ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TRẦN THỊ THU HƯƠNG QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH BIỂU DIỄN CỦA SINH VIÊN NGHỆ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH BIỂU DIỄN CỦA SINH VIÊN NGHỆ THUẬT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
TRẦN THỊ THU HƯƠNG
QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH BIỂU DIỄN CỦA SINH VIÊN NGHỆ THUẬT
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG
Chuyên ngành: Quản lý giáo dục
Mã số: 60.14.01.14
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: TS HÀ THỊ KIM LINH
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu riêng của tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất
cứ công trình nào khác
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Hương
Trang 4Đặc biệt tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới cô giáo
TS Hà Thị Kim Linh người hướng dẫn khoa học, đã chu đáo, tận tình hướng dẫn tôi thực hiện đề tài này
Tôi chân thành cảm ơn các đồng chí lãnh đạo, quản lý, các cán bộ giảng viên khoa nghệ thuật và các em sinh viên trường Đại học Hạ Long đã nhiệt tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài
Cuối cùng xin dành lời cảm ơn chân thành tới người thân, đồng nghiệp
và bạn bè đã động viên, khích lệ và tạo điều kiện thuận lợi để tôi hoàn thành đề tài của mình
Mặc dù đã cố gắng nhưng luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi thiếu sót Tôi rất mong nhận được sự góp ý, chỉ dẫn của các thầy giáo, cô giáo, các bạn đồng nghiệp và tất cả những ai quan tâm tới luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 5 tháng 11 năm 2015
Tác giả luận văn
Trần Thị Thu Hương
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ v
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 2
3 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu 3
4 Giả thuyết khoa học 3
5 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
6 Phạm vi nghiên cứu 3
7 Phương pháp nghiên cứu 3
8 Cấu trúc luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH BIỂU DIỄN CỦA SINH VIÊN NGHỆ THUẬT 5
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 5
1.2 Một số khái niệm 6
1.2.1 Quản lý 6
1.2.2 Giáo dục Nghệ thuật 8
1.2.3 Biểu diễn, thực hành biểu diễn 10
1.2.4 Quản lý hoạt động thực hành biểu diễn 13
1.3 Hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên Nghệ thuật 14
1.3.1 Ý nghĩa của hoạt động thực hành biểu diễn đối với sinh viên Nghệ thuật 14
1.3.2 Vai trò của tổ chức các hoạt động THBD trong giáo dục nghệ thuật 16
1.3.3 Nội dung hoạt động thực hành biểu diễn 18
1.3.4 Các loại hình thực hành biểu diễn 19
1.4 Quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật 20
1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật 20
1.4.2 Nội dung quản lý các hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật 21
Trang 61.4.3 Phương pháp quản lý các hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật 26
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật 28
Kết luận chương 1 33
Chương 2 THỰC TRẠNG QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH BIỂU DIỄN CỦA SINH VIÊN NGHỆ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG 34
2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 34
2.1.1 Khái quát về đối tượng khảo sát 34
2.1.2 Khái quát quá trình khảo sát 39
2.2 Thực trạng HĐ THBĐ của sinh viên nghệ thuật trường đại học Hạ Long 40
2.2.1 Thực trạng nhận thức 40
2.2.2 Thực trạng các loại hình THBD 43
2.2.3 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ các hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật 44
2.3 Thực trạng quản lý hoạt động THBD của sinh viên Nghệ thuật trường Đại học Hạ Long 45
2.3.1 Thực trạng nhận thức về quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên Nghệ thuật trường ĐH Hạ Long 45
2.3.2 Thực trạng quản lý các hoạt động THBD của sinh viên Nghệ thuật 47
2.3.4 Một số hoạt động THBD phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường 55
2.4 Đánh giá chung về thực trạng quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật trường Đại học Hạ Long 58
2.4.1 Thuận lợi 58
2.4.2 Khó khăn 59
Kết luận chương 2 60
Chương 3 MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH BIỂU DIỄN CỦA SINH VIÊN NGHỆ THUẬT TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẠ LONG 61
3.1 Nguyên tắc đề xuất các biện pháp 61
3.1.1 Đảm bảo mục tiêu giáo dục nghệ thuật 61
3.1.2 Đảm bảo tính khả thi, hiệu quả 61
Trang 73.1.3 Đảm bảo tính hệ thống 62
3.1.4 Đảm bảo tính thực tiễn 62
3.2 Biện pháp quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên Nghệ thuật trường Đại học Hạ Long 62
3.2.1 Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của HĐTHBD cho đội ngũ CBGV 62
3.2.2 Bồi dưỡng năng lực tổ chức hoạt động THBD cho GV nghệ thuật 64
3.2.3 Xây dựng cơ chế, chính sách hỗ trợ tổ chức hoạt động THBD 67
3.2.4 Tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ tổ chức các hoạt động THBD 70
3.2.5 Đa dạng hóa các hình thức THBD bằng chương trình thử nghiệm 71
3.2.6 Tăng cường mối quan hệ giữa các lực lượng trong và ngoài trường trong tổ chức các hoạt động THBD của sinh viên 73
3.3 Mối quan hệ giữa các biện pháp 74
3.4 Khảo nghiệm tính khả thi và tính cần thiết của các biện pháp đề xuất 75
3.4.1 Mục đích khảo nghiệm 75
3.4.2 Đối tượng khảo nghiệm 75
3.4.3 Nội dung khảo nghiệm 75
3.4.4 Phương pháp khảo nghiệm 76
3.4.5 Kết quả khảo nghiệm 76
Kết luận chương 3 79
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 80
1 Kết luận 80
2 Khuyến nghị 81
TÀI LIỆU THAM KHẢO 83
PHỤ LỤC 85
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Xin đọc là
CLGDĐH : Chất lượng Giáo dục Đại học
CNH - HĐH : Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
Trang 9DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ Bảng:
Bảng 2.1 Kết quả tốt nghiệp của sinh viên khoa nghệ thuật năm học
2014 - 2015 37
Bảng 2.2 Thống kê tình hình thực hiện quy chế rèn luyện của sinh viên khoa nghệ thuật năm học 2014 - 2015 38
Bảng 2.3 Nhận thức về vai trò của hoạt động THBD đối với sinh viên Nghệ thuật 40
Bảng 2.4 Nhận thức của các CBQL và GV về các phẩm chất và năng lực cần của giảng viên trong việc tổ chức và quản lý các hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật 42
Bảng 2.5 Thực trạng các loại hình hoạt động THBD ở trường Đại học Hạ Long 43
Bảng 2.6 Thực trạng cơ sở vật chất phục vụ các HĐ THBD của sinh viên nghệ thuật 44
Bảng 2.7 Nhận thức của CBQL và đội ngũ Gv về tầm quan trọng của quản lý các hoạt động THBD 45
Bảng 2.8 Thực trạng nhận thức về vai trò quản lý các hoạt động THBD 46
Bảng 2.9 Thực trạng nội dung quản lý các HĐ THBD của SV nghệ thuật 47
Bảng 2.10 Thực trạng quản lý các hình thức hoạt động THBD 50
Bảng 2.11 Thực trạng phương pháp quản lý các HĐ THBD của SV nghệ thuật 51
Bảng 2.12 Thực trạng quản lý đánh giá kết quả hoạt động THBD 52
Bảng 2.13 Thực trạng yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên khoa nghệ thuật trường Đại học Hạ Long 52
Bảng 2.14 Thái độ của giảng viên đối với công tác giảng dạy 54
Bảng 2.15 Thống kê một số chương trình thực hành Nghệ thuật phục vụ chính trị phối hợp giữa các lực lượng trong và ngoài nhà trường 56
Bảng 3.1 Bảng khảo nghiệm mức độ cần thiết và tính khả thi của các biện pháp đề xuất 76
Biểu đồ: Biểu đồ 3.1 So sánh tính cấp thiết và tính khả thi của 6 biện pháp 77
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu hóa là một vấn đề tất yếu của lịch sử phát triển xã hội loài người Đó là một vấn đề lớn và phức tạp Văn hóa nghệ thuật đóng một vai trò rất lớn trong công cuộc hội nhập và giao lưu văn hóa Trong nhiều năm qua, Đảng và Nhà nước đã có rất nhiều chính sách phát triển văn hóa nghệ thuật, trong số đó phải kể đến hội thảo khoa học "Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 5 khóa VIII" (về xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc) do Liên hiệp Các hội văn học, nghệ thuật Việt Nam, các Hội Văn học, nghệ thuật chuyên ngành trung ương phối hợp tổ chức đã nêu lên mục tiêu và những nhiệm vụ xây dựng nền văn hoá Việt Nam tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, trong đó nghệ thuật là một bộ phận rất quan trọng Đảng và Nhà nước ta luôn xác định: giao lưu văn hóa nghệ thuật là một trong những hoạt động có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với sự phát triển văn hóa dân tộc Trong quá trình xây dựng và phát triển nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, việc đẩy mạnh giao lưu văn hóa nghệ thuật đúng hướng sẽ góp phần to lớn vào việc khẳng định bản sắc và bản lĩnh dân tộc, đồng thời là cơ hội và điều kiện để chúng ta đổi mới và nâng cao tính hiện đại và tính quốc tế của văn hóa nghệ thuật Việt Nam
