1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

tổng quan về bán phá giá

22 664 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 22
Dung lượng 163 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BÁN PHÁ GIÁ1.1 Bán phá giá là gìTheo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, một sản phẩm được coi là bánphá giá nếu giá xuất khẩu thấp hơn mức giá có thể so sánh đượ

Trang 1

CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ BÁN PHÁ GIÁ1.1 Bán phá giá là gì

Theo Hiệp định chống bán phá giá của WTO, một sản phẩm được coi là bánphá giá nếu giá xuất khẩu thấp hơn mức giá có thể so sánh được của sản phẩm tương

tự trong nước theo các điều kiện buôn bán thông thường Theo khái niệm như vậy thì

có thể xem xét việc đánh thuế chống bán phá giá đối với hàng xuất khẩu của một nướcđến một quốc gia nội địa nếu xét thấy:

- Giá xuất khẩu thấp hơn giá bán hàng hoá đó ở thị trường nội địa

- Giá xuất khẩu thấp hơn chi phí sản xuất

- Giá xuất khẩu sang nước tiến hành điều tra chống bán phá giá thấp hơn giáxuất khẩu hàng hoá đó sang thị trường một nước khác

Trong trường hợp hàng nhập khẩu từ các nước không có nền kinh tế thị trường

mở, nước nhập khẩu có thể lấy mức giá của nước thứ ba để so sánh khi xác định xemđánh thuế chống bán phá giá hay không

Các quy định về chống bán phá giá của EU căn bản là giống như của WTO, chỉkhác biệt về hai điểm: (l ) biện pháp cưỡng chế và (2) các quy định bên trong của EU.Các quy định của EU rất ngặt nghèo, chẳng hạn bên kiện phải là ngành công nghiệphoặc một nhóm nhà sản xuất bị thiệt hại do hành vi bán phá giá, phải đưa ra đủ bằngchứng chứng minh tổng các thiệt hại này lớn hơn 25% cả ngành, và mức độ bán phágiá của hàng nhập khẩu của từng nước bị kiện phải lớn hơn 2% thị phần

Luật chống bán phá giá của Mỹ thì quy định hành vi chống phá giá là:

- Bán một món hàng xuất ra nước ngoài mà giá thấp hơn giá đang thịnh hành ởthị trường trong nước Đây là biểu hiện của sự việc được gọi là sự kỳ thị giá cả trên thịtrường quốc tế

- Bán một món hàng mà giá thấp hơn giá thành của chính nó, tức là hoàn toànkhông có khả năng thu hồi chi phí sản xuất

Như vậy, bán phá giá xảy ra khi các nhà xuất khẩu nước ngoài bán hàng hoácủa họ trên thị trường thế giới ở mức giá thấp hơn mức giá tại thị trường nội địa của họhay họ bán các sản phẩm với giá thấp hơn chi phí sản xuất

Các nước được phép phạt đối với việc bán phá giá tương đương với phần phágiá biên nếu xác định được thông qua quá trình thanh tra, việc bán phá giá làm tổn hạiđến những nhà sản xuất nội địa cùng với chủng loại sản phẩm đó Thuế chống bán phá

Trang 2

giá được áp dụng đối với các nhà xuất khẩu một sản phẩm cụ thể từ một quốc gia cụthể khi xét thấy có khuynh hướng giảm mức giá của hàng hoá thấp hơn giá trị thôngthường, từ đó ước lượng những thiệt hại đã bị gây ra bởi bán phá giá đối với các ngànhsản xuất nội địa của nước nhập khẩu Thuế chống bán phá giá áp dụng cho nhà sảnxuất sản phẩm đã được bán phá giá và căn cứ vào nguồn gốc xuất xứ của sản phẩmchứ không áp dụng đối với nước thứ ba (trong trường hợp xuất khẩu qua trung gianmột nước thứ ba) và quá trình điều tra chỉ áp dụng cho nước xuất xứ Mặc dù bị thanhtra, kiểm soát và phạt do vi phạm Luật chống bán phá giá, các doanh nghiệp vẫn theođuổi chiến dịch này.

