Cát Bà với việc phát triển du lịch sinh thái
Trang 1Phần 1 Mở đầu
1.Lí do chọn đề tài.
Trong cuộc sống đầy sôi động hiện nay, với sự phát triển nh vũ bão của các ngành
kinh tế, đời sống vật chất đợc nâng lên mạnh mẽ thì nhu cầu đi du lich, đặc biệt là
du lịch về với thiên nhiên lại càng cần thiết và ngời ta sẽ đi tìm những điểm du lịch
có thể làm thoả mãn tốt nhất nhu cầu của họ
Đảo Cát Bà-đảo lớn nhất nằm trong quần thể các đảo trong vịnh Hạ Long, từ lâu
đợc xác định là một trong những điểm du lịch quan trọng nhất của vùng du lich Bắc Bộ Cát Bà đợc tận hởng sự u đãi của thiên nhiên với nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng Hải đảo Cát Bà bao gồm một hòn đảo chính khá lớn và 366 hòn đảo lớn nhỏ khác nhau trải ra trên một vùng biển khá rộng đề hình thành nhiều vịnh biển phẳng lặng nh Vịnh Cát Bà, Vịnh Lan Hạ, Vịnh Việt Hải và vô vàn những tùng, áng nhỏ hơn Đảo Cát Bà nằm giáp giới của vùng biển Vịnh Hạ Long, nổi tiếng ở phía Bắc và Đông Bắc, ba phía Đông, Nam và Tây Nam đều hớng ra biển Đảo Cát Bà là hòn đảo lớn nhất của cả vùng hải đảo, nằm chếch theo hớng Tây Bắc- Đông Nam, chiều dài khoảng 25km , chiều ngang trên dới 10 km với diện tích trên 200km2 Kể từ năm 1994 cho đến nay, hoạt động du lịch ở đảo ngày càng nhộn nhịp lên cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng và cơ sở vật chất kĩ thuật phục vụ du lịch Ngành du lịch ở đây đang chứng tỏ là một ngành kinh tế mũi nhọn Tuy nhiên du lịch đảo Cát Bà vẫn cha thực sự đem lại hiệu quả kinh tế cao t-
ơng xứng với tiềm năng của nó Hơn nữa sự phát triển lộn xộn này đã bắt đầu cho thấy những nguy cơ có tác hại đến môi trờng tự nhiên và xã hội Trớc thực tế đó tôi
đã chọn đề tài “Cát Bà với việc phát triển du lịch sinh thái” làm khoá luận tốt nghiệp của mình
2.Mục đích nghiên cứu.
- Khái quát các điều kiện tự nhiên- xã hội, giá trị du lịch sinh thái Cát Bà.
Trang 2- Tìm hiểu thực trạng, kinh tế du lịch sinh thái Cát Bà.
- Đề xuất các giải pháp nhằm phát triển du lịch sinh thái Cát Bà
3.Đối tợng và phạm vi nghiên cứu.
Đối tợng nghiên cứu: phát triển du lịch sinh thái ở Cát Bà.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: toàn bộ khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
- Thời gian: từ năm 2000 trở lại đây
Chơng 1 Một số khái niệm, cơ sở lí luận của du lịch sinh thái
Chơng 2.Thực trạng khai thác du lịch sinh thái Cát Bà
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên,kinh tế- xã hội, lịch sử- văn hoá của Cát Bà
2.2 Những giá trị sinh thái Cát Bà
2.3.Tình hình khai thác du lịch sinh thái Cát Bà
Chơng 3.Giải pháp phát triển du lịch sinh thái Cát Bà
3.1 Mục tiêu phát triển du lịch Cát Bà đến năm 2020
Trang 33.2 Các giải pháp phát triển du lich Cát Bà đến năm 2020.
Phần 3 Kết luận và kiến nghị
Tài liệu tham khảo
Phụ lục
Trang 4Phần 2 Nội dung chính
Chơng 1.Một số khái niệm, cơ sở lý luận của
du lịch sinh thái
1.1 Định nghĩa về khu bảo tồn thiên nhiên.
Khu bảo tồn thiên nhiên là nơi chứa đựng nhiều yếu tố hấp dẫn cho du khách trên
thế giới Những yếu tố này có thể là một hoặc nhiều loại động thực vật quý hiếm và
đặc hữu, cuộc sống hoang dã phong phú, đa dạng sinh học cao, địa hình đồng nhất hoặc hùng vĩ, các khu di tích lịch sử hoặc văn hoá đơng đại mang tính đặc thù trong điều kiện tự nhiên Điều này tạo điều kiện cho các công ty du lịch thu đợc lợi nhuận nếu nh những yếu tố này đợc duy trì Do đó mối quan hệ giữa du lịch và các khu bảo tồn thiên nhiên đợc bảo vệ tốt là điều tất yếu
1.2 Định nghĩa về Vờn Quốc Gia.
Vờn Quốc Gia là một khái niệm tơng đối rộng.Có nhiều cách hiểu và định nghĩa
về Vờn quốc gia Điều này tuỳ thuộc vào tiêu chuẩn của từng quốc gia Trong nghiên cứu này Vờn quốc gia đợc hiểu là:
1 Nơi có một hoặc vài hệ sinh thái không bị thay đổi về mặt vật chất do sự khai phá và xâm chiếm của con ngời; nơi các loài động thực vật, các sinh cảnh và điểm
địa mạo có sức thu hút đặc biệt xét về mặt khoa học, giáo dục và giải trí; hay là nơi
có cảnh đẹp thiên nhiên hùng vĩ
2 Nơi những ngời có thẩm quyền cao nhất của đất nớc đã triển khai các biện pháp ngăn ngừa hoặc xoá bỏ càng sớm càng tốt sự khai thác và xâm chiếm của con ngời trên
( Theo Sở Du lịch Hải Phòng- Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà- HP- năm 2002)
Trang 51.3 Du lịch sinh thái.
Honey(1999) đã định nghĩa về du lịch sinh thái “là du lịch tới những khu vực nhạy cảm và nguyên sinh thờng đợc bảo vệ với mục đích nhằm gây ra ít tác hại và với quy mô nhỏ nhất.Nó giúp giáo dục du khách, tạo quỹ để bảo vệ môi trờng,nó trực tiếp đem lại nguồn lợi kinh tế và sự tự quản lý cho ngời dân địa phơng và nó khuyến khích tôn trọng các giá trị văn hoá và quyền con ngời”
Hội thảo xây dựng chiến lợc quốc gia và phát triển du lịch sinh thái cho Việt Nam năm 1999 đã đa ra định nghĩa: “Du lịch sinh thái là một loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hoá bản địa, có tính giáo dục môi trờng, và đóng góp cho các nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa ph-
ơng”
Cuối cùng cần phải nhấn mạnh rằng các nghiên cứu về du lịch sinh thái thờng chỉ quan tâm tới những gì du khách yêu cầu Trên thực tế, một dự án du lịch sinh thái phải đợc nhận thức và tổ chức theo đúng cách và nên tạo ra những yếu tố hấp dẫn
để đáp ứng đợc yêu cầu của du khách.Khách du lịch đóng vai trò chính trong các hoạt động du lịch sinh thái và do đó du khách nên là đối tợng quan trọng nhất cần
đợc chú ý Cần phải nghiên cứu sâu về ý kiến của khách du lịch (trong trờng hợp này là khách du lịch sinh thái) về các điều kiện, dịch vụ và kinh nghiệm đạt đợc nhằm cải thiện và thay đổi các chơng trình
Du lịch sinh thái là một cách tốt nhất nhằm giúp cả cộng đồng địa phơng và khu bảo tồn thiên nhiên cùng tham gia Đó là một hợp phần lý tởng của chiến lợc phát triển bền vững trong đó tài nguyên thiên nhiên có thể đợc sử dụng nh một yếu tố thu hút khách du lịch mà không gây tác hại tới thiên nhiên của khu vực Là một công cụ quan trọng trong quản lý khu bảo tồn thiên nhiên và phát triển, du lịch sinh thái phải đợc phát triển phù hợp với hoàn cảnh cụ thể Những yếu tố dới đây
đóng vai trò thiết yếu đối với việc tổ chức du lịch sinh thái thành công:
- ít gây ảnh hởng tới tài nguyên thiên nhiên của khu bảo tồn thiên nhiên
Trang 6- Thu hút sự tham gia của các cá nhân, cộng đồng, khách du lịch sinh thái, các nhà điều hành tour và các cơ quan tổ chức của Chính phủ.
- Tôn trọng văn hoá và truyền thống địa phơng
- Tạo thu nhập lâu dài và bình đẳng cho cộng đồng địa phơng và cho các bên tham gia khác, bao gồm cả những nhà điều hành tour t nhân
- Tạo nguồn tài chính cho công tác bảo tồn của khu bảo tồn thiên nhiên
- Giáo dục những ngời tham gia về vai trò của họ trong công tác bảo tồn
1.3 Định nghĩa khu dự trữ sinh quyển.
Là hệ thống những vùng có các hệ sinh thái trên cạn, hệ sinh thái ven biển, các hệ sinh thái biển hoặc kết hợp của tất cả các thành phần đó và đợc quốc tế công nhận trong phạm vi chơng trình của Unesco về “con ngời và sinh quyển” (MAB) Việc thiết lập những khu này nhằm thúc đẩy và làm rõ sự cân bằng mối quan hệ giữa con ngời và sinh quyển Khu dự trữ sinh quyển đợc đa ra bởi Hội đồng điều phối hợp tác quốc tế (International Cordinating Council) của chơng trình con ngời và sinh quyển (MAB) theo đề nghị của quốc gia nơi có khu dự trữ sinh quyển Tất cả các khu dự trữ sinh quyển hình thành một mạng lới trên toàn thế giới mà trong đó những thành viên đầu mang tính tự nguyện
Mạng lới trên toàn thế giới đợc quản lý bởi các quy định đợc đa ra tại Đại hội
đồng Unesco năm 1995 và tại hội nghị này đa ra định nghĩa, mục đích, tiêu chuẩn
và những bớc để có thể đa ra khu dự trữ sinh quyển Các kế hoạch đề xuất cho sự phát triển tơng lai của các khu dự trữ sinh quyển trong thế kỉ 21 đã đợc đa ra và đã
đợc Đại hội đồng Unesco thông qua
Những thông tin đợc Unesco sử dụng cho hai mục đích:
1 Thẩm tra khu vực sẽ đợc thực hiện bởi hội đồng t vấn về khu dự trữ sinh quyển
và Văn phòng hội đồng điều phối quốc tế
Trang 72 Các thông tin đó sẽ đợc lu trữ tại hệ thống thông tin của mạng lới Unesco- MAB và toàn thế giới có thể truy cập và tiếp cận đợc để tạo thuận lợi trong liên lạc
và hợp tác giữa những ngời cùng quan tâm đến khu dự trữ sinh quyển trên toàn thế giới
Ba nhiệm vụ mà một khu dự trữ sinh quyển phải đáp ứng là: bảo tồn, phát triển và các hoạt động hỗ trợ:
1 “Bảo tồn”- làm sao để khu dự trữ sinh quyển đóng góp bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái, các loài và các nguồn gien di truyền, tầm quan trọng và vị trí của bảo tồn tại khu vực hoặc đối với toàn cầu
2 “Phát triển”- làm sao để khu dự trữ sinh quyển hỗ trợ, khuyến khích phát triển kinh tế, phát triển nguồn nhân lực và đó là ổn định văn hoá xã hội và ổn định ph-
ơng diện sinh thái, tiềm năng của khu dự trữ sinh quyển đợc đề cử trong việc đáp ứng yêu cầu của công tác bảo tồn
3 “Chức năng hỗ trợ”- là những kế hoạch có thể đóng góp vào các dự án trong các lĩnh vực nh: giáo dục môi trờng, đào tạo, nghiên cứu và khảo sát các mối liên quan tới địa phơng, khu vực, quốc gia và các văn kiện mang tính toàn cầu về bảo tồn và phát triển bền vững những đóng góp hiện tại và các kế hoạch hỗ trợ trong t-
ơng lai
Những tiêu chuẩn cho việc lựa chọn một khu dự trữ sinh quyển:
1 Khu vực đó có đại diện đa dạng của các hệ sinh thái của những khu vực địa lý sinh vật chính bao gồm cả những giai đoạn phát triển có sự tác động của con ngời Môi trờng tự nhiên đa dạng và loại hình đất đai bao bọc có từ việc sử dụng của con ngời nh các cánh đồng, sử dụng rừng, biển, khu vực địa lý sinh vật không hoàn toàn đợc xác định rõ ràng và hữu ích khi đề cập tới mạng lới khu dự trữ sinh quyển của thế giới
2 Khu vực đề cử có giá trị bảo tồn đa dạng sinh học cao Điều này đề cập không chỉ tới những loài đặc hữu hay những loài hiếm, nguy cấp tại địa phơng, khu vực
Trang 8hay cấp toàn cầu mà còn đề cập tới cả những loài mang tính kinh tế quan trọng, những loại hình môi trờng sống rất hiếm hoặc những khu vực đất đợc sử dụng bằng những kĩ thuật đặc biệt và rất thuận lợi cho việc bảo tồn đa dạng sinh học.
