Phải tìm một biện pháp gì để giúp học sinh có hứng thú với giải toán cóvăn và biết tìm câu lời giải một cách dễ dàng khiđã nắm bắt được cách giải.. với suy nghĩ đó tôi đã mạnh dạn chọn n
Trang 1CHƯƠNG I: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong suốt những năm gằn đây tôi được nhà trường phân công giảng dạylớp 4-5 Mỗi buổi học khi dạy bài toán mà gặp bài toán có văn là các em ngơngác Sau khi cho học sinh tìm hiểu đề, suy nghĩ và thử giải thì tôi thường bắtgặp những ánh mắt mơ hồ, lơ mơ với những câu hỏi quen thuộc của học sinhnhư: “Bài toán có mấy lời giải thầy? Tìm cái gì trước thầy? Làm sao thầy? Khóquá thầy ơi!” Các em cặm cụi làm bài, có em làm cho có vậy thôi chứ khônghiểu gì cả! Lời giải và phép tính không đúng, không hợp lí
Trước tình trạng trêntôi tự hỏi: “Nguyên nhân từ đâu dẫn đến tình trạng nhưvậy? Phải tìm một biện pháp gì để giúp học sinh có hứng thú với giải toán cóvăn và biết tìm câu lời giải một cách dễ dàng khiđã nắm bắt được cách giải với
suy nghĩ đó tôi đã mạnh dạn chọn nghiên cứu đề tài: “Biện pháp giúp học sinh học tốt toán có lời văn ở lớp 5A – trường Tiểu học Tân Phong B”.
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Thông qua thực tiễn của đơn vị đề tài sẽ đề ra các biện pháp để áp dụnggiúp học sinh học tốt toán có lời văn lớp 5
3 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU:
3.1 Đối tượng nghiên cứu:
Tìm hiểu các biện pháp giúp học sinh học tốt toán có lời văn lớp 5
3.2 Khách thể nghiên cứu:
Học sinh lớp 5A trường Tiểu học Tân Phong B, huyện Tân Biên, tỉnh TâyNinh
4 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Từ mục đích nhiệm vụ nghiên cứu trên giả thuyết khooa học đưọc đặt ra là:Nếu thầy giáo tổ chức hướng dẫn học sinh giải toán điển hình đúng quy trình,theo hướng huy động các kiến thức toán học và khả năng tham gia tích cực củahọc sinh, khái quát đúng thì sẽ giúp học sinh lĩnh hội tri thức một cách khoa học
Trang 2để tự tìm ra thuật giải toán, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học từ đó hìnhthành kĩ năng giải toán cho học sinh khi gặp bất cứ dạng toán nào.
5 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
Đưa vào những điều đã học ở phần giải toán và ý nghĩa của phần thực hànhgiải toán ở Tiểu học, các tiết dự giờ và giảng dạy ở trường, tham khảo các tàiliệu, quy trình dạy học giải toán một số bài toán tiêu biểu từ đó có cơ sở chínhxác trong việc dạy học giải toán ở lớp 5
Nghiên cứu phương pháp dạy học theo phương pháp tích cực
Tìm hiểu và phân tích sự trình bày các dạng toán điển hình trong sách giáokhoa toán 5
6 CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Phương pháp nghiên cứu tài liệu
Phương pháp quan sát sư phạm
Phương pháp điều tra - Thống kê
Phương pháp tổng kết rút kinh nghiệm
6.1.Phương pháp nghiên cứu tài liệu:
Là phương pháp quan trọng, là phương pháp nghiên cứu, lựa chọn và đọcnhững tài liệu như: sách giáo khao, sách giáo viên, tài liệu về đổi mới phươngpháp dạy học Tiểu học
Đây là phương pháp được sử dụng để làm cơ sở lí luận để phân tích, xử lícác tài liệu Từ đó đúc kết những vấn đề có liên quan đến đề tài
6.2 Phương pháp quan sát sư phạm:
Là phương pháp nghiên cứu thực tế bằng cách dự giờ các tiết dạy, nhằmthu thập thông tinvề đối tượng Từ đó nắm được tình hình giải toán của học sinh,nhằm tìm cách giải quyết hợp lý hơn trong vấn đề giải toán
Dùng phương pháp này giúp ta quan sát được việc học tập của học sinh từ
đó đề ra cách thức, phương pháp phù hợp cho từng đối tượng học sinh
6.3 Phương pháp điều tra – Thống kê:
Là phương pháp nhằm thu thập thông tin, các số liệu, hiện tượng để từ đóphát hiệncác vấn đề cần giải quyết, xác định tính phổ biến, nguyên nhân vàchuẩn bị nghiên cứu tiếp Ngoài ra phương pháp thống kê các số liệu liên quan
Trang 3đến các kì thi, các bài kiểm tra cũng rất cần thiết Nó giúp ta nắm rõ sự tiến bộcủa học sinh thông qua các số liệu.