Trước thực trạng bảo tồn di sản văn hóa nói chung và di sản văn hóa phi vật thể nói riêng trong đó có Văn hóa Nghệ thuật Việt Nam, chúng tôi nhận thức được rằng: Không chỉ có bảo tồn, chúng ta cần phải có những hành động
cụ thể bảo vệ văn hóa nghệ thuật nước nhà Đưa văn hóa nghệ thuật vào học đường, giáo dục cho các em học sinh ngay từ khi còn trên ghế nhà trường Khi các em biết rằng văn hóa nghệ thuật dân tộc có cái gì, hay ở chỗ nào thì các em mới thương, thương rồi mới học, học xong đi biểu diễn Khi nghệ thuật có biểu diễn, có người thưởng thức thì tự nhiên sẽ có sức sống, sẽ nhanh chóng đến được với công chúng và bạn bè quốc tế, từ đó thúc đẩy việc giao lưu văn hóa nghệ thuật góp phần vào công cuộc hội nhập và phát triển của đất nước Chính
vì vậy, việc hướng dẫn giáo dục thị hiếu thẩm mỹ âm nhạc là nhiệm vụ cấp
Trang 11bách, đồng thời đào tạo thế hệ trẻ biết yêu, biết thương, và đặc biệt đối với giáo dục nghệ thuật chuyên nghiệp, việc hướng dẫn cho học sinh sinh viên biết biểu diễn, trình bày các tác phẩm nghệ thuật là điều vô cùng cần thiết
Nắm chắc được vai trò của hoạt động thực hành biểu diễn đối với giáo dục Nghệ thuật chuyên nghiệp và công cuộc hội nhập phát triển đất nước, thời gian qua, công tác tổ chức các hoạt động thực hành biểu diễn cho sinh viên nghệ thuật tại trường Đại học Hạ Long là một trong các vấn đề rất được nhà trường quan tâm và chú trọng Việc tổ chức các hoạt động biểu diễn cho sinh viên tạo cơ hội và điều kiện cho sinh viên nghệ thuật được trải nghiệm thực tế, áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn trên các sân khấu khác nhau, đảm bảo mục tiêu giáo dục đại học
của Bộ giáo dục được xác định rõ trong Luật giáo dục và đào tạo điều 39: “Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn
đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” [13]
Trên thực tế, công tác tổ chức và quản lý các hoạt động THBD cho sinh viên Nghệ thuật bên cạnh những nỗ lực, cố gắng, những thuận lợi và những cố gắng tích cực, vẫn còn tồn tại nhiều mặt hạn chế: Về chất lượng các hoạt động THBD chưa cao, nội dung hoạt động THBD chưa được chú trọng; vấn đề quản
lý nề nếp, triển khai và giám sát thực hiện kế hoạch chưa được quan tâm thỏa đáng khiến cho quá trình tổ chức và thực hiện các hoạt động THBD đạt kết quả chưa cao
Xuất phát từ những lý do trên, tôi lựa chọn vấn đề "Quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật trường đại học Hạ Long" làm
đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật trường Đại học Hạ Long đề tài đề xuất biện pháp quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật trường Đại học Hạ Long góp phần nâng cao hiệu quả giáo dục sinh viên nghệ thuật trường Đại học Hạ Long
Trang 123 Đối tượng nghiên cứu và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu: Biện pháp quản lý hoạt động thực hành biểu diễn
của sinh viên nghệ thuật trường Đại học Hạ Long
3.2 Khách thể nghiên cứu: Quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh
viên khoa nghệ thuật trường Đại học Hạ Long
4 Giả thuyết khoa học
Hoạt động thực hành biểu diễn giữ vai trò quan trọng trong đào tạo sinh viên chuyên ngành nghệ thuật Nếu đề xuất được các biện pháp quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật hệ thống, khoa học sẽ góp phần nâng cao hiệu quả và chất lượng công tác quản lý giáo dục sinh viên nghệ thuật của trường Đại học Hạ Long
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Xây dựng cơ sở lý luận về quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh
viên nghệ thuật
5.2 Đánh giá thực trạng quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên
nghệ thuật trường Đại học Hạ Long
5.3 Đề xuất biện pháp quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên
nghệ thuật trường Đại học Hạ long
6 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát trên các CBQL cấp khoa, Trung tâm thực hành nghệ thuật, Phòng đào tạo và cấp trường, GV và SV khoa nghệ thuật trường Đại học Hạ Long
7 Phương pháp nghiên cứu
7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lí luận
Thu thập, tổng hợp, so sánh và nghiên cứu các tài liệu lí luận về quản lí, các văn kiện đại hội Đảng các cấp, các chỉ thị, các văn bản pháp quy có tính pháp lý về giáo dục, luật giáo dục, điều lệ trường cao đẳng đại học, các tài liệu
có liên quan đến đề tài nghiên cứu
7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1 Phương pháp điều tra viết
Sử dụng phiếu điều tra trưng cầu ý kiến của CBQL, GV, SV nhằm thu thập thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu luận văn
Trang 137.2.2 Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật và hoạt động quản lý của cán bộ quản lý, GV trên địa bàn nghiên cứu
7.2.3 Phương pháp nghiên cứu sản phẩm
Nghiên cứu kế hoạch giáo dục của nhà trường, kế hoạch biểu diễn để thu thập thông tin phục vụ quá trình nghiên cứu đề tài
7.2.4 Phương pháp phỏng vấn nhóm
Phỏng vấn sinh viên, giảng viên, CBQL nhằm thu thông tin phục vụ việc hoàn thiện đề tài luận văn
7.2.5 Phương pháp chuyên gia
Xin ý kiến tư vấn từ các chuyên gia, các CBQL có kinh nghiệm trong quản lý hoạt động thực hành biểu diễn cho sinh viên nghệ thuật
7.2.6 Phương pháp toán thống kê
Sử dụng toán thống kê để xử lý kết quả khảo sát và khảo nghiệm trong
đề tài
8 Cấu trúc luận văn
Cấu trúc luận văn được chia làm ba phần như sau:
Phần 1 Phần mở đầu
Phần 2 Kết quả nghiên cứu bao gồm có ba chương
Chương 1: cơ sở lý luận của việc quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật
Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật trường Đại học Hạ Long
Chương 3: Một số biện pháp quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật trường Đại học Hạ Long
Phần 3 Kết luận và khuyến nghị
Ngoài phần chính văn còn có phần danh mục tài liệu tham khảo và phần phụ lục
Trang 14Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG THỰC HÀNH
BIỂU DIỄN CỦA SINH VIÊN NGHỆ THUẬT
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
Thực hiện công cuộc đổi mới, Việt Nam đã hội nhập sâu rộng vào cộng đồng quốc tế Hội nhập là xu thế tất yếu của thời đại ngày nay Nhận thức được
xu thế thế đó, trong những năm qua Việt Nam đã chủ động tích cực hội nhập cộng đồng quốc tế Quá trình hội nhập đã giúp chúng ta có điều kiện phát triển kinh tế cũng như vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đã được khẳng định Trên lĩnh vực văn hóa, văn hóa Việt Nam cũng chịu sự tác động của quá trình
ấy Trong hội nhập văn hóa, chúng ta phải có những nguyên tắc nhất định để bảo vệ, phát huy các giá trị văn hóa dân tộc cũng như tiếp thu những tinh hoa văn hóa thế giới
Nắm bắt được xu hướng hội nhập toàn cầu cũng như tầm quan trọng của nghệ thuật, công tác đào tạo nghệ thuật cũng được ngành giáo dục chú trọng và phát triển Bên cạnh các kiến thức nghệ thuật nói chung, hoạt động thực hành biểu diễn là một vấn đề quan trọng được quan tâm rất nhiều trong thời gian gần đây
Bàn về hoạt động thực hành biểu diễn nghệ thuật và quản lý hoạt động thực hành biểu diễn nghệ thuật, đã có một vài công trình nghiên cứu:
Luận văn Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp tỉnh Thái Bình của tác giả Phạm Tấn Anh (2013) đã trình bày cơ sở lý luận và thực
trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật chuyên nghiệp ở Thái Bình Đồng thời đưa ra những giải pháp cho nghệ thuật biểu diễn ở Thái Bình phát triển phù hợp với thời kỳ đổi mới hiện nay
Luận văn thạc sỹ Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật sân khấu truyền thống ở Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch của tác giả Lê Thị Thu Hiền (2009)
đã trình bày những vấn đề chung và thực trạng quản lý nhà nước về hoạt động biểu diễn nghệ thuật truyền thống của Bộ Văn Hóa, Thể Thao và Du Lịch Từ
đó đề xuất một số biện pháp nâng cao hiệu quả cho hoạt động này
Trang 15Tác giả Trần Thục Quyên với luận văn thạc sỹ Quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại nhà hát Tuổi Trẻ đã xây dựng cơ sở lý luận hoạt động biểu
diễn nghệ thuật cũng như nêu lên thực trạng quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại nhà hát Tuổi Trẻ Qua đó đề xuất một số giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động biểu diễn nghệ thuật tại nhà hát Tuổi Trẻ
Tác giả Nguyễn Bích Vân với luận án Tiến sĩ (2010): “Rèn luyện bản lĩnh biểu diễn cho học sinh, sinh viên nhạc cụ cổ điển phương Tây” đã nghiên
