1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Thực hành. Biểu đồ

9 281 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Thực Hành Về: Phương Pháp Vẽ Biểu Đồ
Tác giả Trần Thành Cụng
Trường học Trường Đại Học Khoa Học Tự Nhiên
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại Bài thực hành
Năm xuất bản 2014
Thành phố Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 9
Dung lượng 106 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhưng tựu chung lại thì hoặc là nó so sánh độ lớn của các hiện tượng địa lý với nhau Như so sánh diện tích, dân số giức các nước hay của một nước trong những mốc thời gian khác nhau… hoặ

Trang 1

Bài 11 Bài thực hành về: PHƯƠNG PHÁP VẼ BIỂU ĐỒ

A Lý luận về biểu đồ.

Biểu đồ là hình thức phản ánh các số liệu địa lý, bằng hình ảnh trực quan để dễ nhận ra bản chất địa lý của nó Làm được điều đó, các em phải tìm ra những hình thức quy ước

cho hợp lí, nghĩa là nó phải phù hợp với đặc điểm số liệu, có tỉ lệ theo diện tích, chiều cao, hoặc tỉ lệ theo các trục… Tuỳ hình thức biểu đồ Như vậy biểu đồ rất đa dạng, mỗi hình thức, yêu cầu cách vẽ khác khau

Số liệu địa lý là đa dạng Nhưng tựu chung lại thì hoặc là nó so sánh độ lớn của các hiện

tượng địa lý với nhau (Như so sánh diện tích, dân số giức các nước hay của một nước

trong những mốc thời gian khác nhau…) hoặc nó phản ánh cơ cấu của một hiện tương địa

lý (Như cơ cấu GDP theo ngành, cơ cấu dân số về một mặt nào đó, cơ cấu đất tự nhiên…

của một lãnh thổ nhất định…), hoặc nó phản ánh động thái của một hiện tượng địa lý

theo một quá trình (nhiều mốc thời gian) cũng của những hiện tượng địa lý khác nhau

(Như quá trình phát triển dân số của một nước, diễn biến nhiệt độ ở đâu đó, quá trình gia tăng sản lượng của một ngành kinh tế nào đó trong một lãnh thổ…) Nhiều khi, cùng lúc

nó phản ánh cả độ lớn, cả động thái của một hiện tượng địa lí hoặc vừa phản ánh cơ cấu, vừa phản anh độ lớn của một hiện tương địa lý…Tuỳ theo đặc điểm số liệu, ý đồ của người làm biểu đồ mà chọn hình thức biểu đồ này hay hình thức biểu đồ khác

Các loại biểu đồ thường dùng có thể là: Hình cột (nằm ngang, đứng), hình tròn, vuông,

tam giác, đường biểu diễn, biểu đồ miền, biểu đồ điểm có đường rơi…Trong mỗi loại lại có sự khác nhau ít nhiều do đặc điểm số liệu và do ý đồ người vẽ

Biểu đồ có thể trình bày độc lập để nghiên cứu, học tập địa lý, cũng có khi nó được trình bày kết hợp với bản đồ, nhằm phản ánh sự phân bố của các hiện tượng địa lý rong đó dễ

dàng nhận ra độ lớn, cơ cấu hay động thái của nó (điều này khi đọc atlas địa lý Việt Nam

chúng ta thường gặp).

Trong thực tế nhiều khi ta kết hợp nhiều dạng biểu đồ với nhau (thường kết hợp đường

với cột, cột với tròn…)

Vẽ biểu đồ có khi do yêu cầu của đề thi, nhưng đôi khi chúng ta cũng có thể chủ động biểu hiện các số liệu địa lí bằng biểu đồ nhằm dễ dàng rút ra những nhận định nào đó về địa lý khi nghiên cứu hoặc để dễõ thuyết trình về một vấn đề địa lý thuyết phục người khác

B Cách vẽ các loại biểu đồ.

Nhìn chung với tất cả các loại biểu đồ khi trình bày, đòi hỏi phải có tên, ghi chú, chính

xác (nhất là về tỉ lệ), trực quan, dễ đọc và đọc được chính xác không sai bản chất của

nó Nhiều khi việc điền thêm những số liệu vào là rất cần thiết để đọc nhanh hơn

I Biểu đồ hình cột.

