Mỗi năm lượng hàng hóa lưu chuyển quacảng Sài Gòn khoảng 10 triệu tấn, chiếm 10% GDP của Thành phố Hồ Chí Minh.Ngày 22-2-1860, ở Sài Gòn đã bắt đầu có hoạt động xuất nhập khẩu các loại h
Trang 1Sài Gòn: Hỏi – Đáp
• Bưu cục đầu tiên của Việt Nam ở đâu?
Ngày 14-4-1859, đại tá hải quân Pháp D’Ariès thành lập tại Sài Gòn một bưu cục để liên lạc vớichính phủ Pháp và nhận chuyển một số thư từ của binh lính Pháp về nước Và đó cũng là bưucục đầu tiên ở nước ta
• Con tem đầu tiên ở Việt Nam ấn hành năm nào?
Năm 1863, chính quyền Pháp phát hành ở Sài Gòn con tem hình vuông, giá 0,1 đến 0,4 franc.Trên tem vẽ hình chim diều hâu, biểu tượng của hoàng đế Napoléon
• Người phụ nữ Sài Gòn đầu tiên được in hình lên tem năm nào?
Như chúng ta đã biết, năm 1863 ngành bưu hoa ở Nam Kỳ mới phát hành con tem đầu tiên,
hình vuông Theo nghiên cứu của ông Thái Văn Kiểm trong quyển Lịch sử bưu hoa Việt Nam
(Sài Gòn 1964) thì mãi đến năm 1920 mới phát hành loại tem có hình phụ nữ miền Nam, tóc búicao, giá 0,04 đồng
Trong cuốn Catalogue Thiaude - Timbres - Post ngoài bìa có ghi rõ: 24, rue du 4 - Septembre,
Paris 2e-Ric 14-27, trong mục về tem Indochine, tr 230 và 231 có in hình ba con tem vẽ phụ nữmiền Nam Con tem thứ nhất giá 1 cent là chân dung một phụ nữ hình nghiêng và con tem giá
40 cent vẽ chân dung trực diện, hai con tem này in năm 1907, rồi mãi đến năm 1919 mới có
con tem phụ nữ hình nghiêng giá 4 cent Theo tác giả Sài Gòn năm xưa, thì đó là hình của cô
Ba, con thầy thông Chánh
• Điện báo hoạt động lần đầu tiên năm nào?
Đường dây điện báo Sài Gòn - Biên Hòa dài 28km hoàn thành ngày 27-3-1863 là loại đườngdây hữu tuyến đầu tiên; có hai đoạn cáp ngầm qua sông Sài Gòn (ở Bình Triệu) và sông ĐồngNai (gần Biên Hòa) Ngày 17-4-1863, đường dây Sài Gòn - Chợ Lớn dài 7km cũng làm xong
Năm 1884, bắt đầu liên lạc Sài Gòn - Huế - Hà Nội bằng điện báo qua dây cáp ngầm Vũng Tàu
- Đồ Sơn
• Người Sài Gòn dùng điện thoại từ khi nào?
Năm 1878 bốn chiếc máy điện thoại đầu tiên theo kiểu Bell được mua từ Singapore về, đặtđường dây liên lạc giữa dinh Thống đốc với Sở Điện tín Sài Gòn Lúc bấy giờ chưa hình thành
hệ thống phục vụ công cộng Mãi tới ngày 1-7-1894 hệ thống điện thoại nội hạt ở Sài Gòn mớiđược lắp đặt, phục vụ cho dân chúng Sau đó phát triển nối liền với Chợ Lớn - Biên Hòa - BàRịa - Vũng Tàu
Năm sau (1895), hệ thống điện thoại ở Chợ Lớn cũng khai trương (tại Hà Nội hệ thống điệnthoại công cộng đến năm 1903 mới có) Tuy nhiên, chưa có hệ thống điện thoại tự động, mỗimáy thuê bao có một số Ở trung tâm điện thoại luôn luôn có nhân viên thường trực cắm phíchliên lạc giữa hai số máy theo yêu cầu
Đường dây điện thoại Đông Dương liên lạc giữa ba nước Việt Nam - Lào - Campuchia đượcđưa vào sử dụng năm 1889
Trang 2Mãi đến năm 1936 mới có điện thoại tự động đầu tiên Trên mỗi máy đều có một bộ phận đểquay hoặc bấm số Người Pháp đã mang điện thoại tự động 2.000 số, kiểu R6 lắp đặt, sử dụng
ở Sài Gòn Như vậy người dân Sài Gòn đã biết sử dụng điện thoại trên 100 năm
• Vài nét về bốn nhân vật trong “Tứ đại gia” của Sài Gòn xưa?
Dân gian còn lưu truyền câu “Nhất Sĩ, nhì Phương, tam Xường, tứ Định”
1 Sĩ là Lê Phát Sĩ, thuở nhỏ được các linh mục người Pháp cho đi học trường dòng Penang
(Mã Lai) Học xong, trở về nước, Sĩ không thành tu sĩ mà làm công chức cho chính quyềnPháp Sau đó Sĩ gia nhập làng Tây lấy tên là Philippe và làm việc tại Tân An (Long An) Trậnbão năm Giáp Thìn (1904) tàn phá miền Tây Nam Kỳ, người chết nhiều, ruộng ngập nước bỏhoang không ai cày cấy, Pháp đem bán rẻ, không ai có tiền mua Sĩ bỏ tiền ra mua vài chụcngàn mẫu tây Khi hưu trí Sĩ được Pháp phong cho chức “Huyện hàm” vì vậy người đời gọi làHuyện Sĩ Khi trở nên giàu có nhất vùng, Sĩ đã bỏ tiền ra xây nhà thờ họ đạo Chợ Đũi (gócđường Nguyễn Trãi - Tôn Thất Tùng, Quận 1) mà nhiều người hiện nay vẫn gọi là nhà thờHuyện Sĩ Con gái út của Sĩ là Lê Thị Bình lấy Nguyễn Hữu Hào sinh Nguyễn Hữu Thị Lan Lansau khi du học về lấy hoàng đế Bảo Đại và trở thành Nam Phương hoàng hậu
2 Phương là Đỗ Hữu Phương, gốc người Minh Hương, làm Tri phủ Chợ Lớn dần dần leo
lên tới chức Tổng đốc Phương biết chữ Hán, nói bập bẹ được tiếng Tây, trong nhà có treo câuđối hoành phi sơn son thếp vàng:
Đất Chợ Lớn có nhà họ Đỗ Đỗ một nhà: ngũ phúc tam đa
Y khoe năm con trai đều hiển đạt Tương truyền rằng, nhà thơ yêu nước Phan Văn Trị khi nghePhương thách đối, ông bèn đối lại rằng:
Cù lao Rồng có lũ thằng phung Phung một lũ: cửu trùng bát nhã
Phương đọc xong giận tím người, đỏ mặt tía tai nhưng cũng phục tài của ông Cử Trị Phươngcũng là người bỏ tiền ra xây trường Collège de Jeunes files Indigènes vào năm 1915 - mà dânSài Gòn thường gọi là trường Áo Tím (trường Nguyễn Thị Minh Khai hiện nay) Trước đây, tạiquận 5 có con đường mang tên Tổng đốc Phương, ngày 14- 8-1975 đổi lại thành đường ChâuVăn Liêm
3 Xường tên thật là Lý Tường Quan Vốn là người Minh Hương lánh nạn nhà Thanh sang
Nam kỳ, gia nhập Việt tịch, theo đạo công giáo Xường học trường thông ngôn ra làm việc chonhà nước Pháp Sau khi về hưu buôn bán thịt, xuất khẩu, đầu tư đất đai xây biệt thự trở nêngiàu có nhất trong vùng, dân chúng còn gọi là “bá hộ Xường” Sau khi chết tài sản để lại concháu tiêu xài phung phí hết
4 Định là Trần Hữu Định người Việt, gốc điền chủ ở Chợ Lớn, làm giàu bằng nghề mở tiệm
cầm đồ, kinh doanh đất đai, xuất nhập vải sợi Giàu lên nhanh chóng vì biết chụp thời cơ nhữnglúc hàng hóa khan hiếm Có biệt thự ở nhiều nơi Cũng như bá hộ Xường, danh xưng bá hộĐịnh là do dân Chợ Lớn thấy Định giàu có nứt đố đổ vách nên gọi như vậy Khi chết đi, concháu không biết giữ của đã tiêu xài xoá sạch vết tích của nhà triệu phú này
• Cảng biển lớn nhất Việt Nam?