cứu sự hình thành năng lực biểu diễn và giới thiệu một số phương pháp rèn luyện bản lĩnh biểu diễn cho học sinh, sinh viên nhạc cụ cổ điển phương tây tại Việt Nam Khẳng định vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong quá trình đào tạo
Tuy nhiên, vấn đề Quản lý các hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật thì chưa có đề tài nào đề cập đến Vì vậy chúng tôi lựa chọn
“Quản lý các hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật” làm đề tài nghiên cứu
1.2 Một số khái niệm
1.2.1 Quản lý
Quản lý là một hoạt động đặc biệt được hình thành từ khi xã hội phát triển và từ sự phân công lao động trong xã hội, khi con người bắt đầu hình thành các nhóm để thực hiện những mục tiêu mà họ không thể đạt được với tư cách là những cá thể đơn lẻ Đó là một hoạt động giành cho những người đứng đầu của một tổ chức (hay một nhóm) để chỉ huy, chỉ đạo, điều khiển/điều hành, kiểm tra, điều chỉnh các hoạt động của tổ chức (nhóm) và các thành viên trong
tổ chức (nhóm) đó
Đã có rất nhiều quan niệm khác nhau về Quản lý Theo quan điểm kinh tế học, F.W Taylor (1856 -1915) - một trong những người đầu tiên khai sinh ra khoa học quản lý và là “ông tổ” của trường phái “thuyết quản lý khoa học” cho rằng:
“Quản lý là nghệ thuật biết rõ ràng, chính xác cái gì cần làm và làm cái đó thế
Trang 16nào bằng phương pháp tốt nhất và rẻ tiền nhất” Theo ông: “Mọi loại công việc
dù nhỏ nhất đều phải chuyên môn hóa và quản lý chặt chẽ” [dẫn theo 21, tr.1]
Theo H.Koontz, “Quản lý là một hoạt động thiết yếu, nó đảm bảo phối hợp những nỗ lực hoạt động cá nhân nhằm đạt được các mục đích của nhóm (tổ chức) với thời gian, tiền bạc, vật chất và sự bất mãn ít nhất Với tư cách thực hành thì quản lý là một nghệ thuật, còn với kiến thức thì quản lý là một khoa học” [dẫn theo 21, tr.1]
Có thể nói, Quản lý đóng vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội, là một yếu tố không thể thiếu và gắn liền với sự phát triển của xã hội, đặc biệt
trong xã hội phát triển ngày nay Theo C.Mác: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thi ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có nhạc trưởng" [dẫn theo 21,tr.2]
Định nghĩa về Quản lý, tác giả Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt trong cuốn
Giáo dục học (nhà xuất bản Giáo dục, 1987) cho rằng: “Quản lý là một quá trình định hướng, quá trình có mục tiêu, quản lý một hệ thống nhằm đạt được những mục tiêu nhất định” [18]
Trong cuốn Giáo dục học (nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội,
2000), tác giả Phạm Viết Vượng đưa ra định nghĩa về Quản lý như sau: “Quản
lý là sự tác động có ý thức của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn các quá trình xã hội và hành vi của cá nhân hướng đến mục đích hoạt động chung phù hợp với quy luật khách quan” [23, tr.15]
Như vậy, Quản lý là sự tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý đến đối tượng quản lý trong tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt được mục tiêu đã đề ra
Theo cách hiểu trên, quản lý luôn tồn tại các yếu tố cơ bản sau đây:
Trang 17- Chủ thể quản lý (có thể là một người hoặc nhiều người): là trung tâm
thực hiện những hoạt động khai thác, tổ chức và thực hiện nguồn lực của tổ chức; thực hiện những tác động hướng đích, có chủ định đến đối tượng quản lý
- Đối tượng quản lí (có thể là một người hoặc nhiều người, sự vật, sự việc…): là những đối tượng chịu tác động và thay đổi dưới những tác động
hướng đích có chủ định của chủ thể quản lý
- Mục tiêu quản lí: nhằm thay đổi hoạt động của tổ chức, trạng thái hoạt
động và nâng cao hiệu quả hoạt động; là trạng thái tương lai, cái tiêu điểm tương lai hay cái kết quả cuối cùng mà một tổ chức mong muốn đạt đến
Các hoạt động quản lý đều phải thực hiện thông qua các chức năng quản
lý Xác định được các chức năng quản lý sẽ giúp cho chủ thể quản lý dễ dàng điều hành được hệ thống quản lý
1.2.2 Giáo dục Nghệ thuật
Giáo dục nghệ thuật là hoạt động chuyển giao di sản văn hóa nghệ
thuật giữa các thế hệ và là một hoạt động mang tính liên ngành Do đó, cơ sở lý luận của giáo dục nghệ thuật được xây dựng dựa trên các học thuyết về văn hóa học, nghệ thuật học, giáo dục học và tâm lý học Giáo dục nghệ thuật là một trong những nhiệm vụ cơ bản, góp phần trợ giúp đơn vị làm việc trong lĩnh vực nghệ thuật thực hiện tốt chức năng của mình Tiến hành hoạt động giáo dục nghệ thuật có thể tạo thêm giá trị gia tăng cho chương trình biểu diễn nghệ thuật, xây dựng đội ngũ khán giả tiềm năng, kết nối cộng đồng và thu hút các nguồn tài trợ cho đơn vị
Bàn về khái niệm Giáo dục nghệ thuật, tác giả Phạm Bích Huyền cho
rằng: "Giáo dục nghệ thuật (Arts Education) gồm các hoạt động giáo dục về nghệ thuật và giáo dục thông qua nghệ thuật Giáo dục về nghệ thuật là hoạt động giáo dục nhằm tạo nên sự hiểu biết, khả năng thưởng thức, thực hành và sáng tạo một loại hình nghệ thuật cụ thể Nội dung của hoạt động giáo dục nghệ thuật là những tri thức và kỹ năng về nghệ thuật, như hoạt động dạy vẽ,
Trang 18dạy múa, dạy hát, dạy biểu diễn Giáo dục thông qua nghệ thuật thì sử dụng nghệ thuật như công cụ hát phương pháp để đạt được mục tiêu giáo dục (hỗ trợ học tập trong nhà trường, phát triển năng lực cá nhân, thay đổi nhận thức và hành vi…) Ví dụ: sử dụng nghệ thuật sân khấu để giáo dục về lịch sử, văn học; thông qua di sản văn hóa giáo dục về lòng yêu nước, tự hào dân tộc…" [10]
Như vậy, bản chất của giáo dục nghệ thuật là quá trình chuyển giao các di sản văn hóa nghệ thuật từ thế hệ này sang thế hệ khác Mục đích của giáo dục nghệ thuật là tác động đến đối tượng giáo dục nhằm phát triển năng
lực nghệ thuật cũng như nhận thức tình cảm, góp phần hoàn thiện nhân cách con người
Giáo dục nghệ thuật có chức năng định hướng giá trị nghệ thuật cho thế
hệ trẻ và phát triển tiềm năng sáng tạo nghệ thuật cho giới trẻ Định hướng giá trị nghệ thuật tức là giúp cho thế hệ trẻ phân biệt được cái nghệ thuật và cái phi nghệ thuật, có xúc cảm trước các tác phẩm nghệ thuật, biết thưởng thức và đánh giá Vậy vấn đề định hướng nghệ thuật ra sao để giới trẻ nhận thức đúng được giá trị nghệ thuật đích thực của các tác phẩm nghệ thuật và có thị hiếu đúng đắn, lành mạnh là vấn đề quan trọng trong giáo dục nghệ thuật
Giáo dục nghệ thuật là công việc của mọi cấp, mọi ngành, từ gia đình đến nhà trường và xã hội Giáo dục nghệ thuật trong nhà trường được xem là con đường cơ bản, có giá trị lâu dài có tác dụng định hướng thẩm mỹ đúng đắn cho thế hệ trẻ, phát hiện, ươm mầm, bồi dưỡng tài năng nghệ thuật
Giáo dục nghệ thuật trong nhà trường là một quá trình hoạt động chung của nhà giáo dục và người được giáo dục nhằm giúp người được giáo dục có rung cảm trước cái đẹp trong nghệ thuật, có kiến thức, quan điểm nhìn nhận cái đẹp trong nghệ thuật, biết lựa chọn và chiêm ngưỡng nghệ thuật, có khả năng đồng sáng tạo và sáng tạo nghệ thuật
Giáo dục nghệ thuật trong nhà trường không phải chỉ dành cho những học sinh có năng khiếu nghệ thuật mà giáo dục nghệ thuật cho mọi người, tạo dựng cho mọi người nền tảng văn hóa thẩm mỹ
Trang 19Giáo dục nghệ thuật trong nhà trường có nhiệm vụ hình thành và phát triển ở học sinh các hứng thú và nhu cầu cao đối với giá trị nghệ thuật, làm cho học sinh làm quen với quá trình sáng tạo nghệ thuật, thức tỉnh và bồi dưỡng người nghệ sỹ trong mỗi con người học sinh
Giáo dục về nghệ thuật nhằm mang lại những hiểu biết về nghệ thuật nên thường đề cập đến loại hình nghệ thuật và các tác phẩm, tác giả thuộc loại hình
đó Chẳng hạn, nội dung giáo dục cụ thể có thể là: đặc trưng, bản chất, ngôn ngữ nghệ thuật, thể tài của loại hình nghệ thuật; nội dung, chủ đề, thủ pháp nghệ thuật và quá trình sáng tác, dàn dựng một tác phẩm nghệ thuật biểu diễn; hay tiểu sử, sự nghiệp, ý đồ nghệ thuật và phong cách nghệ thuật của một tác giả Ví dụ, với giáo dục về nghệ thuật sân khấu, có thể giới thiệu: quá trình sáng tác và dàn dựng một vở diễn; lao động đặc thù của đạo diễn trong tìm hiểu
và chuyển dịch ngôn ngữ văn chương của kịch bản sân khấu sang ngôn ngữ dàn cảnh của vở kịch, lựa chọn và hướng dẫn diễn viên thể hiện các vai diễn; đặc điểm nghệ thuật diễn xuất của diễn viên; công việc thiết kế sân khấu, quản lý
và vận hành hệ thống âm thanh, ánh sáng, trang phục, đạo cụ Những nội dung này có thể được thể hiện dưới dạng: câu chuyện về chân dung nghệ sĩ; phê bình tác phẩm nghệ thuật sân khấu; chuyên đề lý luận về nghệ thuật kịch nói; và các trích đoạn sân khấu để minh họa