Dùng các cột đứng hay nằm ngang, theo tỉ lệ chiều cao (hoặc dài) của các cột, tương ứng

với các số liệu phản ánh Tỉ lệ đó có thể dựa vào quy ước trên các trục có tên, đơn vị rõ ràng, có khi tỉ lệ đó được chú thích để người đọc đọc được

Trang 2

1 Biểu đồ hình cột, phần ưu thế của nó là so sánh độ lớn của của cùng một hiện tượng

địa lý của nhiều lãnh thổ với nhau, hay của một lãnh thổ trong những thời điểm khác nhau Ví dụ, so sánh dân số, diện tích các nước ASEA ở một thời diểm nào đó, so sánh sản lượng lương thực của nước ta giữa trước và sau khi ta ta lương thực thực, thực phẩm

là chương trình kinh tế hàng đầu (có mốc thời gian rõ ràng) Hoặc các em có thể tham khảo các biểu đồ hình cột trang 12, 13, 16 Atlas địa lý Việt Nam.

2 Biểu đồ hình cột cũng có thể kết hợp vừa phản ánh độ lớn, vừa phản ánh động thái của một hiện tượng địa lý, khi so sánh cùng một hiện tượng địa lý trong nhiều mốc thời gian khác nhau – trong trường hợp này nó có khả năng phản ánh số liệu tương tự đường

biểu diễn (ít nhất phải có 3 mốc thời gian để có được ít nhất 2 giai đoạn để so sánh tìm

ra động thái của nó) Ví dụ: Biểu đồ dân số qua các năm, trong trang 9 Atlas địa lí Việt Nam.(Khi tự vẽ, các em nên dựng hệ trục vuông góc gồm 2 trục: Trục đứng: Dân số với đơn vị triệu người, trục nằm ngang: Thời gian đơn vị là năm và không cần dùng đường nối các đầu cột như vậy).

3 Biểu đồ hình cột còn kết hợp phản ánh độ lớn và cơ cấu của một hiện tượng địa lý

như các biểu đồ trang 10, Atlas địa lý Việt Nam.

4 Ngoài ra biểu đồ hình cột còn thay thế cho nhiều biểu đồ hình tròn khi phản ánh cơ

cấu của một hiện tượng địa lý của nhiều lãnh thổ với nhau (như bài thực hành về cơ cấu

hàng xuất khẩu của một số nước ở châu Á – chương trình lóp 11), cũng tương tự như vậy,

có thể so sánh cơ cấu của một hiện tượng địa lý của một lãnh thổ trong nhiều năm

(trong trường hợp các số liệu tương đối – không phản ánh độ lớn – gần tương tự trường hợp áp dụng biểu đồ miền).

Nhìn chung, ngoài yêu cầu chung về biểu đồ như trình bày ở trên, biểu đồ hình cột, quan

trọng nhất là chiều cao (dài) của cột phải theo tỉ lệ (hoặc dựa vào tỉ lệ chia trên cột,

hoặc quy ước thông qua ghi chú), có khi đòi hỏi điền số liệu tương ứng vào cột, nếu có

trục, thì trục phải có tên, đơn vị trên trục, phải chọn độ dài của trục, chia trục phù hợp với số liệu của bảng thống kê, nếu một cột nào đó quá lớn hay nhỏ so với quy ước tỉ lệ thì cột đó phản ánh phi tỉ lệ theo kí hiệu riêng Cũng vẫn tuỳ theo đặc điểm số liệu và ý đồ phản ánh mà ta dùng biểu đồ cột dạng này, hay dạng khác

II Biểu đồ hình tròn.

1 Là biểu đồ có ưu thế nhất trong việc phản ánh cơ cấu của một hiện tượng địa lý

(những số liệu mà hình thức ta thấy một tổng số nào đó bao gồm các thành phần Ví dự trong tổng dân số gồm có dân trước tuổi lao động, trong tuổi lao động, sau tổi lao động, hoặc tổng GDP có phần do nông nghiệp, phần do công nghiệp, phần do dịch vụ cung cấp) Dựng 1 hình tròn coi điện tích của nó là toàn thể giá trị của tổng thể đó, sau đó các

thành phần của tổng thể được chia theo tỉ lệ, tương ứng vói diện tích của các hình quạt tròn trong hình tròn, kí hiệu để phân biệt với các thành phần khác

