Đột biến sinh học Đột biến là những biến đổi bất thường trong vật chất di truyền ở cấp độ phân tử ADN, gen hoặc cấp độ tế bào nhiễm sắc thể, dẫn đến sự biến đổi đột ngột của một hoặc một
Trang 1Đột biến sinh học
Đột biến là những biến đổi bất
thường trong vật chất di truyền ở cấp độ phân tử (ADN, gen) hoặc
cấp độ tế bào (nhiễm sắc thể), dẫn đến sự biến đổi đột ngột của một
hoặc một số tính trạng, những biến đổi này có tính chất bền vững và có thể di truyền cho các đời sau
Đột biến là quá trình xảy ra đột
ngột, riêng rẽ, ngẫu nhiên, không định hướng ở cơ thể sống trong
điều kiện tự nhiên Đa số là đột
Trang 2biến gen lặn và có hại, một số ít có lợi và có ý nghĩa rất lớn đối với quá trình tiến hóa và chọn giống
Những cá thể mang đột biến đã
biểu hiện trên kiểu hình của cơ thể gọi là thể đột biến
Nguyên nhân
Do tác nhân của môi trường
ngoài cơ thể (thường là do tác
động của con người) như
Tác nhân vật lý: tia phóng xạ, tia cực tím, nhiệt độ
Tác nhân hóa học: ảnh hưởng
của các chất hóa học như
nicotine, cosinsin, dioxine
(chất da cam)
Trang 3 Do nguyên nhân bên trong cơ thể: Những biến đổi bất
thường trong sinh lý, sinh hóa trong tế bào (xuất hiện một
cách tự nhiên)
Phân loại
Căn cứ vào tính chất xuất hiện đột biến, có thể phân chia thành các dạng như sau:
Đột biến Gen
Đột biến nhiễm sắc thể (đột biến về cấu trúc nhiễm sắc thể như mất đoạn, thêm đoạn, đảo đoạn hay chuyển đoạn) Đột biến số lượng Nhiễm sắc thể (thể dị bội, đa bội)
Đột biến gen
Trang 4Đột biến gen là những biến đổi trong cấu trúc của gen xảy ra ở cấp độ phân tử tại một điểm
nào đó trên phân tử ADN và có liên quan đến sự thay đổi về số lượng, thành phần, trật tự các cặpnucléotide trong gen Có rất nhiều kiểu biến đổi về cấu trúc gène Trong đó, những biến đổi liên quan đến 1 cặp nucleotit
trong gen được gọi là đột biến điểm Trong tự nhiên, tất cả các gen đều có thể bị đột biến
nhưng với tần số rất thấp (
1/1000000-1/10000 ) Tuy
nhiên tần số đột biến có thể
thay đổi tùy thuộc vào các tác nhân gây đột biến Tác nhân
Trang 5gây đột biến có thể là các chất hóa học, các tác nhân vật lý
như tia phóng xạ, hoặc các tác nhân sinh học như virus có
trong cơ thể hoặc môi trường bên ngoài cơ thể Đột biến gen
có thể xảy ra ở tế bào sinh
dưỡng và tế bào sinh dục
Các dạng đột biến gen tai mot diem thường gặp:
1 Mất một cặp nucléotide
2 Thêm một cặp nucléotide
3 Thay thế một cặp nucléotide
4 Đảo vị trí một cặp nucléotide
Nguyên nhân phát sinh đột biến gen:
Trang 6Trong điều kiện tự nhiên, đột biến gen phát sinh do những rối loạn trong quá trình tự sao chép của
phân tử ADN dưới ảnh hưởng
phức tạp của môi trường trong và ngoài cơ thể Trong thực nghiệm, người ta đã gây ra các đột biến
nhân tạo bằng tác nhân vật lí
hoặc hóa học
Tính chất:
Tần số đột biến gen thấp và phụ thuộc vào cường độ, liều lượng
