1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Kt 00072 CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN

326 0 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Kt 00072 Công Ty Xuyên Quốc Gia: Chuyển giao Công nghệ và Phát triển
Người hướng dẫn Biên dịch: TS Nguyễn Thị Kim Anh, Hiệu đính: TS Đinh Việt
Chuyên ngành Quản trị Kinh doanh Quốc tế
Thể loại Giáo trình
Định dạng
Số trang 326
Dung lượng 28,51 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kt 00072 CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN Kt 00072 CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN

Trang 1

CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA:

CHƯYÉN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN

Biên dịch: TS.Nguyễn Thị Kim Anh

Trang 2

M ột số íhiiậl n g ữ

xứ của MNE/công nghệ/đầu tư nước ngoài

2

Trang 3

Tìm kiếm lợi nhuận chính đángMua bán và sáp nhập

3

Trang 4

P h ầ n n

Bên tr o n g M N E và n ền k in h tế to à n cầu

Trong phần nàv mội vân đề luôn dược nhăc tói licn quan dên dặc trung hoạt động của MNE là cách ihức tiếp cận, tạo ra và sử dụng xuyên biên giới các tài nguyên, năng lực thị trường và the chế Phẩn này sẽ xem xét một sô quyct định tô chức VI

mà mỗi MNE phải đưa ra Khác với các chương sau, từ Chương 7 tới Chương 9 sè thảo luận những vẩn dồ liên quan irực tiếp tới quản lý kinh doanh quôc tê

Chương 7 mở dầu bẳne việc tìm hiểu về quá trình quốc tế hóa như là sự mở rộng của chuỗi giá trị nội địa trong hoạt động kinh tế, sau đó tiếp tục mô tả và đánh giá những nỗ lực của các nhà phân tích kinh doanh nhằm giải thích sự biến đổi của IB từ hãng xuất khẩu ở dạng đơn lẻ sang M NE tổ chức và điều hành một mạng lưới chuỗi giá trị tổng hợp và đa dạng trên toàn cầu Chương này cũng chỉ ra răng các cách thức FDI khác nhau sẽ đi theo những con đường khác nhau để mở rộng và làm tăng thêm hoạt động sản xuất qua biên giới và rằng dần dần các chi nhánh nước ngoài của M NE

sẽ phát triển động lực của chính họ N hững điều quan trọng cần biết về việc quốc tế hóa là sự xuất hiện của các công ty toàn cầu ngay từ khi thành lập, sự phụ thuộc ngày càng nhiều vào việc ra quyết định trong mạng lưới đa quôc gia, tâm quan trọng của những tài sản được thiết kế đặc biệt cho từng địa điểm riêng để các công ty nhánh có thể tiếp cận, và sự gia tăng của FDI, phần lớn ỉà qua M &A, đê tiêp cận và thâu tóm những tài sản này

Chương 8 xem xét tác động của việc toàn câu hóa hoạt động kinh tê đên câu trúc tồ chức và cơ cấu của các công ty đang tham gia hoặc mong m uôn tham gia vào FDỈ cũng như đến nội dung và trọng tâm của các quyết định trong công ty N hững nỗ lực của M NE để điều phối mạng lưới chi nhánh chuyên môn và đưa ra cấu trúc họp lý nhằm khuyến khích, đạt được và giữ vững sự hợp nhất là tiêu điểm của chương này Đặc biệt, quản lý tri thức là điểm then chốt khi tìm hiểu về hoạt động đa quốc gia hiện nay bao gồm cả phương thức và mức độ mà kiến thức được chuyển giao bên trong MNE Hai chương 8 và 9 sẽ phân tích các yếu tố kinh tế và chiến lược mang tính quyết định tới bản chất và đặc điểm của các bước ra quyết định cũng như tới hình thức mà

Trang 5

các liên kết giữa các côníì tv có thô lụa chọn Dặc biệt, cư câu khuyên khích chi phôi các quvci định bèn tronạ đã dược chím II minh răng sẽ thay dôi theo phan cap \ a khong phân cấp tùv thuộc vào chiến lược phản ứng của MNE đôi với mọi kiêu lọ 1 ihê ve so 'hữu lợi thế địa điểm và lợi thố nội bộ hóa (OLÍ), cùng như vào mức độ mà MNK cho rằn2 nó cần phải sở hữu các tài sản ờ nước ngoài đê có thê đạt được mục tiêu tren loan

Chương 9 bàn về một số phương thức của các hoạt động xuyên biên giới mà MNP có thê sử cỉune thciy vì rnuíi vôn sở hưu lOcìn bọ Ìĩiọt chi nhíinh nuơc ngơđi Chương này sẽ chỉ ra ràng phần lớn lý thuyêt đưa ra ở Chương 4 và 5 cỏ thê đuợc mo rộng một cách hiệu quả để giải thích xu hướng ký kết các liên doanh và liên doanh không nắm cổ phần (ví dụ các liên minh chiên lược) cũng như xu hương tham gia cac mạng lưới và hoạt động có liên quan của các công ty, bơi các nha phan tích kinh te va kinh doanh thường quan tâm đến cả việc giải thích sự mở rộng quyên kiêm soat cua các công ty ra nước ngoài cũng như cẩu trúc sở hữu của nó Chương 9 cho thây răng tầm ảnh hưởng có thể đạt được qua nhiều nguồn khác nhau và sử đụng theo nhiều cách Phần này kết thúc với nhận định rằng trong 20 năm qua, M N E đã trở thành mối liên hệ giữa các cơ chê kiêm soát và khuyên khích xuyên bien giơi, va rang cach ma tập đoàn lựa chọn để đạt được mục tiêu toàn cầu sẽ quyết định tới mức độ duy trì và phát triển các lợi thế cạnh tranh lâu dài của nó (hay là lợi thê sơ hũu rieng)

Phần 2 được coi như một bước chuyển giữa Phần 1 và Phần 3 Nó không phải ỉà một bản phân tích toàn diện về các hoạt động bên trong M NE, vì có những điểm ít được xem xét tới như các vân đê tài chính và niarketing then chot hay quan ly nguon nhân lực Cùng với Phần 1, mục đích của Phần 2 là trang bị kiến thức cho người đọc

kinh tế liên quan chỉ ra rằng nó phụ thuộc vào hai yêu tô Yêu to thu nhat la nọi dung

và chất lượng của các cơ sở của quốc gia mà M NE hoạt động cũng như các chính sach

vĩ mô và quản lý vi mô chính phủ nước đó đưa ra Yêu to thứ hai la cach thưc MNE to chức các hoạt động xuyên quốc gia vả lý do của nó Mục tiêu của phần này là chỉ ra những thay đổi chính trong nền kinh tế toàn cầu và môi trường chính trị liên quan và những điều này khiến các yếu tố trên thay đổi ra sao

Trang 6

7 C hiến lum ' gia n h ập và mỏ rộng của MNK

7.1 G iói thiệu

Troníì chươna 1 chúng tí:ì cô íiăng xác định các dộng cơ va veu 10 cỊuyct dinh sản xuất quốc tế dể aiải thích về sự phát triển mang tính lịch sử của hoạt động MNK Trong chương nàv chútiíi ta sẽ coi ỉ DI như là một phân cua chien luợc to chưc cua các công ty B ằna cách dó, chúng ta sẽ nhìn nhận vấn dề chính xác hơn, đồng thời xem xét các lý do và trường hợp mà các tập đoàn quyêt định trớ thành nha san xuat nuơc ngoài và/hoặc thay đổi cách thức hay đây mạnh các hoạt động kinh te cua chung tren toàn cầu Chúng ta cũng sẽ cố gắng xác định những yếu tố chính quyết định tới cách thức sở hữu và tổ chức các hoạt động sản xuất quốc tế

Trong Chương 1, MNE được định nghĩa là một công ty sở hữu và kiểm soát các hoạt động giá trị gia tăng ở nhiều hơn một quốc gia Ở Chương 3, chúng ta lại thấy rằng M NE tham gia vào các hoạt động sản xuất nước ngoài nhằm gia tăng giá trị của các tài sản tạo ra thu nhập của mình Chương 5 chỉ ra rằng các tập đoàn đạt được mục tiêu này bằng cách kết hợp các tài sản sẵn có của họ (bao gồm cả các tài sản mà họ sẽ mua lại hoặc thuê) - gọi chung là lợi thế sở hữu - với vị trí địa lý của nước địa bàn hoạt động Chương này cũng chỉ ra hai loại chi phí trong hoạt động giá trị gia tăng của MNE: chi phí sản xuất và chi phí giao dịch Các chi phí này dê dao động tùy theo từng hoạt động và mức độ của MNE cũng như cách thức và địa điêm thực hiện Ví dụ, tuy vào việc sản xuất được thực hiện bởi một hay nhiêu cơ sở mà chi phi san xuat se cao hoặc thấp hơn Tương tự, tùy xem bước sản xuất nào cần sử dụng các sản phẩm trung gian và chức năng này được đảm nhận bởi thị trường, bởi một câp hành chinh, mọt liên minh Hên kết hay một mạng lưới các cơ sở mà chi phí giao dịch (chi phí tổ chức các hoạt động riêng biệt này) sẽ khác nhau M NE thường phát triên mạnh khi việc sản xuất các hoạt động tích ỉũy được tổ chức dưới một thay vì nhiều chủ sở hữu và giám sát và khi các nhà quản lý và kinh doanh của tập đoàn cho răng mọt so hoạt đọng nen được thực hiện ở nước ngoài

Chương 6 cho rằng quá trình phát triển của M NE phản ánh sự tương tác giữa ba yếu tố Thử nhất là mức độ mà một số công ty nhất định có đặc quyền sở hữu những

Trang 7

nauồn lực năng suẳl ihị trường và cơ sứ cần Ihiét cho san xuất và phân phối hang hoa hoặc dịch vụ một cách có hiệu quà Như dà nói trong Chương 5, những tài san nay

thường đcm lại cho chủ sở hữu những lợi thế cạnh tranh nhât định Ihứ hai là múc íỉộ

lợi nhuận mà các tập đoàn thu lại được khi tố chức các giao dịch liên quan dcn i b a u

tóm và sử đụng các phương thức khác đổ sở hữu những tài sản trên Đồng thời, ỉý do

mà tổ chức sản xuất - cùng với những giao dịch trong và giữa các công ty - ngày càng tập trung trong tay một số ít MN1Ì cũng là một diều dáng quan tâm Yếu tố thứ ba ảnh hưởne tới sự gia tăng sản xuất quốc tế ià sức tăng lợi nhuận đáng kể khi sản xuảt ỏ ngoài nước thay vì trong nước đối với các công ty

M ột tiêu điểm nữa của Chương 6 là mối tương tác giữa sự gia tăng con ngưòi

và tài sản vật lý với tổ chức sản xuất ở tầm vĩ mô Nó nhân mạnh răng sự mớ rộng cua hoạt động M NE phải được nhìn nhận như một phần của sự tăng trưởng và nguồn vốn quốc tế sự thay đổi về công nghệ và tổ chức, các phát hiện mới về đất đai và nguyên liệu sự nổi lên của các hệ thống kinh tế và chính trị mới, sự thành lập của các cơ câu hiệu quả cũng như thị trường vốn hoạt động mạnh, và việc chi phí chuyển dịch hàng hóa tài sản và nhân lực xuyên biên giới ngày càng giảm Mỗi yêu tô trên không chỉ ảnh hưởng tới tính sẵn có và chất lượng của hàng hóa và dịch vụ, chi phí sản xuât và giao dịch, mà còn tác động tới cách thức các giao dịch này được tổ chức và sở hữu

Trong chương này cũng như trong toàn bộ phân này, chúng ta sẽ xem xet nhưng yếu tố này và các vấn đề liên quan bằng con mắt của chủ đầu tư và nhà quản lý doanh nghiệp Chúng ta sẽ tập trung nhiều hơn vào những cơ sở làm nền tảng do các tập đoàn

sở hữu hoặc thâu tóm cũng như sự quản lý chiến lược của chúng môi khi tham gia vào hoạt động sản xuất gia tăng giá trị ở nước ngoài Đặc biệt, chương này sẽ xem xét cả những yếu tố quyết định tới bản chất, thời điểm và thể thức của quá trình quốc tế hóa

7.2 Khái niệm chiến lược kinh doanh

Khi nói tới chiến lược, đó là sự lựa chọn có cân nhắc của các nhà kinh doanh hay quản lý của doanh nghiệp để tổ chức các nguồn lực và năng lực trong quyền kiểm soát (đây còn gọi là lợi thế sở hữu) nhàm đạt được một hay nhiều mục tiêu nằm ngoài

Trang 8

lực kinh doanh không dónạ vai 1 rò quan trọng irong cạnh tranh hoan hao Cac nguon lực và năn<2 lực thườna dược coi là không thay dôi có thè tha> thê và tioàn toàn giong nhau Cône, ty đượ'c coi như một thành phần kinh tế có lý tri nhưng lại bị dộng và hâu như khôna thế tự đưa ra chiến lược kinh doanh; những cơ sở cua nỏ phải nhất quán với nhu cầu của thị trường Đẻ có thế vừa bù dắp được chi phí cơ hội vừa tối đa hóa giá trị các nau ồn lực, sản phẩm dầu ra và giá cả của mặt hàng mà nó cung câp phái dược đinh trước í lơn nữa, ở mức cân bằng,, mỗi bên liên quan trong công ty, bao gôm ca nhung người ra quyết định chính, chỉ có thổ thu lại được chi phi cơ hội của các nguồn lựccũng như năng lực của họ.

