Tích hợp giữa phát triển Đô thị với bảo tồn và phát huy di sản hát chèo tàu tại xã tân hội, huyện Đan phượng, thành phố hà nội
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
_
NGUYỄN THẠC SƠN
TÍCH HỢP GIỮA PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VỚI BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
DI SẢN HÁT CHÈO TÀU TẠI XÃ TÂN HỘI, HUYỆN ĐAN PHƯỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI KHOA CÁC KHOA HỌC LIÊN NGÀNH
_
NGUYỄN THẠC SƠN
TÍCH HỢP GIỮA PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ VỚI BẢO TỒN VÀ PHÁT HUY
DI SẢN HÁT CHÈO TÀU TẠI XÃ TÂN HỘI, HUYỆN ĐAN PHƯỢNG,
THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
Chuyên ngành: QUẢN LÍ PHÁT TRIỂN ĐÔ THỊ
Mã số: 8900201.04 QTD
Cán bộ hướng dẫn: TS LÊ PHƯỚC ANH
Hà Nội – 2023
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn này là công trình nghiên cứu do cá nhân tôi thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Lê Phước Anh, không sao chép các công trình nghiên cứu của người khác Số liệu và kết quả của luận văn chưa từng được công bố ở bất kì một công trình khoa học nào khác
Các thông tin thứ cấp sử dụng trong luận văn có nguồn gốc rõ ràng, được trích dẫn đầy đủ, trung thực và đúng quy cách
Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn
Tác giả
Nguyễn Thạc Sơn
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện luận văn, bên cạnh sự cố gắng và nỗ lực của bản thân, tôi đã nhận được sự hướng dẫn nhiệt tình của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và sự giúp đỡ, những ý kiến đóng góp của các cá nhân, tập thể để giúp tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn TS Lê Phước Anh đã trực tiếp hướng dẫn tôi trong suốt thời gian thực hiện luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn sự góp ý, chỉ bảo của các thầy, cô giáo Khoa Các khoa học liên ngành - Đại học Quốc gia Hà Nội và các thầy cô tham gia giảng dạy chuyên ngành Quản lí phát triển đô thị
Ngoài ra, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, đồng nghiệp, bạn bè, các nghệ nhân ưu tú, nghệ nhân nhân dân, đã tạo điều kiện về mọi mặt cho tôi trong thời gian thực hiện đề tài này
Mặc dù cũng đã có rất nhiều cố gắng xong đây là đề tài nghiên cứu có phạm vi rộng, quá trình nghiên cứu, khảo sát và năng lực của bản thân còn hạn chế nên vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định, kính mong nhận được những ý kiến góp ý chân thành từ các Thầy, Cô giáo, đồng nghiệp và các bạn
Trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, ngày tháng năm2023
Tác giả luận văn
Nguyễn Thạc Sơn
Trang 5MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN iii
LỜI CẢM ƠN iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT viii
DANH MỤC CÁC BẢNG ix
DANH MỤC HÌNH x
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 ĐÔ THỊ HÓA VÀ CÁC VẤN ĐỀ DI SẢN TỪ THỰC TIỄN THẾ GIỚI ĐẾN VIỆT NAM 10
1.1 Lý thuyết về đô thị hóa – phát triển đô thị 10
1.1.1 Đô thị 10
1.1.2 Đô thị hóa – phát triển đô thị 11
1.1.3 Ảnh hưởng chủ yếu của ĐTH đến phát triển KT – XH 11
1.2 Lý thuyết về di sản – di sản văn hóa phi vật thể 12
1.2.1 Di sản – di sản văn hóa phi vật thể 12
1.2.2 Chức năng của di sản 13
1.3 Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản trong đô thị 14
