Lý thuyết trao đổi xã hội đã được giới thiệu trong những năm 1960 bởi George Homans. Sau khi Homans thành lập lý thuyết, nhiều lý thuyết như Richard Emerson, John Thibaut, Harold Kelley và Peter Blau tiếp tục viết về lý thuyết. John Thibaut và Harold Kelly tập trung nghiên cứu trong lý thuyết về các khái niệm tâm lý, nhóm nhị nguyên và nhỏ. Homans mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực này đã được tập trung vào các hành vi của các cá nhân khi tương tác với nhau. Ông tin rằng các đặc điểm như năng lượng, sự phù hợp, lãnh đạo, tình trạng và công bằng trong hành vi xã hội là rất quan trọng để giải thích trong lý thuyết. Mặc dù có những phương thức khác nhau trao đổi, Homans tập trung nghiên cứu của ông về cặp đôi ngoại tệ.Homans tóm tắt các hệ thống trong ba dự luật, thành công Dự luật kích thích kinh tế, Tướcsự thỏa mản. Dự luật thành công: khi người ta tìm thấy họ được thưởng cho những hành động của họ, họ có xu hướng lặp lại hành động kích thích Dự luậtPeter Blau tập trung các bài viết đầu tiên của ông trên lý thuyết trao đổi xã hội nhiều hơn đối với khía cạnh kinh tế và tiện dụng. Trong khi đó, Homans tập trung trên nguyên tắc tăng cường mà tin cơ sở di chuyển tiếp theo của các cá nhân trên kinh nghiệm trong quá khứ, tập trung thực dụng Blau của khuyến khích các nhà lý luận để nhìn về phía trước như những gì họ mong đợi phần thưởng sẽ là liên quan đến sự tương tác xã hội của họ tiếp theo. Blau cảm thấy rằng nếu cá nhân, tập trung quá nhiều vào các khái niệm tâm lý trong lý thuyết, họ sẽ không học tập các khía cạnh phát triển của xã hội trao đổi. Blau nhấn mạnh phân tích kinh tế kỹ thuật trong khi Homans tập trung nhiều vào tâm lý của hành vi cụ thể.
Trang 1I NGUỒN GỐC, XUẤT XỨ.
Lý thuyết trao đổi xã hội đã được giới thiệu trong những năm 1960 bởi George Homans Sau khi Homans thành lập lý thuyết, nhiều lý thuyết như Richard Emerson, John Thibaut, Harold Kelley và Peter Blau tiếp tục viết về lý thuyết John Thibaut và Harold Kelly tập trung nghiên cứu trong
lý thuyết về các khái niệm tâm lý, nhóm nhị nguyên và nhỏ Homans mối quan tâm hàng đầu trong lĩnh vực này đã được tập trung vào các hành vi của các cá nhân khi tương tác với nhau Ông tin rằng các đặc điểm như năng lượng, sự phù hợp, lãnh đạo, tình trạng và công bằng trong hành vi xã hội là rất quan trọng để giải thích trong lý thuyết Mặc dù có những phương thức khác nhau trao đổi, Homans tập trung nghiên cứu của ông về cặp đôi ngoại tệ
Homans tóm tắt các hệ thống trong ba dự luật, thành công Dự luật kích thích kinh tế, Tước-sự thỏa mản Dự luật thành công: khi người ta tìm thấy họ được thưởng cho những hành động của họ, họ có xu hướng lặp lại hành động kích thích Dự luật
Peter Blau tập trung các bài viết đầu tiên của ông trên lý thuyết trao đổi xã hội nhiều hơn đối với khía cạnh kinh tế và tiện dụng Trong khi đó, Homans tập trung trên nguyên tắc tăng cường mà tin cơ sở di chuyển tiếp theo của các cá nhân trên kinh nghiệm trong quá khứ, tập trung thực dụng Blau của khuyến khích các nhà lý luận để nhìn về phía trước như những gì
họ mong đợi phần thưởng sẽ là liên quan đến sự tương tác xã hội của họ tiếp theo Blau cảm thấy rằng nếu cá nhân, tập trung quá nhiều vào các khái niệm tâm lý trong lý thuyết, họ sẽ không học tập các khía cạnh phát triển
Trang 2của xã hội trao đổi Blau nhấn mạnh phân tích kinh tế kỹ thuật trong khi Homans tập trung nhiều vào tâm lý của hành vi cụ thể
Richard Emerson làm việc đầu tiên trên lý thuyết gắn bó với nhau với
cả hai ý tưởng của Homans và ý tưởng của Blau Từ ý tưởng của Homan, ông tin rằng Lý thuyết xã hội được dựa trên các nguyên tắc tăng cường Theo Emerson, trao đổi là không một lý thuyết nhưng khuôn khổ một mà từ
đó các giả thuyết khác có thể hội tụ và so thuyết chức năng cấu trúc của Emerson quan điểm là tương tự như của Blau kể từ khi cả hai đều tập trung trên các sức mạnh mối quan hệ đã có với quá trình trao đổi Emerson nói rằng Lý thuyết trao đổi xã hội là một phương pháp tiếp cận trong công tác
xã hội, được mô tả đơn giản như là một phân tích kinh tế các tình huống xã hội
Như vậy, lý thuyết Trao đổi xã hội có nguồn gốc từ sự kết hợp của tâm lý học, kinh tế học và xã hội học được vận dụng vào Công tác xã hội nhóm
II NỘI DUNG.