Ví dụ vẽ biểu đồ phản ánh cơ cấu đất tự nhiên của Việt Nam năm 1993, theo số liệu sau (%):

Đất nông nghiệp:

Đất lâm nghiệp:

22.2 30.0

Trang 3

6919 7293 1

2 R

R =

Đất chuyên dùng và thổ cư:

Đất chưa sử dụng:

5.6 42.2 Biểu đồ được dựng như sau: Dựng một hình tròn, coi diện tích của nó là tổng diện tích

đất tự nhiên của Việt Nam Khi đó, diện tích các loại đất thành phần (đất nông nghiệp,

đất lâm nghiệp, chuyên dùng, chưa xử dụng) là diện tích các hình quạt tròn theo tỉ lệ cứ

1% tương đương góc ở tâm là 3.60 Giữa các hình quạt có kí hiệu phân biệt các loại đất

2 Nhiều khi biểu đồ hình tròn còn vừa phản ánh cơ cấu một hiện tượng địa lý, vừa phản ánh độ lớn của nó, khi đó có nghĩa ta cũng nhận ra cả động thái của hiện tượng địa lý đó nữa Ví dụ, người ta yêu cầu vẽ biểu đồ phản ánh bảng số liệu sau:

Cơ cấu diện tích các loại đất nông nghiệp của nước ta

năm 1985 và 1992 (đơn vị ngàn ha)

Đất nông nghiệp:

Trong đó:

• Đất trồng cây hàng năm

• Đất trồng cây lâu năm

• Đất đồng cỏ chăn nuôi

• Diện tích mặt nước dùng trong nông nghiệp

6919

5616 805 328 170

7293

5504 1191 328 268

Trường hợp này phải vẽ 2 biểu đồ cơ cấu đất nông nghiệp, một cho năm 1985, một cho năm 1993 Nhưng bán kính của chúng không bằng nhau, mà giữ đúng theo tỉ lệ diện tích

ở biểu đồ hình tròn thì chúng ta có thể tuỳ ý vẽ cho năm 1985 trước rồi tính bán kính cho hình tròn năm 1993 theo tỉ lệ:

Trang 4

73340 206233 1

4 R

R =

73340 214327 1

3 R

R =

73340 58326 1

2 R

R =

(R1: bán kính hình tròn năm 1985; R2 bán kính hình tròn năm 1993), khi dựng được hình

tròn có bán kính R2 cho năm 1993 rồi tiếp tục chia tỉ lệ tương tự, phân biệt các loại đất nông nghiệp

3 Biểu đồ nửa hình tròn Ví dụ phản ánh bảng thống kê,về giá trị xuất khẩu, nhập khẩu của các nước:

Nước

Tổng giá trị xuất khẩu (triệu USD)

Trong đó: ((%)

• Nguyên liệu nông sản, thực phẩm

• Nhiên liệu, nguyên liệu khoáng sản

• Các mặt hàng công nghiệp chế tạo

• Các mặt hàng khác

Tổng giá trị nhập khẩu (triệuUSD)

Trong đó (%):

• Nguyên liệu nông sản, thực phẩm

• Nhiên liệu, nguyên liệu khoáng sản

• Các mặt hàng công nghiệp chế tạo

• Các mặt hàng khác

214327

14.0 13.5 65.8 6.7

206233

10.0 8.0 80.0 2.0

73340

13.0 7.4 78.6 1.0

58326

7.2 6.2 84.1 2.5 Trong trường hợp này, ta dựng bất kì nước nào trước cũng được Giả sử ta coi giá trị xuất khẩu của Malaixia là diện tích nửa hình tròn có bán kính R1, thì để đảm bảo đúng tỉ lệ: B.kính của nửa hình tròn biểu hiện g.trị NK của Malaixia là:

B.kính của nửa hình tròn biểu hiện g.trị XK của Canada là:

B.kính của nửa hình tròn biểu hiện g.trị XK của Canada là:

Sau khi dựng xong các nửa hình tròn trên với nhũng bán kính đảm bảo tỉ lệ với nửa hình tròn bất kì dựng đầu tiên, việc xác định những thành phần trong cơ cấu hàng xuất khẩu, nhập khẩu của mỗi nước, ta cũng chia theo tỉ lệ Ở đây, với biểu đồ nửa hình tròn, mỗi 1% tương ứng một hình quạt tròn có góc ở tâm là 1.80 Tuần tự ta dựng, kí hiệu phân biệt với các thành phần khác

III.Biểu đồ hình vuông.