Từ khi khái niệm “sự không hoàn hảo của thị trường” được đua ra, nhưng lựa chọn hành vi của công ty được mở rộng hơn và các nhà quản lý trở nên tích cực và đóng vai trò chiến lược Vai trò của họ sẽ thay đổi tùy theo tính chât và mức độ không hoàn hảo của thị trường, sự giống hoặc khác nhau giữa môi quan tâm của các bên hên quan khác nhau trong công ty, sự đánh giá của họ về xác suất kết quả của các quyết định khác nhau và cơ cấu khuyến khích có liên quan

Trường phái kinh tế tân cổ điển từng phân tích sự không hoàn hảo của thị trường bằng cách xem xét sự ảnh hưởng của nó tới hành vi của những người tham gia thị trường Bằng cách này, nó chỉ tập trung vào những cơ sở nội sinh Đặc biệt, có ba dạnơ méo m ó'thị trường về cấu trúc được nhăc tới D ạng thứ nhât là kha nang thay đoi giá của những người tham gia mua bán bằng cách thêm vào hoặc giảm bớt khôi lượng hàng được bán ra (mua vào) Dạng thử hai bắt nguồn từ khả năng đa dạng hóa của các công ty, vỉ dụ bằng cách xây dựng thương hiệu mang tính khác biệt so với các đối thủ cạnh tranh cho sản phẩm Dạng thứ ba là do sự tồn tại (hoặc không tồn tại) của các rào cản cạnh tranh Trừ trường họp thị trường độc quyền nhóm bản, trường phái kinh tế tân cổ điển coi những sự không hoàn hảo này là yếu tố ngoại sinh và cho răng mục đích cuối cùng của các công ty là tôi đa hóa lợi nhuận

Tuy nhiên như chúng ta đã thấy, sự xuất hiện của thị trường không hoàn hảo không chỉ m ở rộng các lựa chọn của công ty về sản phẩm và danh mục đâu tư sản xuất, mà còn m ở rộng các cơ sở trong và ngoài công ty có ảnh hưỏng tói nhũng lụa chon này Thứ nhất, một khi thừa nhận rằng tối đa hóa lợi nhuận không phải là mục

Trang 9

đích duy nhất eúa côníi ty thì khi) năn Si cỏnẹ ly muốn dạt dược những mục tiêu khác và

sư dụrm nhữnu chiến lược nhấi định dê dạt dược chúng sẽ gia tăng Lúc dâu các nhà kinh tế và nhà nghiên cửu về tổ chức thường tập irung vào các quycl định về dâu ra và siá cả cùa cô na ty nhằm theo duổi các mục tiêu không phải là tỏi đa hóa iợi nhuận, ví

dụ doanh số bán hànR hay tối đa hóa một dạng tiện ích nào đó luy nhiên, sau đó họ nhận ra ràns cần phải đánh giá cơ cấu khuyên khích của các công ty một cách cơ bán hơn bởi vì bát cứ' động cơ nào rời xa sự cạnh tranh hoàn hảo đêu có thê ảnh hưởng tới chi phí và lợi nhuận lừ cơ cấu này Tính kinh tế của chi phí giao dịch và sự lựa chọn hành vi chiến lược đều bắt nguồn từ sự không hoàn hảo của thị trường và đêu dê bị ảnh hưởng bởi sự mở rộng của các cơ sở có khả năng ảnh hưởng đên động cơ năm bên trong nó

Thứ hai, chính các công ty có thể nỗ lực tạo ra những sự không hoàn hảo của thị trường để thu lợi nhiều hơn Trường phái kinh tể cổ điển bỏ qua vấn đề này, phần nhiều là do nó không quan tâm đến các vấn đề tổ chức Thực chât, phân lớn trường phái lý thuyết này coi chi phí giao dịch trên thị trường là không có hoặc luôn luôn nhỏ hơn chi phí của các tổ chức khác Tuy nhiên, lý thuyêt vê sự thât bại của thị trường và việc thiết lập hợp đồng quan hệ (W Miamson, 1979, 2000) cho rằng điều đó không phải luôn luôn đúng Teece giải thích: “ Do việc bỏ qua nền tảng cơ sở của cấu trúc thị trường, công cụ phân tích kinh tế thông thường đã trở nên vô hiệu trước các vấn đề quản lý chiến lược” (Teece, 1984:91)

Khi các nhà kinh tế chính thống đã phải vật lộn với những vấn đề này, hầu hểí

họ quan tâm tới việc xác định kết quả có thể có của các chiến lược quản lý khác nhau

Do vậy tất cả các tài liệu về độc quyền nhóm đều không đưa ra một giải pháp nhât định nào chỉ vì nhận thức được sự thất bại của thị trường Ví dụ, một nhà độc quyền nhóm không những không thể biết chắc hành vi của mình (các quyêt định vê giá cả, sô lượng đầu ra, kiểu loại sản phẩm, các hoạt động đổi mới, thị trường hoạt động, v.v )

sẽ ảnh hưởng tới các đối thủ cạnh tranh thế nào mà còn không rõ mình sẽ bị ảnh hưởng

ra sao bởi chính hành vi đó Phần ỉớn các mô hình kinh tế dều cố gắng tìm kiếm và xác định kết quả của mỗi hành vi mà không xem xét kỹ tới những cơ sở hoặc chiến iược quyết định đến hành vi này

Trang 10

MỘI lurớnỉỊ liếp cận tươnỉì tự dược sư dụng dè phân tích lính khong đoi xưng,

sự khônụ chẳc chăn và thời điêm của thòng tin Phân lớn các giáo trình kinh tổ (ngược lại với tài chính) thường ít quan tâm tới vốu tồ thứ nhối nhưng lại coi hai diêm sau như

ià một chi phí càn dược bù đắp (tuy nhiên thường không sử dụng thuật ngừ "chi phí giao dịch'') Như vậy, vì thu nhập ròng trong thời gian 5 năm không được mang lại trong một ngày, nỏ làm cho chi phí này ngang với khoản lợi tức thu dược nêu mang sô tiền đó đi đầu tư từ 4 năm trước Tương tự- một dự án với 50% khả năng thu dược 5 triệu dô la và 50% khả năng thu được 4 iriộu dôla có thể dược coi như một dự án với 100% cơ hội thu dược 4,5 triệu đôla

Trong vòníi 10 năm qua, các nghiên cứu về những lựa chọn thực tế đã đưa ra một phương thức mới để đánh giá vê sức ảnh hưởng của tính không chăc chăn lên các quyết định đầu tư (Dixit và Pindyck, 1994; Amram và Kulatilaka, 1999; Damodaran,2000) Cách tiếp cận này cho rằng mỗi khi phải đối mặt với một tình huống khá bấp bênh một công ty thường tìm cách đảm bảo tính linh hoạt của m ình đối với các cam kết về nguồn lực của mình, và nêu tình huông cạnh tranh cho phép, nó sẽ chơ đợi đcn mức có thể để lấy thêm thông tin trước khi quyết định đầu tư Điều quan trọng là bất

cứ sự đầu tư mang tính mạo hiểm nào đều có những lựa chọn thực tê nêu như nó không được nhìn nhận như là một lân đâu tư mà là m ột chuôi các đâu tư nho, khi ma

sự tiếp tục dự án có thể được đánh giá lại sau môi bước “Lựa chọn chờ đợi hêt sức quan trọng nếu như nhà đầu tư không phải lo sợ gì về khả năng sụt giá trong khi chờ tới một sự thay đổi thuận lợi trên thị trường để đầu tư v ề mặt lý thuyết, một lựa chọn không bao giờ có giá trị âm, tuy nhiên trên thực tế giá trị của “lựa chọn chờ đợi” này

bị ảnh hưởng bởi các hành động hay các lựa chọn được lường trước của các đôi thủ cạnh tranh, ví dụ một đối thủ có thể chọn mua hết cổ phiếu thị trường trong khi một công ty khác lại muốn chờ đợi

Bằng cách sử dụng một công thức định giá các lựa chọn đã điều chỉnh, ta có thể đánh giá được giá trị của tính linh hoạt trong một chuỗi đầu tư cũng như so sánh nó với quyết định đầu tư một lần dựa trên giá trị hiện tại thuần (net present value - NPV)

Do cách tiếp cận này có những hạn chế nhất định như hạn chế xuất phát từ đặc tính của các dự án đầu tư liên minh (như đầu tư vào R&D) và sự khó khăn trong việc ước

Trang 11

lính rúi ro (tính dỗ hiên dộrm) dã có những nồ lực xây dựng MN1', như một lập hợp các lựa chọn thực tế (Bucklcy và Casson 1998; Casson 2000: Kogut và Kulatiiaka.2001) Hướng tiếp cận các lựa chọn thực tế cũng dã dược sư dụng đê giải thích vê các cỏn° ty licn doanh (K.OÍÌUI ỉ 991; í'olta và M ilỉer, 2002) và sự gia nhạp thị trương hen tiếp (Koeut và Chang 1996).

Đây dĩ nhicn chỉ là nhữna minh họa đơn giản cho thấy thị trường không phù hợp để làm cơ sở quyết định nỉiuồn lực, sự thay thế hay 1T1Ở rộng có thê tạo ra nhiêu lựa chọn chiến lược hơn cho những người ra quyết định, [hực tê hâu hêt tât cả các quyết định không những có thể mang lại rất nhiều kêt quả có liên quan và đêu không chắc chắn mà chúng còn va chạm tới mức độ và sự cân băng giữa thu chi theo một cách khó xác định Do đó, giải pháp được lựa chọn sẽ phụ thuộc vào sự ước đoán của nhà chiến lược về kết quả dễ xảy ra và cơ cấu khuyến khích ảnh hưởng tới việc ra quyết định của người đó

Cách tiếp cận của một nhà chiến lược kinh doanh thường ít mang tính hình thức hơn và do đó thực tế hơn so với nhà kinh tế Thay vì tìm kiếm những lời giải thích

chung chung đối với m ột vấn đề cụ thể, họ quan tâm tới xác định những giải pháp cụ thể cho riêng m ột công ty hay một nhóm các công ty có những đặc điểm tương tự nhau

và các yếu tố quyết định như nhau M ặc dù đặt trọng tâm vào những mảng cụ thê của việc ra quyết định, điêu dê nhận thây là các nhà chiên lược thanh cong la nhưng ngươi

có khả năng và sẵn sàng sử dụng định hướng tô chức các hoạt động gia tăng gia tri trong và ngoài nước m ột cách tổng hợp và có hệ thống Các phân sau sẽ áp dụng một

sổ khái niệm này vào các vấn đề tổ chức, sở hữu và vận hành của MNE Tuy nhiên, trước tiên chúng ta sẽ xem xét bản chất của các hoạt động kinh tê dưới góc nhìn của nhà kinh doanh

7.3 Chuỗi giá trị gia tăng

7.3.1 Các nguyên tắc cơ bản

Nhiệm vụ chính và cũng chỉ riêng có của một công ty kinh doanh ỉà tham gia

vào sản xuất Sản xuất được định nghĩa là bất cứ một hoạt động nào tạo ra và gia tăng

giá trị Giá trị gia tăng được tạo ra bằng cách biến đổi những nguyên liệu đâu vào có

11

Trang 12

oiá trị kinh tế íl hơn ihành nhũng san phâm dầu ra cỏ giá irị kinh tê nhiêu hơn Nói cách khác, côna ty sơ hữu hay thuê nhân lực lài san vậi 1>' hay tài san tài chính và phải

ưá ít nhất bàna vói chi phí cơ hội của họ ỉ rong một mo hình tôi đa hóa lợi nhuạn chiến lược của chủ sỏ' hữu là sứ dụng các nguôn lực này sao cho có thê thu lại đuợc so thặne dư (đặc lợi kinh lé) lớn nhất, cao hơn chi phí cư hội tất cả khoản thặng dư này được coi là lợi nhuận của chủ sở hữu

Các nguồn lợi nhuận trên có thể được phân chia cho các cô đông hay đâu tư tiêp vào kinh doanh nhằm Ihu được các nguồn lợi nhuận trong tương lai và tăng thêm giá

tộ ròng cho công ty I ro n g điêu kiện cạnh tranh không hoàn hao, chu sơ hưu cong ly

có thể theo đuổi các mục tiêu khác Lợi nhuận thặng dư có thê bị mât do quan ly thieu hiệu quả m ột phần hoặc toàn bộ khoản này có thê được phân chia hoặc bị chiem đoạt bởi những người liên quan (người tiêu dùng hay chủ sở hữu lao động) tuy theo nhung mục tiêu mà họ mong muốn và khả năng thương lượng của họ

Đe đạt được mục tiêu của mình, công ty cũng phải tham gia vào các giao dịch

Ngay cả những công ty chỉ đảm nhiệm một hoạt động kinh tế duy nhất cũng phải tham gia vào hai nhóm giao dịch Nhóm thứ nhất là với chủ sở hữu của các nguồn lực và năng lực mà nỏ sử dụng để sản xuất giá trị gia tăng; nhóm thứ hai là với người mua

những sản phâĩĩi hay dịch vụ đâu ĩâ của sản xuât Cãc gi&o đích nay xay ĩâ giưa cong

ty và các đơn vị kinh tế độc lập (chẳng hạn các công ty khác hoặc các hộ gia đình) và thường dựa theo thị trường M ặc dù các giao dịch này có liên quan tới những chi phí

đã nêu ở Chương 5, các chi phí này chỉ xuất hiện nếu công ty có tham gia sản xuất Hơn nữa các chi phí này lại gắn liền với lợi ích Chi phí điêu phôi lao động va giam sát thực hiện liên quan trực tiếp đến năng suất lao động Chi phí giao địch cao do tìm kiếm khách hàng tiềm năng có thể được bù đăp một phân hay hoàn toàn bởi viẹc gia tăng doanh số bán hàng từ sự tìm kiếm đó Trong những năm gần đây, các nhà phân tích đặc biệt chú ý đến những vấn đề liên quan tới sản xuât và giao dịch sản phâm như trách nhiệm xã hội doanh nghiệp, sự bền vững môi trường, đầu tư cỏ đạo đức và khả năne thương lượng của người tiêu dùng Điều này cho thấy các mô hình tối đa hóa lợi nhuận đơn giản không phản ánh được những mục tiêu thực tế của các nhà quản lý