1.3.1 Cơ sở lý luận cho phát triển đô thị và bảo tồn phát huy di sản 14
1.3.2 Đánh giá giá trị và tiềm năng bảo tồn di sản 17
1.3.3 Đánh giá tiềm năng bảo tồn di sản 20
1.4 Đô thị hóa và các di sản phi vật thể trên thế giới 21
1.4.1 Trường hợp thành phố Port Said ở Ai Cập 21
1.4.2 Bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể trong bối cảnh đô thị: Kinh nghiệm từ Singapore 24
1.5 Đô thị hóa và các di sản phi vật thể tại Việt Nam 27
Trang 61.5.1 Một số di sản đô thị trong bối cảnh đô thị hóa 31
CHƯƠNG 2: LỊCH SỬ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN VÀ MÔT SỐ ĐÁNH GIÁ DI SẢN HÁT CHÈO TÀU 37
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của di sản hát Chèo Tàu 37
2.2 Đánh giá hiện trạng của di sản hát Chèo Tàu trong bối cảnh đô thị hóa hiện nay 41
2.2.1 Đánh giá tổng quan các lớp hiện trạng cơ sở hạ tầng 42
2.2.2 Đánh giá tổng quan các lớp hiện trạng cơ sở, vật thể 50
2.2.3 Đánh giá tổng quancác lớp tiềm năng, đề xuất không gian và đô thị 52
2.2.4 Đánh giá không gian diễn xướng di sản trong đô thị hóa và quy hoạch phát triển đô thị 56
2.2.5 Đánh giá hiện trạng bảo tồn 59
2.2.6 Đánh giá giá trị di sản và tiềm năng bảo tồn của di sản hát Chèo Tàu 65 CHƯƠNG 3: KẾT LUẬN VÀ MỘT SỐ GỢI Ý GIẢI PHÁP 72
Tổng kết các vấn đề từ nghiên cứu 72
3.1 Các nhóm giải pháp chính 73
3.1.1 Kết nối đô thị với du lịch văn hóa ở Đan Phượng 73
3.1.2 Kết nối di sản diễn xướng - hát chèo tàu với các loại hình du lịch di sản văn hóa 80
3.2 Các nhóm đề xuất 82
3.2.1 Đề xuất giải pháp phục dựng và biểu diễn riêng cho loại hình diễn xướng- hát chèo tàu 82
3.2.2 Đề xuất công nhận di sản 83
3.2.3 Đề xuất các giải pháp về chính sách, cơ chế, bộ máy để phát huy giá trị ………84
Trang 73.2.4 Phục dựng và biểu diễn, sân khấu hóa và hình tượng hóa loại hình nghệ thuật Diễn xướng ca nhạc hát Chèo Tàu tái hiện lễ hội truyền thống 20 năm 1 lần……….85 3.2.5 Kết hợp diễn xướng trong không gian di tích lịch sử, cùng một số loại hình nghệ thuật của các địa phương lân cận, tổng hòa thành lễ hội đặc trưng đồng bằng bắc bộ ven sông Hồng 87
KẾT LUẬN 89 TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 8UNESCO Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp
Quốc (United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
TEV Tổng giá trị tài sản (Total Equal Value)
Trang 9
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 1.1: Khung phân tích tổng giá trị kinh tế của di sản văn hóa(nguồn: TS
Nguyễn Công Thành – ĐH Kinh tế quốc dân)……….… 19 Bảng 2.1.Thống kê hiện trạng bảo tồn Vật thể ( nguồn: tác giả tổng hợp )
……….……….61 Bảng 2.2 Quy mô các chương trình, buổi biểu diễn của hình thức hát Chèo Tàu trong từng năm(nguồn: Tác giả tổng hợp)….……… 63 Bảng 2.3: Đánh giá thực trạng thống kê lễ hội tại địa phương(nguồn: Tác giả tổng hợp)……… 64 Bảng 2.4: Tổng hợp các giá trị kinh tế của di sản(nguồn: TS.KTS Nguyễn Quốc Tuân)………68 Bảng 2.5 Bảng giá trị của di sản nguồn(nguồn: TS.KTS Nguyễn Quốc
Tuân)………69
Trang 10DANH MỤC HÌNH
Hình 1.1: Bản đồ địa lý xã Tân Hội – Đan Phượng – Hà Nội………9 Hình 1.2: Bản đồ địa lý xã Tân Hội trên tổng mặt bằng chung tp Hà Nội……….9 Hình 1.3 Minh hoạ những điểm thu hút của 3 quận (Ả rập, afrang và Port Fouad)