Những số liệu phù hợp với biểu đồ hình tròn, đều có thể vẽ biểu đồ hình vuông Tuy niên thông thường người ta dùng biểu đồ hình tròn phổ biến hơn, nó trực quan hơn

Khi vẽ biểu đồ hình vuông, theo tỉ lệ diện tích, hình vuông lớn coi là tổng số (100%), được chia ra 100 ô bằng nhau, mỗi ô vuông tương ứng 1%, đếm số ô tương ứng mỗi

thành phần, kí hiệu phân biệt với các thành phần khác

Trang 5

B

a

Lưu ý: trong hình vuông luôn đòi hỏi phải chia ra 100 ô, không dùng đường chéo để chia những số lẻ mà dùng những đường song song với bất cứ cạnh nào cũng được

Ngoài ra biểu đồ hình vuông cũng có trường hợp tương tự hình tam giác trường hợp 1

(xem biểu đồ tam giác)

IV Biểu đồ hình tam giác.

Biểu đồ tam giác có 3 loại:

1 Loại 1 (hình tam giác đều, như biểu đồ trang 17, 18, 20 của atlas địa lý Việt Nam):

phản ánh cơ cấu của một hiện tượng địa lý có 2 thành phần Tương tự những biểu đồ hình thoi, được dùng trong atlas

Nguyên tắc chung, là dựng 1 tam giác coi diện tích của nó: (a: Cạnh của tam

giác đều đó) là tổng số; Một trong 2 thàh phần tương đương diện tích của một hình tam

giác đều khác (nhỏ hơn) có cạnh là b, b phải được tính theo tỉ lệ, dựa vào quy tắc tam

xuất Nếu tổng số là A, thành phần 1 là B, ta có cạnh của tam giác đều ứng với B là: sau đó xếp chồng lên như trong atlas, phần còn lại chính là thành phần thứ 2 cũng đã theo tỉ lệ

2 Loại 2 (hình tam giác cân có chiều cao bằng ½ cạnh đáy – ít dùng): Phản ánh cơ cấu

theo diện tích, tương tự hình tròn, hay hình vuông.

Ví dụ, vẽ biểu đồ phản ánh cơ cấu GDP

của Việt Nam, năm 1998: Dựng 1 hình

tam giác cân, chiều cao bằng ½ cạnh

đáy, chia cạnh đáy thành 20 phần bằng

nhau, dựng các đường vuông góc với

cạnh đáy, chia đường cao của cạnh đáy

thành 10 phần bằng nhau, kẻ qua những

đường song song với cạnh đáy Ta có

tổng số hình vuông nhỏ là 90, hình tam

giác nhỏ là20 Mỗi hình vuông nhỏ là

1%, mỗi hình tam giác nhỏ là 0.5%, tổng cũng là 100%, đếm số hình tương ứng mỗi thành phần, kí hiệu phân biệt với các thành phần khác như biểu đồ hình vuông chỉ khác là ở đây có lúc phải cộng

2 hình tam giác nhỏ thành 1%

Nông nghiệp (%) : Công nghiệp (%) : Dịch vụ (%) :

25.8 32.5 41.7

3 Lọai 3 (hình tam giác đều): phản ánh cơ cấu của một hiện tượng địa lý chỉ có 3 thành

phần, nhưng có thể phản ánh ngay trên một biểu đồ cơ cấu đó trong nhiều năm hoặc

trong một thời điểm của nhiều lãnh thổ khác nhau

Ví dụ: phản ánh cơ cấu GDP của các nước theo ngành kinh tế:

Hoa kì Trung quốc Nhật Nông nghiệp

Công nghiệp

Dịch vụ

2.4 30.0 67.6

20.0 42 38

6.8 34.1 59.1 Dựng một tam giác đều; mỗi cạnh coi như một trục biểu hiện cho tỉ trọng của một ngành, trên đó chia theo tỉ lệ từ 0 đến 100, đơn vị của nó là %, luân phiên cùng chiều ,

từ ngành này đến ngành khác (đỉnh là giá trị 100 của ngành này, thì ngay từ đó là 0 của

4 / 3 2

a

Trang 6

nét song song trên trục của ngành đó, 3 đường của 3 ngành gặp nhau tại 1 điểm Điểm đó chính là toạ độ biểu hiện cơ cấu GDP của 1 nước Vẽ cho đủ các nước, dựa vào đó dễ dàng so sánh cơ cấu GDP của các nước trên cùng một biểu đồ (khó nhất của dạng biểu đồ này là chia đều trên mỗi cạnh và róng những đường róng thật song song với các cạnh đáy, nếu không 3 đường róng không chính xác, không gặp nhau cùng một điểm

V Biểu đồ miền.