12

Trang 13

Ị rong mo hình tối da hỏa lợi nhuận don íiián mục lièu chinh cua công ty là muíi nuuyên liệu dầu vào và bán san phàm dầu ra sao cho có the tỏi da hoa doanh thu ờ mồi một cấp sản xuất trừ di chi phí giao dịch (ròng) đế có thế thu lại nguôn doanh thu này I hôm nữa, nó sẽ liếp tục tăng thêm dầu ra cho tới khi năng suât cận bièn và chi phí lùao dịch (ròng) bằng với doanh thu cận biên Chỉ với bài toán dơn giản này dã có một số vấn đề nảy sinh Một là vì chi phí giao dịch không thc tính toán dê dàng, đặc biệt khi nỏ liên quan đến rủi ro và các mối quan hệ cá nhân, do dó rảl khó đánh giá được tại một cấp sản xuất dang tối da hóa doanh thu hay tôi thiêu hóa chi phí, và sô lượng sản phâm sản xuât tôi ưu là bao nhicu Một vân đẽ nữa là co mọt so chi phi giao dịch không gắn với bất cứ một hoại động đầu vào cụ thể nào, ví dụ chi phí giám sát lao động để tối thiểu hóa việc người lao động trốn việc, chủ nghĩa cơ hội hoặc để đảm bảo

Khi m ột công ty quyết định tham gia vào nhiều hơn một hoạt động giá trị gia tăng không những chi phí giao dịch cũng như lợi nhuận của nó sẽ gia tăng mà nó còn bắt đầu đảm nhận m ột trọng trách chỉ có thể được thực hiên bàng các phương thức tổ chức khác Khi tham gia vào các hoạt động thượng nguồn và hạ nguồn, ngoài việc trở thành một đơn vị kinh doanh, công ty còn nội bộ hóa thị trường cho sản phẩm Bằng cách này, những hoạt động trước đây được thực hiện bởi nhiều nhà sản xuất riêng biệt giờ được thực hiện chỉ bởi một chủ sở hữu Quá trình đa dạng hóa sản phẩm của công

ty ví dụ như từ sản xuất tủ lạnh chuyển sang sản xuất tủ lạnh và máy giặt, sẽ làm xuât hiện thêm các chi phí giao địch Công ty tin rằng các chi phí này có thể hoặc sẽ nhỏ hơn chi phí cho các hoạt động tương tự nhưng diễn ra trên thị trường, hoặc nó sẽ thu lại được những khoản đền bù từ việc bán nhiều sản phẩm hơn, ví dụ như hiệu quả kinh

tế nhờ quy mô hay tổng chi phí sẽ được chia bớt cho hai sản phẩm Việc đa dạng hóa địa điểm sản xuất hầu như chắc chắn sẽ làm tăng các chi phí giao địch, ví dụ như chi phí liên quan tới việc điều hòa sự khác nhau giữa các cơ sở chính thức và không chính thức các cấp giám sát và liên lạc bên trong công ty Dĩ nhiên, các chi phí này co the được bù đắp bằng doanh thu từ các thị trường mới, việc cắt giảm giá thành của các giao dịch trong hoạt động sản xuất trong nước và nước ngoài, lợi nhuận từ việc chuyên môn hóa sản phẩm, sự giảm cắt giảm rủi ro và sự biến đổi môi trường (Kogut, 1985)

Trang 14

Những phân lích trên cunạ cấp sự hiên biôt nhàt clịnh khi tim hicu vô qu\cl dinh san xuấi O' nước lìíioài cua một công tv Công ty thường quvêl dinh nhu vạ\ khi nhạn thấy rằng nó có thể thu được nhiều lợi nhuận ròng nhất lừ bât cứ mội hay nhiêu thị trườn £ xác định bànụ cách tham gia vào các hoại dộng san xuat hcn quan tơi san pham

đó ở nước ngoài Cũng có thể công ty nhận thấy rằng chi phí sản xuất cộng với chi phí giao dịch ở nước naoài khi nội bộ hóa một thị trường cho sản phâm trung gian đuợc sàn xuất ở nước neoài thấp hơn hẳn so với những chi phí dó ở trong nước cộng với phí xuất khẩu ra một nước khác hay chi phí giao dịch với một công ty nước ngoải dộc lập

7.3.2 M ạng luói giá trị gia tăng và hoạt động MNE

Bây giờ chúng ta hãy cùng xem xét quá trình quốc tế hóa của một công ty Trước hết cần làm quen với khái niệm chuỗi giá trị gia tăng (hay còn gọi là chuôi giá trị như Porter, 1980, 1985), một thuật ngữ mô tả các giai đoạn từ đầu đến cuối của hoạt động kinh tế trong một chuỗi sản xuât m ột loại sản phâm hay dịch vụ nao đo 0 moi giai đoạn, cho tới khi sản phẩm hay dịch vụ được đưa đên tay người tiêu dùng, san phẩm được coi là hàng hóa trung gian, hàng hóa này sau đó sẽ trở thành nguyên liệu đầu vào của giai đoạn tiếp theo trong quá trình Ví dụ, chuỗi giá trị của một chiếc áo cotton bao gồm thiết kế áo, sản xuất nguyên liệu thô, quay sợi, dệt vải, sản xuất (cắt, may đóng gói), tiếp thị sản phẩm và cuối cùng là phân phối cho các nhà bán buôn, bán

lẻ Ngược lại, chuồi giá trị của một công ty có thể chỉ gồm một giai đoạn trong các giai đoạn kể trên hoặc toàn bộ các giai đoạn đó

ở mỗi giai đoạn của chuỗi, giá trị được gia tăng sao cho tông giá trị (của đâu ra) sản phẩm cuối cùng bằng với tổng các giá trị được gia tăng (hay đầu ra ròng) ở mỗi giai đoạn Như vậy, nếu RA là tổng số thu được từ việc bán sản phẩm cuối cùng A và

Naì N Av là các giá trị được thêm vào ở mỗi giai đoạn ị, ii, , V của chuôi thì:

Tuy nhiên, khái niệm chuỗi cũng không hoàn toàn phù hợp khi mô tả một quátrình sản xuất N hư sẽ thấy, khái niệm này ngày càng không chuẩn xác vì một số sảnphẳm trung gian sẽ không được sử dụng liên tiếp, mà có thể được dùng chung trongcác giai đoạn khác nhau Các giai đoạn này bao gồm thể chế và cơ cấu trúc khuyến

14

Trang 15

khích chuim các dịch vụ quán lý tài chính, cổ v ấ n dịch \ụ chuyên cho', các tiện ích côniỊ cộnụ và một số dịch vụ chuyên nghiệp như kiêm toán, quảng cáo hay dịch vụ pháp lý Tuy về mặt lý thuyết chúng ta cỏ thế phàn từng hoạt dộng bố sung này về mồi

1 í>ìa.i đoạn sán xuất- nhưne trên thực tế điều này là cực kỷ khỏ Dù vậy, chúng cùng la một phần của mạng lưới hoạt động giá trị gia tăng

Quvết định tham eia vào chuồi (hay các chuồi) giá trị gia tăng nào và giai đoạn nào của chuỗi được đưa ra dựa trên những lợi thế về thẻ chế, nguồn lực và m arkeũng

mà côn° tv nhận thây, cũníì như chiên lược mà no lựa chọn de tạn dụng được nhung lợi thế này (Tallman, 1991) Như đã đề cập chiến lược sẽ ảnh hưởng tới vị thế cạnh tranh của công ty trong tương lai (Dunning, 1993a, 2000a) Câu hình địa lý của cac hoạt động này c ũ n g phụ thuộc vào nhận định của công ty vê sức hâp dan cua cac ầịã

điểm sản xuất khác nhau Như Porter (1994, 1996) và Enright (2000b) từng nhấn mạnh phản ứng của công ty trước những sức hấp dẫn này là yếu tố quyết định chiếnlược của nó

Cho đến nay chúng ta vẫn chưa xem xét tới vấn đề tổ chức và sở hữu của mạng lưới hoặc chuỗi giá trị gia tăng, hay là cách điều phối các giai đoạn với nhau Có rất nhiều lựa chọn cho công ty M ỗi hoạt động có thể được thực hiện bời các cơ sở sản xuất riêng biệt hay liên kết với nhau, hoặc ỉà toàn bộ mạng lưới thuộc sở hữu của duy nhất một hệ thống cấp bậc Tuy nhiên, dù được tô chức thê nào, cac hoạt đọng trong mạng lưới cũng sẽ liên hệ với nhau băng các môi quan hệ giao dịch theo chieu ngang hay chiều dọc Các yêu cầu pháp lý, phong tục kinh doanh, các tiêu chuân vê thê chê khác cũng như chiến lược kinh doanh và lợi ích kinh tế sẽ quyết định chính xác các mối quan hệ này là gì Các mối quan hệ này cũng thường khác nhau giữa cac quoc gia

và thay đổi theo thời gian trong cùng một quôc gia

Càng nhiều người tin ràng các giai đoạn khác nhau của một hoạt động kỉnh te nên được giám sát bởi hệ thống cấp bậc, chứ không phải sử dụng thị trường hay các mối ỉiên kết với các công ty khác, như vậy tổ chức theo kiểu liên kết dọc sẽ càng trở nên phổ biến Chi phí giao dịch của các quan hệ hợp đồng càng thấp và nền kinh tế sản xuất của giao dịch nội bộ càng giảm thì tổ chức giao dịch càng dễ diễn ra theo hướng thi trường Trong khi có một sô kiêu cơ câu có điêu kiện thuạn lợi hơn nhưng kieu

Trang 16

khác, cũnỉì cỏ những khác biệt dárm kê giữa các ngành công nghiệp Diên hình tà General Motors luôn thích dựa vào các nhà cung cấp dộc lập trong khi l ord lại cô gẳníi kết hợp toàn bộ chuồi eiá trị Những khác biệt này cho thấy chi phí ký kết và chi phí quốc lế hóa phụ thuộc vào các nguồn [ực cơ sở của công ly (Oi), và răng các công

ty với nhiều mối quan hệ hơn thường có chi phí giao dịch thấp hơn và do vậy linh hoại hơn trong việc thiết kế các hoạt động giá irị gia tăng

Hình 7.1 minh họa bốn kiểu chuỗi giá trị gia tăng khác nhau với tính phức tạp lăng dần Ở trường hợp thứ nhất, công ty chỉ sản xuất một sản phẩm (sán phẩm A) với bốn giai đoạn rõ ràng (từ ị đến iv) Mỗi giai đoạn này có thể bao gồm việc mua các nguồn lực hỗ trợ hay bổ sung của chính công ty hay các công ty khác Sản phẩm của mỗi giai đoạn có giá trị bằng với tổng giá trị của hàng hóa hoặc dịch vụ trung gian được sử dụng và giá trị được tích lũy ở giai đoạn đó Giá trị này bao gồm chi phí trả cho các hoạt động sản xuất và giao dịch, phần thặng dư thuộc về chù sở hữu (có thể mang giá trị âm), ở đây chúng ta sẽ coi như tất cả các chi phí giao dịch nằm trong chi phí của các nguồn lực bổ sung Chúng ta sẽ không cố gắng phân tích giá trị gia tăng thành những thành phần khác nhau (tiền iương, lợi nhuận, tiền thuê )- Tuy nhiên, những thành phần đó và chi phí của các sản phẩm trung gian có thể đao động tùy theo

số lượng sản phẩm mua và bán cũng như hiệu quả sử dụng chúng trong sản xuất

Đường kẻ đứt quãng giữa các hoạt động có nghĩa lầ các hoạt động đó được đặt dưới cùng một chủ sở hữu và các giao dịch diễn ra trong nội bộ Đường kẻ bình thường minh họa cho các hoạt động được thực hiện bởi các công ty độc lập, và các giao dịch diễn ra trên thị trường sản phẩm trung gian Công ty ở đây được coi như một công ty đa hoạt động (mặc dù nó chỉ sản xuất một sản phẩm) vì nó tham gia vào bốn giai đoạn sản xuất Ở giai đoạn i và ii, công ty chỉ sản xuất ở nước sở tại, mặc dù một phần sản phẩm có thể được xuất khẩu Ở giai đoạn iii và iv, công ty hoạt động một phần ở trong nước và một phần ở nước ngoài Công ty này được giả định mua các nguyên liệu đầu vào và bán sản phẩm đầu ra cho những thành phần tham gia thị trường

Trường hợp thứ hai trong Hình 7.1 đưa ra phân tích sâu hơn Ở trường họp nàycông ty sản xuất hai mặt hàng (A và B) và tham gia vào bốn giai đoạn sản xuất của

16

Trang 17

mồi mặt hàn ụ Nói cách khác, cônụ ly này da dạng hóa theo chicu dọc va kcl hợp cac hoạt độnii san xuâl theo chicu niicing Ihừ hai giá dịnh răng Irong uuong hụp nav il nhất hai troníi sổ các giai đoạn gia tăng giá trị của hoại động san xuâi ca hat san pham

sẽ được diễn ra O' một nước khác Ih ứ ba ngoài việc mua nguyên bệu dau vao tu thị trường, công ty cũrm được giả định tham gia vào hai giao dịch ben ngoai

Hình 7.1 cũ na minh họa địa điểm mà các giai đoạn khác nhau của hoạt động giá trị gia tăng diễn ra Sản phẩm A được dự định sẽ chào bán ở một thị trường nước naoài Hai giai doạn cuối của quá trình sản xuất diễn ra ở nước ngoài trong khi ha giai đoạn đầu sẽ được thực hiện ỏ' nước sở tại Công ty duợc pham chuyên đam nhiẸiĩi viẹc định liều lượng, chuẩn bị và đóng gói cũng như tiêp thị và phân phôi thành pham la

m ột ví dụ Trong cả hai trường hợp, giả định răng việc tiên hành giai đoạn san xuat 111

và iv ở nước ngoài có chi phí thấp hơn so với ở trong nước Một giả định khác nữa là công ty thu được nhiều lợi nhuận hơn khi nó tự tiên hành hoạt đọng gia trị gia tang hơn

là cấp quyền cho một nhà sản xuất nước ngoài (Nếu điều này xảy ra thì đường nối giữa giai đoạn iii và iv sẽ là đường đứt quãng)