các tác nhân gây đột biến và cấu trúc của gen (có gen dễ đột biến,
có gen khó đột biết)
Vai trò của đột biến gen:
Trang 7Sự biến đổi cấu trúc phân tử của gen có thể dẫn đến biến đổi cấu trúc của loại protéine mà nó mã hóa, cuối cùng có thể dẫn đến
biến đổi ở kiểu hình
Các đột biến gen biểu hiện ra kiểu hình ở từng cá thể riêng lẻ, không tuơng ứng với điều kiện sống,
thường là đột biến lặn và có hại cho bản thân sinh vật vì chúng đã phá vỡ sự thống nhất hài hòa
trong kiểu gen đã qua chọn lọc tự nhiên và duy trì lâu đời trong điều kiện tự nhiên, gây ra những rối
loạn trong quá trình tổng hợp
prôtêin
Đa số đột biến gen tạo ra các gen lặn và có hại, một số trung tính,
Trang 8một số có lợi Những gen lăn chỉ biều hiện ra kiểu hình khi ở thể
đồng hợp và trong điều kiên môi trường thích hợp Qua giao phối, nếu gặp tổ hợp gen thích hợp, một đột biến vốn là có hại có thể trở thành có lợi Đột biến gen gây ra những thay đổi trong nucléotide dẫn đến biến đổi mARN và quá trình tổng hơp protéine nên
thường gây ra hậu quả có hại, làm giảm khả năng sống của sinh vật
Ví dụ: Bệnh huyết cầu đỏ hình
lưỡi liềm ở người do đột biến thay thế cặp nucléotide thứ 6 của chuỗi polipeptide Beta trong phân tử Hb làm acid glutamique bị thay thế bởi valin gây thiếu máu, giảm khả
Trang 9năng vận chuyển dưỡng khí Đa
số đột biến là có hại cho cơ thể
Có gen gây chết
Trong thực tiễn, người ta gặp
những đột biến tự nhiên và nhân tạo có lợi cho bản thân sinh vật Ngoài ra có những đột biến do tác nhân chủ động của con nguời tạo
ra tính trạng quý Ví dụ: Ở lúa,
thân lùn, không bị đổ, tăng số
bông, số hạt, có lợi cho sản xuất Ngoài những đột biến gen xảy ra trên ADN của nhiễm sắc thể, đột biến trên DNA của các bào quan như ty thể, lục lạp có thể gây ra những biến dị di truyền theo dòng
mẹ
Trang 10 Ý nghĩa trong tiến hóa và chọn giống:
Trong tiến hóa:
Tính chất có lợi hay có hại của
một đột biến gen chỉ là tương đối (có trường hợp này thì có lợi, có trường hợp khác có hại) Có
trường hợp ở trạng thái dị hợp lại làm tăng sức sống, sức chống chịu của cơ thể đối với một số bệnh
Ví dụ: Người mang gen đột biến gây huyết cầu đỏ hình lưỡi liềm ở trạng thái dị hợp, có khả năng đề kháng với bệnh sốt rét
Tuy tính chất ngẫu nhiên, cá biệt, không xác định và thường ở trạng thái lặn nhưng đột biến gen vẫn được xem là nguồn nguyên liệu
Trang 11chủ yếu cho quá trình chọn lọc tự nhiên vì vậy, có vai trò trong tiến hóa
Trong chọn giống:
Một vài đột biến có lợi dùng làm
cơ sở là nguồn nguyên liệu quan trọng cho tạo giống vật nuôi và
cây trồng Gây đột biến nhân
tạo là một trong các phương pháp chọn giống thực vật hiện đại và có hiệu quả cao, góp phần tạo nên
những tính trạng quý ở cây trồng Ngoài ra đối với con người, đột
biến gen gây hại cho cơ thể cho
nên cần phát hiện và hạn chế
nguyên nhân và sự tràn lan của
gen đột biến