Được xếp hàng thứ 8 trong số các cảng của nước Pháp, hàng thứ 3 trong số các cảng củathuộc địa Pháp (sau cảng Oran và cảng Alger, đều thuộc Algérie) và hàng thứ 12 trong số các
Trang 3quân cảng của Pháp về mặt trọng tải, cảng Sài Gòn đã từng có một vị trí trọng yếu đối với nềnkinh tế của Đông Dương Ngày nay, nó lại càng giữ vai trò đặc biệt, trở thành đầu mối giaothông quan trọng của Đông Nam Bộ với thế giới Mỗi năm lượng hàng hóa lưu chuyển quacảng Sài Gòn khoảng 10 triệu tấn, chiếm 10% GDP của Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 22-2-1860, ở Sài Gòn đã bắt đầu có hoạt động xuất nhập khẩu các loại hàng hóa do một
số tư sản người Hoa ở Singapore sang nhận thầu Một hệ thống cầu tàu bằng gỗ dài 1.800mtrên bờ sông Sài Gòn được xây dựng để bốc xếp hàng hóa, xuất khẩu lúa gạo
Tháng 2-1861, hãng vận tải Hoàng gia (Messageries Impérial) được chính phủ Pháp chỉ địnhphụ trách tuyến đường Viễn Đông đã quyết định xây dựng cơ sở ở Sài Gòn Hãng cử ngườisang khảo sát và tìm địa điểm xây dựng cảng Ngày 14-10-1861, kết quả được gửi về Pháp vàmột kế hoạch thực hiện được đề ra Ngày 31-12-1866, Doumergue, tổng đại diện của hãng đãlàm đơn xin lô đất ở góc đường Stratégique (nay là đường Lê Thánh Tôn và đường Nguyễn ThịMinh Khai) Ngày 5-2-1882, hãng lại xin thêm ba lô đất khác: một lô ở phía bắc của rạch ThịNghè, sát sông Sài Gòn; một lô ở bờ nam rạch Thị Nghè (khoảng Sở Thú ngày nay); một lô ởngã ba sông Sài Gòn với rạch Bến Nghé (cột cờ Thủ Ngữ)
Ngày 28-3-1862, Ginette, Tổng thanh tra của hãng xin đổi lô đất ở phía bắc rạch Thị Nghè lấy lôđất nhỏ hơn nhưng có vị trí thuận lợi hơn, là khu vực bến Nhà Rồng hiện nay Ngày 22-5-1862,Phó Đô đốc Bonard ký quyết định nhượng lô đất này cho hãng vận tải Hoàng gia Khoảng giữanăm 1862, hãng đã tiến hành xây dựng ngôi Nhà Rồng Ngày 15-8-1862, khánh thành hải đăngVũng Tàu Tiếp đó, việc lắp đặt đường dây điện tín Sài Gòn - Vũng Tàu và cột cờ Thủ Ngữ đểhướng dẫn tàu ra vào cảng Sài Gòn cũng được tiến hành
Ngày 23-11-1862, con tàu hơi nước của cảng đã khai trương tuyến đường biển Pháp - Sài Gòn.Đầu năm 1864, thương cảng Sài Gòn được hoàn thành, bao gồm ba công trình lớn Đầu tiên là
hệ thống cầu tàu gồm ba cầu bằng gỗ, mỗi cầu dài 50m, riêng cầu số 3 nằm về phía nam dài80m Kế đến là dãy nhà kho chứa hàng nằm trên bờ, dọc theo ba cầu dài 350m (kinh phí gần 3triệu franc trong khi dự trù chỉ có 1 triệu franc), từ ngã ba sông Sài Gòn - rạch Bến Nghé xuôi vềphía nam Riêng các xưởng thợ và kho đã phải lợp trên 18.000m2 mái ngói Sau cùng là trụ sởlàm việc của hãng vận tải Hoàng gia với tên gọi Hôtel des Messageries Impériales (Hôtel desMI)
Trụ sở chính của hãng vận tải Hoàng gia là Nhà Rồng, ngôi nhà có kiến trúc độc đáo, chủ yếu
là kiến trúc phương Tây, riêng phần mái mang dấu ấn kiến trúc Trung Hoa Toà nhà cao 3 tầng,hình chữ nhật, dài 35m, rộng 27m, mỗi tầng có hành lang rộng 4m chạy bao bọc xung quanh.Mái nhà lợp bằng ngói, tường sơn màu gạch đỏ Trên nóc nhà gắn hai con mắt rồng ghép bằngnhững mảnh sành nhiều màu đang uốn lượn, châu đầu vào nhau theo thế “lưỡng long chầunguyệt” Đến năm 1899, khi hãng Messageries Impériales đổi thành hãng MessageriesMaritimes thì hình mặt trăng được thay bằng phù hiệu của hãng: một vương miện hoàng hậu,một mỏ neo và một đầu ngựa Vương miện tượng trưng cho Hoàng gia, mỏ neo tượng trưngcho tàu biển, đầu ngựa tượng trưng cho vận tải trên bộ Hai con rồng quay đầu ra hai phía Vìthế, nhân dân Sài Gòn gọi là “Nhà Rồng” hay hãng Đầu Ngựa Người cai quản toà nhà này làmột quan năm người Pháp nên địa điểm này còn gọi là sở Ông Năm Ngày nay, trên nóc ngôinhà vẫn còn giữ lại bảng hiệu của hãng giống như trên ống khói của các tàu thuộc hãng MI
Trang 4Đến đầu thế kỷ XX, cảng Sài Gòn trở nên quá tải Năm 1902, hãng Chargeur Réunis (còn gọi làhãng Năm Sao) đầu tư xây dựng thêm một bến đậu (không xây dựng cầu tàu) nữa trên đoạnsông từ đường Paul Blanchy (đường Hai Bà Trưng nay) chạy về phía Arsenal de Saigon(xưởng Ba Son), dài 250m Hãng Chargeur Réunis được thành lập năm 1872 tại thành phốcảng Dunkerque ở miền bắc nước Pháp Năm 1902, hãng chính thức đăng ký chạy tuyếnDunkerque - Hải Phòng Tại Việt Nam, hãng có ba bến đỗ: Hải Phòng, Đà Nẵng và Sài Gòn.