Không chỉ giới hạn ở tri thức nghệ thuật, giáo dục về nghệ thuật còn có thể giúp đối tượng giáo dục rèn luyện kỹ năng nghệ thuật như thực hành kỹ thuật diễn xuất, múa, hát, chơi nhạc cụ, điều khiển con rối, làm xiếc, ảo thuật
để họ hiểu hoạt động nghệ thuật và được phát triển năng lực thẩm mỹ cũng như năng lực sáng tạo nghệ thuật Tóm lại, giáo dục về nghệ thuật có thể trang bị cho khán giả, công chúng những kiến thức và kỹ năng về nghệ thuật phong phú, với nhiều cấp độ từ cơ bản đến nâng cao
1.2.3 Biểu diễn, thực hành biểu diễn
Theo Đại từ điển tiếng Việt, “Thực hành” có nghĩa là làm để áp dụng lý thuyết vào thực tế [5] Đối với giáo dục nghệ thuật, “Thực hành” có nghĩa là áp
dụng các kiến thức, kĩ năng chuyên môn vào các hoạt động chuyên ngành cụ thể (ví dụ: áp dụng kĩ thuật thanh nhạc, kĩ thuật lấy hơi, luyến láy nhả chữ vào
Trang 20từng câu hát trong Thanh nhạc; Áp dụng các kĩ thuật chạy ngón, kĩ thuật legato, Legato… vào trình bày các tác phẩm Khí Nhạc…)
“Biểu diễn” được định nghĩa là trình diễn các tiết mục thể thao hay nghệ thuật [5].Trong phạm vi nghiên cứu, bài viết chỉ đề cập đến biểu diễn nghệ thuật
Nghệ thuật (Tiếng anh: Art) là những hoạt động khác nhau của con người và những sản phẩm do những hoạt động đó tạo ra Tác giả Nguyễn Mạnh Lân và Trần Duy Hinh liệt kê ra 6 loại hình nghệ thuật, đó là: Văn học, Múa,
Âm nhạc, Hội họa, Kiến trúc và Sân khấu [12] Trong cuốn “Điện ảnh - Nghệ thuật thứ bảy” do Cao Thụy biên soạn lại liệt kê ra các loại hình nghệ thuật đó là: Văn học, Kiến trúc, Nghệ thuật tạo hình (trong đó có điêu khắc, hội họa, đồ họa, trang trí mỹ nghệ), Sân khấu, Múa, Âm nhạc [3]
Việc nghiên cứu tính chất của các loại hình nghệ thuật được tiến hành từ
thời Cổ đại Trong cuốn sách “Phân loại nghệ thuật” [16, tr.20] nhà mỹ học
Xô-viết M.Kagan cho biết nhà nghiên cứu nghệ thuật người Đức Max Desoir (1867 - 1947) phát hiện ra là vào thời “hậu Aristote” người ta đã tách ra 6 loại hình nghệ thuật và căn cứ vào tính chất của chúng xếp thành hai nhóm:
(1) Nhóm nghệ thuật tĩnh gồm có: Kiến trúc, Điêu khắc và Hội họa (2) Nhóm nghệ thuật động gồm có: Âm nhạc, Thơ và múa
Sau này, Friedrich Hegel (1770 - 1831) trong “Những bài giảng về Mỹ học”,
theo một hướng nghiên cứu khác, đã xếp 6 loại nghệ thuật trên thành hai nhóm:
(1) Nhóm có kích thước vật thể nhỏ dần gồm: Kiến trúc, Điêu khắc và Hội họa
(2) Nhóm có khả năng biểu hiện tăng dần gồm: Âm nhạc, Thơ và Múa [6] Con người sáng tạo ra nghệ thuật và đời sống lao động hàng ngày Khi những tâm tư, tình cảm, cảm xúc của con người không thể diễn đạt bằng lời nói, người ta tìm đến nghệ thuật Nghệ thuật giống như “tấm gương phản chiếu cuộc đời”, phản ánh cuộc sống lao động, đời sống tâm tư tình cảm của con người với các đề tài khác nhau (Tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu lứa đôi,
Trang 21lao động ) Mỹ thuật, hội họa, ca, múa, nhạc, văn học,… tất cả các loại hình nghệ thuật, đều lấy hiện thực cuộc sống làm đối tượng phản ánh.Phản ánh hiện thực như thế nào, bằng cách nào do phương tiện nghệ thuật và thẩm mỹ từng loại hình qui định Mỗi nghệ thuật đều có phương tiện ngôn ngữ biểu đạt riêng của mình Phương tiện nghệ thuật loại hình luôn là điểm tựa để người tiếp nhận, hay nghiên cứu nghệ thuật nhận thức được bản chất vấn đề đang tiếp cận Phương tiện nghệ thuật quyết định đặc tính loại hình nghệ thuật
Trong khuôn khổ của bài viết, “nghệ thuật” ở đây chỉ bao gồm Âm
nhạc (Âm nhạc gồm Thanh nhạc và Khí nhạc)
Khái niệm nghệ thuật trình diễn hay nghệ thuật biểu diễn được dùng chỉ một nghệ thuật vốn tồn tại bằng phương thức "diễn" trên sàn diễn bởi con người (Performance) Trong nghiên cứu văn hóa nghệ thuật, cách tiếp cận performance nghĩa là nghiên cứu một hành động, một sự kiện, một thể loại hay hình thức từ mọi góc độ để thấy đối tượng thực thi ra sao, bằng cách thức nào, trong bối cảnh nào, ai là người thực hiện, ai là người tham gia
Nghệ thuật biểu diễn là nghệ thuật tổng hợp, nó bao gồm cả ca, múa, nhạc, họa, thơ, kịch Đó là một loại hình nghệ thuật sử dụng không gian của các loại hình sân khấu nhằm thể hiện, truyền tải nội dung của các tác phẩm phi vật thể đến với công chúng Trong một tác phẩm sân khấu hội tụ giá trị văn học, diễn xuất, hội họa, âm nhạc, múa Nói một cách hình tượng, thì sân khấu như một cái lò luyện nên hợp kim, từ những nguyên liệu khác nhau song liên kết với nhau bởi một số thuộc tính cần
Các tác phẩm sân khấu, điện ảnh, ca múa nhạc ngoài đáp ứng nhu cầu hưởng thụ văn hóa tinh thần và giải trí đa dạng, nó còn góp phần giáo dục tư tưởng, tình cảm, lối sống của con người
Nghệ thuật biểu diễn với nghĩa hẹp chỉ nghệ thuật diễn xuất của người diễn viên trên sân khấu nhằm khắc họa nội dung, tư tưởng của tác phẩm; truyền tải những nội dung, tư tưởng đó đến người xem, người nghe thông qua các hành động diễn xuất trên sân khấu (hát, múa, chơi nhạc cụ…)
Trang 22Một tác phẩm nghệ thuật có thể đến với công chúng bằng nhiều con đường khác nhau, nhưng thông qua người biểu diễn với sự cảm thụ và thể hiện sáng tạo của mình thì tác phẩm trở nên sinh động và có sức truyền thụ tới công chúng nhanh nhất Người biểu diễn là cầu nối giữa tác giả và công chúng, góp phần truyền bá, lưu trữ và phát hiện các tác phẩm có giá trị Trong công ước Rome (công ước quốc tế bảo hộ người biểu diễn, nhà sản xuất bản ghi âm và tổ
chức phát sóng) tại điều 3 (a) nêu rõ: “Người biểu diễn là các diễn viên, ca sỹ, nhạc công, vũ công và các người khác nhập vai, hát, đọc, ngâm, trình bày hoặc biểu diễn các tác phẩm văn học, nghệ thuật” [17]
Từ các phân tích trên, có thể khẳng định, trong “Biểu diễn” chắc chắn có
“Thực hành”, nhưng trong “Thực hành”, có thể không có “Biểu diễn”
Vậy “Thực hành biểu diễn” chính là việc áp dụng các lý thuyết, các
kiến thức, kĩ năng chuyên môn của người biểu diễn vào trình diễn các tiết mục văn nghệ, thông qua các hành động diễn xuất trên sân khấu nhằm truyền tải những nội dung, tư tưởng của tác phẩm đến người nghe, người xem
1.2.4 Quản lý hoạt động thực hành biểu diễn
Có nhiều định nghĩa khác nhau về hoạt động, tùy thuộc theo các góc độ xem xét mà những cách hiểu về hoạt động khác nhau :
- Dưới góc độ triết học : Hoạt động là quan hệ biện chứng của chủ thể và
khách thể Trong mối quan hệ đó, chủ thể là con người, khách thể là hiện thực khách quan Ở góc độ này, hoạt động được xem là quá trình mà trong đó có sự chuyển hóa lẫn nhau giữa hai cực là chủ thể và khách thể
- Dưới góc độ sinh lý : Hoạt động là toàn bộ sự tiêu hao năng lượng thần
kinh và cơ bắp khi tác động vào hiện thực khách quan nhằm thỏa mãn nhu cầu nào đó của cá nhân và xã hội
- Dưới góc độ cấu trúc hoạt động : Hoạt động là toàn bộ hành động được
thống nhất theo mục đích chung nhằm thực hiện một chức năng xã hội nào đó
Trang 23- Dưới góc độ tâm lý học : Xuất phát từ quan điểm cho rằng cuộc sống
của con người là chuỗi những hoạt động, giao tiếp kế tiếp nhau, đan xen vào nhau, hoạt động được hiểu là phương thức tồn tại của con người trong thế giới
Theo đó, hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người (chủ thể) với thế giới (khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về phía thế giới và cả về phía con người
Như vậy, trong hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía thế giới, vừa tạo ra tâm lý, ý thức của mình, hay nói khác đi, tâm lý, ý thức, nhân cách của con người được bộc lộ, hình thành và phát triển trong hoạt động của họ
Hoạt động của con người bao gồm các quá trình con người tác động vào khách thể (sự vật, hiện tượng, tri thức,…) gọi chung là quá trình bên ngoài và quá trình tinh thần, trí tuệ hóa sự vật, hiện tượng, gọi chung là quá trình bên trong Nghĩa là, trong hoạt động bao gồm cả hành vi lẫn tâm lý, cả công việc chân tay lẫn công việc trí óc
Quản lý hoạt động thực hành biểu diễn là sự tác động có định hướng, có chủ đích của nhà quản lý đến người biểu diễn/diễn viên nhằm chỉ huy, điều hành, hướng dẫn người biểu diễn cách áp dụng các lý thuyết, các kiến thức, kĩ năng chuyên môn vào trình diễn các tiết mục văn nghệ nhằm truyền tải những nội dung, tư tưởng của tác phẩm đến người nghe, người xem
1.3 Hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên Nghệ thuật
1.3.1 Ý nghĩa của hoạt động thực hành biểu diễn đối với sinh viên Nghệ thuật
Hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên Nghệ thuật là một bộ phận
của Giáo dục Nghệ thuật Đối với giáo dục nghệ thuật, việc tổ chức các hoạt
