% kim ngạch xuất khẩu vớinhững mặt hàng chủ yếu là gạo, cà phê, cao su, chè, rau quả, thuỷ sản, hạttiêu và nhân điều (trừ mặt hàng chè, tất cả các mặt hàng khác đều đạt kimngạch trên 100 triệu USD/năm) Do sản xuất nông nghiệp phải chịu nhữnghạn chế mang tính cơ cấu (nh diện tích có hạn, khả năng khai thác và đánhbắt có hạn ) và thời tiết nên theo dự thảo Chiến lợc chung, tốc độ tăng tr-ởng của nhóm này sẽ chỉ ở mức 4%/năm trong toàn kỳ 2001-2010 Bên cạnh
đó, nhu cầu của thị trờng thế giới cũng có hạn, giá cả lại không ổn định Vì
vậy, dù kim ngạch tuyệt đối vẫn tăng nhng tỷ trọng của nhóm sẽ giảm dần
xuống còn 22% (tơng đơng 5,85 tỷ USD) vào năm 2005 và 17,2% (tơng
đ-ơng 8-8,6 tỷ USD) vào năm 2010
Hớng phát triển chủ đạo của nhóm hàng này trong 10 năm tới là
chuyển dịch cơ cấu toàn lĩnh vực, trong mỗi ngành, thậm chí trong từng loại sản phẩm, nâng cao năng suất, chất lợng và giá trị gia tăng Để đạt mục tiêu
này, cần có sự đầu t thích đáng vào khâu giống và công nghệ sau thu hoạch,
kể cả đóng gói, bảo quản, vận chuyển để tạo ra những đột phá về năng suất
và chất lợng sản phẩm
Hạt nhân tăng trởng của nhóm sẽ là thủy sản bởi tiềm năng khai thác
và nuôi trồng còn nhiều, nhu cầu thị trờng thế giới tăng khá ổn định, thuếsuất thấp Năm 1985 xuất khẩu thuỷ sản thế giới mới đạt 17,2 tỷ USD, tớinăm 1995 đã đạt 52 tỷ USD, tức là tăng bình quân mỗi năm trên 13% Điềunày liên quan tới xu thế tiêu dùng của thế giới là giảm tiêu thụ thịt, tăng tiêu
Trang 14thụ thuỷ sản Với sản lợng dự kiến đạt 3,7 triệu tấn thì kim ngạch xuất khẩuthuỷ sản của ta sẽ đạt 2,5 tỷ USD vào năm 2005 và 3,2-3,5 tỷ USD vào năm
2010, chiếm 40% tổng kim ngạch của nhóm nông lâm hải sản Thị trờngchính sẽ là Nhật Bản, EU, Hoa Kỳ, Trung quốc Để bảo đảm tốc độ tăngtrởng ổn định cho mặt hàng này, cần tiếp tục chú trọng đầu t để phát triểnđánh bắt xa bờ và nuôi trồng, chuyển từ quảng canh sang thâm canh, pháttriển những mặt hàng có kim ngạch cao nh tôm, nhuyễn thể Công nghệ sauthu hoạch cũng cần có sự quan tâm thoả đáng để nâng cao chất lợng, giá trịgia tăng và vệ sinh thực phẩm của sản phẩm xuất khẩu
Về gạo, do nhu cầu thế giới tơng đối ổn định, khoảng trên 20 triệu
tấn/năm, nhiều nớc nhập khẩu nay chú trọng an ninh lơng thực, thâm canhtăng năng suất cây trồng, gia tăng bảo hộ, giảm nhập khẩu Trong hoàn cảnh
đó, dự kiến trong suốt thời kỳ 2001-2010 nhiều lắm ta sẽ chỉ có thể xuấtkhẩu đợc khoảng 4-4,5 triệu tấn/năm, thu về mỗi năm khoảng trên 1 tỷ USD
Để nâng cao hơn nữa kim ngạch, cần đầu t để cải thiện cơ cấu và chất lợnggạo xuất khẩu; khai thác các thị trờng mới (nh Trung Đông, châu Phi, NamMỹ) và ổn định các thị trờng đã có nh Indonesia, Philippines thông quacác hợp đồng G-to-G, nghiên cứu khả năng phối hợp với Thái Lan để điềutiết nguồn cung, ổn định giá cả thị trờng, tăng hiệu quả xuất khẩu gạo
Về nhân điều còn có thể tăng kim ngạch từ 115 triệu USD năm 2000
lên tới khoảng 400 triệu USD hay cao hơn vào năm 2010 vì nhu cầu còn lớn,liên tục tăng (một số dự báo cho thấy nhu cầu sẽ tăng bình quân 7%/nămtrong 10 năm tới và sẽ đạt mức 160-200.000 tấn, giá xuất khẩu cũng tăng, từ3.799 USD/tấn năm 1994 lên 5.984USD/tấn), vả lại tiềm năng của nớc ta