Ngày 5-6-1911, tại bến Nhà Rồng, chàng trai Việt Nam tên Văn Ba (sau này là Hồ Chí Minh) đãlên tàu Amiral Latouche Tréville, ra đi tìm đường cứu nước
Năm 1911, cảng Sài Gòn chia làm hai cảng chính: quân cảng và thương cảng Quân cảng dài600m, từ xưởng Ba Son đến bến Primauguet (công trường Mê Linh nay) Thương cảng SàiGòn cũng dài 600m, từ bến Primauguet đến cầu Quay (xây 1904, nay là cầu Khánh Hội) BếnNhà Rồng ở bên kia rạch Bến Nghé là phần nối tiếp của thương cảng
Do nhu cầu vận chuyển hàng hóa, hành khách tăng cao nên chính phủ Pháp mở thêm bếnKhánh Hội vào năm 1912, mặc dù có quyết định xây dựng từ năm 1900 nhưng do hoàn cảnhcòn nhiều khó khăn nên đến năm 1912 mới hoàn thành Bến Khánh Hội được hoàn thành,thương cảng Sài Gòn kéo dài đến ngã ba Kinh Tẻ (cầu Tân Thuận nay) Bến tàu dài 1.100m, từNhà Rồng đến đồn Nam (pháo đài Hữu Bình dưới thời Nguyễn), đủ chỗ cho 9 chiếc tàu lớnđậu, mỗi chiếc dài 120m Các kho hàng được dựng cách bờ sông 15m, tổng cộng là 24.225m2,
16 phao nổi được đặt làm chỗ cho tàu đậu tạm cả hai bên Khánh Hội và Thủ Thiêm
Tháng 6-1922, chính thức sát nhập giang cảng Chợ Lớn với thương cảng Sài Gòn do sự thôngthương thuận tiện qua ngõ kinh Tẻ, tạo thành một hệ thống đường thủy và cửa khẩu hoànchỉnh để đẩy mạnh xuất khẩu gạo được quy tụ từ các tỉnh Nam Kỳ về Chợ Lớn Tại Chợ Lớn,giang cảng dài trên 4.250m, có bể sửa tàu Lanessan, cơ sở đóng ghe thuyền quan trọng
Theo Annuaire des Etats Associés (1953), cảng Sài Gòn (không kể quân cảng 537,02m), gồm
ba phần:
- Hải cảng Sài Gòn dài 4.000m nằm ở hữu ngạn sông Sài Gòn, từ ranh giới quân cảng (bến đòThủ Thiêm đầu đường Hai Bà Trưng), cũng chia làm ba đoạn Từ ranh giới quân cảng đến vàmrạch Bến Nghé (đường Tôn Đức Thắng nay), có ba cầu tàu dài 81m, 64m và 43m cho tàu chạyđường sông Từ rạch Bến Nghé đến kinh Tẻ (dọc đường Nguyễn Tất Thành), có hai bến: bếnNhà Rồng (ba cầu tàu, dài 380m) và bến Khánh Hội (9 cầu tàu, dài 1.032m) Trên sông có 21phao neo tàu (5 phao bên phải và 16 phao bên trái)
- Hải cảng Nhà Bè: nằm trên sông Nhà Bè, cách Sài Gòn 16km, dành cho các tàu chở hàng dễcháy nổ, gồm năm cầu tàu cho tàu dầu và ba phao neo tàu
- Giang cảng Sài Gòn-Chợ Lớn dài 26.500m, nằm trên các rạch Tàu Hũ, Lò Gốm, kinh Tẻ, kinhĐôi, có nhiều cầu tàu công và tư Kho hàng gồm 7.600m2 thuộc hãng Nhà Rồng, 34.200m2thuộc bến Khánh Hội, 36.000m2 thuộc bến Tân Thuận Đông (dành cho quân đội), tổng cộng là77.800m2.
Trang 5Từ sau năm 1954, quân cảng dài 2.000m với 11 cầu tàu; thương cảng dài gần 2.000m, có 14cầu tàu và 6 bến Khi Mỹ đổ quân vào miền Nam xây thêm 6 cảng mới dọc trên sông Sài Gòn -Nhà Bè để tăng khả năng tiếp nhận hàng quân sự.
Năm 1976, khi mới tiếp quản, cảng Sài Gòn có tổng diện tích 475.000m2 với 1.600m cầu tàu,
cơ sở vật chất nghèo nàn, cũ kỹ, khả năng bốc xếp chỉ hơn 1 triệu tấn hàng Đến tháng 4-2000,cảng Sài Gòn được nâng cấp hiện đại Ngày nay, cảng Sài Gòn đã trở thành cảng biển quốc tếlớn nhất miền Nam, một cụm cảng trọng điểm quốc gia, có diện tích 560.000m2, gồm 2.977mcầu tàu, 34 bến phao, 276.094m2 bãi chứa hàng và 75.050m2 các kho bảo quản hàng hóa.Cảng Sài Gòn đang tiếp tục củng cố để trở thành cảng biển hiện đại nhất Việt Nam, có tầm cỡkhu vực Đông Nam Á
Kể từ ngày 1-8-2002, cảng Cần Thơ được sáp nhập vào cảng Sài Gòn để loại bỏ sự cạnh tranhkhông cần thiết giữa hai cảng và khơi dậy tiềm năng, phát huy đúng mức vai trò của một khucảng đa dụng tại thành phố trung tâm đồng bằng sông Cửu Long
Năm 1992, cảng Sài Gòn được kết nạp là hội viên thường trực Hiệp hội Cảng biển quốc tế.Năm 1994 là thành viên Hiệp hội cảng biển Việt Nam, quan hệ hơp tác với cảng Osaka (Nhật),Trạm Giang (Trung Quốc) Năm 1996 là đại biểu thường xuyên tham gia hoạt động Hiệp hộiCảng biển các nước Đông Nam Á Đến năm 1999 đặt quan hệ hợp tác với cảng Los Angeles(Hoa Kỳ)
Ngay năm đầu tiên mở cảng (1860) đã có 111 tàu các nước châu Âu và 140 ghe thuyền TrungHoa với tải trọng 80.000 tonneaux cập bến Sài Gòn, xuất khẩu 60.000 tấn gạo đi Hồng Công vàSingapore Năm 1865 có 254 tàu buôn từ nhiều nước châu Âu cập cảng Sài Gòn, trong đó 92tàu của Pháp Từ 1-10-1865 đến 1-10-1866 đã có 348 tàu buôn các nước châu Âu, trong đó có
89 tàu Pháp (tải trọng 63.000 tonneau) và 119 tàu của Anh (tải trọng 44.627 tonneaux) cập bếnSài Gòn
Năm 1885, cảng Sài Gòn đã tiếp nhận tàu buôn của nhiều công ty, thuộc nhiều quốc tịch Ngoàitàu buôn của Pháp chiếm tỷ lệ quan trọng nhất, còn có các tàu của Anh, Đức, Mỹ, Hà Lan, Bỉ,
Na Uy
Năm 1904, tổng trọng tải tàu bè ra vào cảng Sài Gòn đạt 900.000 tấn Mười bốn năm sau(1918) con số này đã lên đến 2,6 triệu tấn Nếu tính thêm cả giang cảng Chợ Lớn thì đạt 5 triệutấn
Năm 1920, cảng Sài Gòn tiếp nhận 1.500 lượt tàu ra vào thuộc nhiều quốc tịch; mười năm sau(1930) tăng lên 1.800 lượt với trên 4 triệu tấn hàng hóa
Năm 1969, số lượng hàng hóa xuất nhập ở cảng Sài Gòn là 7.962.000 tấn với số tàu ra vào là6.245 chiếc Trong cuộc chiến tranh xâm lược Việt Nam (1954-1975), hơn 80% vũ khí, hànghóa, phương tiện chiến tranh của Mỹ được đưa vào Việt Nam bằng đường biển Trong số 3cảng (Cam Ranh, Đà Nẵng, Sài Gòn ) thì Sài Gòn giữ vị trí hàng đầu với trên 70% số hàng hóa,
vũ khí
Trang 6Năm 1976, cảng Sài Gòn chỉ mới bốc xếp 1,1 triệu tấn hàng Năm 1996 đã tăng lên 7,3 triệutấn Năm 2002, có 12 triệu tấn hàng thông qua cảng Sài Gòn.
