Trong tương lai, những tiến bộ trong công nghệ sinh học nông nghiệp sẽ cho ra những cây trồng làm cải thiện khả năng chịu hạn hán, thời tiết nóng và lạnh; đòi hỏi ít phân bón và thuốc
Trang 1Triển vọng Công nghệ sinh học
Trong 50 năm tới thế giới cần sản
Trang 2xuất ra nhiều thức ăn cho người, thức ăn cho động vật và sợi hơn
so với trong thời gian của toàn bộ lịch sử loài người Cuộc cách
mạng công nghệ tạo ra bởi các bộ gen cho cơ hội duy nhất để thực hiện mục đích này Các cây trồng biến đổi gen chịu được thuốc diệt
cỏ và sâu đang mang lại những lợi ích thông qua những thức ăn cho người, thức ăn cho động vật
và sợi mà người dân có thể mua được Những thứ này đòi hỏi ít
thuốc trừ sâu hơn, bảo vệ đất tốt hơn và cung cấp một môi trường bền vững hơn Trái với những ý kiến chỉ trích, các cây trồng công nghệ sinh học tỏ ra cũng an toàn
Trang 3như hoặc an toàn hơn những cây trồng sản xuất bằng các phương pháp thông thường Trong tương lai, những tiến bộ trong công
nghệ sinh học nông nghiệp sẽ cho
ra những cây trồng làm cải thiện khả năng chịu hạn hán, thời tiết nóng và lạnh; đòi hỏi ít phân bón
và thuốc trừ sâu hơn; sản xuất
các vắc-xin để ngăn ngừa những bệnh lây lan chủ yếu; và có
những đặc điểm mong muốn
khác
Richard Hamilton là Chủ tịch
Hội đồng Quản trị và Richard B Flavell phụ trách về khoa học của Công ty Ceres, một công ty công
Trang 4nghệ sinh học tư nhân Robert B.Goldberg là Giáo sư về sinh
học phân tử, tế bào và phát triển tại Trường Đại học California, Los Angeles
Các cây trồng và nông nghiệp đã đóng vai trò quan trọng trong phát triển và thúc đẩy sự văn minh Các cây trồng cung cấp những thức ăn bền vững cho con người, cho động vật, sợi cho xây dựng và quần áo, thuốc men, dược phẩm, nước hoa, các hóa chất cho các quá trình sản xuất công nghiệp, năng lượng để nấu nướng và sưởi ấm và gần đây nhất, sinh khối để đáp ứng nhu cầu ngày một tằng về nhiên liệu phục
Trang 5vụ vận tải Các cây trồng còn đóng vai trò chủ yếu về mặt môi trường bằng việc ngăn ngừa sói mòn đất, tăng cường mức ôxi trong khí
quyển, giảm sự phát tán CO2 từ
việc đốt than đá, và làm giầu đất
bằng nitơ, mà chúng quay vòng
theo chu kỳ giữa đất và khí quyển
NÔNG NGHIỆP TRONG THẾ
KỶ 21
Nếu dân số tiếp tục tăng như dự
đoán, thì trong 50 năm tới chúng ta cần phải sản xuất thêm thức ăn cho người, thức ăn cho động vật và sợi hơn so với thời gian của toàn bộ
lịch sử loài người Và chúng ta phải làm điều này trên cơ sở diện tích
Trang 6đất thích hợp cho nông nghiệp và sản xuất cây trồng giảm dần
Điều này đặt ra một số thách thức chủ yếu cho nông nghiệp ở thế kỷ XXI:
Sản lượng cây trồng cần phải tăng cao hơn mức ngoạn mục đạt được ở thế kỷ XX để đáp
ứng nhu cầu gia tăng và tiết
kiệm không gian trống Những đầu vào cần thiết cho nông
nghiệp thâm canh, như nước và phân bón cần phải giảm
Những cây trồng cần được phát triển để có thể sinh sôi nẩy nở trong những điều kiện khắc
nghiệt sao cho những đất ít mầu
Trang 7mỡ có thể được sử dụng để
trồng những cây quan trọng,
mùa vụ trồng cần phải kéo dài
và sản lượng không bị giảm bởi hạn hán, thời tiết nóng, lạnh và các tác động khác
Những ảnh hưởng đến môi
trường của nông nghiệp do việc
sử dụng thuốc trừ sâu, thuốc diệt
cỏ và phân bón cần phải giảm
bớt Thí dụ các cây trồng cần
được biến đổi để chịu được bệnh dịch, để có thể hấp thu có hiệu quả các chất dinh dưỡng trong đất, và cạnh tranh với cỏ dại
trong việc hút nước và hấp thụ ánh sáng mặt trời
Những cây lương thực cần được
Trang 8tối ưu hóa để phục vụ sức khỏe
và dinh dưỡng của con người,