còn lớn Thị trờng chủ yếu là Mỹ, EU, Ô-xtrây-lia, Trung Quốc
Hạt tiêu xuất khẩu trên thế giới khoảng 200.000 tấn/năm, giá cả dao
động lớn Ta có khả năng mở rộng sản xuất, gia tăng sản lợng, từ đó có khảnăng tăng lên thành 230-250 triệu USD so với 160 triệu USD hiện nay Thịtrờng chủ yếu là châu Âu, Mỹ, Nhật, Trung Quốc, Trung Đông
Về các loại rau, hoa và quả khác, Thủ tớng Chính phủ đã có Quyết
định số 182/1999/QĐ-TTg ngày 03/9/1999 phê duyệt đề án phát triển đếnnăm 2010, theo đó kim ngạch xuất khẩu rau, hoa và quả sẽ đợc đa lênkhoảng 1,2 tỷ USD với thị trờng là Nhật, Nga, Trung Quốc, châu Âu Nếu
có quy hoạch các vùng chuyên canh và đầu t thoả đáng vào các khâu nhgiống, kỹ thuật trồng và chăm sóc, công nghệ sau thu hoạch thì thậm chí
có thể thực hiện vợt mục tiêu trên, đạt kim ngạch 1,6 tỷ USD
Trang 15Về cà-phê, do sản lợng và giá cả phụ thuộc nhiều vào điều kiện thời
tiết nên rất khó dự báo chuẩn xác về khối lợng và giá trị xuất khẩu trongnhững năm tới FAO dự báo tới năm 2005, sản lợng thế giới sẽ khoảng 7,3triệu tấn so với 6,3-6,6 triệu tấn hiện nay Nếu thuận lợi, xuất khẩu có thể đạt
750 ngàn tấn vào năm 2010 với kim ngạch khoảng 850 triệu USD, đa Việtnam vợt qua Colombia để trở thành nớc xuất khẩu cà phê lớn thứ hai trên thếgiới Để đạt giá trị cao, nên chú trọng phát triển cà phê chè (arabica), tự tổchức hoặc thu hút đầu t nớc ngoài vào lĩnh vực chế biến cà phê rang xay và
cà phê hoà tan Thị trờng xuất khẩu chính vẫn là EU, Hoa Kỳ, Singapore vàNhật Bản Nói chung, xuất khẩu cà phê sẽ không gặp khó khăn lớn về thị tr-ờng nhng về giá cả sẽ khó ổn định
Với hai mặt hàng quan trọng còn lại là cao su và chè, Chính phủ đều
đã có đề án phát triển Tuy nhiên, cần tính lại vấn đề phát triển cao su vì nhucầu của thế giới tăng chậm, chỉ trên 2%/năm, năm 2000 khoảng 7 triệu tấn,giá cả có xu hớng xuống thấp Dự kiến kim ngạch xuất khẩu cao su có thểđạt 500 triệu USD vào năm 2010 Nhu cầu chè trên thế giới tiếp tục tăng,hiện nay đạt mức 1,3 triệu tấn/năm; ta có tiềm năng phát triển, có thể đa kimngạch chè lên mức 200 triệu USD, tức là gấp 4 lần hiện nay, trong đó cần nỗlực tăng tỷ trọng chè chất lợng cao cho các thị trờng khó tính nh Nhật Bản,Đài Loan, Trung Đông đi đôi với việc tăng cờng hợp tác đóng gói tại Nga đểđẩy mạnh tiêu thụ trên thị trờng này
Về thịt thì hiện nay sản lợng của nớc ta còn rất nhỏ bé (chỉ bằng 0,7%
của thế giới), chất lợng còn xa so với nhu cầu trên thị trờng thế giới Muốngia tăng xuất khẩu sản phẩm chăn nuôi thì khâu then chốt là đầu t vào khâunâng cao chất lợng vật nuôi phù hợp với yêu cầu của thị trờng thế giới, cảithiện mạnh mẽ công nghệ chế biến, vệ sinh thực phẩm, phơng tiện vậnchuyển, đổi mới phơng thức chăn nuôi từ sản xuất nhỏ sang sản xuất lớn,hiện đại Thị trờng định hớng trớc mắt là Hongkong, Nga, về lâu dài làSingapore và Nhật Bản
Ngoài ra, một loạt sản phẩm còn có thể phát triển để hoặc thay thếnhập khẩu hoặc góp phần xuất khẩu nh cây họ đậu, cây có dầu, tơ tằm,bông
Đối với toàn bộ nhóm nông thuỷ sản cần rất chú trọng khâu cải tạogiống cây trồng vật nuôi, chế biến, bảo quản, vệ sinh thực phẩm, chuyên
Trang 16chở, đóng gói, phân phối để có thể đa thẳng tới khâu tiêu dùng, từ đó nângcao giá trị gia tăng.