Để phù hợp với quy hoạch phát triển Thành phố Hồ Chí Minh và vùng kinh tế trọng điểm phíaNam, hiện đã có dự án di dời cảng Sài Gòn, Tân Cảng và nhà máy Ba Son ra khu vực Cái Mép
- Thị Vải (Bà Rịa - Vũng Tàu) hoặc Gò Da (Cần Giờ) Gần 1,5 thế kỷ qua, thương cảng Sài Gòn
đã gắn liền với sự hình thành và phát triển của Thành phố Hồ Chí Minh, hoàn thành sứ mệnh là
cơ sở “hậu cần” của một đô thị dựa trên hoạt động thương mại chính là cảng
• Ở thành phố Hồ Chí Minh, quận nào có tên phường được đặt bằng chữ?
Hiện nay trong thành phố Hồ Chí Minh chỉ có 8 quận trên tổng số 19 quận có các tên phườngđặt bằng chữ Đó là các quận 1, 2, 7, 9, 12, Thủ Đức, Tân Phú và quận Bình Tân
Quận 1 gồm các phường: Bến Nghé, Bến Thành, Cầu Kho, Cầu Ông Lãnh, Cô Giang, Đa Kao,Nguyễn Cư Trinh, Nguyễn Thái Bình, Phạm Ngũ Lão, Tân Định
Quận 2 gồm các phường: An Khánh, An Phú, An Lợi Đông, Bình An, Bình Khánh, Bình TrưngĐông, Bình Trưng Tây, Cát Lái, Thạnh Mỹ Lợi, Thảo Điền, Thủ Thiêm
Quận 7 gồm các phường: Bình Thuận, Phú Mỹ, Phú Thuận, Tân Hưng, Tân Kiểng, Tân Phong,Tân Quy, Tân Phú, Tân Thuận Đông, Tân Thuận Tây
Quận 9 gồm các phường: Hiệp Phú, Long Bình, Long Thạnh Mỹ, Long Trường, Phú Hữu,Phước Bình, Phước Long A, Phước Long B, Tân Phú, Tăng Nhơn Phú A, Tăng Nhơn Phú B,Trường Thạnh
Quận 12 gồm: An Phú Đông, Đông Hưng Thuận, Hiệp Thành, Tân Chánh Hiệp, Tân Thới Hiệp,Tân Thới Nhất, Thạnh Lộc, Thạnh Xuân, Thới An, Trung Mỹ Tây
Quận Thủ Đức gồm các phường: Hiệp Bình Chánh, Hiệp Bình Phước, Bình Chiểu, Tam Bình,Bình Thọ, Truờng Thọ, Linh Đông, Linh Tây, Linh Trung, Linh Xuân, Linh Chiểu
Quận Tân Phú gồm các phường: Hiệp Tân, Hòa Thạnh, Phú Thạnh, Phú Thọ Hòa, Phú Trung,Sơn Kỳ, Tân Quý, Tân Sơn Nhì, Tân Thành, Tân Thới Hòa, Tây Thạnh
Quận Bình Tân: An Lạc, An Lạc A, Bình Hưng Hòa, Bình Hưng Hòa A, Bình Hưng Hòa B, BìnhTrị Đông, Bình Trị Đông A, Bình Trị Đông B, Tân Tạo, Tân Tạo A
• Đường Đồng Khởi là một trong những con đường xưa nhất của thành phố, bạn hãy cho biết con đường này có mấy lần đổi tên Vì sao?
Sau khi thực dân Pháp chiếm Sài Gòn, con đường này mang số 16, rồi đổi thành Catinat - tênmột Thống chế dưới thời Louis 14 Lúc đó đường dài từ bờ sông đến Hồ Con Rùa ngày nay Sau khi nhà thờ Đức Bà xây xong (1880) đường bị cắt ngang thành hai đoạn Từ 24-12-1897đoạn từ nhà thờ trở đi được gọi là đường Beanscube, đường Catinat chỉ còn 630m
Sau Cách mạng tháng Tám (1945) chính quyền cách mạng đổi tên Catinat thành Balê Công xã.Nhưng không bao lâu Pháp chiếm lại thành phố, đường trở lại tên cũ cho đến ngày đội quânviễn chinh buộc phải rời khỏi Việt Nam sau thảm bại ở Điện Biên Phủ
Năm 1955, chính quyền Sài Gòn đổi thành đường Tự Do
Bót Catinat khét tiếng thời thực dân ở ngay đầu đường được dùng làm trụ sở Bộ Nội vụ, nơi tratấn những người yêu nước Hiện nay nơi đây là trụ sở Sở Văn hóa Thông tin Tp.HCM
Thành phố giải phóng, đường được mang tên Đồng Khởi cho đến ngày nay Đây là một trongnhững con đường đẹp nhất thành phố với những tòa nhà lần lượt vươn lên tầm cao mới
• Có phải đường Nguyễn Huệ xưa từng là một con kênh? Ngôi chợ nào gắn liền với con kênh đó?
Trang 7Đường Nguyễn Huệ ngày nay từng là kênh đào lớn đi dọc theo hai con đường Charner vàRigault de Genouilly thông với thương cảng, kênh đào này phục vụ cho các vựa hàng của chợCharner vốn là một trong những chợ quan trọng nhất của thành phố.
Năm 1860, việc lấp kênh đào này đã phát sinh cuộc tranh cãi ngay giữa Hội đồng thành phố.Một nhóm người đấu tranh cho vệ sinh công cộng - họ xem kênh đào như một ổ nhiễm khuẩnthật sự ở cửa ngõ của thành phố Nhóm khác là những thương nhân ca ngợi tính hữu dụng củakênh đào Do đó, dự án lấp kênh đào lớn bị dời lại đến năm 1887 kinh đào mới bị lấp để xâydựng một đại lộ cùng tên “đường Kinh Lấp” nối liền tòa thị chính đến các bờ sông Ngày nay đó
là đại lộ Nguyễn Huệ
Chợ gắn liền với kênh Lớn là chợ Charner, được xây dựng năm 1860, các vựa hàng tạo nênchợ đầu tiên của thành phố Sài Gòn Hàng hóa được cung ứng từ con kênh đào lớn mở ra trênthương cảng Toàn bộ không gian chợ được chia làm ba vùng riêng biệt, đặt dưới sự kiểm soátcủa viên trị sự thương mại thành phố - người chịu trách nhiệm kiểm tra việc thu thuế môn bài vàviệc sử dụng hệ thống trọng lượng và đo lường của Pháp Sau khi lấp con kênh đào năm 1887,hoạt động của các vựa hàng dần dần ngừng hẳn, các vựa hàng này được thay thế bằng chợBến Thành xây dựng năm 1912
• Sao gọi là “Nhà Bè nước chảy chia hai”?