Ví dụ: lạc nhân của nước A bán tại thị trường nước A với giá (X) nhưng lạiđược xuất khẩu sang thị trường nước B với giá (Y) (Y<X) thì xảy ra hiện tượng bánphá giá đối với sản phẩm lạc nhân xuất khẩu từ A sang B

Khái niệm này khác với “bán phá giá” trong nội địa từng nước (vốn thường được hiểu

là hành vi bán hàng hoá với giá thấp hơn giá thành sản xuất của từng đơn vị sản phẩm)

1.2 Tại sao bán phá giá

Có nhiều nguyên nhân dẫn tới hiện tượng bán phá giá trong thương mại quốc tế.Nhiều trường hợp cố tình bán phá giá nhằm đạt được những lợi ích nhất định như:

 Bán phá giá để loại bỏ các đối thủ cạnh tranh trên thị trường nước NK từ đóchiếm thế độc quyền;

 Bán giá thấp tại thị trường nước NK để chiếm lĩnh thị phần;

 Bán giá thấp để thu ngoại tệ mạnh

Thực tiễn thương mại cho thấy có những lý do tối đa hoá lợi nhuận khiến mộtcông ty muốn thực hiện định giá phân biệt Ví dụ, một công ty sản xuất một triệu bậtlửa một năm bằng một nhà máy duy nhất với chỉ làm ca ban ngày Giả sử nó định ragiá bật lửa này trong thị trường nội địa 1 đồng một chiếc và lãi được 0,1 đồng/chiếc.Các biến phí (bao gồm nguyên vật liệu, lương công nhân, ) là 0,7 đồng/ chiếc và cácđịnh phí (khấu hao nhà máy, trang thiết bị, ) là 0,2 đồng/chiếc Nếu nhà máy bán hết

1 triệu bật lửa mỗi năm, lãi 0,1 đồng/chiếc thì rõ ràng đã bù đắp xong mọi định phí từdoanh thu bán hàng tại thị trường nội địa Bây giờ, công ty nảy ra ý tưởng có thể bánthêm bật lửa sang thị trường nước láng giềng với bất cứ giá nào cao hơn biến phí 0,7đồng/chiếc và thấp hơn 1 đồng 1/chiếc để kiếm thêm tiền lời Bây giờ nhà máy có thể

Trang 3

đã được trang trả xong từ việc bán 1 triệu chiếc bật lửa đầu tiên Nếu bán 0,5 triệu bậtlửa này sang thị trường nước láng giềng với giá 0,9 đồng/chiếc thì cũng làm tăng lợinhuận của công ty thêm 100.000 đồng Dĩ nhiên, việc bán sản phẩm ca đêm không ảnhhưởng tới giá bán của một triệu bật lửa ban đầu Điều này ít nhiều dẫn đến việc phânkhúc thị trường, nghĩa là phải tìm kiếm một thị trường khác hẳn với thị trường cangày Mặt khác, công ty phải đảm bảo rằng người mua ở thị trường mới không dễ gìchuyển hàng ngược lại thị trường thứ nhất (ví dụ định giá ở thị trường mới sao chochênh lệch giá không đủ bù đắp chi phí vận chuyển theo chiều ngược lại) Nếu không,giá bán của thị trướng thứ nhất sẽ bị ảnh hướng theo chiều hướng giảm