Nhìn chung lại, kim ngạch của nhóm nguyên nhiên liệu và nông lâm
hải sản tổng cộng sẽ đạt từ 10 đến 10,35 tỷ USD vào năm 2010, chiếm khoảng 20-21% kim ngạch xuất khẩu so với trên 40% hiện nay theo hớng gia tăng chất lợng và giá trị gia tăng Phần còn lại phải là các mặt hàng chế
biến và chế tạo Đây là bài toán chủ yếu cho hoạt động xuất nhập khẩu trongthời gian 10 năm tới
1.3 Sản phẩm chế biến và chế tạo :
Hiện nay kim ngạch của nhóm này đã đạt trên 4 tỷ USD, tức là trên30% kim ngạch xuất khẩu Mục tiêu phấn đấu vào năm 2010 là 20-21 tỷUSD, tăng hơn 5 lần so với hiện nay và chiếm khoảng 40% kim ngạch xuấtkhẩu
Hạt nhân của nhóm, cho tới năm 2010, vẫn sẽ là hai mặt hàng dệt may và giầy dép, là những lĩnh vực có thể thu hút nhiều lao động Kim
ngạch của mỗi mặt hàng phải đạt khoảng 7-7,5 tỷ USD Nh vậy, dệt may sẽphải tăng bình quân 14%/năm, giày dép tăng bình quân 15-16%/năm Nay
đã ký đợc Hiệp định Thơng mại Việt Nam - Hoa kỳ thì mục tiêu tăng trởngtrên là khả thi Tuy nhiên, vẫn cần tiếp tục mở thêm thị trờng Trung Đông vàĐông Âu Sau các thoả thuận đạt đợc với Hoa Kỳ và EU, Trung Quốc sẽ trởthành thành viên của WTO; khả năng cạnh tranh của hàng hoá Trung Quốc,trong đó có dệt may và giày dép, vốn đã rất mạnh, sẽ đợc nâng lên do đợc h-ởng những u đãi mới trên các thị trờng rộng lớn nh Hoa Kỳ và EU, gây khókhăn không nhỏ cho hàng hoá của ta
Để khắc phục khó khăn, đẩy mạnh xuất khẩu, hớng phát triển cơ bảncủa hai ngành dệt may và giày dép trong 10 năm tới là gia tăng nỗ lực thâmnhập các thị trờng mới, đặc biệt là thị trờng Mỹ, Trung Đông và châu Đại d-
ơng ; ổn định và tăng thị phần trên các thị trờng quen thuộc nh EU, Nhật
Bản, đặc biệt là Nhật Bản bởi đây là thị trờng phi quota; chuyển dần từ hìnhthức gia công là chính sang nội địa hoá trên cơ sở tăng cờng đầu t sản xuấtnguyên phụ liệu đầu vào, tạo nhãn hiệu có uy tín; chuyển mạnh sang bánFOB ; thu hút mạnh đầu t nớc ngoài, nhất là đầu t từ EU, Mỹ, Nhật Bản, Hànquốc, Đài loan để tăng cờng năng lực thâm nhập trở lại các thị trờng này
và đi vào các thị trờng khác Chính sách thơng mại của Nhà nớc, mà cụ thể
là chính sách thuế, chính sách thị trờng, cần hỗ trợ đắc lực cho tiến trình này
Trang 17Do mục tiêu kim ngạch của toàn nhóm chế biến, chế tạo vào năm
2010 là trên 20 tỷ USD nên ngoài dệt may và giày dép cần nỗ lực tiếp cậnthị trờng quốc tế, dự báo nhu cầu của ngời tiêu dùng để từ đó cố gắng tạo ra
những ngành hàng mới
Trớc mắt, chủ yếu dựa trên cơ cấu đầu t và thực tiễn xuất khẩu trongnhững năm qua cũng nh thị trờng quốc tế, có thể dự báo những mặt hàng nh- :
Thủ công mỹ nghệ : Kim ngạch hiện nay đã đạt xấp xỉ 200 triệu