Sông Nhà Bè hình thành từ chỗ hợp lưu của sông Đồng Nai và sông Sài Gòn, cách trung tâmthành phố khoảng 5km về phía đông nam, rồi chảy ra biển Đông bằng hai ngả chính: ngả SoàiRạp dài 59km, rộng trung bình 2km, lòng sông cạn, tốc độ dòng chảy chậm; ngả Lòng Tàu đổ
ra vịnh Gành Rái, dài 56km, rộng trung bình 0,5km, lòng sông sâu, là đường thủy chính cho tàu
bè ra vào cảng Sài Gòn
• Về nguồn gốc tên gọi Củ Chi?
Huyện Củ Chi của thành phố Hồ Chí Minh: bắc và đông giáp tỉnh Bình Dương, tây giáp hai tỉnhTây Ninh và Long An, nam giáp huyện Hóc Môn Diện tích 428,6km2, dân số 248.044 người(1995) gồm có một thị trấn và 20 xã
Củ Chi trở thành địa danh hành chính từ năm 1956 Huyện Củ Chi vốn là hai quận Củ Chi (HậuNghĩa) và quận Phú Hòa (tỉnh Bình Dương) nhập lại Củ Chi là tên gọi dân gian của cây mã tiền
có nhiều ở vùng này vào thời đó Cây mã tiền, một loại cây ở rừng, leo bằng móc, lá mọc đối có
ba gân, hoa trắng, quả tròn, hạt dẹt như khuy áo, dùng làm thuốc
• Vì sao có tên gọi Thị Nghè?
Nhiêu Lộc - Thị Nghè là một trong ba tuyến sông tự nhiên cổ nhất (cùng với sông Sài Gòn vàsông Bến Nghé), ăn sâu vào lòng thành phố với nhiều chi lưu và đi qua các quận: 1, 3, 10, BìnhThạnh, Phú Nhuận, Tân Bình Toàn tuyến kênh chính có chiều dài 9.470m Mạng lưới kênhrạch chằng chịt đã đóng vai trò quan trọng trong việc tưới tiêu và giao thông vận tải
Rạch Thị Nghè bắt nguồn từ Bàu Cát (quận Tân Bình nay), chảy qua kênh Nhiêu Lộc, rồi đổ rasông Sài Gòn chỗ nhà máy đóng tàu Ba Son Khúc ngọn này mang tên Nhiêu Lộc, xưa gọi làHậu Giang, nơi Nguyễn Ánh thường chọn làm nơi đóng binh trước khi đánh Sài Gòn Con rạchchính từ cầu Nguyễn Văn Trỗi đến sông Sài Gòn dài 4,5km, tuy ngắn nhưng quan trọng, có giátrị như một hào hố thiên nhiên, bao quanh thành phố Sài Gòn lúc bấy giờ
Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí đã miêu tả về con sông này: “Sông Bình Trị tục
gọi sông Bà Nghè ở địa phận tổng Bình Trị về phía bắc trấn, từ sông Tân Bình quanh sau trấn
lỵ đến cầu Ngang, ngược dòng lên tây độ 4 dặm rưỡi đến cầu Cao Miên (cầu Bông), chảy về
Trang 8tây bắc độ 2 dặm đến chợ Chiểu (chợ Bà Chiểu nay), chảy về phía nam độ 4 dặm đến PhúNhuận, 6 dặm rưỡi đến cầu Huệ là cùng nguyên, nơi đây có những ao vũng tản mạn”.
Người Pháp gọi đây là rạch Avalanche, tên chiếc pháo hạm đầu tiên vào thám sát rạch ThịNghè vào một ngày trước khi mở màn trận đánh thành Gia Định vào năm 1859, vì thành Phụngnằm sát bờ sông Thị Nghè
Bà Nghè, Mụ Nghè, Thị Nghè là những danh xưng thân mật và kính trọng gọi bà Nguyễn ThịKhánh, con gái đầu của quan Khâm sai Chánh thống Vân Trường Hầu Nguyễn Cửu Vân
Trương Vĩnh Ký trong sách Souvenirs historique sur Saigon et ses environs (1885) lại ghi là
Nguyễn Thị Canh vì phiên âm Latinh từ chữ Khánh
Trịnh Hoài Đức cũng ghi chép về nhân vật này: “Có chồng là thư ký mỗ, nên người đương thờigọi là Bà Nghè mà không xưng tên Sở dĩ có tên ấy là do khi đầu bà khai hoang đất ở, bắc cầungang qua để tiện việc đi lại, nên dân gọi là cầu Bà Nghè, cũng gọi sông ấy là sông Bà Nghè
(Gia Định thành thông chí).
Đại Nam quấc âm tự vị của Huỳnh Tịnh Của thì chú: “Trên cầu qua làng Phú Mỹ, ở gần thành
cũ Gia Định, lấy trước một bà làm nên cây cầu ấy mà đặt”
Thái Văn Kiểm cũng gọi là “rạch Thị Nghè” hay “rạch Bà Nghè” (Đất Việt trời Nam)
Huỳnh Minh trong Gia Định xưa và nay chép: “Dân chúng địa phương gọi là Bà Nghè theo chức
tước của chồng bà là một vị quan văn trong Phiên trấn”
Theo Lê Trung Hoa, vào đầu thế kỷ XIX về trước, địa danh này được gọi là Bà Nghè (Gia Định thành thông chí; Gia Định phú, bài 1) Từ giữa thế kỷ XIX về sau, địa danh này đổi thành Thị Nghè (Gia Định phú, bài 2; Đại Nam quấc âm tự vị), nhưng chưa rõ lý do đổi tên Năm 1714,
Nguyễn Cửu Vân chinh phục Chân Lạp Năm đó ông khoảng 30 tuổi và cô Khánh khoảng 10tuổi Đến khoảng năm 1725, cô Khánh lập gia đình và bắt đầu khẩn hoang, xây cầu Theo ông,
có thể đoán định địa danh này ra đời trong khoảng thời gian 1725-1750 (Địa danh ở thành phố
Hồ Chí Minh) Riêng Vương Hồng Sển cho rằng: “ gọi cầu và sông Bà Nghè, hưng các quan không chịu xưng hô như vậy và đổi lại là “cầu và sông hay rạch Thị Nghè” (Sài Gòn năm xưa).
Kiến giải này là hợp lý, vì nó biểu thị sự kính trọng của người dân đối với một phụ nữ có công
• Các địa danh mang tên động vật ở thành phố Hồ Chí Minh?
Theo số liệu sưu tập, trên địa bàn thành phố, từ thế kỷ XVII đến nay, có 153 địa danh mang tênđộng vật Trong đó có 89 địa danh chỉ sông rạch
Có khoảng 50 loài động vật khác nhau đã đi vào địa danh thành phố: chợ Chuồng Bò (quận 10), rạch Đĩa, rạch Cá Trê, rạch Cá Tra (Nhà Bè), Bàu Cò, rạch Kiến Vàng (Bình Chánh), rạch Tôm Càng, mũi Gành Rái, rạch Gành Hàu (Cần Giờ)
Mặt khác, qua địa danh, ta biết được trước đây đã có một số cầm thú ở địa bàn này, nay không
còn hoặc rất hiếm: Hố Bò (bò rừng, Củ Chi), rạch Gò Công (Thủ Đức), ấp Bàu Nai (Hóc Môn), mũi Nai và sông vịnh Sấu và giồng Sấu (Cần Giờ), ấp Bàu Trăng, rạch Bàu Trăng (Củ Chi), rạch Tượng, vàm Tượng, cù lao Tượng (Cần Giờ), rạch Voi (Nhà Bè), xóm Đồng Voi (Bình
Chánh)
Có 13 địa danh có từ tố cá tập trung ở Nhà Bè và Cần Giờ: rạch Cá Cấm, doi Cá Bông, rạch
Cá Cúm, tắt Cá Đôi, sông Cá Gâu, rạch Cá Ngay Bé, rạch Cá Ngay Lớn, rạch Cá Ngang, rạch
Cá Nháp, sông Cá Nháp, rạch Cá Nháp Lớn, rạch Cá Nháp Bé.