Đôi khi việc bán phá giá là việc bất đắc dĩ do nhà sản xuất, XK không bán đượchàng, sản xuất bị đình trệ, sản phẩm lưu kho lâu ngày có thể bị hỏng nên đành bántháo để thu hồi vốn Trong thương mại quốc tế, thuế chống bán phá giá có thể bị áp đặt

mà không quan tâm đến lý do vì sao nhà sản xuất bán phá giá Bán phá giá sang thịtrường nước ngoài thường bị coi là một hiện tượng tiêu cực do nó làm giảm khả năngcạnh tranh về giá và thị phần của sản phẩm nội địa của nước NK Tuy nhiên, bán phágiá có thể có tác động tích cực đối với nền kinh tế: người tiêu dùng được lợi vì giá rẻ;nếu hàng bị bán phá giá là nguyên liệu đầu vào của một ngành sản xuất khác, giánguyên liệu rẻ có thể tạo nên sự tăng trưởng nhất định của ngành đó,

Vì thế không phải mọi hành vi bán phá giá đều bị áp dụng biện pháp chống bánphá giá Theo quy định của WTO, các biện pháp chống bán phá giá chỉ được thực hiệntrong những hoàn cảnh nhất định và phải đáp ứng các điều kiện nhất định Cụ thể, cácbiện pháp chống bán phá giá chỉ được áp dụng khi xác định được đủ ba điều kiện sauđây:

- Hàng NK bị bán phá giá;

- Ngành sản xuất sản phẩm tương tự của nước NK bị thiệt hại đáng kể;

- Có mối quan hệ nhân quả giữa việc hàng NK bán phá giá và thiệt hại nói trên

1.2 Một số các tiêu chuẩn phổ biến để xác định việc bán phá giá

Sản phẩm tương tự: Về cơ bản, việc bán phá giá có liên quan đến vấn đề phânbiệt về giá giữa các thị trường Nói chung, bán phá giá nảy sinh khi một sản phẩmđược bán để xuất khẩu ở một nước giá thấp hơn giá sản phẩm này được bán ở trên thịtrướng nội địa Sự khác biệt giữa các giá này, tính theo tỷ lệ phần trăm trên giá xuấtkhẩu, được định nghĩa là biên phá giá (dumping margin) Nếu sản phẩm, trong trường

Trang 4

hợp được xuất khẩu có một sản phẩm tương tự được bán ở thị trường chính quốc thìgiá ngoài nhà máy của sản phẩm này khi được xuất khẩu hoặc được bán ở thị trườngchính quốc sẽ được so sánh để xác định biên phá giá Tuy vậy, nếu sản phẩm này khixuất khẩu không có sản phẩm hoàn toàn tương ứng về phương diện đặc điểm lý tính cóbán ở thị trường chính quốc thì phải cố gắng tìm ra sản phẩm nội địa được bán là sảnphẩm gần giống nhất đối với sản phẩm xuất khẩu này Sản phẩm giống nhau được bántrên thị trường chính quốc này mà có đặc điểm giống nhất với sản phẩm xuất khẩuđược gọi là ‘‘sản phẩm tương tự’‘ Giá của sản phẩm tương tự này, sau một số điềuchỉnh nhất định được gọi là ‘‘giá chuẩn’‘ và sẽ được dùng để đo lường xem liệu mộtsản phẩm xuất khẩu có phải được bán phá giá hay không

Phương thức tìm sản phẩm tương tự:

Khi sản phẩm xuất khẩu không có các sản phẩm đồng nhất được bán trên thịtrường chính quốc thì áp dụng các phương thức tìm ra sản phẩm tương tự nhất theo cácbước:

- Nhận dạng các đặc trưng quan trọng nhất của sản phẩm xuất khẩu được bán ởthị trường Hoa Kỳ và ở thị trường chính quốc( ví dụ như kích cỡ và các nét đặc trưngkhác)

- Xác định thứ tự ưu tiên của các đặc trưng này một cách nghiêm ngặt căn cứvào tầm quan trọng của chúng

- Chọn lựa các giới hạn hoặc phân loại thích hợp đối với mỗi thuộc tính phảnánh các phân nhóm thích hợp những thuộc tính được đo lường (ví dụ như các thông sốchủ yếu liên tục; các bộ phận cao, trung bình và thấp)