USD Đây là ngành hàng mà ta còn nhiều tiềm năng, dung lợng thị trờng thếgiới còn lớn Nếu có chính sách đúng đắn để khơi dậy tiềm năng thì có thểnâng kim ngạch lên 800 triệu USD vào năm 2005 và 1,5 tỷ USD vào năm
2010, trong đó hàng gốm sứ chiếm khoảng 60% Thị trờng định hớng là EU,Nhật Bản và Hoa Kỳ Các thị trờng nh Trung Đông, châu Đại dơng cũng làthị trờng tiềm tàng, cần nỗ lực phát triển (Bộ Thơng mại đã trình Thủ tớngChính phủ đề án riêng về mặt hàng này)
Thực phẩm chế biến : Kim ngạch hiện nay mới đạt 100 triệu USD,
tập trung chủ yếu vào những mặt hàng không đòi hỏi nhiều về công nghệ nhbánh kẹo, sữa, mỳ ăn liền, phở ăn liền, bột ngọt, dầu thực vật Tiềm năngphát triển của ngành hàng này còn khá lớn bởi ở một số nớc có nhu cầu, cha
kể cộng đồng ngời Việt ở nớc ngoài khá đông Dự báo tới năm 2005 kim
ngạch xuất khẩu có khả năng vợt 200 triệu USD và tới năm 2010 đạt 700
triệu USD với thị trờng tiêu thụ chủ yếu là Nga, Đông Âu, EU, Ô-xtrây-lia
và Hoa Kỳ Trong nhóm này, cần hết sức chú trọng mặt hàng dầu thực vật
bởi nớc ta là nớc có tiềm năng về cây có dầu (dừa, đậu nành, vừng, lạc ).Nhà nớc cần quy hoạch lại các vùng trồng cây có dầu để tập trung nguồnnguyên liệu đủ dùng cho các nhà máy chế biến, hạn chế dần lợng dầunguyên liệu nhập khẩu Trung Quốc và Trung Đông là thị trờng xuất khẩuđầy tiềm năng đối với mặt hàng này
Sản phẩm gỗ : Với thế mạnh về nhân công và tay nghề, đây là ngành
có tiềm năng phát triển ở nớc ta Ngành còn có một thuận lợi nữa là nhu cầuthế giới tăng khá ổn định (bình quân mỗi năm tăng khoảng 7-8% trong suốtthời gian từ 1994 đến 1998) Sau khi chuyển hớng sang sử dụng nguyên liệunhập, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của ta (không kể gỗ mỹ nghệ) đanghồi phục dần Dự kiến đến năm 2005 có thể đạt 600 triệu USD và tới năm
2010 đạt 1,2 tỷ USD Để phát triển ngành này, cần có đầu t thoả đáng vào
Trang 18khâu trồng rừng và đơn giản hoá thủ tục trong xuất khẩu sản phẩm gỗ, nhất
là sản phẩm gỗ rừng tự nhiên
Hoá phẩm tiêu dùng : Đây là ngành hàng mới xuất hiện trong vài
năm gần đây với hạt nhân là bột giặt, chất tẩy rửa, mỹ phẩm Kim ngạchhàng năm đã đạt xấp xỉ 30 triệu USD Thị trờng tiêu thụ chính là TrungQuốc, Campuchia, I-rắc và một số nớc đang phát triển Một số lợng nhỏ đãđợc xuất sang các nớc ASEAN và EU Ta hoàn toàn có khả năng phát triểnxuất khẩu những mặt hàng này Mục tiêu kim ngạch vào năm 2005 là 200triệu USD, vào năm 2010 là 600 triệu USD Thị trờng chính trong thời kỳ2001-2005 vẫn sẽ là Trung Quốc, Campuchia, các nớc ASEAN và một số n-
ớc đang phát triển; sang thời kỳ 2006-2010 cố gắng len vào các thị trờngkhác nh EU, Nhật Bản, Nga, Hoa Kỳ
Sản phẩm cơ khí, điện : Đây sẽ là ngành hàng hoàn toàn mới trong
