II/ TẾ BÀO GỐC BIỂU BÌ DA1/ Sự tồn tại của tế bào gốc biểu bì : -Tế bào gốc biểu bì là một trong những tế bào gốc trưởng thành cư ngụ trong da , chúng thực hiện chức năng da.. 4/Đặc tính
Trang 2TẾ BÀO GỐC TỪ DA
I/ SƠ LƯỢC VỀ DA VÀ TẾ BÀO GỐC
II/ TẾ BÀO GỐC BIỀU BÌ DA
III/ NUÔI CẤY TẾ BÀO GỐC BIỂU BÌ
IV/ TIỀM NĂNG ỨNG DỤNG VÀ THÁCH THỨC
Trang 42/ Ở Người :
-Da người chiếm khoảng 16% trọng lượng cơ thể với diện tích phủ là 1,7 m2 ở người trưởng thành
-Da gồm 3 lớp từ ngoài vào trong bao gồm : biểu
bì , mô liên kết và mô dưới da
-Da có sự phân bố dây thần kinh cao , với nhiều
đầu mút dây thần kinh trong biểu bì và các đầu
mút dây thần kinh đặc biệt trong mô liên kết
-Da chứa hơn 25 loại tế bào đã biệt hóa từ ít nhất
6 loại tế bào gốc khác nhau Điều quan trọng là da luôn được làm mới
Trang 5II/ TẾ BÀO GỐC
Là tế bào chưa có chức năng chuyên biệt (unspaecialized cell)có tiềm năng phát triển thành nhiều lọai tế bào khác nhau và có khả năng tự thay mới mình (self_renewal)
Trang 7II/ TẾ BÀO GỐC BIỂU BÌ DA
1/ Sự tồn tại của tế bào gốc biểu bì :
-Tế bào gốc biểu bì là một trong những tế bào
gốc trưởng thành cư ngụ trong da , chúng thực hiện chức năng da Tế bào gốc trưởng thành
được định nghĩa bởi khả năng tự làm mới và duy trì chức năng mô trong thời gian dài
-Trong biểu bì, tế bào gốc tồn tại trong phần biểu
bì giữa hai nang lông và vùng phồng lên của
nang lông
Trang 82/Số lượng tế bào gốc trong da:
-Tần số các tế bào gốc biểu bì da rất khác nhau (0,01% đến 40% tế bào nền) Tần số này phụ
thuộc vào loài, vị trí giải phẫu và đặc biệt phụ
thuộc vào các phương pháp kĩ thuật sử dụng để xác định chúng
Trang 93/Maker tế bào gốc biểu bì:
-Tiêu chí quan trọng cho việc sử dụng xác định tế bào gốc biểu bì là:
• Chúng có chu kỳ phân chia invitro chậm
• Chúng có khả năng tự làm mới và đáp ứng
duy trì thời gian dài trong mô
• Chúng có thể được hoạt hóa bởi việc tổn
thương hay bởi điều kiện nuôi cấy invitro để tăng sinh và tái tạo mô
• Chúng có thể chuyển hóa thành ít nhất ba cấu trúc chuyên biệt (biểu mô, nang lông và tuyến bã)
• Chúng có tiềm năng tăng sinh cao
Trang 104/Đặc tính tập đoàn tế bào gốc biểu bì da khi nuôi cấy:
a/Phân tích sự tạo thành tập đoàn:
-Tiềm năng phát triển của tế bào sừng được đánh giá bằng sự phân tích sự tạo thành tập đoàn Việc phân tích tạo dòng được tiến hành bắt đầu bằng thu nhận và nuôi cấy tử 100 – 200 tế bào đơn
Trang 11b/Các kiểu tập đoàn:
-Các tế bào mà thế hệ con cháu của nó sẽ hình
thành các tập đoàn phát triển mạnh gọi là
holoclone
-Các tế bào mà con cháu hình thành các tập đoàn hỗn hợp với một số tập đoàn phát triển và một số tập đoàn hỏng gọi là meroclone
-Các tế bào mà con cháu của nó hình thành các tập đoàn hỏng hay không hình thành các tập đoàn gọi là các paraclone
Trang 12c/Sự chuyển đổi tập đoàn:
-Sự chuyển đồi các holoclone thành các meroclone
và cuối củng là các paraclone, hiện tượng này gọi
là sự chuyển đổi tập đoàn, là quá trình chuyển đổi không thuận nghịch giữa các điểu kiện bình
thường, và chúng chịu ảnh hưởng lớn bởi các điều kiện nuôi cấy
-Vì thế, khi nuôi cấy tế bào sừng cần duy trì môi
trường luôn ở trạng thái tốt nhất, đặc biệt khi nuôi cấy các tế bào để cấy ghép, việc chuyển đổi dòng
có ảnh hưởg đến việc cấy ghép giữa mô nuôi cấy, cũng như sự tự làm mới thời gian dài của biểu bì
tự tái sinh
Trang 13III/ Nuôi cấy tế bào gốc biểu bì:
-Các kỹ thuật phân lập và nuôi cấy tế bào gốc
biểu bì ngày nay được phát triển từ kỹ thuật nuôi cấy tế bào sừng vào những năm 1975
-Nuôi cấy chọn lọc tế bào gốc biểu bì từ việc nuôi cấy tế bào sừng sơ cấp, dựa vào đặc tính tạo
holoclone
- Phân tách tế bào gốc biểu bì bằng phương
pháp tách tế bào hoạt hóa huỳnh quang, kết hợp với nuôi cấy sau, hay trước khi phân tách
Trang 141/ Nuôi cấy tế bào sừng- cơ sở cho nuôi cấy tế bào gốc biểu bì :
-Vào năm 1975 Rheinwald và Green đã báo cáo nuôi cấy thành công tế bào sừng người sử dụng lớp tế bào 3T3 đã chiếu xạ, và đưa ra tiềm năng