……… 22 Hình 2.1 Bản đồ giao thông hiện trạng của Tân Hội với các tuyến đường liên huyện, Nguồn:Vinhomewonderpark.com………42 Hình 2.2 Kết nối giao thông nội bộ của Tân Hội nguồn : tác giả tổng hợp từ google map ……….43 Hình 2.3 Kết nối giao thông nội bộ của Tân Hội Nguồn: tác giả tổng hợp từ google
map……… 44 Hình 2.4 Bản đồ QHC xây dựng huyện Đan Phượng đến năm 2030 Định hướng phát triển mạng lưới giao thông Nguồn: QĐ 5515/QĐ-UBND của UBND TP Hà Nội 20/10/2015……… ……… 45 Hình 2.5 Bản đồ các công trình vui chơi vườn hoa cây xanh, thiết chế văn hóa Nguồn: tác giả tổng hợp từ google map……… …46 Hình 2.6 Bản đồ các địa điểm sinh hoạt tôn giáo và tín ngưỡng Nguồn: tác giả tổng hợp từ google map………46 Hình 2.7 Bản đồ quy hoạch kết nối các tuyến đường sắt trên địa bàn thành phố Nguồn: QĐ 1259/QĐ-TTG ngày 26/7/2011………53 Hình 2.8 Bản đồ quy hoạch kết nối giao thông đường bộ Tân Hội – Đan Phượng với các vùng lân cận Nguồn: QĐ 1259/QĐ-TTG ngày 26/7/2011………54 Hình 2.9 : bản đồ quy hoạch tổng mặt bằng sử dụng đất theo quy hoạch điều chỉnh nông thôn mới 1/2000 và quy hoạch chi tiết xây dựng trung tâm, điểm dân cư nông thôn xã tỉ lệ 1/500 Nguồn : Phòng quản lý đô thị huyện Đan Phượng tổng hợp….57
Trang 11Hình 2.10 Sơ đồ kết nối không gian diễn xướng di sản Hát Chèo tàu trên bản đồ quy hoạch tổng mặt bằng sử dụng đất theo quy hoạch điều chỉnh nông thôn mới 1/2000 và quy hoạch chi tiết xây dựng trung tâm, điểm dân cư nông thôn xã tỉ lệ 1/500 Nguồn:tác biên tập trên bản đồ Phòng quản lý đô thị huyện Đan Phượng tổng hợp……… 58 Hình 2.11 Biểu đồ đánh giá tình hình tham gia biểu diễn Nguồn: tác giả tổng hợp
……….65 Hình 2.12 Tác giả tác phẩm hát chèo Tàu Nguồn: nxb Văn Hóa 1987, dân ca Việt Nam trang 116-117……… 66 Hình 3.1 Bản đồ quy hoạch kết nối của Đan Phượng với các đường vành đai và đường xuyên tâm trục Hà Nội – Ba Vì Nguồn: QĐ 1259/QĐ-TTG ngày 26/7/2011
……… 75 Hình 3.2 Bản đồ các khu đô thị của Hà Nội theo quy hoạch Nguồn: QĐ 1259/QĐ-TTG ngày 26/7/2011………76 Hình 3.3 bản đồ vị trí kết nối các trục đô thị của thành phố Hà Nội theo quy hoạch chung Nguồn: QĐ 1259/QĐ-TTG ngày 26/7/2011………77 Hình 3.4 Sơ đồ cảng Tiên Tân trongbản đồ quy hoạch của Đan Phượng
Nguồn: QĐ 1259/QĐ-TTG ngày 26/7/2011………78 Hình 3.5.Kết nối giao thông trong quy hoạch phân khu S1 của Đan PhượngNguồn: Theo quyết định số 741/QĐ UBND tp Hà Nội ngày 04/02/2013………79 Hình 3.6 Bản đồ các điểm kết nối trục di sản – lễ hội phía đông nam Đan Phượng, Nguồn: tác giả tổng hợp……… 81
Trang 12MỞ ĐẦU 1.1 Lý do lựa chọn đề tài nghiên cứu & vấn đề nghiên cứu
Hát chèo tàu là một loại hình nghệ thuật mang màu sắc riêng và đặc thù tại xã Tân Hội – Đan Phượng – Hà Nội Hát chèo tàu được cho rằng ra đời từ khoảng thế kỷ 15, là một loại hình nghệ thuật diễn xướng, tương truyền gắn với các chiến công của một vị tướng thời hậu Trần, hình tượng vị tướng được hình tượng hóa và huyền thoại hóa xuất hiện trong tác phẩm ‘‘Truyền Kỳ Mạn lục’’ của Nguyễn Dữ Trải qua nhiều năm, hát Chèo Tàu với hội hát tổ chức 20 năm một lần, với một vùng địa lý nhỏ hẹp (khoảng 554 ha), người dân nơi đây là nuôi dưỡng và phát triển theo năm tháng, hội hát Chèo tàu gắn liền với tập tục sinh hoạt và lao động sản xuất của nền văn hóa đồng bắc sông Hồng, lễ hội được tổ chức vào ngày rằm tháng giêng đến