- Phân loại sản phẩm xuất khẩu này và mỗi sản phẩm trên thị trường chính quốccăn cứ vào tất cả các đặc trưng chỉ ra tính chất xứng hợp theo thứ bậc

- Căn cứ vào phương thức này mà nhận dạng và chọn lọc sản phẩm trên thịtrường chính quốc có tính chất xứng hợp gần nhất với sản phẩm xuất khẩu và loại ratất cả các sản phẩm trên thị trường chính quốc khác

Nhưng nếu không có sản phẩm tương tự được bán ở thị trường nước xuất khẩuthì sao? Vấn đề này được WTO quy định chi tiết như sau:

- Nếu không có sản phẩm tương tự được bán ở nước xuất khẩu

- Hoặc nếu việc bán trong nước này không cho phép có được sự so sánh hợp lý

Trang 5

- Hoặc nếu số lượng bán ra tại thị trường trong nước của nước xuất khẩu quánhỏ (thông thường, số lượng này được xem là đủ lớn, nếu chiếm từ 5% trở lên sốlượng bán sản phẩm đang xem xét tới nước nhập khẩu), thì giá bán tại thị trường trongnước ở mệnh đề kéo theo trên được thay bằng: thứ nhất, mức giá có thể so sánh đượccủa sản phẩm tương tự được xuất khẩu sang nước thứ ba thích hợp với điều kiện làmức giá có thể so sánh được này mang tính đại diện thông qua so sánh với chi phí sảnxuất tại nước xuất xứ hàng hoá tương tự; hoặc thứ hai, xác định thông qua so sánh vớichi phí sản xuất tại nước xuất xứ hàng hoá cộng thêm một khoản hợp lý chi phí quảntrị, bán hàng, các chi phí chung và một khoản lợi nhuận Trong trường hợp này, ta cóthể nhận xét rằng đã có một bước chuyển từ sự ‘‘phân biệt đối xử qua giá‘‘ sang quyếtđịnh xem hàng xuất khẩu có bị bán với ‘‘giá dưới chi phí’‘ hay không? Sau khi xemxét vấn đề này, khái niệm giá bán tại thị trường trong nước ở trên được hiểu tổng quátthành giá trị thông thường - đó là: giá bán tại thị trường trong nước, hoặc giá bán sangnước thứ ba, hoặc ‘‘mức chi phí suy định’‘.

Mệnh đề so sánh ở trên chỉ được xem xét trong một khoảng thời gian nhất định

- thông thường là một năm Như vậy vấn đề đặt ra tiếp theo là các mức giá trong thời

kỳ ấy được ấn định như thế nào?

Thông thường, việc xác định có bán phá giá hay không trong suốt giai đoạnxem xét hay điều tra sẽ dựa trên cơ sở:

- So sánh giữa giá trị thông thường bình quân gia quyền với bình quân giaquyền giá xuất khẩu có thể so sánh được

- Hoặc so sánh giá trị thông thường với giá xuất khẩu từng giao dịch

- Hoặc so sánh giá thị trường thông thường bình quân gia quyền với giá xuấtkhẩu từng giao dịch, nếu như các cơ quan có thẩm quyền (của nước nhập khẩu ) xácđịnh rằng cơ cấu giá xuất khẩu (của nước xuất khẩu) đối với những người mua nhậpkhẩu khác nhau, khu vực khác nhau và thời điểm khác nhau của nước nhập khẩu có sựchênh lệch đáng kể và khi có thể đưa ra giải thích về việc tại sao sự khác biệt nàykhông cho phép tính toán một cách đầy đủ khi so sánh bằng phương pháp sử dụngbình quân gia quyền

Khi so sánh giữa giá trị thông thường với giá xuất khẩu phải tiến hành ở cùng mộtkhâu của quá trình mua bán, thường là tại khâu xuất xưởng Vấn đề đặt ra liếp theo làvấn đề tỷ giá hối đoái khi so sánh Việc chuyển đổi đồng tiền, phải sử dụng tại thời