Các hoạt động và sử dụng:
1 Khu vực lõi:
- Trong khu vực lõi đợc bảo vệ nghiêm ngặt, một số hoạt động và sử dụng nhất
định vẫn đợc cho phép đợc thực hiện nếu các hoạt động đó phù hợp với mục tiêu bảo tồn của vùng lõi
- Những tác động tiêu cực khu vực vùng lõi của việc sử dụng hoặc các hoạt động diễn ra trong hoặc ngoài khu vực
2 Vùng đệm:
- Là khu vực có rất nhiều loại hình đất đai đợc sử dụng mà trong việc sử dụng có thể thúc đẩy đợc các chức năng của khu dự trữ sinh quyển đảm bảo trợ giúp đợc cho các công tác bảo vệ và phát triển tự nhiên của vùng lõi hoặc có các hoạt động kinh tế tại đó
- Những tác động tiêu cực lên khu vực vùng đệm của việc sử dụng hoặc các hoạt
động diễn ra trong hoặc ngoài khu vực vùng đệm trong tơng lai gần cũng nh về lâu dài
Trang 9
3 Vùng chuyển tiếp:
- Là vùng tại đó có những điểm quan trọng liên quan tới môi trờng và phát triển,
sẽ đợc giải quyết theo những quy định vùng chuyển tiếp đợc đa ra không phân biệt
về diện tích nếu có những vấn đề phát sinh theo thời gian
Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà.
Khu dự trữ sinh quyển ngoài ý nghĩa bảo tồn nguồn gen, đảm bảo sự cân bằng của
hệ sinh thái, còn mang chức năng du lịch, tạo ra hàng loạt công ăn việc làm cho cộng đồng địa phơng góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng cờng tiềm năng kinh tế cho khu vực
Vờn quốc gia Cát Bà thuộc thành phố Hải Phòng đợc thành lập từ năm 1986 đã góp phần vào việc bảo tồn nguồn gen quý hiếm của khu vực Cát Bà là khu vực có tiềm năng đa dạng sinh học cao (2320 loài động thực vật) Nếu chúng ta chỉ dừng lại ở mức độ Vờn quốc gia thì cha tơng xứng với tiềm năng về tài nguyên, về sinh thái của Cát Bà Cát Bà đợc công nhận là khu dự trữ sinh quyển sẽ thực sự trở thành trung tâm bảo tồn nguồn gen, cân bằng hệ sinh thái và trung tâm du lịch
Khu dự trữ sinh quyển quần đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, phía bắc giáp Vịnh Hạ Long,phía Tây giáp đảo Cát Hải, phía đông và phía Nam giáp biển đông
- Diện tích: tổng diện tích tự nhiên là: 26.240 ha Trong đó diện tích đất đảo là 17.040ha, diện tích mặt nớc biển là 9.200 ha
Khu dự trữ sinh quyển Cát Bà đủ lớn, các giá trị bảo tồn chính phân bố tập trung
và biệt lập với khu dân c, rất thuận lợi cho việc tổ chức không gian các vùng chức năng, cụ thể là không gian bảo vệ nghiêm ngặt- vùng lõi, không gian phát triển có hạn định- vùng đệm, không gian hỗ trợ và khuyến khích phát triển cộng đồng- vùng chuyển tiếp
Trang 10- Vùng lõi: vùng lõi 1: là phần chính của Vờn quốc gia Cát Bà với diện tích mặt
đất 5.300 ha và 1.600ha mặt nớc biển, có chức năng là khu bảo tồn thiên nhiên, đợc Nhà nớc thành lập ngày 31 tháng 3 năm 1986 theo quyết định số 76/HĐ- BT của hội đồng Bộ trởng nay là Chính phủ nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam Tr-
ớc năm 1986 khu vực này là rừng núi, có nhiều loài động thực vật phong phú, là nơi đa dạng hệ sinh thái tiêu biểu rừng Việt Nam Đã có những công trình khảo sát, nghiên cứu của nhiều cơ quan, tổ chức trong nớc và quốc tế Đến nay vùng này vẫn thực hiện đợc chức năng chính là khu bảo tồn nhiều quỹ gen quý hiếm, bảo tồn đa dạng sinh học.Vùng lõi 1 gồm khu rừng nguyên sinh, rừng ngập nớc trên núi, rừng Kim giao, khu vực cây gỗ nhỏ, cây bụi và dây leo rậm trên núi đá vôi thuộc trung tâm Cát Bà, khu vực có 40% cá thể voọc sinh sống và các hệ sinh thái tùng, áng, rạn san hô thuộc vùng lõi hiện nay của rừng Quốc gia Cát Bà (loại trừ khu hành chính vờn quốc gia, thung lũng và làng Việt Hải)
Vùng lõi 2 nằm ở phía tây- bắc đảo Cát Bà với diện tích mặt đất là 1.200ha
và diện tích mặt nớc 400ha thuộc địa phận xã Gia Luận tiếp giáp với xã Phù Long Nơi đây là khu vực núi cao, địa hình hiểm trở, đa dạng hệ sinh học, ít có sự can thiệp của con ngời, thuận tiện cho việc bảo vệ nghiêm ngặt và quản lý, còn là nơi
có một số đàn voọc c trú Vùng lõi 2 gồm khu vực cây gỗ nhỏ, cây bụi và dây leo rậm trên núi đá vôi và là nơi có 30% các thể voọc hiện đang sinh sống Nó bao gồm bán đảo Hang Cái và một số hòn đảo nhỏ phụ cận (loại trừ thung lũng và làng Gia Luận)
+ Vùng lõi là nơi không có c dân sinh sống
- Vùng đệm: vùng đệm với tổng diện tích mặt đất 4.940ha bao gồm phần lớn diện tích xã Gia Luận 2.680ha, một phần diện tích xã Phù Long 1.354ha, một phần diện tích xã Hiền Hào 87ha, thôn Hải Sơn và một phần xã Trân Châu 930ha, diện tích làng Việt Hải thuộc xã Việt Hải 141ha, khu hành chính của vờn quốc gia Cát Bà
Trang 11340ha Phần diện tích mặt nớc từ bến đò Việt Hải đến giữa vịnh Lan Hạ, khu Vạn Bội- Vạn Hà 2.700 ha.
+ Kinh tế trớc đây chủ yếu là vùng nông nghiệp làm vờn, nơng rẫy, nghề đánh cá, khai thác gỗ, hái lợm sản phẩm rừng và một phần săn bắn Hiện nay chủ yếu là làm vờn, nơng rẫy, đánh cá, buôn bán nhỏ, phát triển du lịch và nghiên cứu bảo tồn V-
ờn quốc gia Cát Bà
+ Vùng đệm có 937 ngời, cơ cấu nh sau: xã Gia Luận 235 ngời, thôn Hải Sơn và một phần xã Trân Châu 420 ngời, xã Việt Hải 201 ngời Khu hành chính của Vờn quốc gia Cát Bà 81 ngời
- Vùng chuyển tiếp: tổng diện tích mặt đất vùng chuyển tiếp 5.600ha, thuộc 5 đơn
vị hành chính, bao gồm một số đơn vị an ninh quốc phòng, khu dân c tập trung Những xã Trân Châu, Hiền Hào, Xuân Đám, Phù Long với địa hình vừa có núi, v-
ờn, ruộng giáp biển, bãi triều, khu rừng ngập mặn và biển Cộng đồng dân c địa
ph-ơng phát triển các ngành nghề trồng trọt, chăn nuôi, nghề cá, vận tải
+ Diện tích mặt nớc 4.400ha, trong đó diện tích mặt nớc chủ yếu thuộc địa bàn xã Phù Long, Hiền Hào, Xuân Đám, Trân Châu, Vờn quốc gia Cát Bà có diện tích 4200ha và diện tích mặt nớc thuộc xã Gia Luận 200ha
+ Vùng chuyển tiếp có 4.306 ngời, cơ cấu nh sau: xã Gia Luận 351 ngời, toàn bộ dân số xã Phù Long 1893 ngời, toàn bộ dân số xã Hiền Hào 323 ngời, toàn bộ dân
số xã Xuân Đám 761 ngời, phần lớn dân số xã Trân Châu 978 ngời
Trang 12Chơng 2 Thực trạng du lịch sinh thái Cát Bà
2.1 Tổng quan về điều kiện tự nhiên, kinh tế- xã hội, lịch sử- văn hoá Cát Bà.
2.1.1 Điều kiện tự nhiên.