Sản phẩm B được dự định bán ở thị trường nội địa, nhưng trong trường hợp này

m ột phần của quá trình giá trị gia tăng được nhập khâu từ một nước khác Đ ưòng giao địch đứt quãng thể hiện rằng thị trường sản phẩm trung gian ở đây lả thị trường nội bộ Chúng ta cũng giả định rằng toàn bộ đầu ra của chi nhánh nước ngoài được xuất khẩu trở về công ty mẹ, công ty này hoàn toàn dựa vào chi nhánh nước ngoai cua no trong giai đoạn đầu quá trình sản xuất, ơ trường họp thứ hai, việc giai đoạn đau cua qua trình giá trị gia tăng được giả định tiến hành ở nước ngoài cho thấy M NE là kẻ tìm kiếm các nguồn tài nguyên (xem Chương 3) Ví dụ cho trường hợp này là một công ty sản xuất đồng đầu tư vào m ột mỏ bôxit ở Caribbean, hay một công ty cao su muôn mua lại các đồn điền ở Liberia Tuy nhiên, một M NE cũng có thể đầu tư ra nước ngoài

đ ể tâ n đ ụ n g n g u ô n l&o đ ộ n g rẻ ở c á c g iâ i đ o s n S3U c u a íỊUct t n n h s a n x u â t ( v i d ụ m ọ t

M NE của Đức đầu íư vào ngành công nghiệp chất bán dẫn ở M alaysia hay một công ty

N hật Bản đầu tư vào ngành dệt m ay ở 1 hái Lan, cả hai đêu có kha năng xuat khau cac

mình)

Trang 18

() irưòiìLí hợp thử ha và thử tư mộl VINi dược gia định sản xuâi hai san phâm (A và B) tronạ hổn uiai đoạn sản xuất, dự định sè dược bán ở nước ngoài (hai nươc: 1

và 2) ílãv xem xét động lực đê sán xuất ơ nước ngoài, ỉ rong trường hợp thử ba chúna ta già định rẩníì công ly thực hiện giai đoạn dâu của sản xuât ví dụ R&D va thiết kế sàn phẩm ở nước sở tại Như vậy, đây là một MNE tìm kiếm nhiều thị trường nội địa Giai đoạn tiếp theo của quá trình sản xuất hai sản phâin này được tập trung ó nước 1 (nước níìoài): hai giai đoạn cuôi của sản phâni A dược thực hiẹn ơ nuơc 1 va sản phẩm B ở nước 2 Các sản phẩm này sau đó sẽ dược bán ra tại thị trường nội địa của chúng Ở trường hợp thứ tư, chúng ta giả định ràng các rào cản thương mại giữa hai nước được dỡ bỏ, do đó công ty tập trung đầu ra của sản phẩm A ở nước 1 và đầu

ra của sản phẩm B ở nước 2, trong khi thực hiện giai đoạn đầu của sản xuất ở nước sở

tại và một phần của giai đoạn cuối (ví dụ bán hàng và phân phôi) ở cả nước sở tại và

nước ngoài Trường hợp 4 thể hiện một sự thay đổi trong vị thế của M NE từ một nhà tìm kiếm thị trường thành một nhà đầu tư hướng đên tính hiệu quả, và từ mọt cong ty

đa nội địa thành m ột công ty toàn cầu (hoặc khu vực)

Các khái niệm đơn giản được giới thiệu ở những phân trước va m inh họa ơ Hình 7.1 có thể được m ở rộng và nâng cao để nói về các mạng lưới giá trị gia tăng phức tạp hơn Chương 8 và 9 sẽ phân tích một số chiến lược tổ chức của M NE và kiểu quan hệ giao địch xuyên biên giới mà chúng có thể hình thành với các cơ sở hay công

íy khác cung cấp các mặt hàng trung gian cũng như với các bên liên quan khác (vi dụ các nhà cung cấp hay các dịch vụ quản lý) 0 hâu hêl các MNE lơn, cac quan hẹ nay

có thể là các giao dịch trên thị trường giao ngay hay các kiểu liên kết với các công ty, nhà máy liên doanh hay các cơ sở sở hữu 100%

Khi M NE ngày càng trở nên toàn cầu và số lượng các nước có M NE ngày càng lớn chúng ta nhận thấy rằng ngay cả các điều kiện và cam kêt của các quan hệ giao dịch cũng ngày càng phản ánh vô số các quy tăc pháp lý, văn hóa và thê chê của nhưng nước có liên quan Điều này lại ảnh hưởng tới các chi phí giao dịch và sản xuất của các họp đồng tổ chức khác Các hợp đồng cấp phép chéo - một kiểu trao đổi - cũng như việc chia sẻ nguồn lực vật chất và con người giữa các công ty đang ngày càng trơ nen phổ biến Điều đáng chú ý ở đây là sự gia tăng đáng kể về số lượng các họp đồng liên

Trang 19

két cũn2 như tính phức lạp và khôn khéo cua chúng Chúng la sẽ nghiên cứu nhừng

liên kết không chi ảnh hưứng tới bán chất và quyền sở hữu cùa mạng lưới giá trị gia tăníi của những sản phàm cụ thế và/hoặc cua toàn bộ hoạt dộng cua công ty, mà cỏn bị ảnh hưởng bởi các cấu trúc khuvến khích và cơ cấu thi hành làm cơ sở cho mạng lưới các hoạt động Chính vì 1Ý do này, cần sử dụng một cách tiếp cận tỏng quát hơn khi đánh giá về cơ cấu OLI của các côna ly và sự phản ứng mang tính chiến ỉược của các nhà quản lý đổi với những yếu tô này

Phần sau sẽ xem XCI một số giai đoạn có thể xăy ra írong sự phát triển của một MNE từ trước khi có FDI cho tới khi trở thành một mạng lưới tích hợp toàn cầu gồm các hoạt động giá trị gia tăng xuyên biên giới Phần sau cũng sẽ tìm hiểu các chiến lược thay thế của công ty ở mỗi một giai đoạn của quá trình quốc tế hóa

Hình 7.1 Chuỗi giá trị: Bốn trưòng họp có khả năng xảy ra

Trường hợp 1: M ột sản phẩm - Hai nưóc

Nước sở tại

Nước ngoài

Sản phẩm A

Các giai đoạn sản xuất

Bán ở thị trường nội địa

Các giai đoạn sản xuất

Bán ở thị trường nước ngoài

Trường họp 2: Hai sản phẩm - hai nước

Sản phẩm A

Bán ở thị trường nội địa

Bán ở thị trường nước ngoài

19

Trang 20

Sàn phàm B

Bán ớ thị trường nội dịa

T ru ô n g h ọ p 3: M NE đa nội địa

Ngày càng có nhiều con đường dân tới sự toàn câu hóa sản pham va thị trương

N hững thay đổi trong nền kinh tế đối ngoại và môi trường công nghệ thập kỷ vừa qua

đã làm gia tăng đáng kể sự đa dạng hóa nguôn gôc địa lý của MNE cung như nhưng quốc gia mà chúng đóng chi nhánh (xem Chương 2) Do vậy, việc mô tả qua trinh quốc tế hóa dưới dạng giản đồ sẽ hữu hiệu hơn trong việc mô tả những lựa chọn có thể thay vì mô tả toàn bộ quá trình này của một công ty

Trang 21

Chúnụ la sẽ bất dầu tháo luận bằng việc xcm xét qua một sỏ kìiía cạnh quan trọng cua K thuyết quốc tố hóa dã dược dè cập trong Chương 4 j.ỷ ihuNÔt nà) cho rằn2 nhữníi hiếu biết nhò' kinh nghiệm của các công ty có hên quan toi V1C C gia tang cam kết về nguồn lực nước níioài di đôi vói sự mở rộng địa bàn hoạt dộng cua M Nh

Sau dó là phần ai ới thiệu sơ qua vồ mạng lưới MNE hiện đại, điêu này là rât cân thiêt

cho việc đánh giá các cơ cấu phối hợp tổ chức và giám sát mà MNE sử dụng khi tham gia vào hoạt độna xuyên biên aiới Chương 8 và 9 sẽ bàn tới những đặc diêm 10 chuc của MNE chi tiết hơn

7.4.2 Bài học từ quá trình quốc tế hóa

Trong Chương 4 chúng ta đã chỉ ra rằng mặc dù lý thuyết về quá trình quôc tê hóa được đưa ra bởi đại học Ưppsala rất có ích trong việc tìm hiểu quá trình m ở rộng ban đầu của M NE tìm kiếm thị trường, đặc biệt là do thị trường ở nước sở tại quá hạn hẹp lý thuyết này lại không giải thích được những động cơ khác của FDI Chúng bao gồm đầu tư tìm kiếm tài nguyên, đầu tư tỉm kiếm nguồn lực (thay vì khai thác nguồn lực) và sự xuất hiện của các công ty quôc tê từ khi hình thành Dù vậy, chúng ta van tin rằng bằng cách tập trung vào tâm quan trọng của việc học hoi chien lược cua cac công ty, mô hình này đã thành công trong việc nhấn mạnh m ột khía cạnh quan trọng của quá trình quốc tê hóa mặc dù việc học hỏi từ kinh nghiẹm đang dan bị thay the bơi các dạng học hỏi khác trong mạng lưới MNE

Quả thực học hỏi bằng cách bắt chước hoặc tìm kiếm thông tin mới là một phần cực kỳ quan trọng trong các hoạt động tạo ra tri thức của MNE Hơn nữa, như Delios và Henisz (2003) đã chỉ ra, các yểu tố thể chế ở nước chủ nhà như sự không rõ ràng về các chính sách hay độ tin cậy của chính phủ trong việc cam kêt thực hiẹn cac chính sách, cũng ảnh hưởng tới việc đầu tư và cách thức học hỏi của công ty Một nghiên cứu về 665 công ty sản xuât của N hật Bản ở 49 nuơc cho thay cac cong ty thường tìm hiểu các hoạt động thị trường và phân phối ngay từ khi mới gia nhập ở các nước mà độ dao dộng về chính sách là thấp Ở các môi trường mà độ rủi ro cao, MNE thường thích tham gia vào các liên doanh với doanh nghiệp trong nước Nghiên cưu

cũng chỉ ra rằng ở các nước với rủi ro chính trị cao, MNE thường gia nhập nhờ các

liên doanh, sau đó thì tăng mức đầu tư để sở hữu toàn bộ một chi nhánh

Trang 22

1'rong quá trinh chuvén hóa từ da quôc gia ihánh xuyên quôc gici (Bartlcti va Ghoshal 1989) hay siêu quốc Siia (Do/, và cộng sự 2001) cọng t> cần diều phối mạng lưới quan hệ trons, và ngoài cona ty nhăm kêt hợp thò che va trí ihưc nong cong ty tỉìi việc thiếu vắng sự học hói từ mô hình một cách không trực tiếp là một thiếu hụt lớn Tuy nhiên, bất châp những phô phán này, chúng tci tin răng mo hình cua qua trinh ngay càng gia tãnạ cam kết về níìuồn lực này cũng ỉà một bước khới đâu hữu hiẹiụ dạc biCt

là đối với các công ty thiếu kinh nghiệm và thường là nhỏ Cách tiêp cận mạng lưới dê hiểu được sự biến dối của các hoạt dộng M NE được dô cập ó phân sau se cung cap một cái nhìn sâu sắc hơn về các yếu tố quyêt định quá trình quôc tê hóa

7.4.3 Cách tiếp cận MNE theo kiểu mạng lưới

Thêm một cách tiêp cận động lực của cơ câu kêt họp OLI cua cac cong ty thưòTìg được sử dụng bởi các học giả vê tô chức - những người vôn nhân mạnh vao các lợi thế riêng của từng công ty khi là m ột phân của mạng lưới các hoạt đọng bo sung và coi quá trình quốc tế hóa là một quá trình phụ thuộc vào những lợi thế của mối quan hệ cộng tác quốc tế, đặc biệt là giữa người m ua và bán Lập luận của các nhà học giả mạnơ lưới thời kỳ đầu (ví dụ Johanson và M âttson, 1987a, 1987b) la, đo cac cong

ty phải phụ thuộc vào nhau trong mạng lưới hoạt động, hoạt động của chúng cân được kết hợp Tuy nhiên, thay vì để cho thị trường hay các thang bậc quản lý quyết định, sự kết hợp này sẽ diễn ra trong một mạng lưới các giao dich giữa cac cong ty tham giâ vào quan hệ trao đổi hai chiều Do các mối quan hệ này thường tốn nhiều thời gian và công sức để thiết lập và phát triển, dạng quan hệ sẽ phụ thuộc không chỉ vào mối quan tâm nhất thời của công ty m à còn phụ thuộc vào sức ảnh hưởng của nó đến tính hiệu quả của toàn bộ mạng lưới (và do đó, đến hiệu quả của chính nó)

trọng thuộc m ạng lưới đã xuất hiện trong tổ chức hệ thống của các công ty Như đã đê cập ở trên, ngoài việc thay đổi cấu trúc quản lý, ranh giới của MNE đã xuât hiện nhiêu

iỗ thủng hơn và đã sáp nhập khá nhiều dạng quan hệ có và không có cổ phần như các liên doanh và liên minh chiến lược I rong khi một sô công ty đã có quan hệ cọng tac lâu năm với một số nhà cung cấp và tiêu dùng nhât định, hay thậm chí cả VỚI mọt so chính phủ đăc biệt thì chúng tôi tin răng, sự gia tăng của các hoạt động hợp tac giưa

Trang 23

các côn í; I V sụ anh hirởnạ cua các hoạt ciộniỊ thuộc cac nhà quán lý dât nước, các 10 chức phi chính phủ và các vốu tố phi thị trường khác lên cong ty cũng ngày càng gia íăníì cùne với quá trình toàn cầu hóa Ớ Chương 5 chúng ta đã dề cập tới việc sử dụng các khá năng liên quan lừ các lài san cư sợ của công ty đê quan lý những nhu câu này Chúne ta sẽ quay trở lại vấn dề này ờ Phần IV.