Phương pháp này có tác dụng giúp ta biết chính xác tình hình học tập củahọc sinh, biết được những kó khăn, thuận lợi của từng học sinh Từ đó có cơ sở
để giúp đỡ học sinh một cách chính xác
6.4 Phương pháp tổng kết kinh nghiệm giáo dục:
Đây là phương pháp cho ta thông tin thực tiễn có giá trị những kinh nghiệmgiáo dục được nghiên cứu và tổng kết Từ đó rút ra được nguyên nhân thànhcông và những hạn chế để có những phương hướng mới
Phương pháp tổng kết rút kimh nghiệm giúp ta hiểu rõ bản chất, nguồn gốc,nguyên nhân và cách giải quyết các tình huống giáo dục xảy ra trong quá trìnhnghiên cứu Để đề ra một số biện pháp mới
7 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI:
Nội dung chương trình toán 5 có nhiều dạng toán:
Toán đơn vận dụng các phép tính cộng, trừ, nhân, chia
Toán hợp vận dụng từ hai phép tính trở lên trong bốn phép tính đã học.Trong phạm vi đề tài này tôi chỉ nghiên cứu về toán điển hình trong nộidung chương trình toán 5 gốm các dạng toán sau:
Dạng toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó
Dạng toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
Dạng toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó
Dạng toán về đại lượng tỉ lệ thuận (tỉ lệ nghịch)
Dạng toán về tính tỉ số phần trăm
8 THỜI GIAN VÀ KẾ HOẠCH NGHIÊN CỨU:
Đề tài được nghiên cứu trong 35 tuần:
Trang 4Tuần 10- 34: Tiến hành áp dụng đề tài ( Trong quá trình vận dụng đề tài sẽtiếp tục cùng với Ban giám hiệu nhà trường và tổ khối chuyên môn góp ý điềuchỉnh, bổ sung để đề tài hoàn thiện hơn )
Tuần 35: Tổng kết rút kinh nghiệm đề tài
CHƯƠNG II: LÝ LUẬN CHUNG
1 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ:
Từ trước đến nay ngành giáo dục đã có rấtt nhiều người tập trung nghiêncứu vấn đề là làm thế nào để khắc phục tình trạng yếu kém của học sinh khi họcgiải toán có văn với ý nghĩa là tìm ra hướng đi mới có tính đột phá trong việcvận dụng phương pháp mới Tuy thế nhưng tính đến nay vẫn chưa đem lại hiệuquả như mong muốn
Riêng cá nhân tôi đây là một vấn đề mới mẻ phải từng bước nghiên cứutrên cơ sở kế thừa những thành quả của những người đi trước, với mong muốn là
sẽ góp phần ngày càng hoàn chỉnh các giải pháp mang tính đặc thù của bộ môntoán phần giải toán có lời văngiúp cho người dạy và người học có hiệu quả tốthơn
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN:
Trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội, bằng nội lực của mình ViệtNam đang hoạch định một nền giáo dục quốc dân khoa học hiện đại để tạo ramặt băng dân trí cao, thích hợp với thế giới văn minh hiện đại Trong đại hộikhoá VII Đảng và Nhà nướcta đã xác định: “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”,đặc biệt là giáo dục Tiểu học – Bậc học nền tảng, là cơ sở ban đầu cho mọi quátrình giáo dục ở bậc học tiếp theo
Nâng cao chất lượng giáo dục là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng và Nhà nước
ta Xuất phát từ điều này mà nghị quyết trung ương 2 khoá VIII đã đặt ra vấn đềgiáo dục toàn diện cho học sinh nhằm đào tạo những con người đủ tài đủ đứcphục vụ cho đất nước trong thời kì công nghiệp hoá, hiện đại hoá
Trang 5Do đó có thể nói dạy học toán ở bậc Tiểu học là “ Hòn đá thử vàng”, bởiphải tư duy một cách tích cực và linh hoạt, huy động thích hợp kiến thức và khảnăng đã có vào các tình huống khác nhau.