Nằm ở phía đông của Thành phố Hải Phòng giữa muôn trùng lớp sóng mênh mông của biển Đông xanh thẳm,nổi lên một bức tờng thành hùng vĩ hiên ngang chắn sóng đại dơng để tạo nên một vùng cửa biển lặng lẽ cho từng đoàn tàu biển ra vào Cảng Hải Phòng an toàn và yên tĩnh Đó là dãy núi hải đảo Cát Bà cách Thành phố Hải Phòng trên 30 hải lý
Cùng với toàn bộ vùng biển Đông Bắc Việt Nam (Hải Phòng-Quảng Ninh) hải đảo Cát Bà đợc hình thành liên quan tới nhiều biến cố địa chất và các thời kì dâng lên hạ xuống của mực nớc biển trên Trái Đất
Những tài liệu nghiên cứu địa mạo, địa chất cho thấy rằng: vào thời kì gần cuối pleistoxen (khoảng 30.000 năm trớc) mực nớc biển Đông dâng cao khoảng 15-30m
so với mức nớc biển hiện nay Lúc bấy giờ đảo Cát Bà cùng với các đảo khác của Vịnh Hạ Long đã che khuất hớng sóng Đông Bắc làm cho vùng Hải Phòng đợc tích
tụ thuận lợi Vào thời kì băng hà lần cuối của Trái Đất, do băng hà ở cực quả đất phát triển tăng lên làm cho mực nớc biển và đại dơng hạ thấp, vùng biển Đông làm nổi lên đồng bằng Vịnh Hạ Long nối liền với đồng bằng Vịnh Bắc Bộ Toàn bộ các dòng sông ở Đông Bắc Việt Nam lúc bấy giờ đều chảy về vùng này với tốc độ chảy rất lớn và gia nhập với sông Hồng chảy xuống phía Nam
Khi băng hà lần cuối bắt đầu tan, mực nớc đại dơng lại dâng cao và đợc gọi là thời kì biển tiến Flandrian Tốc độ biển tiến lúc đầu đạt 9m/1000 năm Khoảng 7000-7500 năm trớc, mực nớc biển Đông đã dâng cao đến độ sâu 50-60m của đáy
Trang 13Vịnh Bắc Bộ hiện nay và dừng lại đó một thời gian dài để hình thành bờ biển cổ ở
Sau khi đạt cực đại, mực nớc biển lại hạ thấp dần xuống độ cao +3m sau đó lại tiếp tục lùi dần cho đến ngày nay
Nh vậy trong suốt thời kì đệ tứ và đặc biệt là thời kì biển tiến Flandrian đến nay,
đảo Cát Bà luôn che khuất hớng sóng Đông Bắc tạo điều kiện cho Hải Phòng, Cát Hải, Đình Vũ phát triển ra biển thuận lợi Đồng thời nó cũng là cái đập khổng lồ chắn giữa vùng tam giac sông Hồng với Vịnh Hạ Long làm cho Vịnh này chẳng những không bị chất bẩn lấp đầy mà còn giữ đợc tính chất trong sạch của nớc biển (độ trong suốt lớn,độ mặn cao )
Cũng do sự biến động của mực nớc biển mà trên đảo Cát Bà còn nhiều di tích các quần thể thực vật, động vật và khảo cổ có liên quan Đó là những tài nguyên rất có giá trị tạo cho Cát Bà thêm vẻ kì thú tự nhiên
Toàn bộ vùng hải đảo Cát Bà là một vùng núi non khá hiểm trở ở độ cao dới 500m, trong đó phần độ cao từ 50-200m chiếm tỉ lệ cao và là độ cao đặc trng cho toàn đảo Đỉnh núi cao nhất là đỉnh Cao Vọng (322m) ở phía Bắc của hải đảo chính
Đảo Cát Bà chủ yếu là địa hình núi đá vôi xen kẽ với nhiều thung lũng lớn nhỏ Phần giữa đảo có một thung lũng hẹp chạy dài theo hớng Tây Bắc-Đông Nam Đó
là một thung lũng bằng phẳng bị bao quanh bởi các dãy núi đá vôi và ngăn cách với bên ngoài bởi những dốc đá cao hiểm trở gọi là khoăn nh: khoăn Đá Lát ở phía Nam, khoăn Eo Bùa ở phía Tây Bắc, khoăn Cao ở phía Bắc và một số khoăn khác
Trang 14thấp hơn cắt ngang thung lũng, thờng những thung lũng nhỏ hơn: cánh đồng Khe Sâu, đờng Tép, áng Trung Trang, áng Gia Luận, áng Dài
Giữa các dãy núi và đỉnh núi đá vôi là các thung lũng nhỏ tạo thành các tùng, áng
nh áng Vắt, áng Rebờđa, Mé Cồn, áng Dạng, áng Mồ, áng Cọ tùng Chi, tùng Bàng
Phía Nam của đảo chủ yếu là một dải đất diệp thạch độ cao trên dới 200m ngay sát bờ biển thuộc các xã Trân Châu, Xuân Đám, Hiền Hào và trung tâm Cát Bà Do
bị tàn phá nặng nề qua nhiều thế hệ nên địa hình ở đây trơ trọi, phần lớn chỉ còn
nh một lớp cỏ thấp
Ngoài ra do ảnh hởng trực tiếp của sóng biển và chế độ thuỷ triều, cửa sông nên vùng chân đảo phía Tây và Tây Nam còn có dạng địa hình bãi bồi Đó là các bãi bùn với kiểu sinh thái rừng ngập mặn ở Cái Viềng, Phù Long, các áng kín gió và các bãi cát mịn nh Cát Dứa, Cát Cò, Cát Ông, Cát Xanh Quý, Cát Vạn Bội Đó là các bãi tắm tuyệt diệu cuả thiên nhiên u đãi cho Cát Bà mà theo các nhà nghiên cứu thì những bãi biển của Cát Bà thuộc loại đẹp nhất của nớc ta
Do địa hình đá vôi hiểm trở mà khu vực trung tâm đảo còn giữ lại đựơc một thảm rừng ma nhiệt đới thờng xanh đặc trng của miền Bắc Việt Nam, với nhiều hang
động làm nơi trú ẩn và sinh sản của các loài chim, hú có giá trị của vùng này
Dạng địa hình hang động cũng là một đặc trng của Cát Bà và vùng đá vôi Hạ Long nói chung Những hang động đẹp và kì thú là động Đá Hoa Gia Luận (động Cao Vọng), động Trung Trang, hang Quân Y, Dân Y, hang Eo Bùa, hang Tiền
Đức, hang Luồn và rất nhiều hang động khác nằm rải rác từ trung tâm hòn đảo ra
đến tận các mép núi ven bờ biển Cát Bà với những vẻ đẹp kì lạ riêng của chúng Những dạng địa hình đặc trng trên đây của Cát Bà là kết quả của cả một quá trình lịch sử kiến tạo địa chất phức tạp có liên quan tới nhiều hoạt động kiến tạo hình thành nên vùng biển Đông Bắc Việt Nam
Trang 15Ngời ta cho rằng Cát Bà cùng với đồi núi Quảng Ninh thuộc rìa địa máng hiện đại Thái Bình Dơng đợc hình thành từ cuối vận động tạo sơn Caleđoni, đầu vận động tạo sơn Hecxini thuộc nguyên đại cổ sinh và có liên quan đến thời kì biển tiến Flandrian.
Đá mẹ chủ yếu là đá vôi hoa cơng với nhiều dạng khác nhau, diệp thạch sét và lẫn với nhiều khoáng vật khác Trên nền tảng địa chất đó, nhờ quá trình phong hoá, rửa trôi, bồi tụ đã tạo nên các loại đất khác nhau trong từng khu vực của đảo
Trên các sờn và đỉnh núi đá là sản phẩm phong hoá của đá vôi Trong các thung,
áng là các sản phẩm bồi tụ và đất Feralit trên diệp thạch sét
Các đồi trọc chủ yếu là đất phong hoá tại chỗ với quá trình Feralit là chính trên diệp thạch sét, đất màu nâu xám với nhiều đá lẫn Ngoài ra còn có loại đất bồi tụ
do phù sa của vùng cửa sông, đất ngập mặn là nơi đứng chân của các loài cây sú, vẹt tạo thành thảm rừng nội địa đới thờng xanh đặc trng cho kiểu rừng ngập mặn của bờ biển nớc ta
Với nền đá mẹ hầu hết là đá vôi cùng với các điều kiện địa hình karst và khí hậu nhiệt đới ẩm đã hình thành những loại đất đặc trng ở khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
- Đất feralit nâu đỏ dốc tụ chân núi đá vôi hoặc xung quanh thung lũng, chúng
đ-ợc tích tụ từ các đỉnh, sờn núi xung quanh trôi trợt xuống Đất thờng có độ ẩm khá, tầng dày phổ biến từ 50- 100cm, có phản ứng trung tính, cấu tợng viên hơi chặt, thành phần cơ giới từ thịt trung bình đến nặng, giàu mùn, thảm thực vật phát triển tốt
Trang 16- Đất feralit nâu vàng phát triển trên sản phẩm phong hoá đá vôi dốc tụ hỗn hợp
Đất này phân bố ở các thung lũng rộng có nớc chảy trên bề mặt nh Trung Trang, Việt Hải, Gia Luận Đất phản ứng trung tính, ít chua, giàu mùn, đất thờng bị khô hạn vào mùa khô, nơi thấp có thể bị ngập nớc tạm thời vào những ngày ma lớn Đất này đã đợc sử dụng trồng rừng, cây ăn quả và hoa màu
- Dốc tụ thung lũng: chúng phân bố ở các thung lũng, giếng karst có màu từ nâu vàng đến vàng nhạt, tầng đất dày từ 80- 100cm, giàu mùn, có phản ứng trung tính
đến chua, mùa ma có thể bị ngập tạm thời, mùa khô hạn thiếu nớc Một số diện tích đợc khai thác trồng lúa một vụ và trồng màu
- Đất bồi chua mặn: đất này có diện tích khoảng 40 ha, phân bố ở xã Xuân Đám
về phía biển Đây là loại đất bồi hỗn hợp biển- đầm lầy ở bãi triều cao sau này đợc
đắp đê ngăn mặn, cải tạo để cấy lúa 1- 2 vụ
- Đất mặn sú vẹt: đất này tập trung chủ yếu ở Cái Viềng, Phù Long và rải rác ở vài nơi quanh đảo thuộc bãi triều thấp Tại đây hình thành rừng ngập mặn có năng suất sinh học vùng triều khá cao và là hệ sinh thái độc đáo của đảo Cát Bà
Đặc điểm khí hậu khu vực:
- Tính chất nhiệt đới, có một mùa hạ nóng ẩm, ma nhiều (từ tháng 5- tháng 9) và một mùa đông lạnh ít ma (từ tháng 11- tháng 3)
- Tính biến động thờng xuyên của thời tiết và khí hậu do sự luân phiên tranh chấp của các khối không khí có bản chất khác nhau Khi không khí lạnh tràn về thì chỉ sau 24h, nhiệt độ có thể giảm từ 8- 10 độ Khi áp thấp nóng phía tây xâm lấn thì thời tiết rất khô nóng, nhiệt độ cao nhất tuyệt đối lên tới 37- 40 độ Khi không khí xích đạo chi phối mạnh lại gây thời tiết nóng, ẩm, dễ có giông, ma lớn, áp thấp nhiệt đới hoặc bão
- Là đảo ven bờ, khu vực còn chịu sự chi phối của biển dới tác động của gió biển-
đất làm điều hoà khí hậu, tạo nên mùa đông ấm hơn và mùa hè mát hơn so với đất liền
Trang 17Hoàn lu khí quyển và chế độ gió:
- Mùa hè (từ tháng 5- tháng 9) trùng với gió mùa tây nam, thời tiết nóng ẩm (nhiệt
độ trung bình thờng trên 25 độ) và ma nhiều kéo dài (lợng ma tháng trên 100mm), thờng xuất hiện bão, áp thấp nhiệt đới, giông
- Mùa giông (từ tháng 11- tháng 3) trùng với mùa gió đông bắc, trời rét lạnh, nhiệt độ trung bình dới 20 độ, ít ma (lợng ma thờng dới 100mm)
- Thời kì chuyển tiếp tháng 4 và 10, các khối không khí suy yếu và tranh giành
ảnh hởng nên thời tiết ôn hoà hơn, nhng u thế vẫn thuộc về các hệ thống mùa hạ
- Chế độ gió trên toàn khu vực chịu ảnh hởng của hoàn lu chung khí quyển và thay đổi theo mùa Tốc độ gió trung bình năm 2,5m/s, cao nhất vào tháng 7 (3,4m/s) và thấp nhất vào tháng 1 (1,8m/s) Mùa hè gió mùa đông nam có hớng thịnh hành đông nam và nam, tốc độ trung bình 2,5- 3,0m/s, cực đại 20- 30m/s Mùa đông gió mùa đông bắc có hớng thịnh hành bắc và đông bắc, sau chuyển hớng
đông và đông bắc vào cuối mùa, tốc độ trung bình là 2,5- 3,0m/s, tốc độ cực đại 20- 25m/s
- Mùa ma từ tháng 5- tháng 10, mùa khô từ tháng 11- tháng 4 năm sau Hàng năm
có 100- 150 ngày ma với tổng lợng ma trung bình năm 1806mm, dao động từ khoảng 1600- 2000mm Lợng ma phân bố theo 2 mùa:
+ Mùa ma (từ tháng 5- tháng 10), trung bình có trên 10 ngày ma/tháng với tổng ợng ma 1500- 1600mm, chiếm 80- 90% lợng ma năm Tháng ma nhiều nhất là các tháng 7, 8 và 9 do ma rào nhiều và bão, áp thấp nhiệt đới hoạt động mạnh Lợng m-
l-a trung bình xấp xỉ 300mm/tháng, cực đại vào tháng 8 đạt 408mm Đặc biệt lợng
ma lớn ngày đạt 160mm trong chu kì 5 năm, 186mm trong chu kì 10 năm và 257mm trong chu kì 50 năm Ma lớn xuất hiện khi triều kém tạo nên khả năng xói
lở bãi bên sông và tập trung phù sa thợng nguồn về rất lớn
Trang 18+ Mùa khô (tháng 11- tháng 4), trung bình có mỗi tháng 8- 10 ngày ma nhng chủ yếu ma nhỏ, ma phùn nên tổng lợng ma cả mùa chỉ đạt 200- 250mm Lợng ma thấp nhất vào các tháng 11, 12, trung bình chỉ đạt 20- 25mm/tháng.