Vi ộc dưa ra thuật ngữ các mạng lưới là cách các nhà nghiên cứu sử dụng đỗ diễn đạt sự phức tạp tronR tổ chức và vận hành của MNE Nói một cách chung nhât,

truyền tải giữa các nút là khác nhau và mục đích là đưa các nguồn lực qua mạng lưới một cách tối ưu Nếu coi những nút có liên hệ với nhau tốt hơn những nút khác như những chi nhánh hay ngành của công ty thì những chi nhánh này đóng vai trò chiên lược rất quan trọng đối với mạng lưới MNE Ngược lại, nếu m ột phần của mạng lưới không liên hệ với nhau thì nghĩa là có những lỗ hổng còn tồn tại trong cơ cấu

Ngoài các hàng hóa trung gian và sản phẩm cuối cùng, tri thức cũng ngày càng được trao đổi nhiều giữa những thành viên khác nhau của mạng lưới Quả thực chúng

ta có thể coi thời đại này là thời đại của chủ nghĩa tư bản tri thức hay chủ nghĩa tư bản liên minh (Dunning, 1997a; Dunning và Boyd, 2003) Tuy nhiên, loại tri thức có giá trị

và quý hiếm thưòng là những hiểu biết ngầm nằm trong con người và tô chức hay trong quá trình học hỏi và trao đổi kinh nghiệm lẫn nhau (Cantvveeell, 1991b; Spender, 1996) Do những tri thức giá trị thường gắn liền với nhân công lành nghề và các tập tục địa phương, phần lớn tri thức này chỉ dành riêng cho những khu vực hay địa điểm nhất định Khi đó thách thức đặt ra cho M NE là làm sao có thể tiếp thu được những giá trị địa phương từ các chi nhánh nước ngoài và phát triển chúng nhờ các nguồn lực và tài chính sẵn có của công ty (Birkinshaw, 1996; Birkinshaw và Hood, 1998; Hoỉm và Pedersen, 2000) Nhìn từ khía cạnh cấu trúc, MNE cần phải tìm ra cách để phối hợp những phần khác nhau của nó sao cho công ty có thế theo đuổi được các cơ hội thị trường và cùng lúc có thể tiếp cận và sử dụng các nguồn lực nước ngoài ở từng địa phương cụ thể Những thay đổi trong cấu trúc và quản lý này của các chi nhánh MNE

sẽ được đề cập sâu hơn ở Chương 8

23

Trang 24

Nọoài việc mô tá cấu trúc hệ ihống cua một MNH caclì tiôp cận mạng luơi con

c h o p h é p c h ú n a t a t ậ p t r u n g v à o c á c v ầ n d ò g i á m s á t v à p h ô i h ợ p c ù n g n h ư c á c c o s o nền móna giừa các giao dịch cua thị i n r ờ n g vả sự cho phép của cấp quan lý trong công

IV D i ề u n à y đ ặ c b i ệ t t h í c h d á n g k h i c ầ n m ớ r ộ n g p h â n t í c h t ừ b ô n i r o n g m ộ t c ô n g tỵ thành bao gồm cả những yếu tố bèn ngoài công ty, dù là nhà cung câp khách hàng hay đối thủ Tính kinh tế của các mối quan hệ phối hợp bên trong nội bộ công ty như liên doanh và liên minh chiến lược, sẽ được thảo luận chi tiêt hơn trong Chương 9

Nhữna phần sau sẽ tiếp cận quá trình quôc tê hóa chuôi hoại động gia tri gia tăng nhưng cần biết trước rằng công ty không nhất thiết phải tuân theo mô hình các sụ kiện được mô tả ở Hình 7.2 Ví dụ MNK tìm kiếm tài nguyên thựờng thích theo đuổi một hướng đi khác với các M NE tìm kiếm thị trường hay tài sản Các bước đặt ra minh họa cho sự gia tăng trong cam kết nguồn lực nước ngoài cũng như độ phức tạp ngày càng tăng trong sự kết hợp xuyên biên giới Trong khi m ột số công ty có thê trải qua cả năm giai đoạn, một số khác, tùy vào lý do hoạt động ở nước ngoài có thể nhảy cóc qua một số giai đoạn Cũng không thể biết chắc mỗi công ty sẽ trải qua m ột giai đoạn trong thời gian bao lâu Ở phần sau của chương này, chúng ta sẽ tìm hiêu những công ty quốc tế từ khi mới thành lập và những công ty tìm kiếm các lợi thê cạnh tranh ở nước ngoài (hay lợi thế sở hữu) thay vì tận dụng những lợi thế đã có sẵn Hơn nữa, như sẽ thấy ở phần cuối chương này, những MNE đã ổn định trên toàn câu hiện đang sử dụng một cách tiếp cận đa dạng và tổng hợp để gia nhập thị trường hay phản ứng lại trước những thay đổi trong môi trường kinh tế toàn cầu

M ặc dù các giai đoạn mô tả ở đây thường thích hợp với MNE tìm kiêm thị trường, chúng ta cũng sẽ cố gắng kết hợp các giai đoạn của công ty dịch vụ quôc tê, một hoạt động ngày càng phổ biến hiện nay Chủng ta cũng sẽ cô găng chỉ ra những kiểu gia nhập thị trường có thể diễn ra ở mỗi giai đoạn, tùy theo mục đích đâu tư (xem Chương 3) Chúng ta cũng cần chú ý những trường hợp mà khi đó sự liên minh hay nhượng quyền được ưa chuộng hơn là FDI

24

Trang 25

7.4.4 Giai (loạn 1: X uất khíiu và khai thác nirớc ngoài

Các công ty thường tham ạia vào hoại dộng giao dịch quôc tê bởi hai lý do í hứ nhất là đổ thu dược nhữiiẹ tài sàn tạo ra thu nhập hoặc nguyên liệu cho duiôi giá trị ỏ một mức giá rẻ hơn nguồn cung ứng trong nước Thứ hai là dê bảo vệ hoặc tìm kiêm

thị trường mới cho sản phẩm đầu ra của hoại dộng giá trị gia tăng ở trong nước của

công ty ở cả hai trường họp, quyết định trở thành một công ty quốc tế thường chỉ là môt trong nhiêu lựa chọn chiên lược mà một công ly theo duoi Vi dụ, nhung nguon lực và năng lực mà một công ty sử dụng trong việc tìm kiếm và cung cấp dịch vụ cho thị trường nước ngoài có thể được sử dụng tôt hơn băng cách đa dạng hóa hoạt đọng ơ thị trường trong nước, nâng cấp khả năng cung ứng, cải tiên sản phâm tại các nha may nội địa hoặc mua lại các công ty trong nước khác M ột công ty muôn tìm kiêm những nguồn lực mới từ việc sáp nhập và mua lại cũng có thê làm nhu vạy bang cach trơ thành đồng minh chiến lược của một doanh nghiệp nước ngoài Chúng ta thường không biết rõ chi phí để tham gia vào một môi quan hệ kinh tê xuyên bien giơi, nhung trong khi một số công ty sử dụng mối quan hệ như một lựa chọn chiên lược, các công

ty khác lại bị đẩy vào mối quan hệ này đo những thay đổi trong thị trường hàng hóa trung gian hoặc thị trường sản phẩm

M ặc dù ở giai đoạn 1 không có sự tham gia của bất kỳ khoản FDI nào, một số hoạt động của công ty cỏ thể trở thành hoạt động xuyên biên giới Hãy xem xét bốn trường hợp sau Thứ nhất là khi m ột công ty muốn thuê ngoài m ột công ty nước ngoài hoạt động sản xuất nguyên liệu trung gian hoặc sản xuất sản phẩm cuối cùng vì công

ty nước ngoài có lợi thế chi phí hơn so với sản xuât trong nước Qua thực, sụ tang

thường không chỉ bao gồm việc thuê ngoài hoạt động sản xuât trung gian ma con gom các dịch vụ, chẳng hạn trung tâm cuộc gọi (trung tâm chăm sóc khach hang qua điẹn thoại) Điều thú vị là ngay trước cả sự gia tăng của các hoạt động thuê ngoài,

khẩu hơn một nửa số doanh nghiệp vừa và nhỏ của Phân Lan tiên hành quoc te hoa vào những năm 1970 và 1980 giă nhập Giai đoạn 1 băng cach nhạp khau may moc, nguyên liệu thô, thiết bị và hàng hóa để bán lại

Trang 26

Trường hợp thừ hai là khi một cônạ ty muốn x u ấ l khâu hàng hỏa sang một thị trườnR nước tìiỊoài mưi I uv nhicn do sự ihicu hicu biôt hoặc không năm chac vc nhu cầu của thị trườn à, địa phương, một công ty mới gia nhập (dặc biệt là công ty nhỏ) ihường tìm cách tránh rúi ro troníi việc thực hiện dâu lư một mặt hàng nước ngoài hoặc mua lại một đại lý Thay vào đó, công ty thường mua lại các dịch vụ của một đại

lý bán hàng địa phương để tận dụng thị trường bên ngoài Mặt khác, khi một thị trường mới cần được tạo ra cho một sản phẩm, khi sản phẩm cần dược cải tiến để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùníi địa phương, khi nhiều sản phâm dang được tiêp thị và sự diêu phối việc bán các sản phẩm này thu được lợi nhuận ròng, hoặc khi dịch vụ hậu mãi sửa chữa và bảo dưỡng là đặc điểm hấp dẫn của sản phâm, công ty có thê xác định rủi

ro rằng đại lý bán hàng địa phương có thể không đáp ứng được yêu cầu của nó và quyết định tự xây dựng cơ sở tiếp thị và phân phối (bước đầu của Giai đoạn 2) Chương 6 đã đưa ra một số ví dụ trong lịch sử về M NE của Anh tham gia vào thị trường theo cách này

Kiểu hoạt động giá trị gia tăng thứ ba bao gồm sản xuất hàng hóa hoặc địch vụ, việc mua hoặc bán các sản phẩm này đòi hỏi một môi quan hệ lâu dài giữa các bên giao dịch Hàng hóa trong trường hợp này thường ỉà khá đặc trưng, được bán với số lượng nhỏ, hoặc thường ít khi được trao đổi ở đây sự gia nhập thị trường thường diễn

ra trực tiếp với m ột nhà cung cấp hay người tiêu thụ địa phương, mặc dù công ty có thể sử dụng một đại lý nước ngoài để tìm kiếm hoặc thương lượng với nhà cung cấp và người tiêu thụ này N hư vậy, những công ty giao dịch các hàng hóa trung gian đặc biệt (không được sản xuất hàng loạt, bao gồm cả bản quyên và các dịch vụ quản lý) thường

có xu hướng bán các sản phẩm này cho công ty đem lại nhiều lợi ích cho chúng nhât (ví dụ như cấp phép cho một công ty nào đó) Ngược lại, những công ty mua các sản phẩm này từ nhà cung cấp nước ngoài lại phát triển các mối quan hệ ký két lâu dài với nhà cung cấp Các nhà sản xuất thiêt bị gôc đóng vai trò là nhà cung câp trong m ột moi quan hệ thuê ngoài thường rơi vào danh mục này, và trong thời gian tới, một số có thế

sẽ phát triển thành nhà sản xuất toàn cầu, ví dụ như trường hợp A cer (Leung và Yip, 2003)

26

Trang 27

I r ư ờ n g h ợ p t h ứ t ư i r o n u ( i i a i d o ạ n I lủ khi c ô n g ụ s a n xuàt r a SỈUÌ p h â t ĩ i m à khỏ hoặc khônẾì thế di chuyên \à ỉiiao dịch qua không gian Do một sỏ hàng hóa và dịch vụ không thể dịch chuvển nên việc dưa nó ra nước ngoài phải dược thực hiện dưới hình thức FDI hoặc dưới dạng hợp dồng ký kết với một công ty sán xuất 0' nước

dó nếu sản phẩm có thể trao dổi dược Khừng hợp đồng ký kết này bao gồm các dự án

sạn hoặc thỏa thuận nhượng quyền thương mại cho chuồi dịch vụ ăn uống và giải khát như M cD onald’s hay Starbucks 0 Giai đoạn I, người cấp phép hoặc nhượng quyền ihưưng mại ít có sự liên hệ vói hoạt động thường ngày của doanh nghiệp, mà thu nhập dựa vào sự trao đổi các hàng hóa trung gian (ví dụ như các luật lệ)

Hình 7.2 D ự đoán sự phát triển của một MNE

Giai đoạn 5 (hai sản phẩm)

Xuất khẩu cho hãng đại lý tiếp thị và phân phối nước ngoài

27

Trang 28

Xuầt khâu cho chi nhánh tiêp thị và phân phôi

Xuất khâu cho chi nhánh lắp ráp

R& ỉ) xuất khâu cho chi nhánh san xuất

Một phần của R&D cư bản cho Sản phẩm 2 được xuất khấu

Nauồn: I rích từ Ohmae (1985, 1987)

Tuy nhiên, nếu cônạ ty xây dựna ở ví dụ trước lập ra một chi nhánh tiêp thị đê

có thể giành được thêm những hợp dồng mới, nó sẽ trở thành kiêu gia nhập Giai đoạn

2, còn nếu công ty thành lập chi nhánh điều phối một số khía cạnh của việc quản trị dự