1 Lý thuyết này tập trung đến hành vi của mỗi cá nhân và sự công bằng của các thành viên trong nhóm
Xuất phát từ những học thuyết trò chơi, phân tích kinh tế , tâm lý động vật, các nhà lý thuyết trao đổi xã hội cho rằng khi người ta tương tác trong nhóm, mỗi người đều cố gắng hành xử để gia tăng tối đa sự khen thưởng và giảm thiểu tối đa sự trừng phạt Các thành viên trong nhóm bắt đầu tương tác vì những sự trao đổi xã hội này đem lại cho họ điều gì đó có
Trang 3giá trị, như sự tán thành chẳng hạn Theo các nhà lý thuyết trao đổi xã hội thì thường người ta không thể nhận được gì nếu người ta không cho, có một
sự trao đổi ngầm trong mọi mối quan hệ giữa con người
Xã hội được hiểu là mạng lưới các các quan hệ rao đổi giữa các cá nhân Nguyên tắc trao đổi là “ cùng có lơi”, vì vậy cá nhân phải cân nhắc ,
tính toán thiệt hơn để theo đuổi mục đích cá nhân Lý thuyết trao đổi
xã hội đề xuất rằng hành vi xã hội là kết quả của một quá trình trao đổi lợi ích giữa các cá nhân Lợi ích này không chỉ dừng lại ở các yếu tố vật chất
mà trong quan hệ xã hội nó còn có thể là sự cảm thông, chia sẻ, cảm giác được tôn trọng, tình yêu thương mà cá nhân nhận được
Mục đích mà mọi người hướng đến trong các mối quan hệ là: Tăng lợi ích, giảm chi phí/thiệt hại cho bản thân Thuyết cho rằng tất cả các mối quan hệ của con người được hình thành bởi sự phân tích giá cả lợi nhuận một cách chủ quan và có sự so sánh giữa các lựa chọn Vì thế, khi những rủi
ro lớn hơn những phần thưởng, con người sẽ chấm dứt hoặc từ bỏ mối quan
hệ Ví dụ, khi một người nhận thấy giá trị cái mình cho đi lớn hơn cái họ nhận được, thì người đó tức khắc sẽ quyết định từ bỏ mối quan hệ
Theo đó, chi phí/thiệt hại liên quan đến những điều được xem là ảnh hưởng xấu đến cá nhân như phải bỏ tiền, thời gian và nỗ lực vào một mối quan hệ Những lợi ích mà cá nhân nhận ra trong nhóm, mối quan hệ như niềm vui, tình bạn, sự đồng hành và hỗ trợ xã hội
Lý thuyết trao đổi xã hội cho thấy rằng về cơ bản chúng ta có những lợi ích và trừ đi các chi phí, thiệt hại để xác định có bao
Trang 4nhiêu mối quan hệ có giá trị Mối quan hệ tích cực là khi lợi ích lớn hơn chi phí, trong khi mối quan hệ tiêu cực xảy ra khi các chi phí lớn hơn lợi ích
Tuy nhiên, do kỳ vọng của mỗi cá nhân vào các mối quan hệ là khác nhau nên mức độ hài lòng của họ đối với kết quả cũng sẽ khác nhau Ví dụ, trong mối quan hệ tình yêu, có những người hài lòng với việc nhận được sự quan tâm, chăm sóc của đối phương, nhưng có người còn mong chờ ngoài
các yếu tố tinh thần sẽ có cả các phần thưởng "vật chất" khác như những món quà
Khi không hài lòng với các mối quan hệ, người ta sẽ từ bỏ nó và tìm đến "các lựa chọn thay thế" là những mối quan hệ khác hứa hẹn sẽ cho nhiều lợi ích hơn mối quan hệ hiện tại Càng có nhiều mối quan hệ thay thế,
cá nhân càng ít phụ thuộc vào mối quan hệ hiện tại Điều này có thể thấy rõ khi so sánh mức độ chủ động của phụ nữ ngày nay với phụ nữ trước đây trong việc đưa ra quyết định ly hôn, các lý do chủ yếu là vì phụ nữ ngày càng độc lập hơn về kinh tế và địa vị xã hội, họ có nhiều mối quan hệ xã hội
và dễ dàng hơn trong việc tái hôn so với trước đây
Trong lý thuyết trao đổi xã hội, hành vi nhóm được phân tích bằng cách quan sát cách mà những cá nhân thành viên tìm kiếm sự khen thưởng trong khi ứng phó với sự tương tác diễn ra trong nhóm Đối với một cá nhân trong một nhóm, quyết định diễn tả một hành vi dựa vào sự cân nhắc, so sánh giữa sự khen thưởng và trừng phạt có thể có từ hành vi đó Các thành viên trong nhóm cư xử để gia tăng những hiệu quả tích cực và làm giảm những kết quả tiêu cực
Trang 52 Lý thuyết trao đổi xã hội cũng nhấn mạnh đến cách mà các thành viên nhóm ảnh hưởng lẫn nhau trong các tương tác xã hội.