10 năm tới Mặc dù kim ngạch hiện nay mới đạt trên dới 10 triệu USD nhnghoàn toàn có khả năng tăng kim ngạch lên 300 triệu USD vào năm 2005 và 1
tỷ USD vào năm 2010 Nên có chính sách thu hút đầu t nớc ngoài hớng vềxuất khẩu Trong lĩnh vực này đang có những dấu hiệu khá tích cực (ví dụ,công ty Cadivi đã bắt đầu xuất khẩu cáp điện ra nớc ngoài với khối lợng lớn;
14 dự án sản xuất xe đạp 100% vốn Đài Loan đã đợc cấp giấy phép, 16 dự
án nữa đang chờ cấp giấy phép, tổng công suất khoảng 6 triệu xe/năm, xuấtkhẩu 80%; quạt điện, máy xay xát, động cơ cũng đang tích cực tìm đờngxuất khẩu ra nớc ngoài) Thị trờng định hớng đối với xe đạp là EU và Hoa
Kỳ, với các sản phẩm khác là các nớc ASEAN, Trung Đông và châu Phi
Sản phẩm nhựa : Kết quả xuất khẩu sản phẩm nhựa trong những năm
gần đây là đáng khích lệ Từ chỗ đáp ứng chủ yếu nhu cầu trong nớc, nớc ta
đã bắt đầu xuất khẩu sang Campuchia, Lào, Trung Quốc và các nớc Nam Á
nh Ấn Độ, Sri Lanka Mặt hàng chủ yếu là bạt nhựa và đồ nhựa gia dụng.Trong những năm tới, cần có đầu t thoả đáng vào khâu chất lợng và mẫu mã
để mở rộng thị phần trên các thị trờng hiện có, tăng cờng thâm nhập các thịtrờng mới nh Nhật Bản, EU và Hoa Kỳ Về sản phẩm, bên cạnh đồ nhựa giadụng cần chú ý phát triển nhựa công nghiệp và đồ chơi bằng nhựa Nếu làmđợc những việc này, kim ngạch có thể đạt 200 triệu USD vào năm 2005 và
600 triệu USD vào năm 2010
Nh vậy, bên cạnh dệt may và giày dép, trong 10 năm tới đây cần chú ý
phát triển những ngành kết hợp giữa lao động giản đơn với công nghệ trung
bình mà cụ thể là thủ công mỹ nghệ, thực phẩm chế biến, sản phẩm gỗ, hoá
Trang 19phẩm tiêu dùng, sản phẩm nhựa và sản phẩm cơ khí - điện; phấn đấu đa kim
ngạch của nhóm hàng mới này lên 4,5-5 tỷ USD hoặc hơn vào năm 2010
Có thể nói đây là khâu đột phá của xuất khẩu Việt nam trong những năm
tr-ớc mắt (2001-2005)
1.4 Nhóm hàng vật liệu xây dựng
Nớc ta có nguồn nguyên liệu dồi dào để sản xuất vật liệu xây dựngkhông những có thể cung cấp đủ cho nhu cầu trong nớc mà còn có khả năngxuất khẩu lớn
Ngành sản xuất xi măng là ngành công nghiệp phát triển mạnh trong
mấy năm gần đây, sản lợng hàng năm (+ 13 triệu tấn) đã cung ứng đủ chonhu cầu trong nớc Theo chiến lợc phát triển sản xuất xi măng thì các dự ánphát triển xi măng trong vài năm tới có khả năng d thừa hàng năm khoảng từ2-3 triệu tấn để xuất khẩu (năm 2001 có thể xuất khẩu + 300.000 ngàn tấn).Tuy nhiên, do các nhà máy xi măng mới đầu t, khấu hao lớn nên giá thànhsản xuất còn cao, khả năng cạnh tranh yếu hơn so với xi măng các nớc trongkhu vực, do đó khâu then chốt đối với xi măng là hạ giá thành
Ngành công nghiệp sản xuất gạch ốp lát và sứ vệ sinh trong nớc tuy