động biểu diễn phải dựa trên bản chất, mục đích của giáo dục nghệ thuật và phải đáp ứng được các yêu cầu về chất lượng Giáo dục - Đào tạo và tiêu chí đối với chất lượng Giáo dục - Đào tạo của người tốt nghiệp đối với đào tạo nghề; sinh viên đại học, cao đẳng
Hoạt động thực hành biểu diễn đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành kỹ năng biểu diễn, khả năng trình diễn trước đám đông, kỹ năng làm việc
Trang 24độc lập, làm việc theo nhóm, giúp các em có cơ hội áp dụng các kiến thức đã học vào thực tiễn công việc, hình thành bản lĩnh và kinh nghiệm cần có cho các nhà giáo hoặc những nghệ sỹ tương lai Mục đích của giáo dục đại học là đào tạo các nhà chuyên môn có phẩm chất và năng lực, có khả năng tích cực tham gia vào phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội Trong thời đại ngày nay, đất nước ta đang trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trên con đường phát triển đất nước và hội nhập toàn cầu không thể thiếu vấn đề giao lưu văn hóa Các hoạt động thực hành biểu diễn nghệ thuật, giao lưu văn hóa văn nghệ với các nước bạn góp phần không nhỏ trong việc giới thiệu nền văn hóa Việt Nam với các nước bạn trên thế giới
Có thể thấy rằng, nghệ thuật biểu diễn âm nhạc có sự liên quan chặt chẽ gắn liền với tâm sinh lý con người Đối với các em học sinh sinh viên, mặc dù
đã được lên lớp cẩn thận về các kiến thức, kỹ năng chuyên ngành với sự học tập chăm chỉ, nhưng khi ra biểu diễn trước đám đông, tại các sân khấu lớn, vẫn
có những cảm giác bồn chồn, xao xuyến, lo lắng, hồi hộp cho phần thể hiện của mình, điều đó ảnh hưởng không nhỏ đến thành công của buổi biểu diễn khiến cho vẫn có những em chưa đạt được sự an toàn về kỹ thuật cũng như thể hiện tốt cảm xúc, nội dung tư tưởng của tác phẩm nghệ thuật Nhiều nghệ sỹ nổi tiếng trước khi ra biểu diễn cũng mang trong mình những cảm xúc đó, tuy nhiên với kinh nghiệm dày dặn được tích lũy qua nhiều cuộc biểu diễn, nên họ
có thể ứng phó với những vấn đề tâm lý thường xuyên phát sinh trong các môi trường biểu diễn khác nhau
Đối với lĩnh vực nghệ thuật âm nhạc, việc học tập và rèn luyện bản lĩnh biểu diễn là rất quan trọng Có bản lĩnh, các em mới làm chủ được quá trình biểu diên, thực hiện được mục tiêu, yêu cầu, chất lượng của hoạt động biểu diễn đặt ra Nhờ đó, các em mới bộc lộ được hết năng lực biểu diễn, khả năng
kỹ thuật và thể hiện âm nhạc Từ đó mới có thể truyền đạt cái hay, cái đẹp của các tác phẩm âm nhạc đến với công chúng, thực hiện những chức năng của giáo
Trang 25dục nghệ thuật hướng tới cái “Chân, Thiện, Mỹ”, hướng con người đến với vẻ
đẹp đích thực của nghệ thuật
Sinh viên hôm nay có thể chưa trở thành những người giáo viên, những người nghệ sỹ có kinh nghiệm dày dặn nhưng trong tương lai họ có thể trở thành những nhà giáo, những nghệ sỹ chuyên nghiệp, thực thụ Đối với mỗi nghệ sỹ, việc trải nghiệm thực tế qua các sân khấu biểu diễn là việc làm rất cần thiết Đối với người tham gia công tác giác dục nghệ thuật (cả người dạy và người học), việc trải nghiệm các hoạt động thực tế, giao lưu với các đơn vị khác hay lớn hơn là giao lưu với tầm cỡ quốc tế giúp họ có cái nhìn phong phú, sâu sắc hơn về nghệ thuật; tiếp thu được những kĩ thuật mới, kĩ thuật hay, vốn kiến thức chuyên ngành được mở rộng và đặc biệt có cái nhìn theo kịp thời đại
để từ đó tìm ra được những phương pháp, những nội dung phong phú, đa dạng
và phù hợp áp dụng vào trong công cuộc giảng dạy và học tập Do đó, hoạt động thực hành biểu diễn đối với mỗi học sinh sinh viên đang ngồi trên ghế nhà trường ngày hôm nay là một hoạt động vô cùng cần thiết
1.3.2 Vai trò của tổ chức các hoạt động THBD trong giáo dục nghệ thuật
1.3.2.1 Tổ chức các hoạt động thực hành biểu diễn giúp học sinh - sinh viên
mở rộng & nâng cao kĩ năng, kiến thức
Giáo dục nghệ thuật (Arts Education) gồm các hoạt động giáo dục về nghệ thuật và giáo dục thông qua nghệ thuật Giáo dục về nghệ thuật là hoạt động giáo dục nhằm tạo nên sự hiểu biết, khả năng thưởng thức, thực hành và sáng tạo một loại hình nghệ thuật cụ thể Ở đây, nội dung của hoạt động giáo dục là những tri thức và kỹ năng về nghệ thuật, ví dụ: hoạt động dạy vẽ, dạy múa, dạy đàn cho trẻ em Trong khi đó, giáo dục thông qua nghệ thuật thì sử dụng nghệ thuật như những công cụ hay phương pháp để đạt được các mục tiêu giáo dục như hỗ trợ học tập trong nhà trường, phát triển năng lực cá nhân, thay đổi nhận thức và hành vi của cộng đồng, phát triển cộng đồng Ví dụ: sử dụng nghệ thuật sân khấu để giáo dục về lịch sử và văn học, hay thông qua di sản
Trang 26văn hóa để giáo dục lòng yêu nước và tự hào dân tộc Như vậy, bản chất của hoạt động giáo dục nghệ thuật là việc chuyển giao các di sản văn hóa nghệ thuật từ thế hệ này sang thế hệ khác Mục đích của giáo dục nghệ thuật là tác động đến đối tượng giáo dục nhằm phát triển năng lực nghệ thuật cũng như nhận thức và tình cảm, góp phần hoàn thiện nhân cách con người
Mục tiêu giáo dục đại học của Bộ giáo dục được xác định rõ trong Luật
giáo dục và đào tạo điều 39: “Đào tạo trình độ đại học giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn và có kỹ năng thực hành thành thạo, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” [13], như vậy đối với giáo dục nghệ thuật, công tác tổ chức các
hoạt động thực hành biểu diễn cho học sinh sinh viên nghệ thuật có thể nói là một việc làm vô cùng cần thiết
Tham gia vào các hoạt động thực hành biểu diễn là điều kiện để học sinh sinh viên được vận dụng những kiến thức đã học vào trải nghiệm thực tế, cọ xát với môi trường sân khấu, vận dụng các kiến thức đã học và thực hành, rèn luyện bản lĩnh sân khấu, hình thành kỹ năng biểu diễn
- Tham gia vào các hoạt động thực hành biểu diễn tạo cơ hội cho sinh viên tìm tòi phát hiện tri thức mới, qua những cuộc giao lưu văn hóa văn nghệ giúp các em có thể nhận thấy những điểm tốt, xuất sắc, những điều đáng học tập và những mặt yếu kém, để từ đó trau dồi lại bản thân, phát huy những điểm mạnh, từ những điểm chưa được của người khác để rút kinh nghiệm bản thân
- Qua các hoạt động thực hành biểu diễn, ở sinh viên sẽ hình thành các
kỹ năng cần có của một con người hiện đại: khả năng làm việc độc lập, khả năng làm việc theo nhóm, bản lĩnh thể hiện mình trước đám đông
1.3.2.2 Tổ chức các hoạt động thực hành biểu diễn góp phần phát triển năng khiếu của học sinh sinh viên
Giáo dục nghệ thuật mang trong mình nét đặc trưng riêng vốn có của nó Trong giáo dục nghệ thuật, người học tham gia ở tư thế chủ động Bên cạnh
Trang 27năng khiếu bẩm sinh vốn có, việc tìm tòi và phát hiện thế mạnh từ đó phát triển trau dồi là một việc làm vô cùng cần thiết Để đạt được điều đó, người giáo viên đóng vai trò hết sức quan trọng, là người lập kế hoạch, định hướng, tổ chức, sắp xếp, kiểm tra, đánh giá và khích lệ học sinh sinh viên trong quá trình giúp các em nhận biết được khả năng cũng như phát triển năng khiếu của mình Bên cạnh sự hướng dẫn của giáo viên, giáo dục nghệ thuật cũng đòi hỏi học sinh sinh viên phải tích cực, chủ động trong quá trình rèn luyện và tự rèn luyện
1.3.2.3 Hoạt động thực hành biểu diễn góp phần phát triển trong sinh viên năng lực làm việc theo nhóm
Các hoạt động thực hành biểu diễn giúp các em hình thành tính năng động, độc lập, sáng tạo; giúp các em tự tin và bản lĩnh trước đám đông; đặc biệt trong các hoạt động theo nhóm tạo điều kiện giúp các em rèn luyện khả năng làm việc theo nhóm, làm việc tập thể - một kĩ năng sống và làm việc cần thiết trong xã hội hiện đại hóa hiện nay
Bên cạnh đó, tham gia vào các hoạt động thực hành biểu diễn giúp các
em có điều kiện được giao lưu, học hỏi Việc tổ chức tốt các hoạt động thực hành biểu diễn sẽ giúp tạo cơ sở thuận lợi cho nhà trường thực hiện việc đổi mới phương pháp giảng dạy và học trong giáo dục nghệ thuật theo hướng tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học,
tự rèn luyện, đặc biệt là rèn luyện kỹ năng vận dụng các kiến thức chuyên ngành đã học vào thực tế biểu diễn, đưa nghệ thuật đến với công chúng
1.3.3 Nội dung hoạt động thực hành biểu diễn
“Thực hành biểu diễn” là một hoạt động trong giáo dục nghệ thuật, bên
cạch các tri thức nghệ thuật, hoạt động thực hành biểu diễn giúp đối tượng giáo dục rèn luyện kỹ năng nghệ thuật như thực hành kỹ thuật diễn xuất, múa, hát, chơi nhạc cụ, để họ hiểu hoạt động nghệ thuật và được phát triển năng lực thẩm mỹ cũng như năng lực sáng tạo nghệ thuật
Trang 28Với mục đích đó, nội dung các hoạt động thực hành biểu diễn thường đề cập đến việc trình diễn một tác phẩm nghệ thuật và chú ý đến kỹ thuật trình diễn