Cũng có nhiều dạng:

1 Trước hết là kiểu miền tỉ lệ gia tăng dân số của Pháp như bài thực hành lớp 11 (cho

1 bảng thống kê về tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử của nước này trong một số thời gian): ta dựng 1 hệ

trục gồm 2 trục, 1 trục đứng là tỉ lệ %, trục nằm ngang là trục thời gian Trên đó vẽ 2 đường biểu diễn tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử, khoảng chênh lệch giữa tỉ lệ sinh và tỉ lệ tử được kí hiệu phân biệt – đó chính là miền tỉ lệ gia tăng dân số

2 Kiểu biểu đồ miền thứ 2 thường sử dụng nhiều hơn, phù hợp những số liệu phản ánh

cơ cấu của một hiện tượng địa lý, nhưng cơ cấu này có sự diễn biến trong nhiều năm

(vừa phản ánh cơ cấu, vừa phản ánh động thái của một hiện tượng địa lý) Ví dụ phản

ánh bảng số liệu sau:

Cơ cấu cây công nghiệp của Việt Nam

Năm 1976 1980 1983 1985 1987 1989 1990 1992 1994 1995 1996 Tổng diện

tích.

Trong đó

cây lâu năm

100

39

100 40.8

100 39.0

100 44.5

100 47.4

100 52.2

100 54.8

100 54.4

100 55.0

100 55.7

100 61.4

Ta dựng 1 hình chữ nhật, thực ra là 2 trục Trục đứng chia ra 100 phần bằng nhau, trục nằm ngang chia từ 1976 đến 1996 thành 20 khoảng bằng nhau, mỗi khoảng ứng 1 năm

(cả 2 trục đều chia tỉ lệ) Từ đó ta dựng đường biểu diễn tỉ lệ diện tích cây công nghiệp

lâu năm, từ đường biểu diễn đó trở xuống ta kí hiệu riêng cho cây công nghiệp lâu năm, phần còn lại bên trên chính là phần thể hiện tỉ lệ diện tích cây công nghiệp hàng năm Qua đó ta vừa có thể nhận xét về cơ cấu diện tích cây công nghiệp, vừa nhận xét được diễn biến của nó trong thời gian này

Trong trường hợp cơ cấu hiện tượng địa lý có từ 3 thành phần trở lên, ứng mỗi thành phần là một miền, khi vẽ đến miền thứ 2 trở đi, số liệu ta phải cộng với những thành

phần vẽ trước (bên dưới), để xác định giá trị trên trục đứng.

Trên đây là 2 trường hợp, trong thực tế còn có những trường hợp vẽ biểu đồ miền khác nữa

VI Biểu đồ điểm, có đường rơi.

Trường hợp có những bảng thống kê thể hiện sự thay đổi thứ bậc của các hiện tượng địa lý trong cơ cấu của một tổng thể địa lý lớn hơn bao trùm chúng Ví dụ phản ánh bảng thống kê sau:

Các ngành công nghiệp

Thứ bậc trong

cơ cấu công

Thứ bậc trong

cơ cấu công

Thứ bậc trong

cơ cấu công

Trang 7

nghiệp 1985 nghiệp 1990 nghiệp 1995 Tổng số

Điện năng

Nhiên liệu

Luyện kim đen

Luyện lim mầu

Sản xuất thiết bị, máy móc

Kĩ thuật điện và điện tử

Sản xuất các SP khác bằng

kloại

Hoá chất phân bón và cao su

Vật liệu xây dựng

Chế biến gỗ và lâm sản

Xenlulô và giấy

Sành, sứ, thuỷ tinh

Lương thực

Thực phẩm

Dệt

May

Công nghiệp da

Công nghiệp in

Công nghiệp khác

7 15 17 18 4 14 8 3 6 5 10 13 11 1 2 12 16 19 9

4 2 16 17 7 13 11 6 5 8 12 15 9 1 3 14 19 18 10

5 2 15 19 8 13 11 3 4 7 12 18 9 1 6 10 14 17 16

Ta dựng một hệ trục, trục đứng biểu diễn thứ hạng từ cao xuống thấp (trong bảng này từ