• Các địa danh mang tên cây cỏ ở thành phố Hồ Chí Minh?
Trên địa bàn thành phố, trong ba thế kỷ qua, có tất cả 271 địa danh mang tên cây cỏ Trong sốnày có khoảng 132 địa danh chỉ sông rạch
Tất cả có gần 100 loại cây cỏ khác nhau đã đi vào tên địa danh
Trang 9Ga Hàng Sao (quận 1), chợ Vườn Chuối (quận 3), cầu Dừa (quận 4), chợ Bàu Sen (quận 5), cầu Cây Gõ (quận 6), đường Cây Sung (quận 8), Vườn Lài (quận 10), Đầm Sen (quận 11), cầu Kiệu (quận Phú Nhuận), gò Dầu (quận Tân Phú), rạch Cầu Sơn, chợ Cây Thị (quận Bình Thạnh), Vườn Trầu (huyện Hóc Môn), Bưng Tre (huyện Củ Chi), rạch Chà Là (huyện Cần Giờ), bến đò Cây Bàng (huyện Thủ Đức), rạch Mương Chuối (huyện Nhà Bè), cầu Bàu Môn (huyện
Bình Chánh)
Có một số tên cây ở miền Bắc và miền Trung cũng có, nhưng người Nam Bộ gọi một cách
khác: củ chi - mã tiền (huyện Củ Chi), điều - đào lộn hột (Vườn Điều - quận Tân Bình; Bàu Điều, huyện Củ Chi), điệp - phượng (hẻm Cây Điệp, quận 1; cầu Cây Điệp, huyện Củ Chi) Một số cây khác là đặc sản Nam Bộ: thai thai: tên một loại bắp (cầu Thai Thai, huyện Củ Chi); thiền liền: tên một loại ngải thấp (rạch Thiền Liền, huyện Cần Giờ); nhum: tên một loại cây giống cây cau (rạch Nhum, huyện Hóc Môn); quao: một giống cây lá có chất nhuộm màu đen (gò Quao, huyện Cần Giờ; rạch Quao, huyện Thủ Đức); trôm: loại cây to, lá giống lá gòn (giồng Trôm, huyện Cần Giờ); bàng: một loại cỏ bộng ruột (rạch Bàng ở các huyện Thủ Đức, Nhà Bè, Cần Giờ); bần: loại cây to mọc ven sông rạch (Hố Bần, quận 8; rạch Bần Bộng, huyện Nhà Bè); cám: loại cây lớn, trái có phấn nhám như cám (rạch Cây Cám, quận 1); cui: giống cây to, lá đơn một phiến, cứng và giòn (xóm Cui, rạch Cui, quận 8); chiếc: thứ cây thấp mà lớn lá, hay mọc hai bên mé sông, có thể ăn như các loại rau (cầu Rạch Chiếc, quận 9); ráng: tên một số cây cỏ (rạch Ráng, huyện Cần Giờ), sộp: loại cây to, lá xanh đậm, mọc chùm dày, đọt trắng (ấp Cây Sộp, huyện Củ Chi); trĩ: một loại cây sác, nhỏ và dài (xóm Trĩ, quận 5); vắp: loại cây lim (Gò Vắp, bị nói chệch thành Gò Vấp).
Hai tên cây có nguồn gốc Khmer: cần duột (hay cần giuộc), tức cây chùm duột, do tiếng Khmer kamtuôt đọc thành (sông Cần Giuộc); tầm vông: một loại tre đặc ruột, do tiếng Khmer ping pong (bót Tầm Công, quận Phú Nhuận).
Rạch Cây Tri (huyện Bình Chánh) có lẽ gọi tắt của tên cây tri mẫu hay cây tri phong thảo.
• Những đặc sản nổi tiếng của Sài Gòn - Gia Định?
Nói đến những đặc sản nổi tiếng của Sài Gòn - Gia Định, người ta hay nhắc đến: thuốc Gò Vấp;nem Bà Điểm, nem Thủ Đức; rượu đế, heo quay Hóc Môn, cá chìa vôi sông Nhà Bè; con hồ da
- Nem Thủ Đức - nem Bà Điểm:
Thủ Đức, Xuân Trường là hai địa danh của Gia Định gắn liền với nhau qua câu truyền tụng
“nem Thủ Đức, suối Xuân Trường” Nem là một món ăn chơi của người Việt chế biến, làm bằngthịt heo sống quết nhuyễn, rồi gia vị tiêu, tỏi, bột ngọt, rượu Absithe, Cognac đoạn gói với lớp
lá vông, lớp ngoài thì gói bằng lá chuối hột, cột dây ràng chặt để chừng hai, ba ngày thì nemvừa chua là ăn được
Ngày xưa, ở Sài Gòn, Chợ Lớn, hay các tỉnh xa hơn nữa thường đến Thủ Đức ăn nem và tắmsuối Xuân Trường Nem ăn nhiều cách Để vậy ăn sống với tỏi, uống rượu, còn kỹ thì nướngcho chín, hoặc cắt nhỏ ra gói với rau sống bánh tráng
Trang 10- Rượu đế, heo quay Hóc Môn
Loại rượu này do người vùng Hóc Môn nấu toàn bằng chất nếp, ủ cho đúng ngày giờ để vôchõ, bên hông chõ kháp với một ống tre dưới có đặt một cái chai Khi đun lửa, nước cơm rượubốc hơi đọng lại chảy xuống ống tre, nhỏ từng giọt vào chai Rượu đế Hóc Môn nấu nguyênchất, có mùi thơm, bọt nhiều, uống không gắt, có hậu ngọt, nổi tiếng khắp xa gần
Heo quay Hóc Môn nổi tiếng không đâu sánh bằng Người Hóc Môn quay heo rất chuyênnghiệp, heo chín đều, chỗ nào cũng vàng, không nứt, chặt ra thịt dính với da giòn rụm, mùithơm ngon nhờ hương vị ướp khéo
- Cá chìa vôi sông Nhà Bè
Ở sông Nhà Bè - Gia Định có loại cá mình dẹp màu vàng, giống loại cá chim, trên lưng có một
kỳ chĩa lên giống cái chìa vôi, nên người ta gọi là cá chìa vôi Thịt cá này rất dai, giòn, làm racác món nhậu rất hấp dẫn Có thể hấp lên ăn với bánh tráng, rau sống, làm gỏi, nấu cháo, thịtrất ngọt ăn không ngán
- Con hồ da tử
Hồ da tử chính là con đuôn chà là Đuôn chà là ngày xưa ở vùng rừng sác miệt Cần Giờ,Quảng Xuyên nổi tiếng ngon, được triều đình Huế chú ý Hàng năm đến mùa đông các quantrấn thủ Gia Định ra lệnh cho quan địa phương bắt đem thượng tiến cho nhà vua
Đuôn chà là bắt đem về ngâm nước muối cho sạch, rút ruột dồn đậu phộng, lăn bột chiên bơvàng cặp với rau thơm nhậu rất hấp dẫn và có nhiều chất bổ
• Trịnh Hoài Đức đã từng nhận xét về người dân Sài Gòn như thế nào?