cung cấp các vitamin thiết yếu, các axít amin và prôtêin nhằm giúp xóa bỏ tình trạng suy dinh dưõng và bệnh tật
Những cây trồng mới cho năng lượng cần được phát triển để có năng suất cao và có thể dùng
làm nguồn sinh khối có thể thay thế cho các nhiên liệu để giảm bớt sự phụ thuộc của chúng ta vào hệ thống năng lượng dựa
vào dầu mỏ
Chúng ta cần “trở về tương lai”
và thay đổi cấu trúc gen các cây đặc sản có thể được sử dụng như những nhà máy sản xuất hóa
Trang 9chất và prôtêin phục vụ các các ứng dụng công nghiệp và y tế - thí dụ, các tiền chất nhựa và các vắc-xin để chống lại các mầm bệnh ở người và động vật
Những thách thức này sẽ đòi hỏi phải áp dụng những kỹ thuật nhân giống và phân tử tinh vi nhất mà hiện nay đang có, cũng như việc phát triển những kỹ thuật mới Tuy nhiên chưa bao giờ có một thời kỳ nào sôi động hơn cho ngành sinh học cây trồng và nông nghiệp, và cuộc cách mạng công nghệ tạo ra bởi kỷ nguyên các bộ gen cho cơ hội duy nhất để thực hiện những mục tiêu này trong thời gian hai
Trang 10thập kỷ tới hoặc sớm hơn
SỬ DỤNG CÔNG NGHỆ SINH HỌC ĐỂ PHÁT TRIỂN CÁC
CÂY TRỒNG MỚI
Đa số các cây mà chúng ta đang
trồng hiện nay không phải xuất
hiện từ một vườn Êđen thần thoại
và không mọc “một cách tự nhiên” Ngược lại, hầu hết các cây trồng
chủ yếu đều đã được tổ tiên của
chúng ta biến đổi gen cách đây
hàng nghìn năm từ các cây họ hàng hoang dã của chúng bằng việc chọn lọc và nhân giống để có được
những đặc điểm làm tối ưu hóa các cây trồng phục vụ cho con người Những kỹ sư về gen đầu tiên này
Trang 11đã học cách nhận biết những đột
biến ngẫu nhiên xuất hiện ở các
quần thể thực vật hoang dã và sử dụng tính biến dị gen này để tạo ra những cây lương thực mà chúng ta hiện nay chúng ta dang sử dụng
Thí dụ, ngô đã đựợc gây giống
cách đây 10.000 năm từ loài cỏ
teosinte bằng việc chọn ra một số ít gen có nhiệm vụ kiểm soát kích
thước lõi ngô, cấu trúc và số lượng hạt và cấu trúc của cây Hầu hết
những cây lương thực mà ngày nay chúng ta sử dụng như lúa mì, đậu nành, gạo, khoai, cải bắp, bông cải xanh và cà chua, đều được chúng ta biến đổi gen theo cách thức tương tự; đó là bằng cách dùng các công
Trang 12nghệ nhân giống để tạo ra những tổ hợp gen mới trong phạm vi một
loài rồi chọn những đặc điểm tốt
hơn ở thế hệ sau
Những đổi mới quan trọng nhất
đang làm biến đổi nông nghiệp là các công nghệ biến đổi gen cho
phép những gen mới có thể được phân lập, thao tác bằng tay và cấy trở lại vào các cây trồng; khả năng tái sinh hầu hết các loài cây từ việc nuôi cấy mô vào cây tốt giống; và
sự phát triển các công nghệ về bộ gen cho năng suất cao Những công nghệ này cho phép vẽ bản đồ và
sắp xếp toàn bộ các bộ gen của cây
và định dạng các gen có chức năng kiểm soát tất cả các quá trình của
Trang 13cây, gồm cả những gen có thể góp phần vào việc giải quyết các thách thức của nông nghiệp trong tương lai, như các gen có khả năng chịu bệnh, hạn hán, kích thước và số
lượng hạt
Ở cấp gen, việc nhân giống cây
trồng phụ thuộc vào việc đưa ngẫu nhiên các đột biến, hoặc biến dị gen vào bộ gen của cây rồi sau đó từ
quần thể rộng chọn ra bộ phụ nhỏ những thay đổi dẫn đến sự thay đổi tích cực Trong đa số các trường
hợp, những thay đổi gen được tạo
ra đều không được biết Trái lại,
việc biến đổi gen mang lại cho việc nhân giống một phương án chính
xác hơn, và vì sự chính xác của nó,
Trang 14nên nó có thể được dùng để phát
triển những đặc điểm mới có giá trị trong một thời gian rất ngắn được đòi hỏi để tiếp tục nghiên cứu
những kỹ thuật nhân giống tương đối không chính xác Những gen đã được mô tả đặc điểm có thể đưa