- Tổng lợng bốc hơi đạt 700- 750mm/năm, xấp xỉ 50% tổng lợng ma năm Các tháng 10, 11 lợng bốc hơi lớn nhất trong năm, đạt trên 80mm và các tháng 2 và 3 l-ợng bốc hơi thấp, chỉ đạt 30mm Lợng bốc hơi cao trùng với địa hình karst của đảo
có khả năng thoát nớc lớn nên tình trạng khô kiệt xảy ra quanh năm Về mùa hè tính chất khô kiệt càng tăng cao vì chỉ ngay sau ma, nớc ma đã thoát hết xuống lòng đất đá vôi ra biển
Độ ẩm không khí:
- Độ ẩm tuyệt đối trung bình năm là 24,7mb, cao nhất vào tháng 7 đạt 32,6mb và thấp nhất vào tháng 1 đạt 15,1mb
- Độ ẩm tơng đối khá cao, trung bình năm khoảng 85% Thời kì đầu mùa đông,
độ ẩm trung bình 77-82%, các tháng còn lại độ ẩm đều trên 83%, không khí ẩm ớt,
mù trời Các tháng 9,10,11 khô hanh độ ẩm đạt dới 77%, bầu trời trong xanh Nhvậy vào quý 3 và đầu quý 4 hàng năm, bầu trời trong xanh, ánh nắng dồi dào, thuận lợi cho thực vật quang hợp và phát triển Vào cuối quý 4 hàng năm, bầu trời ẩm thấp mù trời thiếu ánh sáng
Chế độ nhiệt và bức xạ:
- Khu vực chịu ảnh hởng của bức xạ nhiệt đới nên cán cân bức xạ nhiệt luôn dơng
và bị phân hoá thành hai mùa do sự chi phối của hoàn lu cực đới:
+ Mùa hè (tháng 5- tháng 9) nóng, nhiệt độ trung bình trên 25 độ
+ Mùa đông (tháng 11- tháng 4) lạnh, nhiệt độ trung bình dới 20 độ
- Nhiệt độ không khí trung bình năm là 23- 24 độ khá đặc trng cho vùng nhiệt
đới Nhiệt độ cũng thay đổi theo mùa và theo chế độ gió, trung bình mùa hè là 27,9
độ, mùa đông là 19,8 độ Vào mùa hè các tháng nóng nhất là tháng 5, 6 và 7, có khi nhiệt độ đến 35-36 độ và kéo dài nhiều giờ trong ngày Vào mùa đông các
Trang 19tháng lạnh nhất là các tháng 12, 1 và 2, có lúc nhiệt độ xuống dới 10 độ và kéo dài 5- 7 ngày Chênh lệch nhiệt độ giữa hai mùa là 8- 10 độ và dao động nhiệt độ giữa ngày và đêm là 5- 6 độ Tổng nhiệt là 8000- 8500 độ/năm Trung bình hàng năm trong khu vực có 1600- 1800 giờ nắng.
- Bức xạ nhiệt: Do độ cao mặt trời các tháng trong năm đều lớn nên bức xạ mặt trời có giá trị khá cao Bức xạ nhiệt trung bình năm của vùng ven biển Hải Phòng
đạt 110- 115kcal/cm2
Bão và nớc dâng do bão: Bão đợc xem là một trờng hợp đặc biệt của gió có kèm theo ma và gây ra những tai hoạ lớn Bão sớm thờng có thể xuất hiện từ tháng 4 và kéo đến hết tháng 10 nhng tập trung nhiều vào các tháng 7, 8, 9 Tần suất của bão trong năm thờng không phân bố đều trong các tháng Tháng 12 là thời gian không
có bão, tháng 1- tháng 5 chiếm 2,5%, tháng 7- tháng 9 tần suất lớn nhất đạt 35- 36%
Đặc điểm thuỷ văn:
- Cát Bà là đảo đá vôi gần nh hệ thống sông suối trên đảo không phát triển Những dòng chảy tạm thời chỉ xuất hiện trong cơn ma và ngừng ngay sau khi ma Vào mùa ma nớc động lại ở những vùng nhỏ, thấm giọt trong các hang động Tuy rất ít nhng đây lại là nguồn nớc khá thờng xuyên cho động vật trên đảo Trên một số đảo nhỏ hoặc ven đảo lớn Cát Bà, nơi đứt gãy chảy qua, có xuất hiện nớc xuất lộ với dung lợng từ một vài lit đến vài chục lit mỗi ngày Nguồn nớc xuất lộ lớn nhất ở suối Thuồng Luồng, có lu lợng trung bình 5l/s, mùa ma 7,5l/s và mùa khô đạt 2,5l/s
- Cát Bà có các túi nớc ngầm nguồn gốc thấm đọng từ nớc ma đã khai thác 6 giếng khoan, trữ lợng khoảng 1500- 2000m3/ngày, mức độ khai thác cho phép khoảng 1000m3/ngày
Đặc điểm hải văn:
Trang 20- Thuỷ triều và mực nớc: Chế độ thuỷ triều mang đặc điểm chung của thuỷ triều vịnh Bắc Bộ, thuộc loại nhật triều đều biên độ cực đại gần 4m nhng thờng chậm pha hơn ở Hòn Dáu từ 20- 30 phút do ảnh hởng điều kiện địa hình khu vực Thuỷ triều khu vực mang tính nhật triều đều điển hình với hầu hết số ngày trong tháng là nhật triều: trong một ngày đêm có một lần nớc lớn và một lần nớc ròng Mỗi tháng
có hai kì nớc cờng, mỗi kì từ 11- 13 ngày, biên độ dao động 2,6- 3,6m, xen kẽ là hai kì nớc kém, mỗi kì 3- 4 ngày với biên độ 0,5- 1m Trong năm biên độ triều lớn vào các tháng 6, 7 và 11, 12; nhỏ vào các tháng 3, 4 và 8, 9
- Sóng: Khu vực Cát Bà sóng thờng xuất hiện và phát triển ở các hớng đông bắc
và đông nam Sóng hớng đông bắc độ cao trung bình 1,0- 1,5m chiếm tần suất 30%, chủ yếu xuất hiện vào thời kì gió mùa đông bắc thịnh hành Sóng hớng đông nam chiếm tần suất 25% chủ yếu phát triển ở độ cao 0,5- 1,0m, thờng gặp vào mùa
hè Sóng hớng nam thờng xuất hiện từ tháng 6- tháng 8, độ cao lớn nhất có thể đạt tới 2,8m Sóng hớng đông thờng xuất hiện vào thời kì chuyển tiếp giữa hai mùa gió
có tần suất lớn nhng độ cao nhỏ
- Dòng chảy:
+ Chế độ dòng chảy trong khu vực vừa chịu ảnh hởng của hệ thống hoàn lu vịnh Bắc Bộ, vừa mang những đặc trung riêng của vùng biển kín ven bờ Dòng chảy quanh đảo chủ yếu do dòng triều, dòng chảy gió thay đổi theo mùa và dòng ven bờ Vào mùa gió tây nam, dòng chảy hớng đông bắc có vận tốc trung bình 10- 20cm/s Vào mùa gió đông bắc, dòng chảy hớng tây nam đạt vận tốc trung bình 20- 30cm/s Khu vực vịnh Lan Hạ, dòng chảy khi triều lên đạt trung bình 15cm/s ở Cửa Vạn và 17cm/s ở khu vực giữa vịnh Lan Hạ Dòng triều xuống có hớng ngợc lại, nhng tốc độ lớn hơn, thờng đạt 25-40cm/s, ở các lạch hẹp nh Cửa Vạn và các lạch ở Cát Dứa, Cập Quan, Hòn Bụt tốc độ dòng chảy thờng có giá trị khá lớn Khu vực phía đông và đông bắc, nơi tiếp giáp với Vịnh Hạ Long, dòng chảy khá yếu, vận tốc trung bình 10- 15cm/s
Trang 21+ Khu vực đông nam Cát Bà hớng chảy khá phức tạp, tốc độ trung bình từ 18- 12cm/s, nơi mạnh là 20- 30cm/s và có thể đạt tới 50cm/s ở các lạch hẹp Khu vực này chịu ảnh hởng của dòng chảy mùa, nên có độ đục cao vào mùa hè do dòng nớc
đục hớng tây nam từ Đồ Sơn lên Vùng ven bờ Cát Hải, dòng triều lên đến Gia Lộc
rẽ thành hai nhánh chảy về bến Gót ở bên phải và Hoàng Châu ở bên trái với tốc độ cực đại 90cm/s Dòng triều xuống hớng ngợc lại
- Đặc điểm thuỷ hoá và chất lợng nớc
+ Nhiệt độ nớc: Nhiệt độ nớc biển đảo Cát Bà thay đổi khá lớn, phụ thuộc vào nhiệt độ khí quyển Trong năm, nớc biển Cát Bà có nhiệt độ thấp nhất vào tháng 2, khoảng 15 độ và cao nhất vào tháng 7, nhiệt độ của lớp nớc mặt có thể đạt tới 31
độ.Vào mùa ma nhiệt độ nớc nằm trong khoảng từ 21 độ- 31 độ Có sự phân tầng
về nhiệt độ: nhiệt độ nớc giảm theo độ sâu với gradien nhiệt độ khoảng 0,1độ/m trở lên Vào mùa khô, nhiệt độ của nớc nằm trong khoảng từ 15 độ đến 20 độ
+ Độ đục của nớc: độ đục nớc biển Cát Bà thay đổi không lớn và không có sự khác biệt lớn giữa các mùa Mùa ma, độ đục trong khoảng từ 10- 50 mg/l, trung bình là 30mg/l Mùa khô, độ đục trong khoảng từ 20- 50mg/l, trung bình là 31mg/l Trong cả hai mùa, độ đục của lớp nớc đáy luôn cao hơn lớp nớc mặt
+ Độ muối: độ muối của nớc biển Cát Bà dao động từ 19% vào tháng 8 đến 34% vào tháng 2 Vào mùa ma, độ muối thay đổi trong một khoảng khá rộng, từ 19%-
295 do ảnh hởng của nớc lục địa , mùa ma độ muối trung bình là 28% Vào mùa khô, độ muối cao và ổn định, nằm trong khoảng từ 30- 34%m, độ muối trung bình khoảng từ 32,5%
+Độ pH: pH của nớc biển Cát Bà biến đổi trong một khoảng khá hẹp, từ 7,9- 8,3 Vào mùa ma,pH thấp và nằm trong khoảng từ 7,9- 8,2, trung bình khoảng 8,0 Vào mùa khô,pH cao hơn so với mùa ma và nằm trong khoảng từ 8,1- 8,3, trung bình khoảng 8,2
Trang 22+ Nớc ngầm: nớc khoáng: ở Xuân Đám có 3 điểm mỏ nớc khoáng đợc đánh dấu
kề cận với đới giao cắt của 3 hệ thống đứt gãy phá huỷ định hớng tây bắc- đông nam, đông bắc- tây nam và á kinh tuyến nhng cha rõ chất lợng và tiềm năng
Nớc ngầm khe nứt và karst: nớc ngầm ở đây tơng đối nhạt với M< 1g/l, thuộc loại bicarbonate chlorua canxi, chlorua bicarbonate magie Nớc này chứa trong khe nứt, thể karst của đá vôi, đá vôi silic, đất set vôi, với bề dày có thể tới hàng trăm mét Theo đánh giá bớc đầu, tầng chứa nớc pl của đảo Cát Bà có thể cung cấp lợng
- Vùng chuyển tiếp: 4.306 ngời, cơ cấu là: xã Gia Luận 351 ngời, toàn bộ dân số xã Phù Long 1893 ngời, toàn bộ dân số xã Hiền Hào 323 ngời, toàn bộ dân số xã Xuân Đám 761 ngời, phần lớn dân số xã Trân Châu 978 ngời
Dân số khu dự trữ sinh quyển thuộc vùng nông thôn là 5.234 ngời
Trong khu dự trữ sinh quyển có hai cộng đồng dân c sinh sống đó là dân tộc Kinh
và ngời Việt gốc Hoa Ngời Kinh với số nhân khẩu là 5.034 ngời chiếm 96,17% Ngời Việt gốc Hoa có 200 ngời chiếm 3,83% dân số toàn vùng
Trang 23Cơ cấu lao động không đồng đều, lao động làm công nghiệp có 48 ngời, lao động nông nghiệp có 1.577 ngời, lao động xây dựng có 44 ngời, lao động làm du lịch và dịch vụ có 247 ngời Trong số lao động nông nghiệp có 81 ngời thuộc Vờn Quốc Gia Cát Bà.