Kỹ thuật trình diễn, còn gọi là kỹ thuật lấy diễn viên làm trung tâm (Actor - centred techniques): Trình diễn là trình bày sự việc, ý tưởng, cảm xúc hay quá trình bằng ngôn ngữ nói, ngôn ngữ cơ thể như động tác, hành động, nét mặt, ánh mắt hay các ngôn ngữ nghệ thuật khác như âm thanh, tiết tấu, màu sắc
và đường nét Áp dụng kỹ thuật này, người hướng dẫn có thể làm mẫu, sau đó người học làm theo; hoặc người hướng dẫn đưa ra nội dung để người học tự do tìm cách trình diễn và biểu đạt Hoạt động này khuyến khích người học sử dụng các giác quan để nhìn, nghe, đôi khi cả ngửi, sờ hoặc nếm và sử dụng tổng thể các loại hình ngôn ngữ để diễn đạt vấn đề được yêu cầu
Các kỹ thuật của nghệ thuật biểu diễn như kỹ thuật thanh nhạc (hát), sử dụng nhạc cụ, múa, diễn xuất ngoài việc tập luyện nhằm tăng cường hiểu biết
và năng lực thực hành nghệ thuật của người học, còn được sử dụng như những công cụ hiệu quả trong nhiều hoạt động giáo dục khác
Có thể tiếp cận nội dung các hoạt động thực hành biểu diễn theo chuyên ngành nghệ thụât ứng với từng kỹ thuật biểu diễn của chuyên ngành đó:
Nội dung của hoạt động thực hành biểu diễn thanh nhạc đề cập đến vấn
đề trình bày một ca khúc, tác phẩm thanh nhạc với các kỹ thụât của giọng hát như legato (liền tiếng), non-legato (nảy tiếng), vị trí âm thanh, cách lấy hơi, ngắt nghỉ câu, và kĩ thuật thể hiện tình cảm, sắc thái to nhỏ trong từng câu hát
Nội dung của hoạt động thực hành biểu diễn nhạc cụ đề cập đến vấn đề trình bày một tác phẩm khí nhạc với các kĩ thuật ngón tay, tư thế tay, cách thể hiện sắc thái trong một tác phẩm khí nhạc…
1.3.4 Các loại hình thực hành biểu diễn
Các hoạt động thực hành biểu diễn có thể chia thành hai loại: hoạt động
thực hành biểu diễn theo chuyên môn và hoạt động thực hành biểu diễn phối kết hợp giữa các chuyên môn với nhau
Trang 29Hoạt động thực hành biểu diễn theo chuyên môn là những hoạt động mang tính khoa học, nghệ thuật, chuyên biệt từng chuyên ngành đào tạo Tức là các hoạt động của chuyên ngành thanh nhạc: chỉ gồm hoạt động hát, trình diễn các ca khúc, các tác phẩm thanh nhạc; hoạt động thực hành biểu diễn chuyên ngành múa chỉ bao gồm thể hiện một tác phẩm múa, hoạt động thực hành biểu diễn chuyên ngành nhạc cụ chỉ bao gồm hoạt động trình diễn các tác phẩm khí nhạc… Đối với từng chuyên môn lại có các hình thức biểu diễn khác nhau, như đối với thanh nhạc có các hình thức biểu diễn đơn ca, song ca, tam ca, tốp ca, hợp xướng,… Chuyên ngành múa có múa đơn, múa đôi, múa tập thể, chuyên ngành nhạc cụ có độc tấu, song tấu, hòa tấu,
Hoạt động THBD theo hình thức phối kết hợp giữa các chuyên môn với nhau là những hoạt động mang tính khoa học, nghệ thuật, có sự phối kết hợp giữa các chuyên ngành đào tạo Những hoạt động theo hình thức này thường phong phú, đa dạng hơn về dàn dựng chương trình và đòi hỏi sự phối kết hợp cao hơn giữa mỗi chuyên ngành với nhau Ví dụ: thực hành biểu diễn các tiết mục thanh nhạc có múa phụ họa đòi hỏi sự phối kết hợp giữa những người chuyên ngành hát và chuyên ngành múa; hoạt động thực hành biểu diễn ở hình thức sân khấu kịch hát đòi hỏi người biểu diễn vừa phải có khả năng diễn kịch, vừa phải có khả năng thanh nhạc…
1.4 Quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật
1.4.1 Mục tiêu quản lý hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật
Quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên Nghệ thuật là một trong các nội dung quản lý nhà trường của nhà quản lý giáo dục Nghệ thuật Đối với giáo dục Nghệ thuật, việc quản lý các hoạt động THBD của sinh viên giúp cho công tác điều hành đơn vị của nhà quản lý hiệu quả hơn
Về tri thức:
Quản lý các hoạt động THBD nhằm giúp cho học sinh có kiến thức cơ bản về kỹ thuật biểu diễn, cách áp dụng các lý thuyết chuyên ngành vào thực tế biểu diễn
Trang 30Về kỹ năng:
Tham gia các hoạt động THBD giúp người học rèn luyện kỹ năng trình diễn trên sân khấu; năng lực biểu cảm, diễn xuất và thể hiện cảm xúc tác phẩm; khả năng trình diễn trước đám đông và khả năng làm việc theo nhóm
Về thái độ:
Có niềm say mê, hứng thú với chuyên ngành mình đã lựa chọn
1.4.2 Nội dung quản lý các hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật
Quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật là hoạt động mang tính chất quản lý hành chính nhà nước Do đó mọi hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật và quản lý hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên đều phải dựa trên cơ sở pháp luật, tuân thủ các quy định, chỉ thị, nghị quyết của Bộ Giáo dục & Đào tạo, Bộ Văn hóa Thể thao & Du lịch, các quy định của chính phủ về biểu diễn nghệ thuật, điều lệ nhà trường về hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên
Căn cứ vào mục tiêu đã được xác định, nội dung quản lý tập trung vào các vấn đề cơ bản ứng với hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật: đó là khối kiến thức chuyên ngành và kỹ năng biểu diễn, trình diễn trên sân khấu Các nội dung này có liên quan mật thiết với nhau tạo thành thể thống nhất trong hoạt động THBD
Tiếp cận nghiên cứu quản lý hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật theo hai hình thức dưới đây:
1.4.2.1 Quản lý hoạt động THBD trong phạm vi nhà trường
Các hoạt động THBD trong nhà trường được chia làm hai loại: Hoạt động THBD được quy định trong chương trình đào tạo và hoạt động THBD Đoàn Thanh niên, Hội sinh viên phát động và tổ chức gắn với các sự kiện thường niên, các ngày lễ kỉ niệm
(i) Quản lý các hoạt động THBD trong quy định trong chương trình đào tạo gồm các nội dung
Các hoạt động THBD được quy định trong chương trình đào tạo là hình thức tổ chức hoạt động có kế hoạch chặt chẽ, quy định cụ thể thời gian, địa
Trang 31điểm và thành phần tham gia trong quá trình thực hiện Các hoạt động THBD
tổ chức theo quy định trong phân phối chương trình đào tạo có thể diễn ra theo
2 hình thức: Các buổi thi, kiểm tra chuyên môn theo định kỳ (bao gồm hoạt động trình diễn của sinh viên có nhận xét, đánh giá của giáo viên) và môn học
đặc thù (môn Kỹ thuật biểu diễn được phân bố trong chương trình đào tạo, bao
gồm hoạt động dạy của giáo viên và hoạt động học của sinh viên)
- Quản lý việc lập kế hoạch:
Dựa trên kế hoạch, nhiệm vụ của nhà trường cũng như kế hoạch đào tạo
đã được đề ra ngay từ đầu năm học, Hiệu trưởng xây dựng hệ thống các quy định về hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên trên cơ sở các quy định của chính phủ về biểu diễn nghệ thuật; chỉ đạo đến các CBQL cấp dưới và các giảng viên xây dựng kế hoạch tổ chức và quản lý các hoạt động THBD theo quy định phân phối trong chương trình đào tạo: Kế hoạch chi tiết về chương trình thi, kiểm tra, báo cáo chuyên môn (Thời gian, nội dung - chủ đề, khung chương trình, thang điểm đánh giá, ), kế hoạch bồi dưỡng sinh viên giỏi, phụ đạo học sinh yếu, và phê duyệt kế hoạch THBD để triển khai các hoạt động tới các tổ chuyên môn và tới tập thể sinh viên
Chỉ đạo CBQL cấp khoa và tổ chuyên môn thu thập, xử lý các dạng thông tin có liên quan tới nội dung hoạt động giáo dục; xây dựng kế hoạch chi tiết và
cụ thể cho từng loại hoạt động Thời gian kế hoạch càng ngắn thi công việc được đặt ra càng phải cụ thể, biện pháp giải quyết càng phải thiết thực, rõ ràng
Quản lý tốt việc lập kế hoạch THBD của các CBQL cấp khoa và tổ chuyên môn có ý nghĩa quan trọng đối với công tác của CBQL Thông qua các
kế hoạch đó, Hiệu trưởng biết được các công việc, chương trình hành động của hoạt động THBD gắn với đặc thù của từng tổ chuyên môn, từng lớp và yêu cầu điều chỉnh khi cần thiết
- Quản lý việc triển khai và thực hiện kế hoạch, chỉ đạo giám sát quá trình hoạt động
Trong công tác QL các hoạt động THBD của sinh viên, việc triển khai thực hiện kế hoạch và giám sát quá trình hoạt động là một vấn đề hết sức quan
Trang 32trọng Để làm tốt điều này, các CBQL cần phải ban hành các quy chế cụ thể về
tổ chức hoạt động THBD đến từng đơn vị trực thuộc; triển khai nội quy, quy chế và kế hoạch chi tiết hoạt động THBD đến các SV Các CBQL, GV, GVCN theo dõi nề nếp, thái độ luyện tập của SV và có sự báo cáo đến các cấp QL Việc này giúp các CBQL nắm bắt được tình hình thực hiện kế hoạch và có biện pháp phù hợp để giải quyết các tình trọng còn tồn đọng
- Quản lý việc đánh giá kết quả hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật Kiểm tra, đánh giá kết quả rèn luyện và học tập của sinh viên thông qua các hoạt động THBD là một vấn đề hết sức quan trọng trong giáo dục nghệ thuật, nó là khâu cuối cùng đánh giá độ tin cậy kết quả học tập của quá trình dạy và học, đồng thời có tác dụng điều tiết trở lại hết sức mạnh mẽ đối với quá trình giáo dục Quản lý tốt việc đánh giá kết quả hoạt động THBD của sinh viên giúp cho CBQL nắm được quy trình, việc thực hiện đúng tiêu chí về đánh giá kết quả của SV, ngăn chặn kịp thời những vấn đề tiêu cực trong đánh giá
Quản lý các hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên về mặt nội dung nhằm nâng cao chất lượng đào tạo Để nâng cao chất lượng đào tạo, cần phải xem xét các đặc điểm phù hợp với từng đối tượng như:
- Năng khiếu, năng lực, hứng thú và nguyện vọng của sinh viên
- Nội dung chương trình đào tạo
- Theo yêu cầu thực tiễn của xã hội
(ii) Các hoạt động THBD do tổ chức Đoàn Thanh niên và Hội sinh viên phát động và tổ chức
Đây là hình thức tổ chức các hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp, tạo
điều kiện cho các em có cơ hội giao lưu, học hỏi, phát triển các loại năng lực hỗ trợ cho hoạt động nghệ thuật Các hoạt động này diễn ra dưới hình thức là một chương trình biểu diễn văn nghệ gồm hoạt động biểu diễn của cả GV và SV
- Quản lý việc lập kế hoạch
Dựa trên kế hoạch, nhiệm vụ của nhà trường, Hiệu trưởng xây dựng hệ thống các quy định về hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên trên cơ sở
Trang 33các quy định của chính phủ về biểu diễn nghệ thuật, có kế hoạch hỗ trợ kinh phí khi cần thiết; quản lý sự phối hợp giữa các lực lượng trong nhà trường, chỉ đạo đến các CBQL cấp dưới và các giảng viên xây dựng kế hoạch tổ chức và quản lý các hoạt động THBD gắn với các sự kiện thường niên Chỉ đạo CBQL cấp khoa và tổ chuyên môn và các phòng ban có liên quan thu thập, xử lý các dạng thông tin có liên quan tới nội dung hoạt động; xây dựng kế hoạch chi tiết
và cụ thể: xác định mục tiêu, thời gian tập luyện và biểu diễn, nhân lực, cơ sở vật chất, số lượng tiết mục, xây dựng chi tiết nội dung và khung chương trình, phân công nhiệm vụ cụ thể cho từng đối tượng Thời gian kế hoạch càng ngắn thi công việc được đặt ra càng phải cụ thể, biện pháp giải quyết càng phải thiết thực, rõ ràng
Quản lý tốt việc lập kế hoạch THBD có ý nghĩa quan trọng đối với công tác của CBQL Thông qua các kế hoạch đó, Hiệu trưởng biết được các công việc, chương trình hành động của hoạt động THBD gắn với các sự kiện thường niên và yêu cầu điều chỉnh khi cần thiết
- Quản lý việc triển khai và thực hiện kế hoạch, chỉ đạo giám sát quá trình hoạt động
Giống như các hoạt động THBD theo chương trình đào tạo, việc triển khai thực hiện kế hoạch, chỉ đạo giám sát quá trình hoạt động là một khâu quan trọng trong quản lý các hoạt động THBD của sinh viên gắn liền với các sự kiện thường niên, các ngày lễ kỉ niệm Để làm tốt điều này, các CBQL phải phổ biến
kế hoạch tập luyện và biểu diễn chi tiết đến từng đối tượng tham gia, yêu cầu các GVCN có trách nhiệm triển khai kế hoạch cụ thể đến các SV tham gia và giám sát nề nếp thực hiện kế hoạch; có chính sách xử lý các hành vi vi phạm nội quy hợp lý Đôn đốc nề nếp của sinh viên Có nhận xét, đánh giá sau mỗi hoạt động để rút kinh nghiệm cho các hoạt động lần sau
Trang 341.4.2.2 Quản lý các hoạt động THBD ngoài phạm vi nhà trường
Hoạt động TBBD ngoài phạm vi nhà trường là các hoạt động THBD không phải do nhà trường tổ chức, đó là các hoạt động THBD nhà trường phối kết hợp với các lực lượng khác thực hiện như Sở VHTT&DL, Ủy ban Nhân dân các cấp, các cơ quan, đơn vị, Các hoạt động THBD ngoài phạm vi nhà trường là các chương trình biểu diễn phục vụ chính trị THBD phục vụ chính trị
là các hoạt động biểu diễn nhằm phục vụ các chương trình văn hóa, văn nghệ của các cấp sở, ban ngành khác nhau; có sự phối hợp lực lượng giữa nhà trường
và các đơn vị khác để thực hiện một chương trình nghệ thuật Các hoạt động biểu diễn phục vụ chính trị giúp SV có cơ hội được trải nghiệm trên nhiều sân khấu chuyên nghiệp lớn nhỏ khác nhau, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm Hoạt động THBD phục vụ chính trị là những hoạt động GD ngoài giờ lên lớp Hoạt động GD ngoài giờ lên lớp là một bộ phận của quá trình giáo dục nhà trường Đó là những hoạt động được tổ chức ngoài giờ học các bộ môn văn hóa có trong thời gian biểu đã quy định Các hoạt động THBD phục vụ chính trị hầu hết gắn liền với các sự kiện văn hóa chính trị, chính vì vậy để QL tốt các hoạt động THBD này cần xác định rõ những nội dung quản lý sau:
- Quản lý kế hoạch
Dựa trên kế hoạch của các đơn vị phối hợp gửi về trường, CBQL xác định rõ nội dung chương trình, thời gian, địa điểm tham gia hoạt động biểu diễn, từ đó lên kế hoạch chi tiết về nội dung - chủ đề, khung chương trình, nhân
sự tham gia, kế hoạch tập luyện và hợp luyện, kế hoạch biểu diễn Đối với các chương trình phục vụ chính trị chủ yếu mang tính chất thời vụ, thời gian chuẩn
bị ngắn, vì vậy kế hoạch lập ra càng cần phải chi tiết, tỉ mỉ; phân công công việc cụ thể đối với từng đối tượng tham gia Việc xây dựng kế hoạch cho các chương trình biểu diễn phục vụ chính trị phải gắn liền với kế hoạch đào tạo, tức
là vẫn phải đảm bảo tiến độ đào tạo chuyên môn diễn ra theo đúng kế hoạch: lập kế hoạch tập luyện, hợp luyện tránh trùng với các giờ dạy và học trên lớp
Trang 35của GV và SV; lên kế hoạch học bù cho các tiết học bị trùng giờ hợp luyện hay biểu diễn Thông qua kế hoạch với các cấp có thẩm quyền (Ban giám hiệu)
- Quản lý việc tổ chức thực hiện và chỉ đạo, giám sát quá tình thực hiện
kế hoạch
Các CBQL triển khai nội dung kế hoạch vào thực tế, ban hành các văn bản thông báo kế hoạch chi tiết đến các đơn vị có liên quan; kiểm soát việc thực hiện kế hoạch tập luyện, hợp luyện để điều chỉnh khi cần thiết Kiểm soát
về quân số tham gia, ý thức chấp hành và tham gia tập luyện của từng cá nhân,
có nhận xét, đánh giá sau mỗi chương trình để làm cơ sở xếp loại đánh giá đối với từng cá nhân Sơ, tổng kết để rút kinh nghiệm cho các hoạt động tiếp theo
1.4.3 Phương pháp quản lý các hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật
Hoạt động THBD là hoạt động có tính khoa học và rất cụ thể, bản chất của nó là hoạt động tổ chức giáo dục con người Vì vậy quản lý các hoạt động THBD chỉ thực sự có hiệu quả khi người làm công tác QL phải biết sử dụng những phương pháp QL thích hợp Tính hiệu quả của QL phụ thuộc một phần vào việc lựa chọn đúng đắn và linh hoạt các biện pháp QL
1.4.3.1 Phương pháp Tâm lý - Giáo dục
Các nhà QL phải làm tốt công tác tư tưởng, động viên tinh thần chủ động, tích cực, tự giác, thuyết phục các đối tượng tham gia các hoạt động THBD (giảng viên và sinh viên) để họ có nhận thức đúng đắn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của hoạt động THBD để từ đó thực hiện có hiệu quả công việc
đã đề ra
Làm tốt công tác tư tưởng đối với các CBQL cấp dưới và các giảng viên
để họ nhận thức đúng và đủ về vai trò của các hoạt động THBD, nhiệm vụ cần làm, nhận biết được đầy đủ mục tiêu quản lý để từ đó có cách thức thực hiện phù hợp và có hiệu quả
Làm tốt công tác tư tưởng đối với sinh viên để sinh viên hiểu rõ được vai trò của các hoạt động THBD đối với việc rèn luyện và học tập chuyên
Trang 36ngành, từ đó có động cơ, thái độ học tập tích cực, đúng đắn, có ý thức tốt khi tham gia các hoạt động THBD, thông qua đó giúp nhà QL hoàn thành chức năng nhiệm vụ
Các phương pháp tâm lý - giáo dục là sự tác động đến đối tượng quản lý thông qua các quan hệ tâm lý, tư tưởng, tình cảm Các yếu tố tạo động cơ thúc đẩy con người làm việc hàm chứa các yếu tố: sự thành đạt, sự công nhận, khả năng thăng chức, sự thách thức, tinh thần trách nhiệm và khả năng phát triển Người quản lý nếu biết xây dựng, phát triển những động cơ này ở các thành viên của tổ chức của mình sẽ tạo lập sự say mê, phấn khởi, ý thức trách nhiệm, tinh thần sáng tạo đối với công việc, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục của nhà trường
1.4.3.2 Phương pháp tổ chức - hành chính
Nhà trường cần xây dựng hệ thống các văn bản quy định về việc thực hiện nội dung, chương trình, phương pháp, hình thức tổ chức hoạt động THBD, quy chế tham gia các hoạt động THBD, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ của từng đối tượng tham gia hoạt động
Phương pháp tổ chức - hành chính tạo ra sự thống nhất trong nhà trường
về thực hiện nội dung, chương trình THBD, xác lập trật tự kỷ cương trong tổ chức quản lý, giúp giải quyết các vấn đề đặt ra trong quản lý các hoạt động THBD một cách hiệu quả
1.4.3.3 Phương pháp kinh tế
Đây là phương pháp nhà QL lấy lợi ích kinh tế tạo động lực thúc đẩy các đối tượng tham gia hoạt động THBD hoạt động một cách tích cực, chủ động làm việc có hiệu quả, khuyến khích việc hoàn thành nhiệm vụ bằng lợi ích kinh