án đối với nhiều dự án khác nhau thì đây là kiểu gia nhập Giai đoạn 3,4 hoặc 5, tùy vào mức độ phức tạp và số ỉượng công việc mà chi nhánh địa phương ở châu Phi phải đảm nhiệm Tương tự, khi McDonalcTs hay Starbucks thực sự sở hữu và điều hành các chi nhánh ở nước ngoài, trường hợp này rơi vào kiểu gia nhập Giai đoạn 3-5 M ột trường hợp đặc biệt là các dịch vụ mà người mua phải di chuyển tới nơi dịch vụ được cung cấp, ví dụ khi một đu khách người A ustraiia cân sử dụng các dich vụ cua mọt khách sạn ở Fiji Trong trường hợp này, chủ khách sạn ở Fiji thu được một nguôn xuât khẩu vô hình do dịch vụ được trả bằng ngoại tệ, và nếu như khách sạn đó là m ột phần của chuỗi nhường quyền thương mại thì chủ nhượng quyền thương mại cũng thu được nguồn lợi này

v ề các nguồn lực được chuyển giao ra nước ngoài, Giai đoạn 1 có sự cam kêt ít nhất và hầu như chỉ dựa vào những thỏa thuận trong hợp đồng Trong khi m ột công ty bán sản phẩm cho các đại lý trung gian có thể muốn mở rộng hoạt động của mình bằng cách đầu tư vào hoạt động tiếp thị và phân phối ở nước ngoài, hoặc bằng cách phát triển các giai đoạn của hoạt động giá trị gia tăng ở nước ngoài thì công ty tìm kiếm nguồn nguyên liệu từ nước ngoài lại muốn nắm nhiều quyền kiêm soát hơn và đầu tư vào các cơ sở sản xuất của chính nó ở nước ngoài bằng cách thâu tóm hoặc đâu tư mới Phần lớn sẽ phụ thuộc vào các đặc điểm của từng thị trường đã được nhắc tới, vào loại hàng hóa và dịch vụ được sản xuất và trao đổi, vào cấu trúc thị trường mà các công ty cạnh tranh và tính chất của cơ cấu giao dịch xuyên biên giới Lý thuyết cho rằng giá trị

Trang 29

vá linh quan trọn li cua nhữnạ vêu lô níìv bị íinh hi.i'0'ìig mạnh mẽ hoi nen kinh le chinh trị thiết ché và vãn hỏa cua lừng nước Những dặc diêm riêng của từng công t> như năn° lực san xuất và quản lý, tiềm năng hoạt động (V Ihị trường mới, kiến thức vè các dối thu cạnh tranh hiện tại và trong tương lai dặc trưng thc chc cua nuơc so tại cung la những yếu tố cần quan tâm Quả thực, các lợi thế OI.l của công ty không chỉ ảnh hưởng tới các yếu tố quvết định của hoạt động trao đôi và sản xuât, mà còn dên chiên lược gia nhập thị trường nước ngoài.

7.4.5 Giai đoạn 2: Đầu tư vào hoạt động tiếp thị và phân phối

Không giống với các công ty mà việc mua bán sản phâm của chúng chỉ có thê được thực hiện ở nước ngoài, các công ty muốn mua lại một công ty nước ngoài hay các công ty đang mua bán trên những thị trường riêng hoặc không quen thuộc - nơi mà chuyên gia địa phương là cực kỳ quan trọng, phân lớn các công ty coi việc sử dụng các đại lý và nhà phân phối nước ngoài như là bước khởi đầu trong việc đầu tư trực tiếp ra nước ngoài để tìm kiếm thị trường hay nguồn tài nguyên (nhưng không phải trong việc tìm kiếm hiệu quả hay tài sản) Lý do các công ty muốn nội bộ hóa thị trường để bán sản phẩm của mình chỉ là một sự cân băng giữa các lợi thê vê giám sát chât lưọng, điều kiện và dạng sản xuất cũng như những rủi ro đi cùng với sự cam kết nguồn lực

Theo nhà kinh tế học tân cổ điển, lựa chọn chính ở đây là giữa tính hiệu quả của các cách tổ chức khác nhau khi tối đa hóa doanh thu và tối thiểu hóa chi phí - ở đây bao gồm cả chi phí sản xuất và chi phí giao dịch Việc sử dụng người môi giới địa phương có hai lợi thể rõ ràng, thứ nhất là sự thông thuộc và kinh nghiệm của họ về các thể chế địa phương cũng như các điều kiện cung cầu; thứ hai là khả năng khai thác tính kinh tế nhờ quy mô và phạm vi hoạt động giao dịch có lỉên quan Những khó khăn thường gặp nhất ỉà các vấn đề liên quan tới đại lý/người ủy nhiệm, đặc biệt khi mọt đạỉ

lý lại làm cho nhiều công ty ủv nhiệm khác nhau Những vân đê này bao gôm cả chi phí để đảm bảo rằng đại lý sẽ hoạt động sao cho có lợi nhât cho cong ty xuat khau hoặc nhập khẩu (có thể bao gồm cả chi phí đê đại lý không đem lại lợi thê cho đôi thú cạnh tranh)

29

Trang 30

Khỏnẹ khỏ đc xác dinh nhữnạ yốu lỗ bên trong hoặc hỏn ngoài anh hưởng Lới chiến lược cua các cỏn ụ IV chuvcn từ viộc sử đụng chi nhánh mua ban nuoc ngoai sang việc thiốl lập hoặc mua lại thị trường hay mua lại CO' sỡ của riêng mình Di n h ie n , ncu côn° tv khôna chọn con d ườn ti thứ hai ngay từ đâu thì những kinh nghiệm sau khi gia nhập của nó và sự tăng trưởng trong doanh số cũng đủ dể khiến cho sự cân bàng lợi thế giữa việc sử dụng thị trườn2 bên trong và bên ngoài dịch chuyên vê hướng của lựa chọn thứ nhất Trong khi không có gì ià chắc chắn trong quá trinh này, các công ty lớn

và quen thuộc với vốn dóníi góp cao thường thích thiêi lập mạng lưới phân phôi va tiếp thị của riêng mình Tronạ khi đó, FDI liên quan đên trao dôỉ hang hoa thương được đảm nhiệm bởi các công ty chuyên giao dịch - công ty lớn hơn thường cung cap

cả những dịch vụ kinh doanh cho xuất khẩu và nhập khẩu

Ví dụ trong m ột nghiên cứu vê 276 công ty Đan Mạch, Pedeisen va cac đong

sự (2002) nhận thấy rằng giữa năm 1992 và 1997, ì 7% các công ty đã chuyên từ sử đụng một chi nhánh trung gian độc lập sang thiêt lập tô chức bán hàng cua rieng minh

ở thị trường nước ngoài Công ty càng có nhiêu kinh nghiệm trên thi trương nươc ngoài thì càng thường hay đầu tư vào chi nhánh riêng của mình, nhưng đieu nay lại bị ảnh hường bởi phí chuyển đổi từ những hạn chế trong ký kết, hay khả năng mất khách hàng cũng như chi phí để thiết lập một chi nhánh phân phối và tiếp thị

Tuy nhiên, đối với các công ty ở tất cả các quốc gia, FDI trong các hoạt động giao địch có liên quan là rất quan trọng, mặc dù sự phân chia bán buôn và bán lẻ trong lượng vốn FDI đầu tư vào các ngành dịch vụ đã giảm từ 17% năm 1990 xuống còn 10% năm 2004 do sự bùng nổ của FDI vào các phân khác (ƯNỢl AD, 2006) Thông thường các chi nhánh nảy íà m ột phân của các công ty sản xuât Năm 1982, gan như 52% các nguồn đầu tư nước ngoài liên quan đến giao dịch của Mỹ đên từ các công ty phi dịch vụ (công ty sản xuất) (ƯNCTC, 1989) Năm 1999, MNE phi dịch vụ chiếm tới 41% lượng vốn FDI đầu tư vào Mỹ trong ngành dịch vụ và năm 2000 là 10% đầu

tư vào Đức Những địch vụ này bao gồm giao dịch, tiếp thị và các dịch vụ tài chính liên quan tới việc xuất khẩu từ nước sở tại hoặc hỗ trợ bán hàng của chi nhánh nước ngoài ở thị trường địa phương

30

Trang 31

]•'[)! liên quan tới ạiao dịch và liếp thị có rất nhiều chức năng, và một công ty cỏ ihê có nhiều con dưừníi íỊĨa nhập dê thực hiện các chức năng khac nhau dỏ Ví dụ việc quảng cáo cỏ thế dược giao cho mội công ty chuyên quảng cáo cua (lịa phương trong khi các dịch vụ hậu mãi được tiến hành trong nội bộ Hầu hối các hàng máy bay quôc

tế đều có hộ thống sửa chữa và bảo trì riêng ờ một số sân bay trong khi ở các sân bay khác họ thuê dịch vụ của các công ty địa phương độc lập Các công ty kinh doanh Nhật Bàn cung cấp một gói hoạt động tổng họp và được giám sát kỳ lưỡng, ngược lại với kiểu tiếp ihị sản phẩm phân lán giữa các công ty độc lập của các doanh nghiệp Hồng K ôna và Đài Loan (Ellis, 2001) Tuy nhiên, trong những năm gần dây, các dịch

vụ hỗ trợ kinh doanh của các công ty Nhật Bản đã giảm xuống, đặc biệt là trong lĩnh vực xuất khẩu do MNE của Nhật Bản tiến tới tự đảm nhận việc phân phối và tiếp thị (ƯNCTAD 2004:133) Đối với lĩnh vực sản xuất hàng hóa, sự lựa chọn cách tổ chức

sẽ phụ thuộc vào sự ảnh hưởng của nó đối với khả năng đạt doanh thu, lợi nhuận của doanh nghiệp và các chi phí sản xuât, giao địch có liên quan ÌNÍOI rọng ra, sự hiẹn chẹn hoặc khả năng có thể xảy ra của thất bại thị trường (market fa ilu re ) trong các chức

M ột trường hợp gia nhập Giai đoạn 2 nữa là khi một công ty kêt họp các lợi the cạnh tranh của mình với các lợi thê của công ty nước ngoài đê có thê khai thac toi đa các lợi thế này Như vậy, một công ty của Mỹ muốn xuất khẩu ra thị trường Trung Quốc có thể cần tham gia vào quan hệ họp tác vói m ột doanh nghiêp cha phương đe co thể tiếp cận các kênh phân phối thích hợp Trong những trường họp này, trong khi doanh nghiệp vẫn muốn nắm toàn bộ quyền kiểm soát băng cách nội bộ hóa chức năng tiếp thị và phân phối, các nguyên tắc kinh doanh không rõ ràng và các m ạng íưới mang đậm chất địa phương có thể khiến việc gia nhập thị trường mà không có đối tác địa phương là gần như không thể xảy ra

Cũng cần phải lưu ý rằng đầu tư trong các hoạt động liên quan đến giao dịch đôi khi có thể ỉà bước khởi đầu cho việc sản x u ấ t hàng hóa và dịch vụ ở nước ngoài Quả thực, công ty có thể đã tham gia vào những hoạt động như vậy ở các nước khác Hoạt động ỉ ưu kho là m ột ví dụ Việc chuyên từ lưu kho thành pham đcn viẹc nam giu các sản phẩm trung gian hay các bộ phận chỉ cân CỊua kiêm đinh, lăp rap va đong goi

Trang 32

trước khi hán ra ihị trườna là một bưỡc nhó ỉ ion nữa sự có mặt trong cac hoạt dộng kinh doanh có thc mung dcn cho doanh nỉihiộp 1ĨÌỘI khái niộm tol hợn vc khu nung cuéi mình dối với sún xuâ! nước ngoài, hoặc vô kha năng cung câp san pham irung ịỊiíin cua doanh nghiệp địa phương Nó cũng có thê mang dcn cho doanh nghiệp mội cai nhìn sâu hơn về cônẹ niihộ, thê chê và cơ câu tô chức cũng như những cái ticn can thict đe đáp ứns, nhu cầu liêu dùng nước ngoài Nói ngắn gọn, mối quan hệ kinh doanh hay tiếp thị có thể cung cấp cho một nhà đầu tư liềm năng nước ngoài những kiến thức hữu ích về triển vọnti cũna như cơ hội trong sản xuấi nước ngoài, nhờ đó giảm bớt chi phí thành iập và giao dịch đi kèm vói hoạt động sản xuât đó Ví dụ, tỉ ong mọt nghien cuu chi tiết về một công ty cỡ vừa của Nauy, Welch và các đông sự (2002) phát hiện ra rằng các quan hệ mua bán ở Nga của công ty này trong một vài năm trước đó là cực kỳ quan trọng đối với giai đoạn sau vì nó cung câp cho công ty các moi quan hẹ cung như

độ tin cậy cần thiết để giành được thị írường ở Nga

Tuy nhiên, thay vì hãng xuất khẩu m ở rộng từ việccung ứng hàng hóa tới các địch vụ liên quan như hoạt động lưu kho, điều này cũng có thể được đảm nhiệm tốt hơn bởi các chi nhánh địa phương ở nước xuất khẩu Ví dụ, ngày càng nhiều các công

ty như ATL Logistics ở Hồng Kông đảm nhiệm việc phân loại và dán nhãn quần áo cho các nhà bán lẻ trước khi chúng rời khỏi Trung Quốc để những hàng hóa này có thể được chuyển trực tiếp đến các cửa hàng ở nước nhập khẩu Hoặc m ột công ty như NYK Logistics ở Thượng Hải có thể đảm nhiệm việc bọc giấy kính cho các sản phẩm

sẽ được bày bán ờ các siêu thị nhỏ lẻ, như vậy hàng hóa có thê được chuyen giao de dàng hơn ở kho chứa của công ty nhập khẩu

Cuối cùng, chúng ta cần xem xét một kiêu doanh nghiệp toàn câu m à quá trình quốc tế hóa của nó đã được đẩy mạnh: các doanh nghiệp “quốc tế hóa từ khi thành lập” Đây thường là các công ty công nghệ phục vụ những thị trường hẹp với cơ cấu linh hoạt để các nhà cung cấp và người tiêu đùng có thê liên lạc với nhau trên khăp the giới ngay từ vị trí của mình (Mađsen và Servais, 1997) Khỏi đâu với nghiên cứu của Oviatt và M cDougal (1994) về các liên doanh quốc tế mới, các nghiên cứu về doanh nghiệp quốc tế dã khám phá ra quá trình quôc tê hóa của các doanh nghiệp nhỏ, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ cao Các nghiên cứu này nhằm đánh giá những kênh