Trang 6

điểm bán hàng - có thể là ngày của hợp đồng, ngày của đơn mua hàng, ngày xác nhậnđơn đặt hàng hoặc ngày của hoá đơn Tuỳ theo ngày nào là ngày thực tế tạo lập nênđiều kiện bán hàng thực tế, với điều kiện là nếu ngoại tệ thu được từ việc bán hàngxuất khẩu được bán trên thị trường kỳ hạn thì tỷ giá trong việc bán ngoại hối kỳ hạn đó

sẽ được sử dụng Nếu không bán kỳ hạn, những biến động của tỷ giá hối đoái từ lúcbán hàng đến lúc thu tiền và bán ngoại tệ sẽ được bỏ qua trong quá trình điều tra

‘’Thị trường’’ và ‘‘phi thi trường‘‘: Nền kinh tế thị trường là nền kinh tế có môitrường kinh doanh tự do, giá cả tự do không phụ thuộc vào Nhà nước; trong khi cácnước không có nền kinh tế thị trường thì không được như vậy, nhà nước có những ảnhhưởng và bảo hộ nhất định Vì vậy chi phí sản xuất cho sản phẩm sẽ không là chi phíthực, không tính được giá thực tế

- Đối với nền kinh tế được thừa nhận là kinh tế thị trường (như trường hợp mớinhất là nước Nga vừa được Mỹ công nhận), các uỷ ban của Mỹ sẽ căn cứ vào nhữngchứng từ liên quan để tính giá thành một sản phẩm đang bị nghi vấn bán phá giá

- Đối với nền kinh tế chưa được Mỹ thừa nhận là nền kinh tế thị trường (nhưtrường hợp Việt Nam), các cơ quan điều tra có khuynh hướng cho rằng giá thành sảnphẩm là không thực vì chính phủ thường có chế độ trợ cấp cho sản phẩm trong nước

và xuất khẩu Do đó họ sẽ lấy giá thành sản phẩm hay chi phí sản xuất (của mặt hàngđang được điều tra) của một nước có nền kinh tế thị trường để áp đặt cho nước chưađược thừa nhận là có nền kinh tế thị trường Và thông thường các nước này sẽ bị ápdụng một mức đánh thuế cao hơn nếu bị chứng minh là bán phá giá

1.3 Tác động của bán phá giá.

Bản thân khái niệm đã chỉ ra rằng, tác động lớn nhất của bán phá giá là việc gây

ra tổn thất vật chất cho ngành sản xuất trong nước Tổn thất này rất lớn xét trên cả góc

độ vĩ mô và vi mô Trên góc độ vĩ mô, khi một ngành sản xuất bị đe dọa sẽ dẫn đếnviệc phá sản của nhiều doanh nghiệp thuộc ngành đó Kéo theo đó là tình trạng mấtviệc làm của công nhân và các tác động “lan chuyền” sang các ngành kinh tế khác.Trên góc độ vi mô, đối mặt với hiện tượng bán phá giá, doanh nghiệp sẽ bị mất thịtrường và mất lợi nhuận Đây thực sự là mối lo ngại không chỉ của các nước phát triển

mà của cả các nước đang phát triển, vì lợi thế so sánh của các nước luôn thay đổi vàcạnh tranh ngày càng trở nên gay gắt hơn trên thị trường quốc tế

Trang 7

CHƯƠNG II : CHÍNH SÁCH CHỐNG BÁN PHÁ GIÁ CỦA EU

2.1 Chính sách chống bán phá giá của EU

2.1.1 Quy định về chống bán phá giá của EU

Luật chống bán phá giá của Liên minh Châu Âu (EU) ra đời năm 1968 và đãđược sửa đổi và bổ sung nhiều lần chủ yếu nhằm đưa những nội dung mới của việcthực hiện Điều VI của Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch 1994 (Hiệp địnhChống bán phá giá 1994) vào luật của EU hiện nay