mới ra đời nhng đã sớm hoà nhập vào môi trờng cạnh tranh với sản phẩmcùng loại của các nớc trong khu vực Về mặt công nghệ các nhà máy củaViệt Nam nhập công nghệ tiên tiến nên chất lợng sản phẩm đạt tiêu chuẩnISO, hoàn toàn có khả năng cạnh tranh với hàng ngoại Mặt khác, đây làngành công nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng, sử dụng tới 80-87% nguyênliệu (đất sét, fensfat, thạch cao, bột màu, gas ) trong nớc Sứ vệ sinh củaViệt Nam đã bắt đầu có mặt trên các thị trờng Nhật bản, Nga, Myanmar,Bangladesh, Pháp, Ucraina Đây là những mặt hàng có tiềm năng xuất khẩulớn trong tơng lai
Do có nguồn nguyên liệu cát tốt để sản xuất kính, theo kế hoạch thì từ
nay đến năm 2010 ngành công nghiệp kính sẽ trở thành ngành công nghiệpvật liệu xây dựng mũi nhọn Dự tính năm 2010 năng lực sản xuất đạt 60triệu m2, đáp ứng đủ cho nhu cầu trong nớc và xuất khẩu Hiện nay kính củaViệt Nam sản xuất đã đợc xuất khẩu sang Campuchia; trong tơng lai cần mởrộng thêm thị trờng
1.5 Sản phẩm hàm lợng công nghệ và chất xám cao :
Trang 20Đây là ngành hàng mới xuất hiện nhng đã mang lại kim ngạch xuất
khẩu khá lớn, khoảng 700 triệu USD vào năm 2000 Hạt nhân là hàng điện
tử và tin học Với xu thế phân công lao động theo chiều sâu trên thế giới
hiện nay, ta hoàn toàn có khả năng phát triển hơn nữa những mặt hàng này,trớc mắt là gia công rồi tiến tới nội hoá dần Vấn đề cốt lõi là có cơ chếchính sách khuyến khích, phát triển nguồn nhân lực Mục tiêu kim ngạchxuất khẩu đặt ra cho ngành là 2,5 tỷ USD vào năm 2005 (riêng phần mềm
Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trờng dự kiến là 350-500 triệu USD) và 6-7
tỷ USD vào năm 2010 (riêng phần mềm là 1 tỷ USD) Về thị trờng thì nhằmvào các nớc công nghiệp phát triển (phần mềm) và cả các nớc ĐPT (phầncứng) Cần coi đây là khâu đột phá trong 5 năm cuối của kỳ 2001-2010
2 Cơ cấu dịch vụ xuất khẩu :
Lâu nay ở ta ít chú trọng tới xuất khẩu dịch vụ, thậm chí không có sốliệu thống kê một cách có hệ thống Tuy nhiên qua tổng hợp số liệu của cácngành, có thể sơ bộ ớc tính thơng mại dịch vụ hai chiều của Việt Nam năm
2000 đạt 3,2 tỷ USD, trong đó xuất khẩu đạt 2,0 tỷ USD và nhập khẩu đạt1,2 tỷ USD
Các ngành dịch vụ thu ngoại tệ bao gồm nhiều lĩnh vực (theo WTOthì có tới 155 loại hình), bản này mới chỉ có thể đề cập tới các loại hình dịch
vụ nh du lịch, xuất khẩu lao động, vận tải hàng không, bu chính viễn thông
và dịch vụ ngân hàng
2.1 Xuất khẩu lao động :
Trong nhiều năm qua xuất khẩu lao động là ngành thu ngoại tệ quantrọng Bình quân giai đoạn 1996-2000, mỗi năm nớc ta đa ra nớc ngoàikhoảng 2 vạn lao động với thời hạn hợp đồng từ 3-5 năm, riêng năm 2000