Trong nhiều trường hợp phải biết phân tích tổng hợp mới tìm ra cách giải
Vì vậy có thể xem giải toán là một trong những cách biểu hiện năng động nhất ởhoạt động trí tuệ của học sinh nhằm mục đích chủ yếu sau:
Trước hết nó giúp học sinh luyện tập, củng cố, vận dụng kiến thức đã họcgắn với những lời văn gần gũi với cuộc sống Qua những biểu hiện của học sinh,giáo viên phát hiện được những gì học sinh chưa nắm chắc Để giúp đỡ học sinhphát huy hoặc khắc phục
Qua giải toán giúp học sinh từng bước phát triển năng lực, tư duy, phỏngđoán, tìm tòi Đồng thời rèn luyệnnhững đức tính và phong cách làm việc củangười lao động như: ý chí khắc phục khó khăn, thói quen xétđđoán, tính cẩnthận…
Việc giải toán vừa đòi hỏi tính tích cực vừa đòi hỏi phải độc lập sáng tạotrong suy nghĩ và đòi hỏi khả năng phân tích tổng hợp
Qua nghiên cứu về trình độ, nhận thức toán của học sinh Tiểu học và đặcđiểm phát triển chương trình Tiểu học ở Việt Nam hiện nay, việc dạy toán ởTiểu học được chia thành hai giai đoạn:
- Giai đoạn một gồm: các lớp 1, 2, 3
- Giai đoạn hai gồm: các lớp 4, 5
Ở giai đoạn một được coi là giai đoạn học tập cơ bản Học sinh được học cáckiến thức, kĩ năng cơ bản của toán học Giai đoạn này học sinh được sự hổ trợ củasách giáo khoa và đồ dùng học toán Học sinh tập dược tự phát hiện, tự giải quyếtvấn đề và tự chiếm lĩnh kiến thức mới dưới sự tổ chức hướng dẫn của giáo viên
Ở giai đoạn hai, giai đoạn này có thể coi là giai đoạn “học sâu” Học sinh vẫnhọc những kiến thức kĩ năng cơ bản của toán học nhưng ở mức độ sâu hơn Toánlớp 4, 5 được nâng lên một bậc so với toán lớp 1, 2, 3 cũng chính ở giai đoạn nàythông qua một bài toán có văn học sinh được phát triển tư duy,tăng cường khảnăng diễn đạt bằng ngôn ngữ nói và viết thông qua việt trình bày bài giải ngàymột hoàn chỉnh hơn
Trang 63 CƠ SỞ THỰC TIỄN:
3.1 Thực tiễn vấn đề nghiên cứu:
Với cơ sở lí luận như trên, ngay từ ở giai đoạn lớp 1, 2, 3 học được chuẩn bịkiến thức cơ bản để học toán 4, 5
Với môn toán việc dạy toán có văn ngay từ lớp một ở chương trình thay sáchcác em đã chuẩn bị trước bước đầu làm quen việc giải toán có văn bằng nhiềuhình thức khác nhau như: tranh vẽ, tóm tắt, lập đề toán ở phạm vi vận dụng phépcộng và phép trừ
Lớp hai giải toán đơn vận dụng qua bốn phép tính ở vòng số đã cho
Lớp ba nâng dần việc giải toán là giải toán hợp vận dụng hai trong bốn phéptính đã học (ngay từ cuối học kì I)
Lớp 4,5 với yêu cầu cần đạt ở giải toán có văn là: Học sinih biết tự tóm tắt đềbằng cách ghi ngắn gọn sơ đồ và hình vẽ Biết giải và trình bày bài giải các bàitoán ở dạng toán điển hình Nhưng qua thực tiễn ở năm học 2009 – 2010 ngay từnhững bài toán có văn đầu tiên trong năm học ( Bài 3 trang 11 sách giáo khoatoán 5; Bài 1 và bài 3 trang 18 sách giáo khoa toán 5; …) Đây là phần ôn chươngtrình toán lớp 4, qua việc kiểm tra theo dõi để nắm bắt được trình độ học tập củacác em ngay từ các bài toán có văn đầu tiên ở chương trình toán lớp 5 Hơn haiphần ba số học sinh trong lớp hỏi: Bài có mấy lời giải thầy? Làm như thế nàothầy?
