Tên chi averrhoa đặt từ averrhoes, là tên một thầy thuốc và triết gia Ả Rập của thế kỷ XII, người đầu tiên phát hiện cây khế là một dược liệu chữa được nhiều bệnh.. Chữa lở sơn sơn ăn: L
Trang 1Điều ít ai biết: Khế cũng là thuốc
Cây khế đã quen thuộc với nhân dân ta, có lẽ bởi những câu chuyện cổ tích mang tính giáo dục Cây khế còn đi vào tâm khảm người dân đất Việt như nhà thơ Đỗ Trung Quân đã viết “Quê hương là chùm khế ngọt…” Thông thường, cây khế cho quả ăn hay làm gia vị, nhưng ít ai biết, khế lại là thuốc
Tên khoa học của cây khế là:
Averrhoa carambola L họ chua me đất hay me đất (oxalidaceae) Tuy vậy,
Hutchinson lại tách nó ra thành một họ riêng averrhoaceae
Cây khế có hai loài:
- Averrhoa carambola L (quả chia thành 5 múi)
- Averrhoa bilimbi L (rãnh giữa các múi nông)
Trang 2Tên chi averrhoa đặt từ averrhoes, là tên một thầy thuốc và triết gia Ả Rập
của thế kỷ XII, người đầu tiên phát hiện cây khế là một dược liệu chữa được nhiều bệnh
Loài khế Averrhoa Carambola L
Còn gọi là khế, khế ta, khế cơm, khế chua, khế giang - ngũ lăng tử, ngũ
liêm tử - dương đào - carambola, carambolier Vì quả khế có 5 cạnh nên người ta
gọi là ngũ liêm
Cây gỗ to, cao 4 - 5 m, lá mọc so le, kép lông chim lẻ, dài 11 - 17 cm; 3 - 5 đôi lá chét nguyên, dạng màng cứng, trái xoan, có mũi nhọn, màu lục ở mặt dưới; những cái trên dài tới 8,5 cm rộng 3,5 cm Hoa màu hồng hay tím, mọc thành chùm xim dài 3 - 7 cm ở kẽ lá Quả mọng, thuôn, màu vàng, nạc, có 5 góc lồi, không nứt ra, ăn rất ngon
Theo “Thành phần dinh dưỡng thức ăn Việt Nam” của Nhà xuất bản y học
1995, thì thành phần hóa học của quả khế: nước 93,5 g; protein 0,6 g; glucid 3,1 g; cenlluloza 2,6 g; tro 0,2 g; Na 2 mg; K 181 mg; Ca 10 mg; P 8 mg; sắt 0,9 mg; beta-caroten 160 microgram; B1 0,05 mg; B2 0,04 mg; PP: 0,4 mg; C: 30 mg Hàm lượng acid oxalic là 1%
Công dụng:
Trang 3Chữa lở sơn (sơn ăn): Lá khế 20 g hay hơn, giã nhỏ đắp lên hay nấu nước uống hoặc tắm Có thể đắp bằng nước quả giã
Kết hợp với một chất oxy hóa mạnh (KMnO4 ), quả dùng để giặt những vết rỉ sắt, vết mực trên quần áo và để rửa các dụng cụ bằng kim loại
Ngoài các công dụng đặc biệt kể trên, công dụng của từng bộ phận của cây khế như sau:
Lá cây khế trị:
- Ho suyễn trẻ em: Lấy 20 g lá khế, rửa sạch, nấu nước uống làm 2 lần
trong ngày, mỗi lần nửa chén nhỏ
- Dị ứng, mẩn ngứa: Lấy lá khế giã nát bôi, xoa và uống nước sắc vỏ núc
nác (16 g)
- Lở loét: Nấu nước tắm với lá khế, lá thanh hao, lá long não và lá thông
- Ngộ độc nấm, rắn cắn: lấy lá khế 20 g, lá hoặc quả đậu ván đỏ 20 g, lá lốt