Luật chống bán phá giá áp dụng đối với tất cả các nước không phải là thànhviên EU Đối với các nước bị coi là chưa có nền kinh tế thị trường hoặc đang trong quátrình chuyển đổi, EU có thể áp dụng những điều khoản đặc biệt được quy định trongcác hiệp định ký giữa EU với các nước thứ 3

Luật sửa đổi năm 1996 đã đưa ra cơ sở pháp lý cho việc áp dụng các biện phápchống bán phá giá theo 4 điều kiện: (i) mặt hàng đó đang bị bán phá giá (giá bán thấphơn giá thương mại thông thường); (ii) ngành công nghiệp sản xuất mặt hàng đó đang

bị đe dọa hoặc đang bị tổn thương vật chất; (iii) có mối quan hệ nhân quả giữa hàngnhập khẩu đó và tổn thương vật chất của ngành công nghiệp của EU; và (iv) việc ápđặt các biện pháp chống bán phá giá là vì lợi ích của Cộng đồng

EU áp dụng luật chống bán phá giá đối với hàng nhập khẩu từ nước thứ ba, kể

cả các đối tác thương mại được hưởng ưu đãi, trừ các thành viên của khu vực kinh tếchâu Âu (EEA) trong một số lĩnh vực chịu sự chi phối trong khuôn khổ chính sáchcạnh tranh của EU

2.1.2 Trình tự của một vụ kiện chống bán phá giá

a-Nhận và phân tích đơn kiện:

Đầu tiên, phải có đơn kiện gửi đến Ủy ban châu Âu (EC), đơn này do cá nhân,pháp nhân hoặc hiệp hội đứng đơn thay mặt cho ngành công nghiệp tại khối EU bịthiệt hại do bán phá giá Bên nộp đơn kiện phải thỏa mãn hai quy tắc: tổng sản phẩmcủa những công ty đi kiện phải vượt 25% tổng sản lượng sản phẩm đó trong khối EU,

và tổng sản lượng của những công ty đi kiện phải chiếm hơn 50% tổng sản lượng củanhững công ty không kiện (trong EU) Trong đơn kiện phải có đầy đủ thông tin về sảnphẩm bị buộc tội bán phá giá, tên nước xuất xứ hay xuất khẩu có liên quan, danh sáchcác nhà xuất khẩu/nhà sản xuất và nhà nhập khẩu sản phẩm đó; thông tin về giá xuất

Trang 8

khẩu và giá bán nội địa của sản phẩm đó, mức độ thiệt hại của ngành công nghiệp dosản phẩm bán phá giá gây ra

EC sẽ xem xét đơn này trong 45 ngày, và sau khi thẩm định nếu thấy có đầy đủchứng cớ thì EC sẽ bắt đầu tiến hành điều tra vụ kiện Tuy nhiên EC sẽ bác đơn kiệnnếu sản phẩm bán phá giá vào EU chỉ chiếm dưới 1% (sản phẩm của một nước) hoặcdưới 3% thị phần tại EU (nếu là sản phẩm do nhiều nước cùng xuất vào EU)

b- Tiến hành điều tra:

Sau khi nhận đơn kiện, EC sẽ thông báo trên Công báo về vụ kiện: chỉ ra sảnphẩm, những nước liên quan, thông tin nhận được, nêu thời gian cho các bên liên quan(gồm bên thưa kiện, nhà xuất khẩu bị kiện và chính phủ nước liên quan) tự giới thiệu

về mình và cung cấp thông tin cho EC EC cũng sẽ gửi bảng câu hỏi (có kèm tờ khai

về quy chế nước có nền kinh tế thị trường) đến nhà xuất khẩu

Nội dung bảng câu hỏi này gồm thông tin về công ty, về sản phẩm đang bị điềutra, số liệu về hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh số bán sản phẩm trong nước vàxuất khẩu, giá thành sản xuất