Lý thuyết trao đổi xã hội cũng nhấn mạnh đến cách mà các thành viên nhóm ảnh hưởng lẫn nhau trong các tương tác xã hội Kết quả của bất
kỳ sự tương tác xã hội nào cũng đều dựa trên quyền lực xã hội và sự lệ thuộc xã hội trong mối tương tác đặc biệt
Các cá nhân hành động tuân theo nguyên tắc trao đổi các giá trị vật chất và tinh thần như sự ủng hộ, tán thưởng hay danh dự Những người trao nhiều cho người khác có xu hướng được nhận lại nhiều lần, những người nhận nhiều từ người khác sẽ cảm thấy có sự tác động, hay áp lực từ phía họ Chính tác động của áp lực này giúp cho những người cho nhiều có thể được nhận lại nhiều từ phía những người mà họ đã được trao nhiều Người ta gọi
đó là sự cân bằng giữa chi phí và lợi ích
Có 4 nguyên tắc tương tác trong trao đổi xã hội như sau:
+ Nếu một hành vi được thưởng, hay có lợi thì hành vi đó có
xu hướng lặp lại
+ Hành vi được thưởng, được lợi trong hoàn cảnh nào thì cá nhân sẽ có xu hướng lặp lại hành vi đó trong hoàn cảnh tương tự
+ Nếu như phần thưởng, mối lợi đủ lớn thì cá nhân sẽ sẵn sàng
bỏ ra nhiều chi phí vật chất và tinh thần để đạt được nó
Trang 6+ Khi nhu cầu của các cá nhân gần như hoàn toàn được thoả mãn thị
họ ít cố gắng hơn trong việc nỗ lực tìm kiếm chúng
III LÝ THUYẾT TRAO ĐỔI XÃ HỘI VẬN DỤNG TRONG CÔNG TÁC XÃ HỘI NHÓM NHỮNG ƯU ĐIỂM VÀ HẠN CHẾ
1 Lý thuyết trao đổi xã hội vận dụng trong công tác xã hội nhóm
Trong công tác xã hội nhóm, lý thuyết này được sử dụng để làm việc với nhóm thanh, thiếu niên phạm pháp trong cơ sở, nhóm cấu trúc được sử dụng để đối đầu, thách thức, và xóa đi những quy chuẩn nhóm đồng đẳng chống xã hội và thay thế chúng bằng những quy chuẩn hỗ trợ xã hội thông qua sự tương tác nhóm đồng đẳng được hướng dẫn
Trong CTXH nhóm, lý thuyết trao đổi xã hội được sử dụng để giúp các thành viên cải thiện việc thực hiện chức năng xã hội của mình thông qua việc nhận biết và điều chỉnh khả năng hành động để tránh những hao tổn không cần thiết Khi nhận thức được sức mạnh lợi ích cá nhân trong các
cơ hội và hành vi mà thân chủ lựa chọn Nhân viên công tác xã hội sẽ tăng cường được tính chính xác trong việc đánh giá, do vậy sẽ tăng hiệu quả can thiệp
Việc nhận biết được lợi ích cá nhân của thân chủ sẽ giúp nhân viên
xã hội kết hợp với những phát hiện khác để phát triển và hình thành kế hoạch trợ giúp sau này tốt hơn
Trong công tác xã hội với gia đình, thuyết TĐXH được ứng dụng rộng rãi để giải thích lý do vì sao các cá nhân gắn kết với nhau trong mối quan hệ hôn nhân
Trang 7 Các quan điểm của thuyết trao đổi xã hội cũng giúp vận dụng
để điều chỉnh tương tác giữa các nhóm viên để đảm bảo mọi nhóm viên đều hài lòng với các mối quan hệ trong nhóm
Vì vây, khi tiến hành thực hành công tác xã hội nhóm, nhân viên xã hội phải:
Trước khi thành lập nhóm, cần có các đánh giá nhu cầu và mong muốn của nhóm viên để xem nó có phù hợp với nhóm không
Thiết lập mục tiêu chung rõ ràng, việc đạt được mục tiêu chung đồng thời phải giúp các nhóm viên thỏa mãn những lợi ích của mình, phải tìm được sự thống nhất giữa nhóm và cá nhân Muốn như vậy, ngoài việc xác định vấn đề và nhu cầu chung, nhân viên xã hội phải nhận diện được nhu cầu và động cơ riêng của từng cá nhân khi tham gia nhóm
Cần thiết phải xây dựng được hệ thống niềm tin và giá trị chung để các nhóm viên cùng chia sẻ Hệ thống niềm tin và giá trị này không chỉ giúp điều chỉnh tương tác cá nhân mà còn tạo ra một môi trường có ý nghĩa để các nhóm viên chia sẻ, từ đó làm tăng sự gắn kết nhóm
Làm rõ với các nhóm viên mục đích hoạt động của nhóm để thống nhất cách trao đổi
Cho các nhóm viên thấy rõ những lợi ích khi tham gia nhóm
Phân công công việc và lợi ích một cách rõ ràng, công bằng giữa các nhóm viên Đảm bảo nguyên tắc Lợi ích lớn hơn chi phí
Giai đoạn kết thúc: tạo cho nhóm viên những lựa chọn thay thế để giảm sự phụ thuộc vào nhóm
Trang 82 Những ưu điểm khi vận dụng lý thuyết trao đổi xã hội trong công tác xã hội nhóm.
Lý thuyết trao đổi xã hội trong công tác xã hội nhóm giúp các cá nhân nhận biết và điều chỉnh được khả năng hành động để tránh những hao tổn không cần thiết đi ngược lại quy luật xã hội Nếu cá nhân trong nhóm cảm thấy những lợi ích được đáp ứng trong nhóm thì hành động của cá nhân có xu hướng lặp lại theo chiều hướng tích cực Ngược lai, nếu cá nhân nhận thấy các lợi ích không đạt được thì các cá nhân đó sẽ quyết định thay đổi hành vi để phù hợp với nhóm hoặc cá nhân sẽ rời bỏ nhóm để đi tìm nhóm phù hợp với mình Rõ ràng, khi nhu cầu cá nhân được đáp ứng, cá nhân sẽ tham gia tích cực vào nhóm để đóng góp cho sự phát triển của nhóm và phục vụ lợi ích lâu dài của bản thân
Do kỳ vọng của mỗi cá nhân vào các mối quan hệ là khác nhau nên mức độ hài lòng của họ đối với kết quả cũng sẽ khác nhau Có những cá nhân không hoàn toàn hài lòng với những lợi ích đạt được nhưng vì những rào cản mà cá nhân vẫn tiếp tục tham gia vào nhóm Vì vậy, khi đã tham gia vào nhóm, trước khi từ bỏ một mối quan hệ, cá nhân cũng cân nhắc các lợi ích đạt được cũng như các rào cản Đôi khi dù không hài lòng với các mối quan hệ, nhưng vì các rào cản, cá nhân sẽ vẫn duy trì chúng để duy trì một
số các lợi ích khác Ví dụ như hai vợ chồng sống với nhau không hạnh phúc Nếu ly hôn để giải thoát cuộc sống áp lực cùng chồng thì người phụ
nữ đó sẽ hạnh phúc và tìm cuộc sống mới nhưng vì nghĩ râò cản là những
Trang 9đứa trẻ sẽ thiệt thòi không có cha nên người phụ nữ đó vẫn chấp nhận sống cùng chồng và nuôi con