vào các cây trồng theo cách chính xác và được điều khiển nhằm tạo ra những cây trồng được cải thiện về gen có những đặc điểm mà các quy trình nhân giống cổ điển không thể nào thực hiện được
SỰ PHÁT TRIỂN VÀ LỢI ÍCH CỦA CÂY TRỒNG THEO
CÔNG NGHỆ SINH HỌC
Các loại cây đầu tiên được trồng
Trang 15theo kĩ thuật di truyền phát triển
vào đầu những năm 1980 có khả năng đề kháng với thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu Ngày nay, đa số các loại cây trồng theo công nghệ sinh học đều có hai đặc tính này - đề
kháng với thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu Trong 20 năm qua, trên
toàn thế giới người ta đã cố gắng phân lập các gen có khả năng đáp ứng một loạt các yêu cầu mà các nhà chăn nuôi, nông dân, người
tiêu thụ, và các nhà công nghiệp đã nêu ra nhằm cải thiện nhiều loại
cây trồng Ngày nay, công nghệ
sinh học cây trồng và kỹ thuật di truyền là hoạt động chính trong các khu vực nhà nước và tư nhân và
Trang 16đang trở thành một bộ phận quan
trọng của ngành trồng cây trên
khắp thế giới Thật vậy, chưa bao giờ ngành nông nghiệp lại sôi nổi như vậy vì các công nghệ gen hiệu quả cao đã cho phép nhận biết các loại gen có tiềm năng mang lại
những biến đổi to lớn cho ngành
sản xuất cây trồng trong 50 năm
nông dân trên toàn thế giới tiếp
Trang 17nhận nhanh chóng hơn bất kỳ loài cây trồng nào khác trong lịch sử
nông nghiệp, hơn cả đối với loài
ngô lai cao sản ở thế kỉ trước
Từ khi ra đời vào năm 1996, việc
sử dụng các loại cây trồng cải thiện nhờ kỹ thuật di truyền đã gia tăng với tốc độ hơn 10%/năm và vào
năm 2004, theo một báo cáo của cơ quan quốc tế về ứng dụng công
nghệ sinh học nông nghiệp, lượng cây trồng đó được sử dụng ở mức gia tăng 20% Các loài cây mang gen công nghệ sinh học mới là đậu nành, ngô, bông và canola, chiếm tương ứng 56%, 14%, 28% và 19% diện tích trồng các loài cây này trên toàn cầu Tổng diện tích của chúng
Trang 18chiếm gần 30% diện tích dành cho các loài cây này trên toàn cầu Tại
Mỹ, đậu nành công nghệ sinh học (đề kháng với thuốc diệt cỏ), ngô (đề kháng với thuốc diệt cỏ và
thuốc trừ sâu) và bông (đề kháng với thuốc diệt cỏ và thuốc trừ sâu) chiếm diện tích tương ứng gần
85%, 75% và 45% diện tích toàn
phần của các loài cây đó
Mỹ là nước đi đầu về diện tích cây trồng theo công nghệ sinh học với hơn 48 triệu ha, tiếp theo là
Argentina (16 triệu ha), Canada (6 triệu ha), Brazil (4,8 triệu ha), và Trung Quốc (4 triệu ha) Giá trị cây trồng theo công nghệ sinh học là
gần 5 tỉ USD, tương ứng bằng 15%
Trang 19và 16% sant lượng cây trồng toàn cầu và thị trường giống Cây trồng công nghệ sinh học mang lại lợi ích với việc cung cấp nhiều thực phẩm, thức ăn gia súc và sợi hơn, đồng
thời đòi hỏi ít thuốc trừ sâu hơn,
duy trì chất lượng đất tốt hơn và có lợi hơn cho việc bảo vệ môi trường bền vững Hơn nữa, thu nhập hàng năm của nông dân nghèo tại các
nước đang phát triển đã gia tăng
đáng kể nhờ sử dụng cây trồng
công nghệ sinh học, theo thống kê gần đây của Tổ chức Nông Lương Liên hợp quốc Phần lớn giá trị gia tăng mang lại thu nhập cho những người nông dân này chứ không
phải là cho người cung cấp công
Trang 20và các loài cây trồng đó đã được thử thách và nghiên cứu nhiều hơn
cả trong lịch sử loài người, không phải là công nghệ sinh học không mang lại những ý kiến trái ngược Việc phản đối sử dụng công nghệ sinh học và các sản phẩm sản sinh
từ kĩ thuật di truyền đã lan rộng ở
Trang 21châu Âu, tại đó một nhóm cổ động nhỏ nhưng hoạt động mạnh đã vận động công chúng phản đối công