Nhà xuất khẩu có 40 ngày để trả lời bảng này Sau khi nhận được bảng câu hỏi,

EC sẽ thẩm định thông tin và sẽ cử chuyên gia đến công ty xuất khẩu để xem xét thựcđịa, kiểm tra hồ sơ chứng từ, xem một vài giao dịch lớn… để so sánh thông tin thực tếvới thông tin đã nhận Từ những thông tin thu thập được, EC sẽ tính toán ra giá thànhsản xuất của sản phẩm, giá bán sản phẩm trong nước (bao gồm các chi phí sản xuất,khấu hao, lợi nhuận…), giá xuất khẩu (giá CIF) để xem có bán phá giá hay không vàtính ra mức độ phá giá

Nếu sản phẩm không bán trong nước hoặc bán trong nước nhưng chiếm sảnlượng ít hơn 5% thì EC sẽ so sánh với giá bán của một công ty tương tự Còn nếudoanh nghiệp tỏ ra bất hợp tác (từ chối tiếp cận, không cung cấp thông tin…) thì EC sẽban hành các phán quyết dựa trên các dữ liệu sẵn có

c- Quy chế dành cho nước có nền kinh tế thị trường

Thông thường, nếu nhà xuất khẩu bị kiện bán phá giá mà đang hoạt động ở mộtnước có nền kinh tế thị trường thì EC sẽ trực tiếp sang điều tra Nếu nhà xuất khẩu

Trang 9

thuộc nước không có nền kinh tế thị trường thì EC sẽ chọn một nước thứ ba có nềnkinh tế thị trường để tính toán mức giá của sản phẩm đó.

Hội đồng châu Âu đã ban hành quy định xác định 5 nước tuy chưa được côngnhận có nền kinh tế thị trường nhưng đã có các công ty hoạt động theo cơ chế thịtrường, là: Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Ukraine, Kazakhstan Như vậy, các doanhnghiệp tại nước này sẽ được EC trực tiếp sang điều tra nếu có kiện tụng bán phá giá

Việc xác minh cơ chế thị trường là nhằm chứng tỏ rằng công ty hoạt động theođúng các điều kiện của thị trường và hệ thống sổ sách tài chính của họ là minh bạch.Quy chế về kinh tế thị trường có vai trò quan trọng ở khâu áp thuế chống bán phá giá:nếu công ty thuộc nước có nền kinh tế thị trường thì từng công ty sẽ chịu mức thuếkhác nhau tùy thị phần/số lượng sản phẩm xuất vào EU, còn nếu thuộc nước có nềnkinh tế phi thị trường thì tất cả công ty của nước này sẽ chịu chung một mức thuế

Như vậy trình tự của một vụ kiện chống bán phá giá của EU có thể diễn giảibằng 10 bước cụ thể như sau :

Bước 1: Đơn kiện

Bước 2: Khởi xướng vụ điều tra

Bước 3: Điều tra sơ bộ (gửi-trả lời bảng hỏi, cung cấp các chứng cứ-lập luận,điều tra thực địa…)

Bước 4: Kết luận sơ bộ (có bán phá giá/bán hàng được trợ cấp gây thiệt hạikhông)

Bước 5: Biện pháp tạm thời (nếu có)

Bước 6: Tiếp tục điều tra (bổ sung chứng cứ, phiên điều trần, cam kết vềgiá/thỏa thuận đình chỉ…)

Bước 7: Kết luận chính thức

Bước 8: Công bố và thực thi thuế chống bán phá giá

Bước 9: Rà soát giữa kỳ/rà soát hành chính (hàng năm)

Bước 10: Rà soát cuối kỳ/hoàng hôn/ (sau 5 năm)