sử dụng chúng để chữa trị các khiếm khuyết rộng
về da
-Đến nay, một số môi trường không huyết thanh cũng được tìm hiểu cho việc nuôi cấy tế bào sừng của người như K-SFM , KM
Trang 15-Việc nuôi cấy phải được bổ sung với nhân tố phát triển biểu mô EGF(10mg/ml) vào lần thay môi
trường đầu tiên Dưới các điều kiện này, các tế
bào sừng tạo tập đoàn phân chia cứ sau 16-18h,
và nhanh chóng hình thành các tập đoàn, đẩy tuột các tế bào 3T3 và làm nổi các tế bào này lên bề mặt nuôi
Thông thường nhiệt độ nuôi tế bào 35-370C và 5% CO2 sau này nhiều nghiên cứu đã nuôi cấy chọn lọc tế bào sừng bằng phương pháp nuôi cấy
sơ cấp tế bào sừng trên đĩa của collagen typeIV
Trang 162/ Chọn lọc và nuôi cấy tế bào gốc biểu
bì từ nuôi cấy tế bào sừng sơ cấp:
-Phương pháp này dựa trên khả năng hình thành các holoclone của tế bào gốc biểu bì, khi chúng tồn tại trong mẫu nuôi cấy tế bào sừng sơ cấp
-Đầu tiên, tế bào sừng được nuôi cấy sơ cấp rồi cấy chuyền ở mật độ thấp để hình thành các tập đoàn Thu nhận các tập đoàn holoclone và tăng sinh, người ta thu nhận dược quần thể tế bào gốc biểu bì
Trang 17-Người ta thấy rằng, nếu thu nhận và nuôi cấy
vùng tế bào của chân lông hay vùng phồng lên của chân lông sẽ cho lượng tế bào gốc cao hơn
- Nghiên cứu khác cho thấy, trong vùng biểu bì nằm giữa các nang lông ở lớp sau của biểu bì ( hay lớp gần sát với lớp nền) có mật độ tế bào gốc cao, việc thu nhận mô riêng ở vùng này làm nâng cao tỷ lệ tế bào gốc trong mẫu tế bào sừng thu được
Trang 183/ phân tách tế bào gốc biểu bì dựa vào FACS :
Nguồn tế bào:
- Tế bào được thu nhận từ mảnh da, chân lông, vùng phồng của nang lông…được phân tách thành huyền phù tế bào đơn
• Tế bào được thu nhận từ nuôi cấy sơ cấp
tế bào sừng
• Tách tế bào gốc biểu bì có thể chọn lọc âm tính hay dương tính của marker:
Trang 19IV/ TIỀM NĂNG ỨNG DỤNG VÀ
bệnh nhân , biến đổi hay tăng sinh chúng , sau đó cấy chúng lại vào cơ thể
Trang 20-Tế bào sừng da nuôi cấy được sử dụng để phát triển các phiến biểu mô có thể ứng dụng trong điều trị bỏng , vết thương ác tính và loét.
-Những hiểu biết rõ ràng các dấu hiệu phân tử điều hòa sự biệt hóa của tế bào gốc của các tế bào gốc biểu bì cũng cho pháp tái cấu trúc chân tóc trong chữa trị chứng rụng tóc hay trái lại ,
phá hủy cấu trúc chọn lọc của tế bào gốc lông ,
để tránh phát triển tóc và cải thiện các kỹ thuật nhằm loại bỏ lông không mong muốn
Trang 212/ Tế bào gốc biểu bì và ung thư :
-Một trong những vai trò của biểu mô là bảo vệ cơ thể khỏi các tác động có hại của môi trường , bao gồm tia UV , chất gây ung thư , các sinh vật gây bệnh
-Do tồn tại thời gian dài ở biểu mô , tế bào gốc
biểu bì có khả năng tích tụ số lượng lớn các dột biến cần thiết , tạo mầm mống hình thành các khối u
Trang 22-Có thể cho rằng , khối u bắt nguồn từ tế bào gốc , đó là mục tiêu của các đột biến và có ảnh hưởng quan trọng đến kiểu khối u , cũng như tiềm năng ác tính của chúng.
-Nhiều kiểu ung thư người xuất phát từ các tế bào gốc ugn thư hơn là các tế bào ung thư đã biệt hóa trước đó
-Các tế bào gốc ung thư tự là mới trong các
khối u để cung cấp thêm tế bào gốc và biệt hóa thành các tế bào ung thư không sinh khối u
Trang 233/ Những thách thức trong sinh học tế bào gốc biểu bì :
-Hai vấn đề lo ngại trong nghiên cứu tế bào gốc
trưởng thành là rất ít các marker chọn lọc chuyên biệt cho tế bào gốc , và khả năng mà chúng ta hiểu về sự kiểm soát tính gốc , tính tự làm mới của tế bào gốc còn quá ít.
-Kiểu phiên mã phạm vi lớn các quần thể tinh sạch của tế bào gốc và tế bào tiền thân của chúng , cũng như những kiểu tế bào khác hiện diện trong ổ của
chúng cho phép các nhà nghiên cứu xác định các
Trang 24-Đến nay , chỉ hai nghiên cứu đã kiểm tra kiểu
phiên mã quần thể tế bào làm giàu trong tế bào gốc biểu mô chuột trưởng thành Thêm vào đó , các thí nghiệm này không đề cập đến các tín hiệu xuất phát từ vi mội trường của tế bào gốc.
Trang 26 20/ Trương Duy Luân 30760792
21/ Nguyễn Quang Hiển 30760746