dự kiến là 3 vạn lao động Hiện nay số ngời Việt Nam đang lao động tại nớcngoài vào khoảng 9 vạn ngời Với thu nhập bình quân đầu ngời khoảng5.000USD/năm, ớc tính kim ngạch xuất khẩu lao động năm 2000 sẽ đạt 450triệu USD
Theo Bộ Lao động Thơng binh và Xã hội thì mục tiêu phấn đấu năm
2005 là xuất khẩu 150-200 ngàn lao động và đến năm 2010 là 1 triệu laođộng Nếu thực hiện đợc mục tiêu này, kim ngạch dự kiến sẽ đạt khoảng 1,5
tỷ USD vào năm 2005 và 4,5-6 tỷ USD năm 2010
Trang 212.2 Du lịch :
Du lịch là một ngành dịch vụ có ý nghĩa kinh tế xã hội quan trọng.Trong những năm qua, ngành du lịch đã đạt đợc nhiều bớc tiến đáng ghinhận Tuy nhiên tiềm năng của ngành còn rất lớn nếu biết khai thác và pháthuy tốt những thế mạnh sẵn có Theo Tổng cục Du lịch, dự kiến năm 2000
sẽ có khoảng 2 triệu khách du lịch quốc tế tới Việt Nam với doanh thu ngoại
tệ khoảng 500 triệu USD
Theo chiến lợc phát triển của ngành thì tới năm 2005 sẽ phấn đấu thuhút đợc 3 triệu khách quốc tế với doanh thu xấp xỉ 1 tỷ USD, năm 2010 thuhút 4,5 triệu khách đạt 1,6 tỷ USD
2.3 Vận tải biển và dịch vụ cảng, giao nhận :
Kim ngạch xuất khẩu trong lĩnh vực vận tải biển năm 2000 mới chỉđạt xấp xỉ 20 triệu USD Hiện nay đa số các doanh nghiệp của ta lựa chọnđiều kiện giao hàng là CIF hoặc C&F đối với hàng nhập khẩu và FOB đốivới hàng xuất khẩu Do vậy hàng năm ta phải chi một lợng ngoại tệ khá lớn
để nhập khẩu dịch vụ vận tải của nớc ngoài, đồng thời lại để tuột mất cơ hộithu ngoại tệ khi xuất khẩu Nguyên nhân khách quan một phần là do tậpquán của doanh nghiệp khi ký kết hợp đồng, nhng nguyên nhân chính vẫn lànớc ta cha có một đội tàu đủ mạnh, hoạt động rộng trên nhiều tuyến và cớcphí cha cạnh tranh Vì vậy trong thời gian tới cần tăng cờng đầu t phát triển
hệ thống cảng biển, đi đôi với việc gia tăng đội tàu, tận dụng thế mạnh về vịtrí địa lý, hạ giá thành vận chuyển để nâng cao kim ngạch xuất khẩu, giảmkim ngạch nhập khẩu tiết kiệm ngoại tệ cho đất nớc Nếu cớc phí vận tải chỉchiếm 1% trong tổng kim ngạch hàng hóa Việt Nam xuất khẩu và ngànhdịch vụ vận tải nớc ta đảm đơng đợc thì kim ngạch xuất khẩu của ngành vậntải biển đã là trên dới 250 triệu USD năm 2005 và 500 triệu USD năm 2010
2.4 Các ngành dịch vụ khác (ngân hàng, vận tải hàng không, bu chính viễn thông, xây dựng, y tế, giáo dục ) :
Hiện nay, do các Bộ, ngành còn đang thu thập số liệu về xuất-nhậpkhẩu dịch vụ liên quan tới ngành mình nên Bộ Thơng mại cha tổng hợp đợc
số liệu chính xác Tuy nhiên, có thể sơ bộ ớc tính kim ngạch xuất khẩu củanhóm này sẽ đạt xấp xỉ 1 tỷ USD năm 2000 trong đó chiếm tỷ trọng lớn làdịch vụ ngân hàng (thanh toán quốc tế, chuyển tiền, kiều hối), bu chính viễnthông và vận tải hàng không Dự kiến kim ngạch của nhóm này sẽ tăng