3 Những hạn chế của thuyết trao đổi xã hội trong công tác xã hội nhóm.
Mọi trao đổi xã hội đều hướng đến quyền lực, hay nói cách khác các
cá nhân luôn mong muốn gia tăng quyền lực, gia tăng sự kiểm soát của mình trong mối quan hệ xã hội
Lý thuyết trao đổi xã hội bị phê bình là máy móc vì nó giả định người
ta luôn luôn là sinh vật có lý trí hành động theo sự phân tích về thưởng phạt Các nhà lý thuyết trao đổi xã hội ý thức rằng tiến trình nhận thức ảnh hưởng đến cách người ta cư xử trong nhóm Cái nhìn của các thành viên nhóm chịu ảnh hưởng bởi tiến trình nhận thức như ý định và sự mong đợi
Các cá nhân khi thấy hành động hoặc quan điểm của mình khác với
số đông trong nhóm thì họ có xu hướng thay đổi hành động, quan điểm của mình theo số đông trong một nhóm, trong một tập thể và có cảm giác yên tâm, cho rằng mình giống với những người khác, cho họ thấy họ không khác biệt và nếu có vấn đề gì thì là số đông chịu trách nhiệm, trách nhiệm không quá lớn, và hành động của họ là đúng, là chuẩn
ơ
Hành động thỏa hiệp trong thực tế là khá phổ biến Do đó, trong hoạt động nhóm, khi cần thay đổi hành vi, nhận thức của các cá nhân trong
Trang 10nhóm thì nhóm cần có một quy ước, quy định chung Từ đó, các thành viên trong nhóm sẽ lấy đó làm mục tiêu để thay đổi cho phù hợp với nhóm
Chính thái độ, phản ứng của người khác (đặc biệt là thái độ, phản ứng đó được nhiều người trong nhóm tuân theo hoặc ủng hộ) sẽ quy định hành động của các cá nhân khác
IV VẬN DỤNG THUYẾT TRAO ĐỔI XÃ HỘI VỚI NHÓM TRẺ EM CÓ HÀNH VI LỆCH CHUẨN.
1.Đặc điểm nhóm đối tượng.
Trẻ em lang thang là đối tượng mà chúng ta có thể gặp ở bất cứ nơi đâu trên đường phố Các em xuất phát từ nhiều hoàn cảnh éo le trong cuộc sống Nhưng đại đa số là các em bị bỏ rơi không có người nuôi dưỡng Trong số đó, vì hoàn cảnh mà có nhiều em đã phải vật lộn với cuộc sống khó khăn bên ngoài nên các em thường xuyên gây rối loạn xã hội, đánh nhau, trộm cắp, phạm tội và được công an thu gom lại Khi đuộc đưa về cùng một mái ấm, với tính cách đã được hình thành qua sự trải nghiệm về cuộc sống vất vả của các em, các em rất dễ gây lộn,rộm cắp, đánh nhau Trong quá trình sinh hoạt, các em sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật
2 Vận dụng lý thuyết trao đổi xã hội đối với nhóm trẻ lang thang
vi lệch chuẩn.
Trang 11Bước 1: Nhân viên xã hội xác định mục đích, nhu cầu thành lập nhóm: Thay đổi hành vi lệch chuẩn để đưa các em trở về sống cuộc sống nề nếp cùng các em nhỏ tại trung tâm
Bước 2: Thiết lập mục tiêu chung rõ ràng, việc đạt được mục tiêu chung đồng thời phải giúp các nhóm viên thỏa mãn những lợi ích của mình, phải tìm được sự thống nhất giữa nhóm và cá nhân
Dựa trên nguyên tắc trao đổi: “cùng có lợi”, khi trẻ được đưa về trung tâm giáo dưỡng, trẻ phải nhận thấy được những mặt có lợi đối với cá nhân mình thì trẻ sẽ tiếp tục cuộc sống tại trung tâm mà không quay lại đường phố dẫn đến các hành vi vi phạm pháp luật
Khi được đưa về trung tâm nuôi dưỡng, cần đáp ứng được cho trẻ các nhu cầu tối thiểu như: ăn, mặc, ở để trẻ có được cảm giác an toàn Sau
đó, dưới sự hướng dẫn của nhân viên công tác xã hội, các em phải làm được những việc trong gia đình như: nấu cơm, đi chợ, lau nhà để hình thành thói quen trong các hoạt động thường ngày như một gia đình huyết thống
Sau đó, các em phải được tham gia vào các hoạt đông cùng nhau như: giáo dục, lao động, học tập…để từ đó các em xây dựng cho mình quan điểm nhận thức, giá trị cuộc sống và hành vi ứng xử đúng đắn Chẳng hạn như: tính kỷ luật, tinh thần trách nhiệm với những người khác Nhân viên
xã hội và các thành viên nhóm cần chấp nhận hành vi ban đầu của trẻ thật mềm mỏng nhưng cũng thật cương quyết để trẻ thấy mình được chấp nhận
và nhân viên xã hội cũng cảm hoá được những hành vi lệch chuẩn của trẻ