Trịnh Hoài Đức (1765-1825) là một nhà văn hóa lớn của đất Gia Định xưa, là quan đại thần
triều Nguyễn nổi tiếng thanh liêm và hay chữ Tác phẩm Gia Định thành thông chí là một tài liệu
quý báu cho chúng ta khi tìm hiểu Sài Gòn - Gia Định xưa Về người dân nơi đây, ông nhận xét:
“Đất Gia Định rộng lớn, phì nhiêu, sản xuất đủ mọi sản phẩm, dân cư phong phú, không baogiờ lâm vào cảnh thiếu ăn thiếu mặc Người Gia Định quen ăn tiêu phung phí, trong miền GiaĐịnh rất ít có người giàu có, vì cớ không ai chịu dành dụm để làm giàu cả
Nhân dân ở đây khinh rẻ tiền của, nhưng rất mộ công lý Đàn bà thì yểu điệu và phần nào cónhan sắc Từ Bắc chí Nam họ có tiếng là đẹp hơn cả Họ phần nhiều thọ hơn đàn ông Nhữngngười cao tuổi phần nhiều vẫn tráng kiện
Người Gia Định rất thuần hậu với khách lạ Khi có người lạ tới nhà, chủ bao giờ cũng mời ăntrầu, uống trà và sau cùng dùng cơm Mà bữa cơm đãi khách bao giờ cũng thịnh soạn, bất luậnkhách thân hay sơ, hay chỉ là một người lạ mặt Miễn là khách lạ đến chơi nhà, là chủ nhà âncần tiếp đãi Vì thế cho nên một người viễn phương tới đây rất ít khi phải lo ăn Tuy nhiênphong tục thuần túy này vẫn có một điểm không hay: bọn vô lại, bất lương, vô gia cư hầu nhưđược mọi người ủng hộ, khuyến khích thành ra chúng càng ngày càng tệ nhũng
Các nhà Nho ở Gia Định có tiếng là hay chữ”
Xin có một nhận xét nhỏ về ý kiến của Trịnh Hoài Đức, người dân Sài Gòn - Gia Định hiếukhách bởi lẽ nơi đây thời xưa đồng ruộng phì nhiêu, sông nhiều tôm cá Hơn nữa họ vốn làngười từ miền ngoài xiêu tán vào lập nghiệp nơi vùng đất mới, do đó, đối với người đồnghương từ phương xa đến, họ rất quý
• Bạn có biết về tính cách của người Sài Gòn?
Trong tác phẩm Nguyễn Đình Chiểu - đạo làm người (Sở VHTT Long An, 1983), giáo sư Trần
Văn Giàu đề cập đến lòng chung thủy của nhân vật rất Sài Gòn là Lục Vân Tiên:
Trang 11“Lòng chung thủy trong tình duyên đôi lứa hẳn không phải là một tín điều cũ kỹ, hóa đá, một vậtcủa bảo tàng văn hóa phong tục thời trung cổ Trong cuộc kháng chiến dài 30 năm vừa qua,lòng chung thủy là một nét sinh hoạt xã hội đặc sắc của ngàn vạn cán bộ và nhân dân ta, vừalãng mạn, vừa cách mạng, nó vừa củng cố gia đình ở chất lượng mới, vừa hình thành một nétlớn của đạo đức chính trị dân tộc Vợ Nam chồng Bắc mà thủy chung với nhau thì cũng cónghĩa là tin tưởng sắt đá vào sự chiến thắng của chính nghĩa thống nhất nước nhà, cũng cónghĩa là không khi nào tuyệt vọng trước thế lực vô cùng to lớn của phản động quốc tế và quốcgia trong kế hoạch thâm độc của chúng chia cắt vĩnh viễn đất nước ta, và cũng có nghĩa là thềquyết đấu tranh đến toàn thắng Cha mẹ, chồng vợ, con cháu đều một lòng như vậy dù vượtqua gian khổ hết sức lâu dài Sau 20 năm ly biệt, các gia đình lại đoàn tụ, “Nam Bắc một nhà”.Vậy lòng chung thủy đâu phải đã lỗi thời, duy ở mỗi lúc nó biểu hiện những hình thái riêng biệt
Vả chăng, chung thủy không chỉ có trong tình duyên đôi lứa Vân Tiên chung thủy với NguyệtNga (chồng vợ) mà cũng chung thủy với tiểu đồng (thầy trò), với Hớn Minh (bạn bè), với NgưTiều (người ơn)
Đỗ trạng rồi, dẹp Phiên xong, Vân Tiên vinh quy bái tổ đi qua đất Đại Đề, nơi mình lâm nạn hồinào, nhớ đến chú tiểu đồng xấu số của mình, bèn truyền quân bày tế lễ Nhưng tiểu đồngkhông phải bị cọp ăn mà được cọp cứu, ba năm trung thành giữ mồ hoang! Hai thầy trò lại gặpnhau Tiểu đồng chung thủy Vân Tiên chung thủy Câu chuyện chung thủy này hẳn có thể làmsuy nghĩ những ai giàu thay bạn sang đổi vợ, những ai hiển đạt rồi quên ân nhân của mìnhthuở hoạn nạn, hàn vi, hạng người này cho đến nay đâu phải không còn?
Khỏi Đại Đề, tới Hàn Giang, quốc trạng Vân Tiên nhớ đến Ngư Tiều
Bạc vàng, châu báo (báu), áo quần
Trạng nguyên đem tạ đáp ân Ngư Tiều.