Hoạt động kinh tế chính của vùng chủ yếu có hai ngành:
- Tại vùng lõi: Chỉ tiến hành các hoạt động bảo tồn, nghiên cứu khoa học, giáo dục và du lịch sinh thái
- Tại vùng đệm: gồm các hoạt động dịch vụ du lịch, trồng cây gây rừng, sản xuất lơng thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm vờn, trồng cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ hải sản, đánh bắt cá, chế biến thuỷ hải sản, hoạt động thơng mại, vận chuyển
- Tại vùng chuyển tiếp: gồm các hoạt động kinh doanh thơng mại, xây dựng, sản xuất lơng thực, chăn nuôi gia súc, gia cầm, làm vờn, trồng cây ăn quả, nuôi trồng thuỷ hải sản, đánh bắt cá, chế biến hải sản, vận chuyển
Nguồn nớc cung cấp cho sinh hoạt tại thị trấn Cát Bà là nguồn nớc ngầm từ các giếng khoan:
- Giếng Liên Xô: xây dựng từ năm 1986 do Liên Xô thiết kế, công suấ = 150m3/ ngày đêm Bơm lên bể Ngã Ba và đến nơi tiêu thụ cho khu dân c gần ngã 3
- Giếng Ngọc và giếng nớc khoáng: nớc hai giếng này đợc bơm trực tiếp lên bể núi 1, bể này có dung tích V= 200m3 chủ yếu phục vụ cho khu du lịch
Ngoài ra nguồn nớc sinh hoạt cho thị trấn Cát Bà là các nguồn nớc lộ thiên (hang Thuồng Luồng, suối Xuân Đám, suối Hiền Hào và suối Khe Sâu )
Hiện trạng cấp điện: nguồn điện cấp cho huyện đảo Cát hải là đờng dây 35kv lới
điện quốc gia từ trạm biến áp Biểu Nghi 110/35kv (Yên Hng).Từ trạm trung gian
đờng dây 35kv dẫn ra đảo Cát Bà và cấp cho 15 trạm biến áp 35/0,4kv phụ tải của khu vực thị trấn, Vờn Quốc Gia Cát Bà và một số xã lân cận Hệ thống lới điện mới
đợc xây dựng từ năm 1997 do đó chất lợng tốt đảm bảo cung cấp điện cho toàn
Trang 24khu.Tuy nhiên lợng điện dao động theo mùa Do đặc điểm khu vực là khu du lịch cho nên vào những lúc cao điểm (mùa hè) công suất lên đến gần 1triệu kw/h.
Cơ sở hạ tầng: tại thị trấn Cát Bà hầu hết cơ sở hạ tầng phục vụ để phát triển du lịch nên đợc đầu t một cách kĩ lỡng và tốc độ phát triển rất nhanh
- Giao thông đã có nhiều biến chuyển một cách đáng kể Đã mở nhiều tuyến phục
vụ du khách trên đảo nh tuyến đờng du lịch Cát Bà- Gia Luận- Tuần Châu; tuyến Cát Bà- Bến Bèo qua đờng núi xẻ; đờng nối liền giữa các bãi tắm Cát Cò 1, 2, 3 +Mở rộng tuyến đờng du lịch khu cảng cá (từ chợ Cát Bà- Chùa Đông) tạo ra khung cảnh thoáng mát, thoải mái cho du khách
+ Tuyến đờng bộ xuyên đảo Hải Phòng- Cát Hải- Cát Bà là tuyến đờng chủ đạo
Đây là điều kiện thuận lợi cho sự đi lại của du khách bằng phơng tiện ô tô, xe máy nhất là những ngày có thời tiết xấu, sóng to, gió lớn
+ Tăng cờng thêm tuyến Hà Nội- Hải Phòng- Cát Bà bằng phơng tiện ô tô, tàu thuỷ cao tốc của công ty TNHH vận tải Hoàng Long Ngoài ra còn có nhiều chuyến tàu Hải Phòng- Cát Bà đi lại trong ngày đáp ứng đợc nhu cầu đi lại của du khách Chỉ mất 1 giờ đồng hồ nếu đi bằng tàu cao tốc và 2,5 giờ nếu đi bằng tàu thuỷ là đã có thể có mặt trên đảo Cát Bà
+ Thông xe kĩ thuật đờng Hiền Hào- Vờn quốc gia Cát Bà với chiều dài hơn 4km, nền đờng rộng 7,5m, mặt đờng rộng 5,5m, kết cấu đờng là nhựa thấm nhập 5,5kg/m3 Tổng giá trị đầu t cho dự án là 15,7 tỷ
- Các khách sạn, nhà nghỉ ngày càng có sự đầu t lớn về trang thiết bị, phòng buồng ngày càng nâng cấp hiện đại hơn đáp ứng nhu cầu phục vụ khách đến Cát
Bà, tiêu chuẩn xếp hạng ngày càng tăng, đã có các khách sạn 4 sao nh Vinaconex, khách sạn 3 sao nh Hớng Dơng 1
Đặc biệt công ty TNHH Trờng Bình Minh vừa khai trơng khu nghỉ mát tại bãi Cát Có 3 Dự án này đợc thành phố phê duyệt từ năm 2002 và có tổng vốn đầu t là khoảng 50 tỷ đồng với nhiều hạng mục đợc thiết kế theo kiểu kiến trúc du lịch sinh
Trang 25thái kết hợp nghỉ dỡng: hệ thống xử lý nớc thải, một khách sạn 40 phòng cao cấp, khu nhà đa năng, bể bơi với sức chứa 385m3 nớc, khu quầy bar bãi biển Thời gian tới công ty tiếp tục đầu t vốn để xây dựng 3 khu biệt thự nhỏ Nguồn khách du lịch chính ở khu nghỉ mát này là khách VIP Với phong cảnh đẹp phù hợp với môi trờng sinh thái, khu nghỉ mát Sunrise Resort này đợc giới kinh doanh du lịch đánh giá là khu nghỉ mát cao cấp có phong cảnh, môi trờng sinh thái lý tởng nhất hiện nay ở Hải Phòng.
Hàng năm để quản lý và điều hành giải quyết các vấn đề chung cho khu dự trữ sinh quyển, nguồn tài chính và ngân sách hàng năm đợc huy động từ những nguồn vốn:
- Vốn ngân sách của Chính phủ Việt Nam đầu t cho hoạt động bảo tồn Vờn quốc gia Cát Bà là 2tỷ/năm
- Vốn ngân sách Chính phủ Việt Nam đầu t cho chơng trình phát triển cơ sở hạ tầng du lịch năm 2001 là 33 tỷ đồng, năm 2002 khoảng trên 100 tỷ, có thể đến năm
2005 bình quân mỗi năm 50 tỷ đồng Việt Nam
- Vốn chơng trình biển Đông hải đảo của Chính phủ Việt Nam bình quân mỗi năm 20 tỷ (bao gồm cho cả vùng phụ cận của khu dự trữ sinh quyển)
- Nguồn thu Chính phủ Việt Nam để lại cho khu vực Cát Bà tái đầu t từ 5- 10 tỷ/năm
- Vốn ngân sách thành phố Hải Phòng đầu t cho công tác giáo dục, y tế, văn hoá xã hội 2 tỷ/năm
- Nguồn vốn hỗ trợ của các tổ chức trong nớc và quốc tế là 2 tỷ/năm
Tổng hợp các nguồn dự kiến sẽ có khi khu dự trữ sinh quyển đợc đề cử:
- 60% từ Liên Hợp Quốc và tổ chức khác
- 20% từ tổ chức vùng
- 20% từ quốc gia và các vùng ngoài khu dự trữ sinh quyển Cát Bà
Trang 26B¶ng 1 B¶ng chØ tiªu kinh tÕ huyÖn C¸t H¶i
Trang 272.1.3 Lịch sử - Văn hoá Cát Bà.