10 g, có hoa càng tốt Dùng tươi cho vào cối sạch, giã nát, hòa với 200 ml nước đun sôi để nguội, chắt lấy nước uống làm một lần Có thể dùng lá khô (liều lượng bằng 1/2 hoặc 1/3 liều lá tươi) sao qua cho thơm, sắc uống Thêm đường cho thật ngọt Nếu mới bị ngộ độc chỉ uống 2 - 3 lần là khỏi
Trang 4- Cảm nắng: Lấy 20 g lá khế tươi giã cùng với lá chanh 10 g lấy nước
uống
- Phòng ngừa bệnh sốt xuất huyết trong thời gian có dịch: Hàng ngày uống
nước sắc lá khế 16 g với lá dâu 12 g, sắn dây 12 g, lá tre 12 g, mã đề 12 g, sinh địa
12 g
Hoa khế trị:
- Chứng ho khan, ho có đờm, kiết lỵ: Lấy hoa khế (12 g) tẩm nước gừng rồi
sao, sắc uống
- Sốt cao, kinh giật ở trẻ em: Hoa khế 8 g, hoa kim ngân 8 g, lá dành dành 8
g, cỏ nhọ nồi 8 g, cam thảo 4 g, bạc hà 4 g, tán bột, mỗi lần uống 4 g
Quả khế trị:
- Chống bệnh Scorbut và chữa ngộ độc: Uống nước ép quả khế
- Tiểu không thông: Dùng 7 quả khế, cắt mỗi quả lấy một miếng khoảng 1/3
phía gần cuống để vào một bát nước, sắc còn nửa bát Uống lúc nóng Đồng thời lấy một quả khế và một củ tỏi giã nát đắp vào rốn (Tuệ Tĩnh - Nam dược thần hiệu)
Trang 5- Thúc sởi, làm sởi chóng mọc và mọc đều: Lấy quả khế phơi khô 20 g,
canh châu 20 g, sao vàng hạ thổ, sắc uống làm 2 lần trong ngày (kinh nghiệm của Tổng hội y học Hà Tây)
- Phụ nữ sau khi sanh: Dùng nước sắc quả khế 20 g với vỏ cây hồng bì 30
g, rễ sử quân 20 g uống rất tốt
- Vết thương, mụn nhọt, lở loét: Nấu nước quả khế dùng ngoài để rửa
Hạt khế: Chữa đẻ khó, sót nhau, lấy 9 hạt khế phơi khô, nhai nuốt nước
Vỏ cây khế trị: Ho lâu ngày, viêm họng, viêm amiđan, lấy vỏ cây khế cạo
hết lớp mốc và vỏ xanh bên ngoài, thái nhỏ, sao vàng, lấy 20 g sắc với vỏ cây đơn châu chấu 8 - 12 g, uống
Tầm gửi cây khế trị:
- Gãy xương: Lấy tầm gửi cây khế giã nhỏ trộn với nước vo gạo nướng rồi
đắp vào chỗ gãy xương
- Ho gà, sốt rét: Sao vàng tầm gửi cây khế, sắc uống
- Ho và hen trẻ em: Dùng tầm gửi cây khế phối hợp với tầm gửi cây ruối,
rau má Mỗi thứ 20 g, bạc hà, lá hẹ mỗi thứ 10 g Sắc đặc, thêm mật ong cho đủ ngọt, uống
Trang 6Loài khế Averrhoa Bilimbi L
Khế tàu, bilimbi Cây gỗ nhỏ, cao 5 - 10 m Lá kép gồm 21 - 45 lá chét tròn, dài, thon, có ít lông ở mặt dưới; cuống phụ rất ngắn Cụm hoa hình cờ ở thân hay nhánh già, cứng, có đốt Hoa màu đỏ đậm, dài 5 - 7 mm, mới đầu nở cánh hoa vàng, 5 nhị dài, 5 nhị ngắn Bầu 5 vòi nhụy Quả mọng hình trụ dài 5 - 10 cm, có cạnh tù, màu xanh vàng và trong suốt khi chín Nạc rất chua, ra hoa quanh năm
Loài này được trồng rải rác ở một số tỉnh đồng bằng sông Cửu Long Quả chứa 42,2% dịch có độ pH 4 - 4,7 Quả làm se, lợi tiêu hóa, làm lạnh Nạc rất chua, khó ăn tươi Quả dùng trị trĩ và bệnh scorbut do thiếu vitamin C ó