20 xuống), cũng nên chia đều theo tỉ lệ Trục ngang không cần theo tỉ lệ lần lượt ghi (có thể kí hiệu) từ ngành này đến ngành khác Rồi vẽ các đường rơi (kí hiệu điểm phân biệt các mốc thời gian, năm).

Trên đây là những dạng biểu đồ đơn Đôi khi người ta còn kết hợp các hình thức biểu đồ khác nhau với nhau Chẳng hạn vẽ nhiều đường biểu diễn trên một hệ trục, vẽ hình tròn

với hình cột, hình cột với đường phối hợp… vì biểu đồ là một hình thức quy ước mà!

C Câu hỏi và bài tập (*)

1 Vẽ biểu đồ hình cột với những bảng thống kê sau.

a) Bình quân lương thực đầu người ở nước ta (kg/người)

(*) Phần này nhằm rèn luyện kĩ năng biểu đồ các loại đơn giản, chưa hẳn là biểu đồ hay nhất khi phản ánh

Trang 8

Năm Toàn quốc Đồng bằng

sông Hồng

Đồng bằng sông Cửu long 1986

1988 1990 1992 1998

300.8 307.3 324.4 349.4 407.9

244.2 287.7 294.5 347.2 383.6

516.5 535.3 658.2 727.1 912.3

b) Tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam trong thời kì 1986 – 1996 (%).

c) Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp (tỉ đồng)

Tổng giá trị nông nghiệp

Trong đó: chăn nuôi

9901 1949

12464 3032

14919 3820

17228 4496

d) Diện tích cây công nghiệp hàng năm và lâu năm của nước ta (đơn vị 1000 ha)

Cây công nghiệp 1976 1987 1996 Hàng năm

Lâu năm

185 289

638 575

694 1107

2 Vẽ biểu đồ hình tròn với những bảng thống kê sau.

Cho bảng thống kê về sự phân công lao động theo ngành của các nước:

Nước Tổng số lao động

(triệu người)

Nông nghiệp (%)

Công nghiệp (%)

Dịch vụ (%) Hoa kì

Nhật bản

Trung quốc

137.5 68 718

2.4 5.3 47.7

25.3 33.1 20.8

72.3 61.7 31.5

3 Vẽ biểu đồ hình vuông với những bảng thống kê sau.

Lấy bất kì bảng số liệu nào vẽ được biểu đồ hình tròn, đều vẽ được biểu đồ hình vuông

4 Vẽ biểu đồ hình tam giác với những bảng thống kê sau.

 Cơ cấu GDP Việt Nam theo ngành:

Trang 9

1985 1990 1995 1998 Nông - lâm - ngư nghiệp

Công nghiệp – xấy dựng

Dịch vụ

40.2 27.3 32.5

38.7 22.7 38.6

27.2 28.8 44.0

25.8 32.5 41.7

 Cho bảng thống kê về sự phân công lao động theo ngành của các nước:

Nước Tổng số lao động

(triệu người) Nông nghiệp(%) Công nghiệp(%) Dịch vụ(%) Hoa kì

Nhật bản

Trung quốc

137.5 68 718

2.4 5.3 47.7

25.3 33.1 20.8

72.3 61.7 31.5

5 Vẽ biểu đồ miền với những bảng thống kê sau.

Giá trị tổng sản lượng nông nghiệp (tỉ đồng)

Tổng giá trị nông nghiệp

Trong đó: chăn nuôi

9901 1949

12464 3032

14919 3820

17228 4496

6 Vẽ biểu đồ điểm có đường rơi với những bảng thống kê sau.

Vẽ theo số liệu thống kê đã dẫn ra trong phần lý thuyết

Ngày đăng: 05/07/2014, 13:00

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Tổng số hình vuông nhỏ là 90, hình tam - Thực hành. Biểu đồ
ng số hình vuông nhỏ là 90, hình tam (Trang 5)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w