Với nguồn tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, từ thời kì xa xa tổ tiên ta đã biết sử dụng và chế ngự thiên nhiên để phục vụ đời sống Những phát hiện và nghiên cứu khảo cổ học đã bớc đầu cho thấy đợc những nét cơ bản của quá trình phát triển của con ngời c trú và sinh sống trên đảo Cát Bà đó chính là nguồn tài nguyên văn hoá lâu đời tăng thêm giá trị to lớn cho việc xây dựng Vờn Quốc Gia Cát Bà Những di tích và c trú của con ngời thuộc thời kì tiền sử trên đảo tuy phát hiện cha đợc nhiều nhng những cái phát hiện đợc lại rất điển hình tiêu biểu cho các giai đoạn phát triển của con ngời từ khoảng 7000 năm đến 4000 năm trớc đây trên vùng ven biển Đông Bắc nớc ta Theo tài liệu hiện nay, dấu vết c trú sớm nhất của con ngời trên mảnh đất này là các di chỉ của ngời c trú trong các hang động nh hang Đục ở Đảo Hang, hang Eo Bùa ở cạnh đờng Lâm trờng đi xã Hiền Hào, trong các hang động này đã tích đầy những vỏ ốc của con ngời bắt về ăn, lẫn vào đó là những hòn kê, hòn đập, bàn nghiền bằng đá Những dấu vết đun nấu, những xơng thú bị nớng cháy cùng với những di tích ấy còn tìm thấy nhiều rìu đá mài và quan trọng hơn cả con ngời thời này đã biết chế đồ đựng, đồ đun nấu bằng đất nung, kết quả phân tích tuổi tuyệt đối bằng cacbon phóng xạ C14 đối với các di chỉ này cho thấy niên đại của con ngời sống ở đây là khoảng 6480 năm + - 60 năm cách ngày nay và là giai đoạn tiếp sau của nền văn hoá Bắc Sơn Những nghiên cứu nhận xét của một nhà khảo cổ học ngời Thuỵ Điển là Anđecxon về những đống tàn tích thức
ăn rất lớn của con ngời để lại trong hang đợc cho thấy rằng trong đống thức ăn có thể là 90% loại Melania, 9% là loại Horixit còn lại 1% là loại vô hại là loại hầu rất
to và loại sò biển Những ngời sống trong các hang này thời kì đó rõ ràng là đã hoạt
động trong môi trờng lục địa và theo kết quả nghiên cứu đáy Vịnh Bắc Bộ thời kì
7000 năm đến 6000 năm trớc đây thì bờ biển này còn cách xa hòn đảo Cát Bà ngày nay khoảng 70km, bờ biển đó nằm ở độ sâu 25-30m so với mực nớc biển hiện nay Bớc vào giai đoạn tiếp theo dấu vết c trú của con ngời đợc phát hiện rất ít trong
Trang 28vùng ven biển Đông Bắc, mới chỉ phát hiện đợc một di chỉ Cái Bèo trên đảo Cát Bà,
đây là một di chỉ ngoài trời khác với giai đoạn trớc, quy mô di chỉ lớn hơn rất nhiều, dân số tăng lên rõ rệt Di chỉ Cái Bèo nằm trên bãi cát bờ biển cách thị trấn Cát Bà 1,5km về phía Đông Nam, khu vực này kín gió, mặt Đông Nam hớng ra biển, các mặt khác đợc bao quanh bởi dãy núi Long Nham, địa điểm này đã đợc nhà khảo cổ học Pháp là Maccolani phát hiện và đào năm 1938 Gần đây các nhà khảo cổ học Việt Nam đã tiến hành khai quật với quy mô lớn hơn nhằm tìm hiểu sâu về địa tầng di chỉ nơi đây Những di vật của con ngời còn để lại ở khu di chỉ này chủ yếu nằm sâu ở lớp 1-3m thể hiện sự tiến bộ của con ngời ở giai đoạn này Bên cạnh những hòn kê, hòn đập, bàn nghiền, những công cụ chủ yếu dùng để gia công những sản phẩm sẵn có của thiên nhiên, những sản phẩm con ngời tạo ra và thu lợm về nh giai đoạn trớc, lúc này còn phổ biến sử dụng những công cụ ghè đẽo, loại công cụ này đợc chế tạo từ các viên cuội hình dáng phổ biến nhất là loại mũi nhọn Do sử dụng nhiều nên các vết ghè trên công cụ đã bị mờ đi nhiều Những chiếc rìu mài đợc chế tạo tinh vi kích thớc có chiều hớng nhỏ dần lúc này đợc sử dụng khá phổ biến Nồi đun loại bằng đất nung đã là dụng cụ thông dụng, loại phổ biến nhất là nồi đáy bằng, cổ thắt, miệng loe, hoa văn trang trí ít Theo phân tích thì ngời Cái Bèo có mặt ở đây cách ngày nay khoảng 5645+- 115 năm hiệu chỉnh theo tuổi vòng cây là 6475+- 205 năm cách ngày nay Những tàn tích thức ăn của ngời Cái Bèo để lại đến ngày nay không phải là ốc Melania sống trong môi trờng nớc ngọt mà chủ yếu là những động vật sống trong nớc biển trong đó nhiều nhất là xơng cá, các loại cá thờng thấy là đại hồng ng, cá úc, cá sạo Ngoài ra còn phát hiện đợc nhiều xơng, răng động vật rừng mà con ngời thu thập về làm thức ăn, x-
ơng và sừng của một số loài đợc dùng làm chế tạo công cụ sản xuất và đồ dùng Nhiều xơng ống đã bị đập vỡ để hút tuỷ, một số xơng có vết lửa cháy, một khác có vết đẽo, chặt, nó chứng tỏ các mục đích kể trên của con ngời Ngoài xơng cốt động vật biển, các thành phần vật chất khác trong tầng văn hoá này cũng có nguồn gốc
từ biển Rõ ràng con ngời ở đây đã hoạt động và sinh sống trong một môi trờng
Trang 29biển và đất Cát Bà đã tách khỏi lục địa trở thành một hòn đảo lớn ở vùng ven biển
Đông Bắc nớc ta Tài liệu khai quật của viện khảo cổ học năm 1973 ở di chỉ Cái Bèo cho thấy rằng ngời Cái Bèo đã ở trên một lớp đất sét màu vàng dẻo quánh có lẫn các tảng đá vôi không lớn, đây chính là phần dới của vỏ đất phong hoá đá vôi nằm tại chỗ mà không phải là lớp cát thuộc dới bãi biển Bề mặt c trú đầu tiên này nằm dới những xơng cá đầu tiên tìm thấy đợc ở đây,đáng chú ý hơn cả là sự có mặt phổ biến của các loài cá sạo, cá úc, loại cá chịu đợc sự biến đổi lớn về độ mặn trong nớc và thờng xuất hiện ở hồ, vịnh, cửa sông vào thời điểm cuối xuân sang
hè loại cá này thờng kết đàn vào bờ để đẻ Kết quả nghiên cứu cho thấy nếu mực
n-ớc biển thấp hơn hiện nay khoảng 2m thì sông Cổ chảy ra biển ở phía Nam đảo Cát
Bà sẽ là nơi rất tốt cho loài cá này ra, vào kiếm mồi và sinh sản Tất cả những điều
đó cho thấy một vùng biển nông xung quanh đảo Cát Bà vào thời kì ngời Cái Bèo
có mặt ở đây hoạt động của biển tiếp tục dâng cao vây kín cả nơi c trú của ngời Cái Bèo Điều đó cũng có thể giải thích đợc tình trạng hiện nay ít tìm đợc những di chỉ giai đoạn này Khi mức nớc biển tiếp tục rút đi vào khoảng 5000 –4000 năm cách ngày nay, một lớp ngời mới, lớp ngời thuộc giai đoạn cuối cùng của giai đoạn tiền
sử mà ngày nay gọi là ngời Hạ Long đã mở rộng phạm vi c trú của mình ra vùng ven biển rồi ra các hải đảo ở Đông Bắc nớc ta, đến nay đã phát hiện gần 20 điểm ctrú của ngời Hạ Long nhng các điểm c trú này phân bố từ Móng Cái đến Cát Bà có thể bao gồm một phần đất của tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) Di vật của ngời Hạ Long để lại đến ngày nay hết sức phong phú,nó không những thể hiện rõ nguồn gốc giữa ngời Hạ Long với ngời Cái Bèo năm xa mà còn thể hiện đợc sự phát triển
về nhiều mặt của con ngời trong điều kiện thuân lợi mới của môi trờng Các loại rìu
đôn bằng đá chế tạo tinh vi, kích thớc nhỏ nhiều kiểu dáng mới ra đời mang tính chất điển hình cho văn hoá Hạ Long là những chiếc rìu, choé là những tiêu bản tiền thân của rìu đồng sau này Những chiếc bôn có vai, có nấc rất độc đáo và phổ biến
Đồ đựng bằng đất nung không những có nồi mà còn bình đất, bát, ấm, chậu thể hiện sinh hoạt vật chất khá phong phú của con ngời Trên các đồ gốm ngoài các
Trang 30hoa văn mang tính chất kĩ thuật còn phổ biến, còn đợc trang trí bằng hoa văn mang tính nghệ thuật cao thể hiện sự suy t, ớc vọng của con ngòi lúc bấy giờ Nội dung hoạ tiết và phong cách trang trí gợi bóng dáng của phong cách trang trí trên trống
đồng sau này Cuộc sống tinh thần của con ngời Hạ Long không chỉ có thế, việc làm cho con ngời thêm đẹp, thêm duyên dáng cũng là một xu thế đợc coi trọng Nhiều loại vòng tay, chiếc khuyên tai bằng đá đã đợc phát hiện Trong một ngôi
mộ của ngời Hạ Long đã phát hiện đợc hàng nghìn chuỗi hạt đợc làm bằng vỏ sò,
vỏ trai, đốt sống cá, hàng chục hạt chuỗi bằng xơng đợc chế tạo hết sức tinh tế Những su tập điển hình của văn hoá Hạ Long không chỉ gói gọn trong phạm vi phân bố văn hoá này Đến nay qua tài liệu một số nớc Đông Nam á cũng đã phát hiện đợc các di vật này trong một nền văn hoá đơng thời Đó là các bằng cớ cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa ngời Hạ Long và các c dân khác cùng thời trong khắp cả vùng Những dấu vết c trú của ngời Hạ Long trên đảo Cát Bà đợc tìm thấy
ở hai địa điểm: bến Thuyền xã Hiền Hào và trên làng của ngời Cái Bèo năm xa ở khu di chỉ Cái Bèo, di tích của ngời Hạ Long nằm ở lớp trên ở độ sâu 0,4-1m phân cách với lớp di chỉ của ngời Cái Bèo bởi một tầng sạn con, tầng sạn này nhọn dần
về phía chân núi, chiều dày tăng dần về phía biển, có chỗ tầng sạn dày 0,7m, có 91% qua sàng 5mm và 8% qua sàng 2mm, thành phần hoàn toàn là sạn đá vôi màu xám đen, có độ mài tròn tốt và tròn dẹt Điều đó chứng tỏ thành phần sạn này có độ chọn lọc cao về thành phần kích thớc và độ mài tròn, nó có cả nguồn gốc biển và thuộc tớng bãi biển Những di vật tìm đợc ở tầng văn hoá này không những mang
đủ tính chất định hình của văn hoá Hạ Long mà còn có đặc điểm riêng của nó thể hiện những con ngời Hạ Long đến đây sinh sống đã ở giai đoạn muộn, giai đoạn phát triển cao của nền văn hoá này Lịch sử tiếp theo của con ngời trên hòn đảo giữa biển khơi này gắn với truyền thống anh hùng 4000 năm lịch sử của cha ông ta
từ thời Hùng Vơng dựng nớc và giữ nớc chống lại bọn giặc xâm lăng Bằng chứng
về sức mạnh vô biên của con ngời trớc các thế lực lớn của thiên nhiên còn đợc ghi
Trang 31lại trong nhiều truyền thuyết lịch sử cận đại và hiện đại của con ngời trên mảnh đất Cát Bà trong truyền thống chung của dân tộc Truyền thuyết “bẩy ngày ba bão” đó
là vào kỳ mở hội Đồ Sơn, thuyền các bà đi trảy hội từ vùng Thái Bình qua bị bão to làm đắm thuyền, xác các bà bị bão thổi trôi dạt đến các vùng là các đảo hiện nay Một xác trôi về cảng cá nay có đền thờ Các Bà Một xác trôi về bãi biển Hiền Hào nay có đền thờ Hiền Hào và một xác trôi về áng Ván nay có đền thờ áng Ván Vài ngày sau trận bão thuyền các ông đi tìm kiếm cũng bị cơn bão tiếp theo vùi dập và
đa xác các ông về đảo Các Ông hiện nay, ở đó cũng dựng đền thờ Các Ông
Một truyền thuyết khác về hòn đảo gắn liền với truyền thống chống giặc ngoại xâm của dân tộc ta Đó là vào thời kì đầu dựng nớc bọn giặc phơng Bắc kéo quân xâm lợc nớc ta C dân trên hòn đảo đã đứng lên theo bớc anh hùng chống giặc Tục truyền rằng ngày ấy đàn ông phải ra trấn giữ ở hòn đảo nhỏ ở phía trớc còn đàn bà
ở lại đảo chính làm nhiệm vụ tiếp tế lơng thực vì thế hòn đảo lớn đợc gọi là đảo Các Bà còn hòn đảo nhỏ phía trớc đợc mang tên là đảo Các Ông Trong các thời kì lịch sử tiếp theo của dân tộc ta đảo Cát Bà vẫn nằm trên địa phận hành chính của n-
ớc nhà và là nơi dân c trù phú sinh sống bằng nghề khai thác cá dới biển và kiếm mật ong trên rừng
Do có đặc điểm địa hình núi rừng hiểm trở, tài nguyên phong phú, từ xa xa các nhà quân sự đã rút ra một kết luận:
đấu đánh trả quyết liệt Mở đầu là cuộc khởi nghĩa của Hoàng Thống Tề Hoàng