Trang 33

sẵn có dê các doanh nsìhiộp "CỊ uôc tê hóa tù' khi thanh lập Iicn lới thị tru ưng CỊUOC le

sự ảnh hướrm cúii nhừttíi nụuon lực hạn chc và thưởng lci chuyciì mon hoa cao cung như cấu trúc doanh ní>hièp quốc tế lên quá trình quốc tế hóa (G abriđsson và Kirpalani 2004; Kniíiht và C avusgiỊ 2004; Kuemmerle, 2005)

Việc đánh siá sự ảnh hưởng tổng hợp của các doanh nghiệp này là việc rất phức tạp do chúníi ta khône cỏ một định nghĩa rõ ràng về khoảng thời gian mà cụm từ

"thành lập” ám chỉ và cũng không biết rõ nên giải thích tính chất toàn cầu của các doanh nạhiệp này như thế nào Do chúng thường chỉ cung cấp một số ít các hàng hóa

và dịch vụ, có mức độ cam kết nguồn lực nước ngoài thâp và tham gia vào xuấl khâu như là hoạt độne chính, chúng ta sẽ xác định các doanh nghiệp toàn cầu này vào Giai đoạn 1-3 Thực vậy, tuy doanh thu của các doanh nghiệp quốc tế từ khi thành lập là khá lớn trong những năm đầu, bằng chứng từ các doanh nghiệp Israel cho thấy các công ty này đang ngày càng tăng cường mức độ cam kết nguồn lực của mình ở thị trường nước ngoài, và việc thiêt lập các chi nhánh nước ngoài ỉà một phân cua qua trình này (Hashai và Alm or, 2004)

7.4.6 Giai đoạn 3: Sản xuất hàng hóa và dịch vụ trung gian ở nước ngoài

Trong khi Giai đoạn 2 là m ột bước quan trọng trong quá trình phát triển của

m ột MNE không chỉ bởi chính nó mà còn vì nó có thể dẫn tới FDI nhiều hơn, số lượng các nguồn lực và năng lực cam kêt trong giai đoạn này thường là khá nhỏ Điêu này thường sẽ nhanh chóng thay đối khi công ty băt đâu tham gia vào quá trình sản xuât hàng hóa và dịch vụ thay vỉ đơn giản mua bán các sản phẩm và dịch vụ đã được sản xuất Đối với hầu hết (chứ không phải tất cả) các doanh nghiệp sản xuất, hoạt động tìm kiếm thị trường mới (chứ không phải thị trường sẵn có) ban đâu thường là các hoạt động giá trị gia tăng ít, ví dụ như việc lắp ráp thành phẩm hay gia công ban đầu M ột khi thị trường địa phương hoặc khu vực đã được mở rộng thì cơ hội thiết lập hay mua lại một dây chuyền sản xuất cũng lớn hơn

Việc này sẽ dẫn đến khả năng FDI phụ thuộc rất nhiều vào ỉoại hàng hóa trung gian hay thành phẩm được cung cấp, bản chất của quá trình sản xuât và chât lượng của năng lực cung ứng ở địa phương Nếu quá trình sản xuất trong nước đòi hỏi nguồn vốn

Trang 34

lớn ha\ các ihict bị chuyên dụnẹ VÌ1 nhân công kỹ ihuộl cao thi việc san xuâi ở dịa phưorta cỏ thè tốn nhiều ihời ạian hơn trước khi có thê băl đàu Nêu quy mô tôi ưu cua nhà máy thườníì ìà nhô cũng như nguồn nguyên liệu dịa phương dồi dào và rẻ thì việc sán xuất nước ne.oài khôna những cỏ thể thay thế cho xuât khâu ở giai đoạn dâu, mà

nó còn có thể là bước đầu để gia nhập thị trường nước ngoài, c ầ n thấy rằng các yêu cầu về mức độ và vị trí tối ưu cũng như các chi phí liên quan tới sản xuất thường thay dổi giũa các d a i đoạn khác nhau của nó

Mình 7.2 minh họa việc đầu tư Giai đoạn 3 khi mà một phần của quá trình sán xuất hay dịch vụ được chuyển giao ra nước ngoài Như vậy, hoạt động giá trị gia tăng

ở nước ngoài sỗ thay thế cho xuất khẩu hay cho các hoạt động sản xuất trong nước mà đáng ra sẽ được nhận nguồn vốn đó M ặt khác, sản xuất nước ngoài có thể hỗ trợ hoặc hoàn toàn độc lập với hoạt động trong nước Dù trong bất kỳ trường hợp nào, một cơ

sở mới sẽ được thành ỉập hoặc m ột cơ sở cũ sẽ bị mua lại

Với sự xuất hiện của Internet và sự gia tăng của các hoạt động viễn thông, việc tìm kiếm các dịch vụ từ nước ngoài như trung tâm hỗ trợ khách hàng qua điện thoại,

bộ phận văn phòng hay lập trình vi tính trở nên ngày càng có lợi Trong các trường họp này, nơi cung cấp dịch vụ thường có nguôn nhân công được đào tạo một cách phù hợp và ở mức giá cạnh tranh, đồng thời dịch vụ này có thể được chuyển giao về công

ty mẹ để làm nguyên liệu trung gian hoặc đưa đến khách hàng trên toàn thế giới Một

ví dụ minh họa là việc BT quyết định đặt trung tâm cuộc gọi tại Ấn Độ năm 2003, hay năm 2004 Philips thuê ngoài các dịch vụ tài chính của Ba Lan Trong cả hai trường hợp này, việc thuê ngoài các dịch vụ trung gian nước ngoài được tiến hành qua khoản đầu tư mới Trong các trường hợp khác, khi mà MNE nhận thấy việc kiếm soát những bước trung gian này là không cần thiết thì việc thuê ngoài có thể tiến hành qua hợp đồng và trở thành kiểu gia nhập Giai đoạn I Khi đó, một trung tâm cuộc gọi ở An Độ

có thể được điều hành bởi m ột doanh nghiệp địa phương hoặc một nhà cung cấp dịch

vụ theo hợp đồng có nhiều chi nhánh tại các nước đang phát triển như Convergys của

Mỹ (ƯNCTAD, 2004:158)

Vậy còn việc cấp phép tài sản sở hữu của một doanh nghiệp quốc tế hóa chomột nhà sản xuất nước ngoài? Trong phân tích ở bước đầu gia nhập Giai đoạn 1, chúng

34

Trang 35

Ut c o i v i ệ c x i i â i khâu q u v ổ n SO' h ữ u c ù n a ỉ i i ố t i ỉ i như v i ệ c x ụ â i k h â u h à n g h ó a i u v

n h i ê n , m ộ i c ô n g IV l ừ n g x u ấ t k h â u l i â n ẹ h ỏ a t ớ i c á c c h i n h á n h l i ê p t h ị c u a n ó g i ờ l ạ imuốn sán xuất một phẩn hay tất cả san phẩm của nó ở nước ngoái, nhưng cách tôt nhât

dê thực hiện việc này là cấp phép hay chuyển nhượng quyền cho mội doanh nghiệp nước rmoài, như vậy cône tv này sẽ thay thế việc xuất khẩu thành phẩm bằng xuất khấu hàng hóa hoặc dịch vụ truna gian Thành phẩm sc được sản xuất tại nước ngoài bởi một công ty không thuộc chi nhánh rồi sau đó bán cho chi nhánh tiếp thị của công

tv (kết hợp ạia nhập Giai đoạn 1 và 2) Tuy nhiên, nếu công ty quyết định thành lập chi nhánh ỉẳp ráp riêng của mình ở nước ngoài thì đây lại là kiêu gia nhập Giai đoạn 3 với sản phẩm được bày bán tại chi nhánh tiếp thị và phân phối riêng của công ty hoặc tại đại lý dộc lập Chi nhánh lắp ráp cũng có thể là kết quả của một liên doanh, như trong trường hợp đầu tư sản xuất ở Trung Quốc, do các hạn chế về sở hữu mà chính phủ nước sở tại đặt ra (Buckley và đồng sự, 2004)

Lý thuyết về lựa chọn giữa sản xuất một hàng hóa hay dịch vụ tại cơ sở sảnxuất ở nước sở tại rồi xuất khẩu hay sản xuất hàng hóa đó tại nước ngoài và đưa ra bán

4 Phần lớn các nghiên cứu này tập trung vào vai trò của các chi phí sản xuất, tổ chức

và tiếp thị khi xuất khẩu và khi sản xuất tại địa phương, cũng như những kỳ vọng về

sự tăng trưởng và quy mô thị trường, phí vận chuyển, các rào cản thương mại của chính phủ và những thuận lợi cũng như khó khăn đổi với chủ đầu tư trực tiếp nước ngoài Trong một báo cáo có sức ảnh hưởng lớn, Buckley và Casson (1981) cho rằng việc chuyển đổi này thường đi ngược lại với mức quan trọng của việc thiết lập, mức chi phí cố định so với tổng chi phí sản xuất cũng như các cách thức để làm quen với thị trưòttg nước ngoài ảnh hưởng tới cách phục vụ thị trường Họ cũng cho rằng việc cấp phép thường được sử dụng hơn khi các chi phí vận chuyển và thuế quan là khá cao Và khi những chi phí này giảm xuống, họ cho rằng các công ty sẽ thích chuyển việc cấp phép thành FDI

Trong những mô hình trước đây, việc trao đổi và cấp phép thường được coi là diễn ra trước hoạt động sản xuất nước ngoài chứ không phải là một cách học hỏi kinh nghiệm của thị trường đầu vào và đầu ra tại nước ngoài cũng như trong trường hợp

Trang 36

trao dôi san phàm m m ạ íỉian (ví dụ như cấp phép hoặc ký kốt hợp dông) cúii hoại dộng sán xuốl nước riíioài Tuy nhiên, giá trị cua kinh nghiệm trao dôi xuyên biên gioi này

đã dược nhẳc tới trong nhiều nghiên cứu quan trọng và trở thành tâm diêm cua lý thuyết quốc tổ hoa thuộc Dại học Ưppsaỉa như dã dược đề cập Do việc hục hói dóng vai trò quan trọng, kiến thức về thị trường và sản xuất nước ngoài của một công ty thường phụ thuộc vào thời gian cũng như mức độ và kiểu tham gia ở nước ngoài trước đây Nhữrm yếu tố khác như quy mô doanh nghiệp và quan hệ của nó với các công ty khác ở địa phươníi cũng không kém quan trọng Như dã đê cập, một ch] nhanh ticp thi Giai đoạn 2 có thể cung cấp cho nhà đầu tư nước ngoài tiềm năng những kiên thức bô ích về triển vọng và cơ hội sản xuất ở nước ngoài, nhờ đó giảm bớt các chi phí giao dịch cũng như chuẩn bị cho quá trình sản xuât

7.4.7 M ở sâu rộng mạng lưói giá trị gia tăng

Trong khi các doanh nghiệp Giai đoạn 3 thực hiện các bước trung gian, ví dụ như lắp ráp ở nước ngoài, thì các doanh nghiệp Giai đoạn 4 thực hiện tât cả các bươc ỉiên quan đến việc sản xuât thành phâm và tham gia vào cjuá trinh phan phoi tiep thị sản phẩm, dù là ở nước sở tại hay để xuất khẩu Sử dụng công nghệ địa phương và nguồn nguyên liệu sáng tạo đê sản xuãt những sản phâm mới, mọt chi nhanh co the đạt được sự ủy nhiệm về sản phẩm và có vai trò quan trọng hơn trong mạng lưới đa quoc gia thay vì chỉ là chi nhánh lắp ráp Ở Giai đoạn 4, các chi nhánh địa phương kiểm soát hầu hết các giai đoạn trong chuỗi giá trị, tham gia vào các hoạt động cung ứng của chính họ và thiết lập các quan hệ hợp đồng cũng như liên kết để trở thành m ột phần trong thị trường nước ngoài Nhìn chung, quá trình quôc tê hóa Giai đoạn 4 tập trung vào khả năng của các chi nhánh trong khi Giai đoạn 5 nhân mạnh việc kêt hợp cac chi nhánh này vào mạng lưới đa quốc gia Một yêu tô thường phân biệt các chi nhánh ơ Giai đoạn 4 và Giai đoạn 5 là các hoạt động sáng tạo Các chi nhánh của Giai đoạn 4 thường phụ thuộc vào R&D ở nước mẹ hoặc của một chi nhánh xuất sắc tại m ột nướckhác Ở Hình 7.2 Giai đoạn 4 biểu hiện một sự chuyển giao tất cả trừ hoạt động R&D

ra nước ngoài

Bước đầu Giai đoạn 4 thể hiện quá trình phát triển của các chi nhánh nướcngoài đã tham gia vào hoạt động trung gian ở Giai đoạn 3 Những hoạt động này

36

Trang 37

t h ư ờ n í’ đ ò i h ó i SỤ' clíìu lư ít n h í ì ỉ v ô v ò n VỘI chiu c o n n g ư ờ i c ù n g n h u CÍ.IC k c i CÍ1U hạ lầnạ do vậv ch ũ nu cìiníi có mức rủi ro ihâp nhài Nêu thành cong, và nêu như thị trườna mở rộng, khả năníi cuníi ứng cỉịa phương dược tăng cường hoặc chính phu tạo điều kiện thuận lợi hơn thì dòng hoạt dộng giá trị gia tăng từ nước ngoài dược chuycn

về sẽ càne tăng cao (Hình 7.2) Các hoạt động giá trị gia tăng càng dược cải tiến cho phù hợp với khả năníì cunạ ứng thị trường với một môi trường sáng tạo thích hợp ihì việc sản xuất nước ngoài sẽ diễn ra càng sớm so với dự định Man nữa, những khả năna này sẽ ngàv càng dược tãne, cường nhờ hoạt dộng đào lạo và giáo dục nâng câp chất lượng nguồn lực, íiiao các trách nhiệm kinh doanh cho các nhà quan lý dĩa phương, thiết lập mạng lưới với các doanh nghiệp khác cũng như cung câp các thiêt bị

hỗ trọ- sản xuất và phát triển những hình thức kinh doanh có hiệu quả hơn

Những thay đổi này đôi khi được thực hiện bởi chính các doanh nghiệp, đôi khi lại là do chính phủ nước ngoài với nguồn hỗ trợ từ trong và ngoài nước, ví dụ như Ngân hàng Thế giới hay Ngân hàng Khu vực Châu Á Chương 10 sẽ cho thấy trong quá trình phát triển, khả năng huy động và thu hút vốn đầu tư của một nước sẽ thay đổi, với minh họa gần đây nhất là sự gia tăng hoạt động của M NE vào Trung và Đông

phép đầu tư, hỗ trợ khu vực hay họp đồng đầu tư hai chiều) hoặc tiêu cực (nguy cơ mất thị trường do chính sách bảo vệ các doanh nghiệp địa phương của chính phủ, kiêm soát nhập khẩu hay các động thái của đối thủ cạnh tranh) đều có thê khuyên khích hoặc buộc các doanh nghiệp phải tìm cách sản xuât ở địa phương và chịu một chi phí điều chỉnh