Lần này Ngư Tiều nhận của đền ân không từ chối như trước kia Hẳn là tác giả muốn cho phépVân Tiên thực hiện lòng chung thủy của mình
Đẹp thay lòng chung thủy! Gớm ghiếc thay tính bội bạc thay lòng
Còn một thứ thay lòng khác, phản bội lý tưởng, phản bội màu cờ, phản bội nước nhà, đổi bạnthành thù, xem thù là bạn: Bọn ấy đời nay nhan nhản ra đó thì lòng “chung thủy” đâu phải làchuyện lỗi thời? ”
Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng khi viết tổng luận trong bộ Địa chí văn hóa thành phố Hồ Chí Minh (Nxb thành phố Hồ Chí Minh, 1987) đã phân tích:
“Phát triển thường xuyên và đệm từng lúc các đợt đột xuất gây bất ngờ lớn đối với kẻ thù - đó
là nét đặc sắc của phong trào thành phố Sài Gòn là một trong những thành phố lớn mà sựđộng tịnh của phong trào bản thân ảnh hưởng sâu rộng đến toàn cục Cái vĩ đại của Sài Gònchính là ở chỗ nó vốn là sào huyệt của kẻ thù, nơi lực lượng kẻ thù bao giờ cũng áp đảo, lạithường trực bùng nổ các hành động đối kháng to lớn và rất mãnh liệt của quần chúng rõ ràng,cội nguồn góp phần quan trọng trong khí phách con người Thành phố Những người “thaphương cầu thực” lại thiết tha đặc biệt với nền độc lập dân tộc và toàn vẹn lãnh thổ Họ hiểurằng chế độ vua chúa bạc đãi họ, còn quê hương thì không bao giờ quên những hòn máu dùphiêu dạt tận đâu Trong những hoài bão lớn nhất của người Thành phố - và người Nam bộ -thống nhất quốc gia, sum họp đại gia đình dân tộc là hoài bão thiêng liêng Ngay một việc nhỏcũng mang ý sâu: dân lưu tán không dùng hàng thứ “Cả” để gọi con trưởng - mà gọi thứ hai - vìtheo một số nhà dân tộc học, thứ “Cả” dành cho miền quê tổ Bởi vậy, bọn thực dân cũ và mớiphạm một trong những sai lầm nghiêm trọng nhất là ngỡ rằng chúng hội đủ các tiền đề táchNam bộ, miền Nam ra khỏi cộng đồng quốc gia như chúng thành công ở nhiều nơi Chế độ trựctrị 85 năm dành cho Nam kỳ không ngăn nổi cuộc Cách mạng Tháng 8 tuyên cáo nước ViệtNam thống nhất Những người đấu tranh đổ máu chống cái quái thai “Nam kỳ quốc” năm 1946chính là cư dân Thành phố, cư dân Nam bộ Những người hiên ngang bảo vệ chủ nghĩa xã hội
ở miền Bắc, chống chia rẽ Bắc Nam qua cuộc di cư cưỡng bức ồ ạt 1954 cũng là cư dân Thànhphố, cư dân Nam bộ
Trang 12Cội nguồn được các nhân tố mới bồi dưỡng Dân lưu tán tự tổ chức lấy đời sống của mình, ýthức dân chủ cắm rễ như cây dừa cắm rễ trên nền phù sa màu mỡ giữa một không giankhoáng đạt Lễ giáo Khổng Mạnh rơi rớt dọc đường Nam tiến, phép nước còn lại ở tấm lòng đốivới quê cha đất tổ
Mọi cái đều cần sửa đổi cho thích hợp với điều kiện tạo lập cuộc sống mới, không do chiếu chỉnào cả mà tự dân bàn bạc, cam kết Tính năng nổ sáng tạo vốn là truyền thống thuở dựngnước một thời gian dài bị phong kiến triều đình và thực dân đế quốc chèn ép nay có cơ hộisống dậy, phát huy”
Và đây là ý kiến của nhà văn Sơn Nam về sở thích ăn uống (Chuyên đề: Tản mạn người Sài Gòn trong tác phẩm Sài Gòn- thành phố Hồ Chí Minh, 300 năm địa chính - Sở Địa chính, 1998):
“Trong bữa ăn, người Sài Gòn dầu mới đến cũng làm quen khá nhanh với những món hoang dã nhưng “sang trọng” Hồi xưa, ông bà đi khẩn hoang lo phá rừng, giết sấu dữ, rảnh rang đâu mà nuôi gà, nuôi heo nái để nhân giống? Lươn, rùa, ếch, rắn thêm chim đồng nội, chuột gặp con
gì ăn con nấy 12 con giáp: tý, sửu, dần, mẹo con gì cũng ăn, trừ con rồng, không ăn vì chưa gặp! Thức ăn phải dự trữ Thời xưa, nơi hẻo lánh, khó kiếm muối và cái hũ để bảo quản cá; dư
cá thì làm cá khô, làm mắm Mùa hạn, lúc trời sa mưa khó tìm cá vì đồng ruộng còn khô cạn, cá con chưa sinh sôi nảy nở, lắm khi tìm con mắm không ra Mắm ăn ngon vì con cá, thí dụ như cá lóc, chỉ tiết ra vị ngọt thâm trầm khi đã lên men Trịnh Hoài Đức trong Gia Định thành thông chí
đã nhấn mạnh việc người đất Gia Định thích ăn mắm, khi rảnh rang thì thách thức nhau ăn mắm, ai ăn được nhiều thì cử tọa tán thưởng, mặc dù bây giờ cá rất nhiều Mắm kho lấy nước
ăn với các loại rau rừng mà trước kia ông cha ta gặp đâu hái đó, nào đọt bần, trái bần chua, kèo nèo, bông súng, đọt ổi, đọt cây cơm nguội, đọt chiết, đọt vừng, rồi bày thêm nào là mào của dừa non, xoài rụng kể không hết Một bô lão mách rằng, trước khi ăn thứ rau lạ nên nếm thử, rau nào chát hoặc đắng là ăn được, bổ gan, trị bệnh kiết lị Còn như loại nào vị ngọt thì đừng
ăn, có thể bị ngộ độc Nói nghe hữu lý, nhưng chưa dám tin Ngày nay, món lẩu mắm bán giá cao ở các cửa hàng đặc sản tại Sài Gòn, hấp dẫn thực khách Lẩu là lô (cái lò, tiếng Quảng Đông) để mắm sôi lên, xem hợp vệ sinh Xắt thịt bò, cá basa bỏ vào mắm, dồi dào chất dinh dưỡng Ăn lẩu mắm vui thích vì quy tụ được bạn bè
Thú vui thuần vược bén mùi Giếng vàng thu đã rụng vài lá ngô Chạnh niềm nhớ cảnh giang hồ (Nguyễn Du) Đời nhà Tấn, có vị quan nhớ món ăn rau thuần và con cá vược mà hồi bé thơ ông đã ăn ở quê nhà, bèn xin nghỉ hưu lập tức về vườn
Người Sài Gòn cũng như phần lớn người ở phía Nam bề ngoài xem như bừa bãi nhưng giữ kỷ cương về ăn uống Món ăn lý tưởng vẫn là canh chua cá kho, canh chua phải chăng là món của người Khmer, cải biên lại Vị chua làm giải khát, giải cảm mạo Trời oi bức, húp chút canh chua
dễ nuốt cơm Cá kho còn gì ngon hơn, cá đồng kho với tinh chất của cá biển là nước mắm còn
dư để dành, nguội lạnh cũng ăn được Cúng ông bà vẫn là bốn món cơ bản như đồng bào ở đồng bằng sông Hồng, ngoài Bắc gọi giò, nem, ninh, mọc; ở Nam bộ là giò heo hầm măng tre,
cá và thịt kho nước dừa, thịt ba chỉ luộc, xắt mỏng (thịt phay) và món xào Tuyệt đối không cúng với thịt rừng Cúng thần thánh cũng lấy bốn món ấy làm căn bản, món khác như chả giò, nem chua, gỏi là phụ Đã là nhậu với bạn bè, cơ bản là một món đặc biệt thôi, như lẩu bò hoặc thịt vịt luộc, hoặc thịt chuột Nhiều món là lạc đề Vài người quê ở đồng bằng nhớ món của người Triều Châu như củ cải muối chiên trứng vịt hoặc con khô biển, lấy xương nấu với bắp chuối (kiểu Xiêm, gọi là Xiêm Lo) Chỉ khi nào ăn cơm tấm, mới dùng cái dĩa bàn, muỗng, nĩa (mô phỏng kiểu ăn Tây phương) Không cần dao lúc ăn
Ngày nay, vài món điểm tâm sáng đã định hình, mặc nhiên xem như thế mạnh của mọi miền: Phở Bắc, bún bò Huế, cơm tấm Sài Gòn, thêm hủ tiếu, bánh bao, xíu mại của người Hoa hoặc bánh mì dồn thịt, dồn chả lụa, hoặc cá hộp thịt xá xíu ”
• Người Sài Gòn xưa ăn Tết như thế nào?