Trang 32Thống Tề ngời trai làng Trân Châu đã dựng cờ khởi nghĩa chống lại hành động bán nớc của nhà Nguyễn (vào năm 1873- 1874) Từ đất Cát Bà, nghĩa quân đi tới đâu bọn quan lại phong kiến bị đánh tan tới đó, càng đánh càng mạnh Khi cuộc khởi nghĩa lan rộng tới Quảng Yên- Hải Dơng tràn xuống Thái Bình, triều đình nhà Nguyễn đã phải tập trung lực lợng đối phó Trên đờng biển, em gái Hoàng Thống
Tề là bà Hoàng Lan Vù cũng đã huy động một đạo quân tiến dọc theo bờ biển về hợp với đạo quân của Hoàng Thống Tề tại Thái Bình Đứng trớc sức mạnh của quân đội triều đình, cuộc khởi nghĩa của hai anh em Hoàng Thống Tề và Hoàng Lan Vù đã bị dập tắt Cuộc khởi nghĩa này đã khẳng định lòng yêu nớc, tinh thần dũng cảm của ngời dân trên đảo nói chung và của phụ nữ Cát Bà nói riêng
Vào những năm 1889- 1893 phong trào chống thực dân Pháp xâm lợc của nhân dân Bắc Kỳ dấy lên mạnh mẽ Thực dân Pháp và triều đình phong kiến thẳng tay
đàn áp phong trào Tiền Đức, một thủ lĩnh nghĩa quân miền duyên hải đã lui quân
về đảo Cát Bà xây dựng củng cố lực lợng, vùng núi non hiểm trở Cát Bà trở thành một trong những căn cứ chính của nghĩa quân Tiền Đức đã dựa vào địa hình vùng Trung Trang, Mái Gợ, Trà Báu xây dựng đồn tiền, đồn trung, đồn hậu Cả căn cứ đ-
ợc bố phòng nh một trận địa cố thủ kiên cố với bẫy đá hầm chông Dân trên đảo tích cực tham gia phong trào của nghĩa quân Tiền Đức đã lựa chọn một số dân địa phơng trong đội quân của mình để giao nhiệm vụ quan trọng Hiện nay vẫn còn một số hang mang tên hang Tiền Đức ở xã Việt Hải, phía đông đảo Cát Bà
Thực hiện âm mu chiếm lâu dài đất nớc ta, chiếm giữ khu cửa ngõ cảng Hải Phòng, trấn áp các phong trào cách mạng của nhân dân ta Từ năm 1933 thực dân Pháp đã đem lực lợng và vũ khí đến xây dựng pháo đài ở Cát Bà Năm 1945 phát xít Nhật chiếm Cát Bà làm căn cứ để xâm lợc nớc ta Truyền thống anh hùng chống giặc giữ nớc đã đợc các thế hệ tiếp sau giữ vững và phát huy để bảo vệ quê hơng
đất nớc Chiến khu di tích Hà Sen nổi tiếng đặt trong vùng núi hiểm trở, núi cao, rừng rậm với nhiều hang động bí hiểm đã là nơi chôn thây của biết bao kẻ thù và
Trang 33cũng là nơi cất giấu cán bộ của ta Đây là rừng giao tiếp giữa hai địa phận cán bộ đi công tác từ khu căn cứ Hà Sen về Hải Phòng qua Cát Hải sang Hà Nam Nhiều lần
địch rợt đuổi cán bộ của ta song khi đã lọt đợc vào khu rừng cấm Ninh Tiếp này là thoát khỏi sự rợt đuổi của địch Mặc cho thuỷ triều lên xuống, địch bao vây, xả súng bắn, cán bộ của ta vẫn đợc an toàn Căn cứ kháng chiến của nhân dân Cát Bà ngày càng vững mạnh và vững chắc Các đầu mối giao thông liên lạc từ khu căn cứ
Hà Sen đi các nơi đợc khai thông Lo sợ sự lớn mạnh của quân dân đảo Cát Bà về quân sự cũng nh về tổ chức kháng chiến, địch chuẩn bị một lực lợng cấp tiểu đoàn
đợc trang bị vũ khí mạnh nhằm tấn công tiêu diệt khu căn cứ du kích Hà Sen.Địch huy động nhiều binh chủng vào trận đánh, tàu thuỷ bắn pháo vào làng dọn đờng, máy bay ném bom, quân bộ tấn công, chúng còn lấy thêm ngời Việt phục vụ Xã Trân Châu là điểm quân địch tập trung hớng tấn công lớn nhất Nhân dân trong xã
đã thực hiện chiến dịch ‘vờn không nhà trống”, thành lập các tổ canh gác theo dõi diễn biến vận động của địch, truyền tin bằng liên lạc để cho cán bộ và nhân dân đối phó Sau khi đã bắn pháo vào dọn đờng, địch sợ quân dân đánh úp dò dẫm tiến quân vào làng Chúng không gặp một sự chống trả nào, không gặp một ngời dân nào, bực tức địch đã quay sang thiêu rụi tất cả, chúng đốt nhà dân,đốt đình làng Trân Châu, đốt chùa , lửa cháy bốc cao suốt ngày đêm hòng khủng bố tinh thần nhân dân Đứng nhìn ngọn lửa mà kẻ thù xâm lợc đốt cháy những công trình văn hoá thiêng liêng đợc xây dựng từ bao đời, đốt cháy thành quả lao động ngời dân xã Trân Châu không những không khiếp sợ mà ngợc lại càng căm thù quân xâm lợc
và bè lũ tay sai và càng ra sức ủng hộ kháng chiến, những hạt gạo, hạt ngô, củ khoai, củ sắn còn sót lại đợc chia sẻ nuôi sống nhân dân cán bộ trong những lúc khó khăn Ngời làng Trân Châu không thể không nhắc tới bà Phạm Thị Thép và biết bao bà mẹ, ngời chị đã vận động quyên góp lơng thực cho cơ quan kháng chiến Những chiến sỹ C919 biết đến bao giờ quên bữa ngô bung tại nhà bà Lê Thị
Y xã Hiền Hào Hũ ngô giống của gia đình bà Y đã gieo vào lòng các chiến sỹ, thôi thúc ý chí chiến đấu bảo vệ nhân dân, bảo vệ đảo đến cùng Thế hệ trẻ hải đảo
Trang 34Cát Bà mãi mãi tự hào về tấm gơng chiến đấu dũng cảm của thiếu niên Hoàng Văn Vọng , ngời áng Sỏi, xã Trân Châu, đã dùng địa lôi giết đợc một tên Pháp thu đợc
vũ khí về cho du kích Chú bé Lê Tai, một thiếu niên gan dạ dũng cảm làm giao thông liên lạc cho cơ quan kháng chiến, tận tuỵ coi cơ quan nh nhà của mình ngay cả những lúc cơ quan gặp khó khăn thiếu thốn lơng thực, thực phẩm và đang phải chống lại sự lùng sục của quân thù Dù bao khó khăn nhng cách mạng vẫn đứng vững trong lòng dân, đặc biệt là nhân dân du kích Hà Sen Các chi bộ Đảng của các xã Trân Châu, Xuân Đám, Gia Luận, Phù Long, Hiền Hào đã hợp thành sự thống nhất của khu du kích Hà Sen Khu du kích Hà Sen cũng là niềm tự hào của ngời Hải Phòng và truyền thống đó viết tiếp bản anh hùng ca chống Mỹ cứu nớc
Trong thời kì chống Mỹ, Cát Bà là cửa ngõ của thành phố Cảng trung dũng quyết thắng, là căn cứ chống trả sự xâm phạm vùng trời, vùng biển của bọn hải quân và không quân đế quốc Quân dân trên đảo đã bắn rơi 19 máy bay, bắn chìm, bắn cháy 4 tàu chiến và bắt sống tên giặc lái Mỹ đầu tiên rơi trên đất của thành phố Hải Phòng
Các làng xã trên đảo nằm sát biển tiện cho nghề nghiệp đánh bắt Làng xã khu Cát Bà nằm ở thung lũng có thể nhìn ra biển, nơi có dòng nớc ngọt quanh năm, trên bến, dới thuyền Do đặc điểm sống gắn bó với biển nên chèo thuyền, đua thuyền là sinh hoạt văn hoá, hội đua thuyền chính là ngày hội xuống nớc của các làng chài nơi đây Chính ở nơi đầu sóng ngọn gió, với sức sống, tinh thần lao động sáng tạo, ngời dân ở đây đã để lại những giá trị văn hoá độc đáo Hòn Cẩm Thạch của làng Gia Luận đã từng là nơi tập kết cất giấu cọc gỗ lấy từ Vân Đồn để góp phần làm nên chiến thắng quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền năm
938 Tại xã Xuân Đám còn lại một phần kiến trúc bức tợng thành xếp đá đợc xây dựng từ thời nhà Mạc thế kỉ thứ 16
Trang 35Phát huy truyền thống chống quân xâm lợc, quân và dân Cát Bà ngày đêm lao
động và cảnh giác trớc mọi âm mu xâm lợc của bọn phản động Bắc Kinh xứng
đáng là cửa ngõ bảo vệ tiền đồ phía đông của thành phố
2.2 Những giá trị du lịch sinh thái Cát Bà.
Thiên nhiên u đãi cho Cát Bà một phong cảnh hữu tình, một tài nguyên biển phong phú Hiếm nơi nào trên đất nớc ta còn giữ đợc cảnh sắc hài hoà nh nơi đây Một thảm rừng nhiệt đới xanh thẳm bốn mùa giữa trời đất bao la với hàng trăm hòn
đảo đá kì diệu với nhiều dáng vẻ lô nhô trên mặt nớc trong xanh quanh năm sóng biển vỗ về Đó là nguồn tài nguyên du lịch hấp dẫn, một món quà tặng quý báu của thiên nhiên dành riêng cho nhân dân ta
Cát Bà nằm về phía Tây Nam Vịnh Hạ Long và Vịnh Bái Tử Long nổi tiếng là thắng cảnh kì diệu của nớc ta Hàng nghìn hòn đảo quần tụ về đây mở rộng tầm vóc uy nghi của một vùng biển đẹp Hải đảo Cát Bà còn là nơi lu truyền đợc nhiều truyền thuyết phong phú đặc trng cho miền biển Đông Bắc Việt Nam Mỗi hòn
đảo,mỗi vùng biển êm đềm hay sóng gió là mỗi trang, mỗi dòng đầy hấp dẫn trong kho truyền thuyết của dân tộc
Tục truyền thời bấy giờ ở con sông Nam Triệu ở phía sông Bạch Đằng có một con thuỷ quái hình dáng kì dị, thân hình mình giống nh cá lợn, đầu lại giống nh cá mập
và tiếng kêu lại giống nh cá Rúc Hàng năm cứ đến tiết lập đông thuỷ quái mò vào sông Phợng Hoàng (Lạch Huyện bây giờ) để bắt c dân đi lại trên vùng Tiếng kêu thảm thiết của c dân vọng tới thiên đình Ngọc Hoàng bèn sai Thiên Ng- một trang nam có sức khoẻ vô địch và tài bơi lội thần kì xuống hạ giới để tìm diệt thuỷ quái Thiên Ng da đen nh đồng mun, cánh tay nổi bắp nh sóng cuộn Chàng mặc áo lông chim, mặc áo giáp vảy đồi mồi, tay trái cầm thanh gơm, tay phải cầm chíêc chuỳ
đá, cỡi một con rồng lớn xuống biển đánh nhau với thuỷ quái Cuộc chiến đấu diễn
ra suốt mùa hạ và đầu mùa thu, một vùng biển Cát Bà, Đồ Sơn nớc sôi biển động
ầm ầm Rồng vàng kiệt sức bị chết, quái vật nổi gió làm nh bão thổi dạt xác rồng
Trang 36vào chân Cát Bà, đó là đất Phù Long hay còn gọi là rồng nổi ngày nay Bỗng sóng biển gầm lên dữ dội, cả bãi đá rung chuyển, Thiên Ng nhảy lên bến, tay vung thanh gơm, một tia chớp nh hình lỡi hái khổng lồ giáng xuống đầu thuỷ quái Mặt biển
nh bốc lả Nơi chàng trai dũng mãnh đứng đó nay là bến Gót, vùng đất thuộc đảo Cát Hải Thiên Ng lấy đao băm xác quái vật ném ra biển, ngày nay bị cát vùi lấp Khi nớc thuỷ triều rút xuống còn thấy cát nổi rõ hình con cá bơn nằm dải ra trứơc hai hòn đảo Cát Hải và Cát Bà Giết xong quái vật, Thiên Ng cắm gơm và chuỳ đá xuống biển hẹn rằng nếu còn quái vật hiện lên nhũng nhiễu dân lành sẽ nhổ lên
đánh tiếp Nơi ấy là hòn Gơm, hòn Lở, hòn Chuỳ ngày nay Sau chiến thắng oanh liệt Thiên Ng cũng dần kiệt sức Chàng ngồi đầu gục xuống xác rồng, hàng nớc mắt tiếc thơng của chàng chảy xuống biển làm xanh biếc nớc đại dơng Bỗng trong mây vần gió vũ giữa biển Đông tiếng ngời con gái phảng phất bên tai chàng dũng sĩ:
- Hỡi chàng tráng sỹ dũng cảm, nớc mắt không thích hợp với ngời anh hùng! Thiên Ng ngẩng đầu lên thấy một nàng tiên cỡi voi, tay nâng lọ nớc thần Nàng tiên cho tráng sỹ uống ba hớp nớc trong lọ, Thiên Ng bỗng thấy ngời khoẻ ra, lấy lại đợc sức mạnh vô địch của mình Hai ngời yêu nhau say đắm bỏ ý định về trời
Họ chung sống với nhau hoà thuận, êm ấm Hàng ngày chàng xuống biển làm nghề chài lới, nàng lên rừng hái quả trồng cây Lọ nớc thần còn đấy trở thành nguồn nớc ngọt vô tận quanh năm đem lại cuộc sống tơi tốt cho cỏ cây hoa lá trên đảo Ngày nay đó là các nguồn nớc ngọt dồi dào của các suối nớc của xã Xuân Đám, Trân Châu Con voi của nàng tiên đi ra bờ biển ngắm nhìn sông núi, biển khơi, phong cảnh hữu tình Bây giờ còn đó núi Đầu Voi nằm bên dải đất Phù Long thân thiết Bên hòn đảo chính ở phía Nam Cát Bà còn hàng chục hòn đảo đá dáng dấp kì lạ
mà cha ông ta bằng trí tởng tợng phong phú sáng tạo ra nhiều truyền thuyết liên quan đến tên gọi của từng hòn đảo nhỏ, những hòn ớt, hòn Nồi Chó đến hòn Rùa Núi, hòn Thoi Nớc, hòn Lỗ Đầu, hòn Tôm Rồng và một loạt những hòn Vảy Rồng,
Trang 37hòn Cát Đuôi Rồng, hòn Móng Rồng, hòn Búp Đuôi Rồng, hòn Gà, hòn Nếnv.v Cát Bà là một vùng biển phẳng lặng ít sóng gió, là nơi trú ngụ của hàng trăm tàu thuyền đánh cá của bà con ng dân, của các xí nghiệp đánh cá.