Điều đó cho thấy khi giải toán có văn, giáo viên thường chỉ yêu cầu học sinhđọc qua một lần rồi tiến hành phân tích, tìm cách giải toán theo một phương pháprập khuôn Học sinh không chủ động phân biệt các dạng toán
Từ đó tư duy các em thiếu linh hoạt: suy luận máy móc, khẳng định khôngcăn cứ, thao tác tư duy chậm Trong giải toán chỉ làm theo cách bắt chước theomẫu đã có sẵn Sai lầm khi giải toán là thường chỉ giải bằng cách tái hiện, khi hỏi
về lí lẽ thì không giải thích được
Diễn đạt bằng ngôn ngữ rất khó khăn, sử dụng ngôn ngữ toán học còn lúngtúng, lẫn lộn Vì vậy dẫn đến chất lượng học môn toán còn thấp, nhất là việc phânloại các dạng toán
Trang 7Đầu năm tôi được nhà trường phân công chủ nhiệm lớp 5A bản thân đãthống kê chất lượng của học lớp 5A qua năm học trước và khảo sát chất lượng đầunăm như sau:
Kết quả giáo dục năm học trước ( Năm học: 2008 – 2009)
Trong đó kết quả của bài toán có lời văn của học sinh là:
Nêu lời giải đúng, phép tính đúng chính xác
Lời giải đúng, phép tính sai
Không giải đúng bài toán
3.2 Sự cần thiết của đề tài:
Từ kết quả trên cho thấy chất lượng môn toán nói chung, toán có lời vănnói riêng của lớp 5A còn quá thấp
Từ thực tế trên tôi nhận thấy vấn đề cần giải quyết đặt ra là giáo viên phải
tìm ra “Biện pháp để giúp học sinh học tốt toán có văn ở lớp 5” Qua đó
nhằm giúp các em phát triển năng lực tư duy thông qua phương pháp giải và cókhả năng diễn đạt tốt qua việc trình bày bài giải
4 QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỀ TÀI:
Phần toán có văn được chia làm bốn dạng gồm các dạng toán điển hình nhưsau:
Trang 8- Dạng toán tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó.
- Dạng toán tìm hai số khi biết tổng và tỉ số của hai số đó
- Dạng toán tìm hai số khi biết hiệu và tỉ số của hai số đó
- Dạng toán về đại lượng tỉ lệ thuận (tỉ lệ nghịch)
- Dạng toán về tính tỉ số phần trăm
4.1 Dạng tìm hai số khi biết tổng và hiệu của hai số đó:
Ví dụ: Một thửa ruộng hình chữ nhật có nửa chu vi 160m Chiều rộng kémchiều dài 20m Tìm chiều dài, chiều rộng và diện tích của đám ruộng đó?
Giáo viên yêu cầu và gợi ý học sinh xác định bài toán:
Tìm hai lần số lớn (chiều dài) ta làm sao? (160 + 20 = 180 (m))
Hai lần số lớn (chiều dài) là 180 vậy một lần số lớn (chiều dài) là baonhiêu? (180 : 2 = 90 (m))
Giải:
Hai lần chiều dài ( số lớn) là: 160 + 20 = 180 (m)
160 m
20 m
Trang 9Chiều dài ( số lớn) là: 180 : 2 = 90 (m)Chiều rộng ( số bé) là: 90 – 20 = 70 (m)
Đáp số: chiều dài: 90m chiều rộng: 70mVậy ta có thể tóm tắt thành công thức như sau:
Cách 1:
Hoặc:
Cách 2:
Hoặc:
4.2 Dạng tìm hai số khi biết Tổng và Tỉ số của hai số đó:
Ví dụ: Bài 3/ trang 18 SGK toán 5
Một vườn hoa hình chữ nhật có chu vi là 120m Chiều rộng bằng
7
5 chiềudài Tính chiều dài, chiều rộng vườn hoa đó
Giáo viên yêu cầu và gợi ý học sinh xác định bài toán:
Trang 10+ Đề bài cho biết gì? ( Cho biết tổng của hai số là 120m, tỉ số của hai số
là
7
5
)
+ Yêu cầu của đề toán là gì? ( Yêu cầu tìm hai số đó)
+ Vẽ hình biểu diễn tỉ số và tổng hai số đó như sơ đồ trên
Qua sơ đồ cho ta thấy 120m (tổng) gồm mấy phần bằng nhau? ( 5 + 7 = 12(phần))
Vậy chiều rộng (số bé) bằng mấy phần của tổng này? (
12
5 )
Chiều dài ( số lớn) bằng mấy phần của tổng? (
12
7)
Qua bài tìm phân số của một số ta đã học Vậy muốn tính
12
5 của 120m ta
làm sao? ( Lấy: 120 : 12 x 5 Hoặc: 120 x
12
5)
Tương tự để tính
12
7 của 120m ta làm: 120 : 12 x 7 Hoặc: 120 x
12
7
Giải:
Theo sơ đồ ta có tổng số phần bằng nhau là:
5 + 7 = 12 (phần)Chiều rộng (số bé) là:
120 : 12 x 5 = 50 (m)Chiều dài (số lớn ) là:
Trang 11120 : 12 x 7 = 70 (m) Hoặc: 120 – 50 = 70 (m).