Trường họp đầu tư nước ngoài để tìm kiếm nguồn nguyên liệu thường được thúc đẩy bởi các thuận lợi ở những địa điểm nhất định, và việc gia nhập không phải là

để thay thế thị trường sẵn có mà ỉà để nội bộ hóa nó Các lựa chọn quy trình thứ câp đê

xử lý nguyên liệu thường nhiều hơn, các hoạt động hạ nguồn thường đòi hỏi nguồn vốn vật chất và con người nhiều hơn so với các quá trình mà lúc đâu được thực hiện bởi nước sở hữu nguồn tài nguyên M ột khi kinh tê đã phát triên hơn và các doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm hơn về các chi nhánh nước ngoài tham gia sản xuât, cốc công ty mẹ có thể sẵn sàng đầu tư vào quá trình xử lý thứ câp hơn, nhât là khi được

Trang 38

c h í n h p h ủ n ư ớ c s ớ l ui Xỉ i 1 Li h ô Ví dụ c á c n h à Síin x u í ì l í l i i u ího CUÍỈ V í ỵ 0 Cc i n í i dí i chuvcn sane dáĩĩi nhiộm ca viộc loc hóa dâu, MN1Í hoại dộng trong ngành khai thíic

mo ở Nam Phi dâm nhiệm cá việc xử lý đồng, thép và li tan hay các công ty đánh băt

cá Hàn Quốc ở Mv và Nam Phi chuyển sang đảm nhận ca việc xư lý cá (U N O AD, 2007)

Chuồi tăne trưởna của hoại dộng MNE trong giai đoạn này cỏ thê có nhiêu dạng Các dạng này ụồm có tăng cường FDI vào những giai đoạn giá trị gia tăng khác

n h a u , mở rộng s ố lượnẼ s ả n p h ẩ m b á n ra tại m ộ t đ ị a d i c m m ở r ộ n g ra n h i ê u CỊUOC gia khác hoặc một sự kết hợp các cách trên Sự tăng trường này cỏ thể là ở dưới dạng mua lại, sáp nhập hay phát triển các chi nhánh của công ty Một ví dụ là sự mở rộng các mặt hàng sản xuất bởi các chi nhánh nước ngoài í rong trường hợp này, sô lượng các chuỗi giá trị gia tăng bao gồm một phần của sản xuất nước ngoài được tăng cường Lúc đầu, các hoạt động giá trị gia tăng của cơ sở mới có thể giống như m ột phiên bản

bị cắt xén của các hoạt động ở nước nhà Trong những trường hợp như vậy, đầu ra của các chi nhánh nước ngoài sẽ được dùng cho những sản phâm đem lại nhiêu lợi nhuận nhất trong khi các sản phẩm khác của M NE có thể được nhập khẩu từ công íy mẹ hoặc chi nhánh nước ngoài khác Điều này có thê (nhưng không nhât thiêt) dân đên việc những sản phẩm khác sẽ được sản xuât Ví dụ, khi một công ty điện lực của N hật gia nhập thị trường Mỹ vào cuối những năm 1970 và những năm 1980, trước hêt họ gia nhập các lĩnh vực kinh doanh cốt lõi, sau đó mở rộng ra cả những lĩnh vực không cốt lõi và sử dụng vốn đầu tư ban đầu như một bàn đạp cho sự đâu tư sau này (Chang,

ỉ 995; Kogut và Chang, 1996)

Nói một cách chung hơn, sự m ở rộng cơ sở sản phẩm thường xuất hiện khi

nhận thấy cần phải mở rộng dây chuyền sản xuât của mình do một chiên lược nào đo

ở trường hợp thứ hai, chuỗi đầu tư sẽ thường ở duới dạng mua lại, sáp nhập hoặc liên minh chiến lược

Một dạng khác của chuỗi tham gia là dành cho MNE, công ty đã thâm nhậpthành công một thị trường nước ngoài, để di chuyển vào một thị trường khác (thôngthường là liền kề), điều này cũng phù hợp với lập luận về học hỏi của Đại học

38

Trang 39

I ;ppsiỉla ỉ rong phân tích lịch sử cua minh Wilkins (1970 1974) dã chi ni lam cách

n à o nùi thị t r ư ừ n íỊ c á c n ư ớ c M í ' I a t i u licn t ụ c bị M N l ‘ M ỹ i h a m n h íi p v a o CUOÌ t h c kv XIX dầu thế kỷ XX Việc MNK châu Âu dầu tư vào khu vực châu Phi hạ Sahara cũng tương tự như vậy (1-rankt) 1976; Archcr, 1986) c ấu trúc công nghiệp cùng như địa lý của hoạt dộne MNE châu Á ở châu Âu dã mở rộng đáng kể từ sau sự thâm nhập của các doanh nghiệp Nhật Bản vào ƯK đầu những năm 1970 Gần đây nhấi hiệu ứng lan truvồn của quá trình học hỏi trong đâu tư nước ngoài đã được chứng minh băng sự gia tăn° số lượng các nước châu Au mà MNH Ir un g và Đông Au co mạt ( U N D 1 A D

2006)

Sự điều chỉnh của các công ty có thể tùy theo từng nước hoặc từng ngành công nghiệp Một ví dụ là các doanh nghiệp máy móc tự động của Nhật Bán đa ung dụng thành công những lợi thế nhờ Keiretsu của mình tại thị trường máy móc Mỹ trong khi các nhà sản xuất Nhật Bản tự thay đổi cho phù hợp với các tiêu chuẩn đang thịnh hành

ở thị trường này Nhìn chung, do các kiêu đâu tư của N hật B&n tại thị truơng My va châu Âu đã chuyển sang hướng tìm kiếm tri thức, mối quan hệ truyền thống giữa

sự thành công của đầu tư (Mason và Encarnation, 1994; Morgan và cộng sự, 2002)

Có vẻ như các nhà đầu tư nước ngoài ngày càng trở thành người trong cuộc bằng cách tự đảm nhận một phần lớn trong việc bán hàng hay băng cách m ua lại chúng

từ các doanh nghiệp ở thị trường địa phương nhờ vào các chi phí giao dịch và sản x u â t

Sự hoàn tất thị trường chung nội bộ châu Âu và sự ra đời của NAFTA ở Bắc Mỹ càng khuyến khích sự chuyển biến này Sự chín muồi của nền sản xuất nước ngoài cũng đồng nghĩa với tính độc lập ngày càng gia tăng và vai trò như là một phương tiện học hỏi của các chi nhánh MNE (Birkinshaw, 1996; Birkinshaw và cộng sự, 1998; Holm

và Pedersen, 2000) N hững chi nhánh này không chỉ hoạt động như các kênh phổ biến công nghệ và tổ chức của công ty mẹ mà còn tự tạo ra những tri thức mới nhờ hoạt động R&D của chúng và các doanh nghiệp khác

Hơn nữa chuỗi đầu tư của MNE vào các hoạt động thường lây tiên từ nguôn thu nhờ tái đầu tư sẽ tăng ỉên một khi các đầu tư MNE trở nên chín muồi Các nguồn tái đầu tư thường ít được quan tâm trên lý thuyết mặc dù nó cực kỷ quan trọng, ngoại

Trang 40

]ệ duy nhất !à một nahièn cửu cua Mudambi (1998) vồ 70 chi nhánh MNK ơ Anh cho ihấv rằnsì các chi nhánh nàv dà hoạt dộtm lâu hưn ỏ' mội nước thường hay dãn tư lại vào nước đó hơn ỉà những chi nhánh mới gia nhập Một nghiên cứu khác cua Song (2002) về 194 chi nhánh diện tử của Nhật Bản tại Màn Quốc, Dài Loan và Singapore chỉ ra rằna các chi nhánh này tiếp tục dầu tư và thậm chí đầu tư ngay cá trong điều kiện sản xuất bất lợi ví dụ khi lương tăng trong khoảng thời gian từ năm 1988 tới

1994 Nghiên cứu này cho rằng các yếu tố dóng góp vào việc nâng cấp không chi bao

gồm kinh nghiệm lâu năm ở địa phương mà còn cả các khả năng đặc biệt và sự cung

ứng nội địa của từng doanh nghiệp Trong nghiên cứu này các doanh nghiệp diện tử Nhật Bản thường sẵn sàng nâng cấp hoạt động ở Singapore hơn là ở Đài Loan hay Hàn Quốc, điều này có lẽ là do chính sách của chính phủ Singapore nhằm thu hút MNE để nâng cao năng lực địa phương

Cũng có trường hợp các nguồn đầu tư tìm kiếm tài nguyên và thị trường bởi một nhóm doanh nghiệp sẽ khuyến khích các nguồn đầu tư khác (cơn sốt vàng đầu tư vào Trung Quốc trong những năm 1990 là một ví dụ), ở Chương 4 đã chúng ta bàn về các chiến lược quốc tế “theo chân người khởi xướng” và “trao đổi mối đe dọa” của các doanh nghiệp cạnh tranh trong thị trrường độc quyền cạnh tranh nhóm Chúng tôi cho rằng việc thắt chặt các thị trường đang lớn lên không chỉ sẽ giúp giảm chi phí cố định trung bình của các doanh nghiệp đầu tư (ví dụ bằng việc dàn trải chi phí R&D và tiếp thị trên số lượng sản phẩm lớn hơn) mà còn có thể giúp ngăn chặn các đối thú cạnh tranh không cho lợi dụng các lợi thế về quy mô hay phạm vi kinh tế Trong trường hợp này, một khi sản xuất quốc tế trở nên đáng giá, m ột nhóm MNE sẽ thành lập các đơn

vị sản xuất ngay cả khi một vài trong số đó sẽ không thu ỉại lợi nhuận bởi việc đứng ngoài cuộc sẽ còn đem lại ít lợi nhuận hơn nữa D ĩ nhiên, nguồn vổn đầu tư này không phải lúc nào cũng xuất hiện, trong một số trường hợp quy mô của thị trường địa phương hay khu vực không đủ lớn cho nhiều hơn một hoặc hai nhà sản xuất Hơn nữa, ngay cả khi có nguồn vốn đầu tư, nó có thể không diễn ra ở cùng một nước, đặc biệt khi nguồn vốn được thiết kế đề cung cấp hàng hóa cho thị trường xuất khẩu

Mỗi bước đi của một doanh nghiệp không chỉ khiến cho các đổi thủ cạnh tranh

tăng cường hoạt động mà còn có thể khiến các doanh nghiệp ở những lĩnh vực liên

Ngày đăng: 17/11/2025, 20:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng  ỉ 1,1.  Tổng  chi  tiêu  trong  nước  cho  R&amp;D  (GERD)  tính  theo  %  GDP. - Kt 00072 CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN
ng ỉ 1,1. Tổng chi tiêu trong nước cho R&amp;D (GERD) tính theo % GDP (Trang 129)
Bảng thống kê  gần  đây nhất về R&amp;D  do Cục  Thương mại  và  Công nghiệp  Anh  xuất  bẳn  hàng năm  (DTI,  2006)  cho  thấy  chi tiêu  R&amp;D  toàn  cầu trong năm  2005-2006  của  1.250  công  ty  hàng  đầu  đã  tăng  7% - Kt 00072 CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN
Bảng th ống kê gần đây nhất về R&amp;D do Cục Thương mại và Công nghiệp Anh xuất bẳn hàng năm (DTI, 2006) cho thấy chi tiêu R&amp;D toàn cầu trong năm 2005-2006 của 1.250 công ty hàng đầu đã tăng 7% (Trang 131)
Bảng 11.2Bằng đại học đầu tiên vàtỷ phầnbằngS&amp;E ở 1 số nước, 1975- 2004 - Kt 00072 CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN
Bảng 11.2 Bằng đại học đầu tiên vàtỷ phầnbằngS&amp;E ở 1 số nước, 1975- 2004 (Trang 135)
Bảng 11.3Tỷtrọng S&amp;E trong số bằngtiến sỹ ở một số nước, 2002 - Kt 00072 CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN
Bảng 11.3 Tỷtrọng S&amp;E trong số bằngtiến sỹ ở một số nước, 2002 (Trang 136)
Bảng  11.6:  Chi  tiêu  R&amp;D  của  các  chi  nhánh  nước  ngoài  theo  %  trong  tổng  R&amp;D của m ột số nước chủ nhà phát triển và  đang phát triển,  1993-2004 - Kt 00072 CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN
ng 11.6: Chi tiêu R&amp;D của các chi nhánh nước ngoài theo % trong tổng R&amp;D của m ột số nước chủ nhà phát triển và đang phát triển, 1993-2004 (Trang 148)
Hình  16.1  tóm tắt những hiệu ứng có thể  có khi M NE thâm nhập vào nước nhận  đầu  tư - Kt 00072 CÔNG TY XUYÊN QUỐC GIA: CHUYỂN GIAO CÔNG NGHỆ VÀ PHÁT TRIỂN
nh 16.1 tóm tắt những hiệu ứng có thể có khi M NE thâm nhập vào nước nhận đầu tư (Trang 240)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w