Vịnh Lan Hạ của Cát Bà ở phía Đông bao gồm hàng trăm hòn đảo, ở mỗi hòn
đảo, bàn tay huyền diệu của thiên nhiên đã tạo dáng riêng cho nó, đặt nó nằm trong cái hài hoà của non nớc mây trời nơi đây Làm sao có thể đếm và gọi tên từng hòn
đảo nhỏ, những hòn Cát Dứa, hòn Cây Dùi, hòn Báo, hòn Rút, hòn Nét đến hòn Vạn Bội, hòn Lão Vọng, hòn Trai, hòn Hang Thuỷ, hòn Trai Gái, hòn Mai Rùa, hòn Gió, hòn Bò, hòn Cặp Gà, hòn Vạn Hà, hòn Đá Lở, hòn Chuông, hòn Tuồn Tuột, hòn Đồi Mồi, hòn Tự Do và cả hòn Vú Chị, hòn Vú Em Phía Bắc của những hòn đảo có tên gọi lý thú ấy là vùng vịnh nớc phẳng lặng nh trên mặt hồ Nơi đó là hòn Con Cóc, hòn Chó Treo, hòn Vờn Quả, hòn S Tử, hòn Nút Chai v.v
Từ đây tới hang Đầu Gỗ không xa là lối vào Vịnh Hạ Long huyền bí của thiên nhiên
Cát Bà có khu rừng nhiệt đới thờng xanh trên núi đá vôi tuy không phong phú và rộng lớn nh khu rừng Cúc Phơng nổi tiếng nhng lại độc đáo với những nét riêng làm mê say lòng ngời Những cây gỗ quý nh lát, lim, lát hoa, đinh lim trắng, gội nếp, chò đãi và những cây cọ Bắc Sơn cao 20-30m thân thẳng nh cột đình với tán lá xoè rộng nh chiếc ô khổng lồ Du khách sẽ làm quen với những cây thuốc quý, những bãi lá khô dày đặc min nh nhung, những rừng kim ngân xanh biếc hoa nở trắng ngần Còn nữa những cây chân chim chỉ thích mọc ở nơi đỉnh núi và những nơi cheo leo
Trên vách đá tai mèo, nhiều chuyên gia lấy làm thích thú khi tìm thấy ở đây những vị thuốc không thua kém gì nhân sâm Đi dới tán rừng rậm vợt qua những
áng, những khoăn bỗng tầm nhìn ngời ta nh đợc mở rộng ra trớc mắt Đó là mặt hồ sóng gợn lăn tăn ngay trên độ cao trăm mét của núi đá vôi đó là Ao ếch Mặt hồ là cả rừng cây với những cây hiên ngang mọc lên cao vút soi bóng lung linh trên làn
Trang 38nớc trong xanh Dới hồ là vô số những loài tôm cua và cá sinh sống Cảnh trí tuyệt vời nếu ai đã từng làm quen với những cánh rừng chàm U Minh nổi tiếng Nam Bộ
sẽ bao nhiêu hồi ức trớc cảnh rừng gợi nhớ này
Hệ động vật của rừng Cát Bà tuy không phong phú nh khu hệ động vật của đất liền nhng lại đặc trng cho khu hệ động vật của rừng núi đá ven biển Những ngày nắng đẹp, khỉ vàng kéo từng đàn di chuyển từ vùng rừng sâu rậm để đến với những vách đá ven bờ biển Nơi khỉ chọn chỗ dừng chân thờng là nơi có phong cảnh hết sức ngoạn mục Du khách có thể nâng máy ghi lại đợc một bức ảnh đẹp về thiên nhiên
Nhanh nh sóc-điều đó ai cũng biết, nhng làm vui mắt và hấp dẫn khách là phải nói đến màu sắc của sóc Cát Bà Trong quá trình chọn lọc tự nhiên, sóc ở đây không chỉ có màu đen và màu vàng mà còn có nhiều con bụng đỏ, con vằn, con nâu, con bụng trắng Khách lạ chỉ có thể nhận ra họ nhà sóc bởi chiếc đuôi có lông xoè ra nh ngọn bông lau
Loài Sơn dơng (dân trên đảo thờng quen gọi con Than) thờng sống trên các đỉnh núi đá cheo leo Chúng di chuyển dễ dàng trên các địa hình hiểm trở Sơn dơng khá tinh khôn biết đánh lừa cả những tay thợ săn lành nghề Hiện nay ở khu Đầu Bê còn rất nhiều giống vật này Con to nặng tới 60-70kg (ở các vùng núi khác của đất liền nh Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Giang, con nặng cũng chỉ đạt 40-50kg) Ngoài Sơn dơng Cát Bà còn nhiều Trăn, kì đà, tắc kè chúng sống rải rác trong rừng và trên đảo
Tuy vậy khi nói đến Cát Bà phải kể đến một loài thú quý, loài thú duy nhất chỉ có
ở Cát Bà Đó là con Voọc đầu trắng (dân đảo quen gọi là khỉ đen).Chúng có bộ lông màu đen và cái đuôi đen rất dài, nhng đặc biệt lông ở đầu trắng toát để lộ ra hai con mắt đen láy nh hai hạt nhãn tròn Voọc đầu trắng sống thành bầy từ 5-6 con, có bầy tới 20-30 con Thức ăn của loài này là hoa quả rừng và chồi búp lá non Voọc đầu trắng đợc coi là một kì quan của giới sinh vật
Trang 39Cát Bà còn có nhiều loài chim quý và đẹp nh đại bàng, phợng hoàng đất (ca ca), cao cát, sơn tiêu, khớu Vào rừng ta có thể gặp chúng với những tiếng hót líu lo, làm trong lành không khí hoà thuận thanh bình của rừng xanh êm ả Ngời ta đã nghĩ đến chuyện phải dùng máy ghi lại những bản nhạc tuyệt diệu này để đặt vào các phòng nghỉ của khách sạn Nhng không chỉ có thế, Cát Bà còn là nơi tập trung của hàng vạn con chim của các loài cu xanh, cu gáy, cun cút và các loài chim nớc
nh le le, vịt trời, cốc đế
Cũng giống nh các vùng núi đá vôi khác, đảo Cát Bà có rất nhiều hang động, nhiều dáng, nhiều vẻ khác nhau Hang nhỏ xinh xinh bên bờ bãi tắm Hang to chiếm cả một vùng không gian rộng lớn trong lòng quả núi
Hang Luồn và lối vào bến Hiền Hàolà những kì quan hiếm có Đã có biết bao tấm
ảnh và bức hoạ về nó nhng những ngời cầm máy và cầm bút cũng cha thực hài lòng
về tác phẩm của mình
Nằm ở xã Trân Châu, động Hà Sen giống nh con đờng hầm xuyên núi Động đẹp bởi nhiều thạch nhũ và nguồn nớc ngầm róc rách chảy quanh năm Nơi đây còn ghi lại nhiều chiến tích oanh liệt của ngời dân huyện đảo trong những năm đánh Pháp
và đánh Mỹ
Tại Cát Bà mỗi động là mỗi vẻ đẹp riêng song Trung Trang lại là động mang nhiều màu sắc độc đáo hơn cả Nơi đây thiên nhiên và bàn tay sáng tạo thần kì của tạo hoá sẽ làm phong phú trí tởng tợng của những ngời đến thăm Ngọn đuốc trong tay khách du lịch không chỉ là “ngời hớng dẫn” mà còn thắp sáng vẻ đẹp kì lạ của hàng vạn nhũ đá vôi muôn hình dáng khác nhau Cửa hang nằm ở chân núi Lần b-
ớc dới những vòm đá đi hết độ dài 400m của động chính, du khách không khỏi bất ngờ khi thấy mình đứng trên lng chừng vách núi đá dựng đứng giữa bốn bề rừng núi mênh mông
Trang 40Động đá hoa Gia Luận với những chùm, những khối, những rừng hoa đá long lanh huyền ảo soi bóng xuống làn nớc trong xanh của nền hang càng tôn lên vẻ huyền bí của thiên nhiên bất diệt.
Hang Khe Sâu ngày nay mang cái tên mới- Hang Quân Y Trong chiến tranh,
ng-ời dân trên đảo đã cải tạo hang đá vôi này thành một bệnh viện lớn có đầy đủ tiện nghi và diện tích có thể chữa bệnh cho hàng nghìn ngời Tất cả vẫn còn nguyên vẹn, nh vừa mới đợc xây lên từ ngày hôm qua Còn đây phòng cấp cứu, phòng khám bệnh, phòng giải phẫu, phòng phát thuốc, phòng điều tr, phòng ăn, phòng khách và cả phòng câu lạc bộ, rạp chiếu phim tất cả nh gợi lại không khí sôi
động, khẩn trơng, quyết thắng của những ngày đánh Mỹ Chiếc hang lịch sử này sẽ làm thoả mãn nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí của du khách khắp nơi, trong nớc và nớc ngoài đến thăm Vờn Quốc Gia trên đảo
Hàng trăm chiếc hang lớn nhỏ khác giữa rừng sâu là nơi c trú và sinh sản của nhiều loài chim, thú, cũng là những mục tiêu đầy hấp dẫn và làm say mê những nhà khảo sát, nghiên cứu và tham quan Vờn Quốc Gia
Cát Bà không có nhiều thuyền bơi với đôi mái chèo thanh mảnh nhẹ lớt nh ở Hồ Tây Phơng tiện đi lại tham quan trên vịnh của du khách là những chiếc tàu với đầy
đủ tiện nghi và có thể neo đậu ở ngoài khơi vào ban đêm giúp du khách cảm nhân
đợc sự bí hiểm của màn đêm trên vịnh, đó cũng có thể là những chiếc thuyền Kayat thể thao đáp ứng nhu cầu du lịch kết hợp thể thao của du khách Từng con thuyền nhỏ lao vút đi trên làn nớc trong xanh cũng là một ấn tợng còn lại của du khách sau mỗi chuyến ra đảo
Cá tôm rồng ở đây khá nhiều và cũng dễ bắt Chỉ cần một chiếc cần câu trong tay,
du khách có thể tự mình chuẩn bị một bữa ăn dã ngoại với những món ăn đặc sản
đầy lý thú Đặc biệt buổi tối lênh đênh trên những bè, thuyền nhỏ để câu mực và ớng ngay trên thuyền cũng là một cách đi du lịch đựơc a chuộng