nghệ sinh học
Tại một môi trường mà những cảnh báo về nguy cơ của bệnh bò điên và dioxin đối với thực phẩm không
liên quan với công nghệ sinh học
đã làm xói mòn lòng tin của công chúng châu Âu đối với quy chế
kiểm soát việc cung cấp thực phẩm, các nhà cổ động đã làm dấy lên mối nghi ngờ đáng kể về công nghệ
sinh học trong nông nghiệp Mối
nghi ngờ đã không được đặt đúng chỗ : mối đe dọa giả định đã không trở thành hiện thực sau hơn 10 năm
sử dụng an toàn và sau khi hơn 400
Trang 22triệu hécta đã được sử dụng để
trồng các loài cây được cải thiện
nhờ kĩ thuật di truyền Đến nay
người ta chưa chỉ ra được thí dụ
nào về tác hại của các loài cây này đối với con người, trong khi có thể chứng tỏ được rằng chúng có lợi
cho việc bảo vệ môi trường Thực
ra, những kết quả nghiên cứu chính được xuất bản trên các tạp chí
chuyên môn trong 5 năm qua đã
Trang 23đất đáng kể đã được duy trì và rằng thực tiễn quản lí đã đạt được kết
quả tốt trong việc ngăn chặn hay
giảm thiểu khả năng đề kháng của các loài cây trồng kháng côn trùng Tuy rằng không có công nghệ nào
là không có rủi ro, các loài cây
trồng theo công nghệ sinh học đã cho thấy rằng chúng cũng an toàn như hoặc an toàn hơn các loài cây sản xuất theo phương pháp truyền thống
TƯƠNG LAI SẼ RA SAO?
Trong thập niên sắp tới, những tiến
bộ mới trong công nghệ sinh học nông nghiệp sẽ sản sinh ra những loài cây trồng có thể chịu đựng tốt
Trang 24hơn các tình trạng hạn hán, nóng và lạnh; đòi hỏi sử dụng ít phân bón
và thuốc trừ sâu hơn; sản sinh các loại vaccin phòng các bệnh truyền nhiễm chính ; có kích thước, số
lượng hạt, và hàm lượng dinh
dưỡng gia tăng ; và có thể tái sinh sản trong điều kiện thiếu tác nhân lai tạp – sinh sản mạnh Các loài
cây trồng có hàm lượng dinh dưỡng cao cũng sẽ được phát triển để khắc phục tình trạng thiếu dinh dưỡng
tại các nước đang phát triển Hiện nay giống “gạo vàng 2” được đưa vào thử nghiệm có thể sản sinh tới
30 microgram beta-caroten, một
tiền chất của vitamin A, theo một bài báo xuất bản gần đây của
Trang 25Jacqueline Paine và cộng sự Theo các tác giả này, lượng beta-caroten này có thể cung cấp ít nhất 50%
lượng vitamin A hàng ngày cần cho một khẩu phần điển hình gồm 60g gạo
Ngoài các ứng dụng tăng sản
lượng thực phẩm, thức ăn gia súc
và sợi, công nghệ sinh học đang
đóng góp một phần đáng kể cho
lĩnh vực năng lượng Những tiến bộ của công nghệ sinh học đã tạo điều kiện để sản xuất một khối lượng
lớn các cellulas không đắt tiền mà người ta có thể sử dụng để chuyển hóa cellulose thành chất đường rồi chất đường này sẽ được lên men để trở thành nhiên liệu như ethanol
Trang 26Theo ước tính gần đây của Bộ
Năng lượng Mỹ, đến năm 2020,
nước này có thể nhận được ít nhất
là 30 % nhiên liệu dùng cho hoạt động vận tải từ các nguồn nguyên liệu sinh học Công nghệ sinh học nông nghiệp còn có thể nâng cao tỉ
lệ này thông qua việc gia tăng mật
độ cung cấp của khối sinh học, cải thiện các tính năng chế biến của
nguồn sinh học và giảm các nhu
cầu phục vụ canh tác như nước,
phân bón và thuốc trừ sâu
Một số nước chủ yếu như Mỹ và Trung Quốc đang đẩy mạnh hoạt động trong lĩnh vực công nghệ sinh học nông nghiệp, đầu tư một cách thích đáng cho các hoạt động
Trang 27nghiên cứu, triển khai và xây dựng một hệ thống pháp quy phù hợp
cho việc sử dụng và kinh doanh các loài cây mới được cải thiện bằng
cụ và phát minh khoa học sẵn có,
kể cả công nghệ sinh học và kĩ
thuật di truyền và tiếp tục đi theo con đường có những đột phá nông nghiệp đã từng thúc đẩy tiến bộ của loài người hàng nghin năm