Đáp số: 50m và 70mThử lại: Tổng hai số bằng chiều rộng (số bé) cộng chiều dài (số lớn), tỉ sốcủa hai số bằng chiều rộng ( số bé) chia cho chiều dài (số lớn)
Tổng hai số: 50 +70 = 120 (m)
Tỉ số của hai số: 50 : 70 =
7
5.Dựa vào cách giải trên ta cũng có thể tìm số lớn ( chiều dài) trước
Hoặc ta có thể hướng dẫn học sinh giải bằng việc áp dụng một phần mấycủa một số Lấy số đó chia cho tổng số phần ( 120 : 12 = 10), rồi từ một phầntìm lên nhiều phần
Cũng ví dụ trên ta có cách giải sau:
Theo sơ đồ ta có tổng số phần bằng nhau là:
5 + 7 = 12 (phần)
12 phần bằng 120m, vậy một phần là: 120 : 12 = 10 (m)Chiều dài ( số lớn) là: 10 x 7 = 70 (m)Chiều rộng ( số bé) là: 10 x 5 = 50 (m)
Đáp số: 70m và 50mQua bài giải cho học sinh rút ra cách giải:
- Đọc kĩ đề, vẽ sơ đồ đoạn thẳng tóm tắt
- Xác định đâu là tổng, đâu là tỉ số?
Trang 12- Vẽ sơ đồ dựa vào tỉ số.
Tìm ngay từng số bằng cách áp dụng tìm phân số của một số
Ngoài ra khi đã tìm ra một số, số còn lại học sinh có thể vận dụng tìm sốhạng chưa biết khi biết tổng và số hạng kia ( x = tổng – số hạng kia)
4.3 Dạng toán tìm hai số khi biết Hiệu và Tỉ số của hai số đó:
Ví dụ: Hiệu của hai số là 24, tỉ số của hai số là
5
3 Tìm hai số đó
Giáo viên yêu cầu và gợi ý học sinh xác định bài toán:
Từ đó ta có sơ đồ đoạn thẳng:
Chiều rộng:
Chiều dài:
Qua sơ đồ 24 gồm mấy phần bằng nhau? ( 2 phần)
Ta có thể gọi hiệu số phần bằng nhau là: 5 – 3 = 2 (phần)
Vậy số bé bằng mấy phần của Hiệu? (
2
3 ) 24
Trang 13Số lớn bằng mấy phần của Hiệu? (
2
5)
Vậy muốn tính số bé ta làm sao? ( Lấy: 24 : 2 x 3 Hoặc: 24 x
2
3)
Tương tự như trên ta có số lớn bằng: 24 : 2 x 5 Hoặc: 24 x
25
Hoặc ta có thể hướng dẫn học sinh giải bằng việc áp dụng một phần mấycủa một số Lấy Hiệu chia cho Hiệu số phần ( 24 : 2 = 12), rồi từ một phần tìmlên nhiều phần
Ví dụ 2: Bài 2/ trang 22 SGK toán 5
Tính chu vi một mảnh đất hình chữ nhật, biết chiều dài gấp 2 lần chiều rộng
và hơn chiều rộng 15m
Giáo viên yêu cầu và gợi ý học sinh xác định bài toán:
- Đọc đề và tìm hiểu đề:
+ Hiệu của hai số là 15m ( Số lớn trừ số bé bằng 15)
+ Tỉ số của hai số là ( chiều dài gấp 2 lần chiều rộng)
Từ đó ta có sơ đồ đoạn thẳng: