Trong quan hệ trao đổi, hình thái giá trị của tiền tệ được biểu hiện qua 4 hình thái chủ yếu:... Sự ra đời của Tiền tệ tt- Hình thái thứ ba: Hình thái giá trị chung: Giá trị chung của
Trang 1CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ
TIỀN TỆ
Trang 2NGUỒN GỐC VÀ BẢN CHẤT CỦA TIỀN TỆ
1 Sự ra đời của Tiền tệ:
Tiền tệ là một phạm trù kinh tế khách quan, tiền tệ ra đời và phát triển gắn liền với sự
ra đời và phát triển của nền kinh tế hàng hoá.
Trong quan hệ trao đổi, hình thái giá trị
của tiền tệ được biểu hiện qua 4 hình thái chủ yếu:
Trang 31 Sự ra đời của Tiền tệ (tt)
đơn hay ngẫu nhiên: Giá trị (tương đối)
của một vật được biểu hiện ở giá trị của một vật khác duy nhất đóng vai trò vật
ngang giá.
hay mở rộng: Giá trị của một vật không
phải được biểu hiện ở giá trị sử dụng của hàng hoá khác có tác dụng làm vật ngang giá.
Trang 41 Sự ra đời của Tiền tệ (tt)
- Hình thái thứ ba: Hình thái giá trị chung: Giá trị
chung của tất cả các hàng hoá biểu hiện giá trị của mình ở một hàng hoá đóng vai trò vật ngang giá chung
- Hình thái thứ tư: Hình thái giá trị tiền tệ: Khi nền
sản xuất hàng hoá phát triển, theo đó lực lượng sản xuất phát triển, thị trường càng mở rộng thì tình trạng vật ngang giá chung trở nên gây khó khăn cho lưu thông trao đổi hàng hoá Từ đó
Trang 52 Bản chất của tiền tệ
Lịch sử phát triển tiền tệ đã chứng minh
rằng tiền tệ là sản phẩm của nền kinh tế
hàng hoá Suy cho cùng, về bản chất, tiền
tệ là vật ngang giá chung, làm phương
tiện để trao đổi hàng hoá, dịch vụ và thanh toán các khoản nợ
Trang 6II CHỨC NĂNG CỦA TIỀN TỆ
Là một phương tiện trao đổi, tiền tệ được sử dụng như một vật môi giới trung gian trong
việc trao đổi các hàng hoá, dịch vụ Đây là
chức năng đầu tiên của tiền tệ, nó phản ánh lý
do tại sao tiền tệ lại xuất hiện và tồn tại trong nền kinh tế hàng hoá
Vận động theo công thức: H-T-H
Trang 71 Phương tiện trao đổi (tt)
• Để thực hiện chức năng phương tiện trao đổi
tiền phải có những tiêu chuẩn nhất định:
- Được chấp nhận rộng rãi: nó phải được con
người chấp nhận rộng rãi trong lưu thông, bởi vì chỉ khi mọi người cùng chấp nhận nó thì người
có hàng hoá mới đồng ý đổi hàng hóa của mình lấy tiền;
- Dễ nhận biết: con người phải nhận biết nó dễ
dàng;
- Có thể chia nhỏ được: để tạo thuận lợi cho việc đổi giữa các hàng hoá có giá trị khác nhau;
Trang 81 Phương tiện trao đổi (tt)
- Dễ vận chuyển: tiền tệ phải đủ gọn nhẹ để dễ dàng trong việc trao đổi hàng hoá ở khoảng
cách xa;
- Không bị hư hỏng một cách nhanh chóng;
- Được tạo ra hàng loạt một cách dễ dàng: để số lượng của nó đủ dùng trong trao đổi;
- Có tính đồng nhất: các đồng tiền có cùng mệnh giá phải có sức mua ngang nhau
Khi mua bán xong thì hàng hóa sẽ rút khỏi lưu thông, còn tiền thì động lại trong lưu thông để tiếp tục lưu thông
Trang 92 Đơn vị đánh giá
• Chức năng thứ hai của tiền là một đơn vị đánh
giá, tức là tiền tệ được sử dụng làm đơn vị để
đo giá trị của các hàng hoá, dịch vụ trong nền kinh tế Qua việc thực hiện chức năng này, giá trị của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện ra bằng tiền, như việc đo khối kượng bằng kg, đo
độ dài bằng m…nhờ đó mà việc trao đổi hàng hoá được diễn ra thuận lợi hơn
Trang 102 Đơn vị đánh giá (tt)
mỗi hàng hoá sẽ được định giá bằng tất cả các hàng
hoá còn lại, và như vậy số lượng giá các mặt hàng trong nền kinh tế ngày nay sẽ nhiều đến mức người ta không còn thời gian cho việc tiêu dùng hàng hoá, do phần lớn thời gian đã dành cho việc đọc giá hàng hoá Khi giá của các hàng hoá, dịch vụ được biểu hiện bằng tiền, không những thuận tiện cho người bán hàng hóa mà việc đọc bảng giá cũng đơn giản hơn rất nhiều với chi phí thời
gian ít hơn sử dụng cho các giao dịch
VD: 1 USD = 0,818 gr vàng
1 Franc = 0,100 gr vàng
1 Yen = 0,00246853 gr vàng
Trang 113 Phương tiện dự trữ về mặt giá trị
• Là một phương tiện dự trữ giá trị, tiền tệ là nơi
cất giữ sức mua qua thời gian Khi người ta
nhận được thu nhập mà chưa muốn tiêu nó
hoặc chưa có điều kiện để chi tiêu ngay, tiền là một phương tiện để cho việc cất giữ sức mua trong những trường hợp này hoặc có thể người
ta giữ tiền chỉ đơn thuần là việc để lại của cải
Trang 123 Phương tiện dự trữ về mặt giá trị (tt)
phương tiện ngoài tiền như: Cổ phiếu, trái phiếu, đất đai, nhà cửa…, một số loại tài sản như vậy đem lại một mức lãi cao hơn cho người giữ hoặc có thể chống đỡ lại sự tăng cao về giá so với việc giữ tiền mặt Tuy nhiên người
ta vẫn giữ tiền với mục đích dự trữ giá trị bởi vì tiền có thể chuyển đổi một cách nhanh chóng ra các tài sản
khác, còn các tài sản khác nhiều khi đòi hỏi một chi phí giao dịch cao khi người ta muốn chuyển đổi nó sang
tiền Những điều đó cho thấy, tiền là một phương tiện dự trữ giá trị bên cạnh các loại tài sản khác
Trang 133 Phương tiện dự trữ về mặt giá trị (tt)
• Việc thực hiện chức năng phương tiện dự trữ
giá trị của tiền tốt đến đâu tuỳ thuộc vào sự ổn định của mức giá chung, do giá trị của tiền được xác định theo khối lượng hàng hoá mà nó có thể đổi được Khi mức giá tăng lên, giá trị của tiền
sẽ giảm đi và ngược lại Sự mất giá nhanh
chóng của tiền sẽ làm cho người ta ít muốn giữ
nó, điều này thường xảy ra khi lạm phát cao Vì vậy để tiền thực hiện tốt chức năng này, đòi hỏi sức mua của tiền phải ổn định
Trang 144 Phương tiện thanh toán
• Khi có mua bán chịu (gói đầu), tiền dùng để chi
trả sau khi công việc hoàn thành
+ Lợi: Tăng cường sự phù hợp giữa những người sản xuất và trao đổi hàng hóa
+ Hại: Dễ phát sinh vỡ nợ vì có tính chất dây
chuyền
Trang 155 Tiền tệ thế giới:
• Khi trao đổi hàng hóa vượt ra khỏi biên giới một
quốc gia và buôn bán giữa các nước hình thành thì chức năng này xuất hiện Tiền dùng làm
công cụ thanh toán quốc tế về các hoạt động
ngoại thương hay di chuyển của cải từ nước
này sang nước khác
Trang 16III SỰ PHÁT TRIỂN CÁC HÌNH THÁI TIỀN TỆ
của tiền tệ cho thấy tiền tệ đã trải qua
nhiều hình thái: hoá tệ, tiền kim loại, tiền giấy, tiền ghi sổ, tiền điện tử
Trang 171 Hoá tệ
trung gian trao đổi được gọi là hoá tệ.
của tiền tệ, hình thức tiền tệ thường được thể hiện như lông thú, da thú, vỏ ốc quý, chè, muối, lúa mì, bông, lụa,…
Trang 182 Tiền kim loại
• Xã hội càng phát triển, yêu cầu sản xuất trao đổi
hàng hoá ngày càng cao, hình thức hàng hoá - tiền tệ càng ngày không còn thuận tiện Cùng
với sự phân công lao động xã hội hình thức tiền
tệ chuyển dần sang các kim loại dưới dạng thỏi (tiền đúc) như vàng, bạc
Trang 193 Tiền giấy
• Trình độ sản xuất ngày càng phát triển, khối
lượng hàng hoá dịch vụ trao đổi ngày càng
nhiều Do vậy, theo thời gian giá trị của vàng lớn đến mức người ta khó có thể chia nhỏ ra để tiến hành những việc mua bán bình thường, nên tiền giấy xuất hiện để đáp ứng nhu cầu lưu thông
trao đổi hàng hoá
• Việc sử dụng tiền giấy đã trở thành phổ biến, do
tính thuận tiện của nó trong việc làm phương
tiện trao đổi hàng hoá Đó là:
Trang 203 Tiền giấy (tt)
• Dễ mang theo để làm phương tiện trao đổi hàng
hoá, thanh toán nợ
• Thuận tiện khi thực hiện chức năng phương tiện
dự trữ của cải dưới hình thức giá trị
• Giá trị lớn hay nhỏ được biểu hiện con số trên
mặt đồng tiền
• Những quy định nghiêm ngặt của Chính phủ,
tiền giấy có thể giữ được giá trị của nó
Trang 214 Tiền ghi sổ
ngân hàng (tiền gửi Séc) Đó là tiền do hệ thông NHTM tạo ra trong quá trình thực
hiện nghiệp vụ tín dụng.
động tuỳ thuộc vào sự phát triển kinh tế.
khoản
Trang 23IV CHẾ ĐỘ TIỀN TỆ VIỆT NAM
hình thức tổ chức lưu thông tiền tệ chủ
yếu là tiền giấy được Nhà nước Việt Nam quy định thành pháp luật.
Trang 241 Đơn vị tiền và tên gọi của đồng tiền
• Đơn vị tiền của Việt Nam là “đồng” “Đồng” là
tiêu chuẩn thước đo trong nền kinh tế Việt Nam
• 1 đồng = 100 xu = 10 hào.
• Tên gọi là đồng NHVN, ký hiệu quốc gia là “đ”,
ký hiệu quốc tế là “VND”
Trang 252 Các quy định về phát hành tiền giấy và tiền kim loại ở VN
Nam đã được sửa đổi bổ sung năm 2003)