Trang 10

2.2 Các vụ kiện chống bán phá giá tại Việt Nam

2.2.1 Nguyên nhân dẫn tới các vụ kiện chống bán phá giá

Thứ nhất, Việt Nam đã áp dụng các biện pháp hỗ trợ DN thời kỳ khủng hoảng.Điều đó làm giá thành sản xuất sản phẩm xuất khẩu có giá thấp hơn Hơn nữa thịtrường Việt Nam lại gần các nước xuất khẩu là đối tượng của nhiều biện pháp phòng

vệ thương mại như Trung Quốc với 677 vụ kiện chống bán phá giá tính đến tháng6/2008, Đài Loan là 187 vụ, Thái Lan là 142 vụ, Indonesia là 145 vụ, Malaysia là 90

vụ Do đó khi mặt hàng xuất khẩu của một nước lân cận bị điều tra bán phá giá thì việcViệt Nam bị lôi vào các vụ kiện này là khó tránh khỏi

Thứ hai là xuất khẩu Việt Nam tăng nhanh trong những năm gần đây, khiến cácnước nhập khẩu phải tìm cách bảo hộ hàng hóa nội địa trước sản phẩm “made inVietnam”

Thứ ba là các mặt hàng xuất khẩu mũi nhọn của Việt Nam lại thuộc nhóm

“nguy cơ cao” trong các mặt hàng xuất khẩu dễ bị vướng vào các vụ kiện chống bánphá giá Hàng hoá hay bị kiện bán phá giá là hàng công nghiệp như giầy dép, xe đạp(phụ tùng xe đạp), đèn huỳnh quang, ống tuýt thép, vòng khuyên kim loại, Oxit kẽm,

Mì chính, Đĩa CD, Thép, Nhựa, Sợi vải , thủy sản như cá, tôm, nông sản như gạo,tỏi Trong năm tiếp theo, những mặt hàng như dệt may, đồ gỗ, thủ công mỹ nghệ,thép, đinh, ốc vít… là những nhóm mặt hàng có nguy cơ liệt vào danh sách bán phágiá cao nhất Ngoài ra, một số mặt hàng mới (mặc dù có kim ngạch xuất khẩu nhỏ)như hóa chất, sản phẩm cơ khí, điện, nhựa cũng có thể bị điều tra Những mặt hàngnày đều thuộc diện mặt hàng khai phá thị trường của Việt Nam nên chưa có kim ngạchlớn Một khi bị áp thuế chống bán phá giá trong thời kỳ 5 năm, rà soát từng năm vàcuối kỳ để xem gia hạn, thiệt hại đối với doanh nghiệp sẽ vô cùng dai dẳng Hiện tômđông lạnh của Việt Nam xuất sang Mỹ đang bị rà soát năm thứ 4, mặt hàng cá đang ràsoát cuối kỳ, và có khả năng bị áp thuế thêm 5 năm nữa

Thứ tư là thị trường EU mà Việt Nam xuất khẩu là là những thị trường rất khótính, đòi hỏi yêu cầu cao

Trang 11

2.2.2 Các vụ kiện chống bán phá giá tại Việt Nam

Trong thời gian qua, từ năm 1994 đến tháng 2 năm 2010, tổng số vụ kiệnthương mại đối với Việt Nam là 42 vụ trong đó các vụ kiện liên quan đến chống bánphá giá là 35 vụ Trong đó, điều đáng chú ý nhất là thị trường Liên minh châu Âu đãchiếm tới 10 vụ kiện chống bán phá giá và vụ lớn nhất là vụ kiện chống bán phá giágiày mũ da

Dưới đây là bảng thống kê các vụ kiện chống bán phá giá của EU đối với cácmặt hàng xuất khẩu của Việt Nam

Bảng 2.2.2 : Thống kê các vụ kiện chống bán phá giá của EU

mà Việt Nam có liên quan

STT Mặt hàng Nước kiện Thời gian khởi kiện

Ngày đăng: 03/07/2014, 13:29

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2.2.1 : Các ngành thư ờng bị tấn công (1999-2004) - tổng quan về bán phá giá
Bảng 2.2.1 Các ngành thư ờng bị tấn công (1999-2004) (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w