tế Phương pháp này là một sự cổ vũ về tinh thần, là sự thừa nhận của tập thể đối với kết quả lao động, phẩm chất và năng lực của mỗi người
Để thực hiện có hiệu quả phương pháp này trong quản lý các hoạt động THBD đòi hỏi nhà quản lý phải xây dựng được cơ chế chính sách trong nhà
Trang 37trường, quy chế thi đua khen thưởng đối với những cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc trong các hoạt động THBD cấp trường, cấp thành phố, cấp tỉnh, cấp quốc gia…
Các phương pháp kinh tế lấy lợi ích vật chất làm động lực thúc đẩy con người hành động Các lợi ích được phân phối theo nguyên tắc làm theo năng lực, hưởng theo lao động Người quản lý thực hiện các chức năng quản lý thông qua điều phối hợp lý quan hệ giữa lợi ích xã hội, tập thể và cá nhân, lợi ích giữa các cá nhân với nhau để tạo động lực cho mỗi cá nhân hoạt động chuyên tâm, mang lại hiệu quả cho hoạt động THBD
Phương pháp này kích thích mạnh con người tham gia vào vào hoạt động Tạo động lực cho giảng viên tích cực tổ chức hoạt động và kích thích sinh viên tích cực tham gia hoạt động
Tuy nhiên, nếu nhà quản lý thực hiện phương pháp này không khéo sẽ dẫn đến tình trạng không có lợi không làm
Thực tế công tác quản lý khẳng định không có phương pháp quản lý nào
là vạn năng Chính vì vậy để đạt hiệu quả cao trong quản lý, nhà QL cần sử dụng phối hợp các phương pháp nêu trên, tạo ra sự đồng thuận cao trong nhà trường Nhờ đó chất lượng giáo dục toàn diện của nhà trường được nâng lên
1.4.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật
Hiệu quả giáo dục, đào tạo của nhà trường nói chung phụ thuộc vào các yếu
tố chủ yếu: Đội ngũ giáo viên, công nhân viên; Cơ sở vật chất, thiết bị trường học; Trình độ được giáo dục của học sinh và Tổ chức quản lý trường học
Hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật là một hoạt động giáo dục trong giáo dục nghệ thuật chịu sự chi phối và tác động của các yếu tố sau đây:
1.4.4.1 Đặc điểm tâm lý và năng lực hoạt động nghệ thuật của sinh viên
Trang 38Để chất lượng giáo dục nhà trường đạt kết quả tốt, mọi hoạt động trong nhà trường đều phải xuất phát từ mục tiêu đào tạo song cũng cần phải chú ý đến tâm sinh lý của học sinh sinh viên, đặc điểm lứa tuổi để đưa ra những yêu cầu và nội dung phù hợp với khả năng tiếp thu của các em Bên cạnh những nguyên tắc, quy định bắt buộc, giáo dục nghệ thuật phải dựa trên những yếu tố tâm sinh lý, lứa tuổi học sinh và đặc thù môn học
Giáo dục nghệ thuật không quy định lứa tuổi cụ thể Đối với những hệ sơ cấp, trung cấp năng khiếu có thể tuyển các em nhỏ ở lứa tuổi thiếu nhi, thiếu niên Vì vậy các hoạt động thực hành biểu diễn cũng cần phải chú ý phù hợp với lứa tuổi của từng đối tượng khả năng của người học; tránh những yêu cầu, đòi hỏi quá cao hay không phù hợp với khả năng của từng đối tượng (ví dụ một người chuyên theo dòng nhạc dân gian bắt buộc trình bày một tác phẩm thể loại nhạc thính phòng hay nhạc nhẹ, người học ở lứa tuổi nhỏ bắt buộc phải thực hiện các kĩ thuật khó dành cho người lớn…), khi không đạt được mục tiêu sẽ gây thất vọng, lo lắng cho cả người dạy và người học
Khác với các môn học khác, giáo dục nghệ thuật không mang tính chất
gò ép, khô cứng Người học khi tham gia vào quá trình giáo dục nghệ thuật với hứng thú học tập, tự giác sẽ phát huy được tính năng động, sáng tạo và thúc đẩy khả năng cảm thụ âm nhạc vốn có được phát triển hoàn thiện Việc quản lý các hoạt động thực hành biểu diễn của người học trong khuôn khổ nhà trường cũng
có những điểm khác biệt Đối với những buổi thực hành biểu diễn yêu cầu người học chuẩn chỉnh trong tác phong làm việc (thực hiện theo quy định chung về giờ giấc, ăn mặc, nói năng và lắng nghe sự chỉ đạo của người quản lý), tuy nhiên không nhất thiết ép buộc các em phải đứng im, ngay ngắn, chăm chú, nghiêm nghị, như vậy sẽ tạo áp lực, tâm lý căng thẳng cho người học khiến cho hoạt động biểu diễn không đạt kết quả tốt Tham gia các hoạt động thực hành biểu diễn có thể là “học mà chơi, chơi mà học”, khi tâm lý người biểu diễn thoải mái, khả năng tự tin trước đám đông và khả năng trình diễn tác phẩm sẽ đạt hiệu quả cao hơn Đối với các hoạt động giáo dục khác trong nhà trường, người học ở trên lớp đa phần bị ràng buộc bởi những kỷ luật, nội quy chặt chẽ của nhà
Trang 39trường, còn trong giờ thực hành biểu diễn, các em được khích lệ, được thể hiện mình trước công chúng, được phát huy khả năng, sở trường của bản thân
1.4.4.2 Cơ sở vật chất
Quá trình giáo dục và dạy học được cấu thành bởi nhiều thành tố có liên quan chặt chẽ và tương tác với nhau Các thành tố đó là: mục tiêu, nội dung, phương pháp, giáo viên, học sinh và phương tiện (cơ sở vật chất-kỹ thuật) Các yếu tố cơ bản này giúp thực hiện quá trình giáo dục và dạy học
Cơ sở vật chất thiết bị trường học là những hệ thống các phương tiện vật chất và kỹ thuật khác nhau được sử dụng để phục vụ việc giáo dục và đào tạo toàn diện học sinh trong nhà trường; là những đồ vật, những của cải vật chất và khung cảnh tự nhiên xung quanh nhà trường Đối với hoạt động THBD của sinh viên nghệ thuật, cơ sở vật chất đóng một vai trò hết sức quan trọng trong công tác tổ chức và quản lý các hoạt động THBD đó
Hoạt động THBD là hoạt động trình diễn các tiết mục nghệ thuật gắn liền với sân khấu, vì vậy yêu cầu đảm bảo chất lượng của sàn sân khấu, hệ thống âm thanh, ánh sáng là các yếu tố rất cần thiết để tiến hành một hoạt động biểu diễn nghệ thuật bất kỳ Bên cạnh đó, yếu tố đạo cụ, phục trang cũng
là thành tố quan trọng không thể thiếu Để tiến hành tổ chức một hoạt động biểu diễn, cần tổ chức luyện tập, vì vậy hệ thống phòng tập với đầy đủ các thiết
bị phục vụ cho hoạt động thực hành biểu diễn như sàn tập, gương, đàn piano, gióng múa, phòng thay trang phục, hệ thống âm thanh (đầu đĩa, loa máy, ) là không thể thiếu đối với các hoạt động THBD
Hệ thống các cơ sở vật chất đảm bảo đủ yêu cầu sẽ giúp cho hoạt động luyện tập diễn ra có hiệu quả, chất lượng các hoạt động thực hành biểu diễn tốt, nâng cao hiệu quả giáo dục
1.4.4.3 Năng lực quản lý, tổ chức của CBQL
Hoạt động thực hành biểu diễn nói riêng và hoạt động giáo dục nói chung chịu sự ảnh hưởng nhiều của các đổi thay trong xã hội Xã hội ngày càng phát triển, chính sự thay đổi từng ngày ấy của xã hội kéo theo yêu cầu của xã
Trang 40hội đối với ngành giáo dục cũng có nhiều biến chuyển; đòi hỏi việc thay đổi cả
về nhận thức của con người và cách thức quản lý trong giáo dục
Người hiệu trưởng phải là người tìm kiếm và tạo ra sự thích ứng đối với
sự thay đổi, phải có sự giác ngộ sâu sắc về chính trị, về đường lối giáo dục XHCN; có những chủ trương chính sách, đường lối giáo dục phù hợp với nhu cầu của xã hội Hiệu trưởng cần phát huy quyền lãnh đạo của mình trong quá trình đưa những yếu tố mới vào công việc giảng dạy
Hoạt động thực hành biểu diễn nói riêng và hoạt động giáo dục nói chung chịu sự ảnh hưởng nhiều của các đổi thay trong xã hội Xã hội ngày càng phát triển, chính sự thay đổi từng ngày ấy của xã hội kéo theo yêu cầu của xã hội đối với ngành giáo dục cũng có nhiều biến chuyển; đòi hỏi việc thay đổi cả
về nhận thức của con người và cách thức quản lý trong giáo dục Người hiệu trưởng chính là người đề ra các văn bản quy chế, quy định, chính sách của nhà trường về THBD; tổ chức thực hiện những chủ trương, chính sách, đường lối thông qua việc lựa chọn nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức phù hợp; điển hình là phê duyệt mọi khâu trong quản lý khi có kế hoạch, mạnh dạn đầu
tư thiết bị dạy học và phục vụ cho việc đổi mới phương pháp giảng dạy
Đối với hoạt động thực hành biểu diễn của sinh viên nghệ thuật, người hiệu trưởng nắm mục tiêu thông qua trưởng khoa chuyên môn, tổ trưởng bộ môn và các giáo viên bộ môn Mục tiêu của hoạt động thực hành biểu diễn nghệ thuật đặt ra dựa vào kết quả của năm học trước, chương trình đào tạo, thực tế đội ngũ giảng viên và sinh viên
1.4.4.4 Năng lực và thái độ của GV đối với công tác giảng dạy
Với quan điểm “Lấy người học làm trung tâm”, Vai trò người thầy của giảng viên khi đứng trên bục giảng được nói đến như “nhân vật trung tâm của quá trình dạy học” , bởi quá trình dạy học cũng giống như một tác phẩm điện ảnh, được xây dựng bởi những nhân tố như: nhà biên kịch, đạo diễn, diễn viên Trong đó, giảng viên kiêm rất nhiều nhiệm vụ, vừa là nhà biên kịch, vừa
là đạo diễn, và là diễn viên thể hiện tốt vai trò nhân vật trung tâm mà mình phải