hết hai ba tháng giêng âm lịch hàng năm, là thời điểm sau khi cấy hái hoàn thành.Với tốc độ đô thị hóa của một vùng ven đô, Tân Hội đã và đang có những bước thay da đổi thịt từng ngày, nghề sản xuất nông nghiệp đã dần nhường chỗ cho tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ, diện tích đất trồng lúa dần nhường chỗ cho các khu đô thị được quy hoạch theo vùng thủ đô Lối sống của người dân dần dần thay đổi, không gian nuôi dưỡng loại hình nghệ thuật Hát chèo tàu cũng dần thay đổi, không gian tổ chức biểu diễn cũng bị thay đổi trong bối cảnh đô thị hóa, làng xã nhường chỗ cho các công trình kiên
cố, mật độ xây dựng cao.Sự thay đổi về không gian văn hóa, lối sống, phương thức lao động sản xuất của những người nuôi dưỡng loại hình nghệ thuật, chuyển giao giữa các thời kỳ, xâm lấn của các nền văn hóa nghệ thuật khác dẫn đến mối đe dọa cho sự tồn tại của hát chèo tàu, vậy trong bối cảnh đô thị hóa, cần có một nghiên cứu đánh gia mang tính khoa học liên quan đến việc bảo tồn và phát huy di sản Chèo tàu và gắn với loại hình du lịch văn hóa – một nền kinh tế đang được cho là hướng phát triển mũi nhọn của thủ đô Hà Nội.Qua một số tài liệu, nghiên cứu tác giả sưu tầm và tìm hiểu nghiên cứu tại địa phương như các tài liệu: Thần ca cối sử ( Cối Lâm tiểu dẫn ) – Nguyễn Duy Lượng -1902 bản dịch của các tác giả: Trần Đình Lận; Ngô Văn Úc; Nguyễn Đức Liễu; Nguyễn Duy Kỳ; Nguyễn Viết Tuân; Đào Hà – sưu tầm và phục
Trang 13chế; Hát Dô – hát Chèo Tàu tác giả: Trần Bảo Hưng – Nguyễn Đăng Hoè ti VHTT tỉnh Hà Tây 1978; Lí lịch Miếu Voi phục và Lăng Văn Sơn ( nơi tổ chức hát hội chèo tàu dân ca đồng bằng Bắc Bộ ) – Bảo tàng Hà Tây – Sở Văn hóa thông tin tỉnh Hà Tây năm 1996; Tác phẩm: Hội hát chèo tàu ở Tân Hội – tác giả Đào Hà năm 2008; Di sản văn hóa Việt Nam - Bản sắc và những vấn đề về quản lý bảo tồn – Nguyễn Thịnh –
ĐH Văn Hóa Hà Nội- nxb Xây Dựng 2020; Bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa tộc người Dao Quần Trắng tại tỉnh Yên Bái trong mối quan hệ với phát triển du lịch – TS Lê Thị Thu Phượng – nxb Xây Dựng 2020; Quản lí di sản đô thị trong bối cảnh phát triển đô thị ở Việt Nam, tài liệu cho những nhà hoạch định, công ty cổ phần Prosin 2008; Các tài liệu nghiên cứu trên đều đưa ra những lý luận và nghiên cứu rút
ra từ thực tiễn liên quan đến di sản và bảo tồn di sản trong các điều kiện khác nhau, nghiên cứu chuyên sâu về các di sản phi vật thể trong nước, các nghiên cứu về hát Chèo Tàu trong những bối cảnh khác nhau, tuy nhiên các nghiên cứu đều không đề cập đến những vấn đề tồn tại hiện nay của di sản hát Chèo Tàu đặt ra và gặp phải trong bối cảnh đô thị hóa, và đặt bối cảnh nghiên cứu của di sản trong không gian của một
đô thị, là một không gian sẽ bị thay đổi trong tương lai gần, sẽ ảnh hưởng đến di sản
và liên quan mật thiết đến việc giữ gìn và phát huy di sản
1.2 Mục tiêu, câu hỏi & giả thuyết nghiên cứu
Nội dung đề tài nghiên cứu cần xem xét và làm rõ trong nghiên cứu là:
Với quá trình hình thành lâu đời và với tốc độ đô thị hóa hiện nay, thì liệu quá trình phát triển đô thị có gắn với lưu giữ di sản chèo tàu được ko? nếu có, thì nó đặt ra và đòi hỏi điều kiện gì, việc gắn sự lưu giữ và phát huy di sản hát Chèo Tàu trong phát triển du lịch văn hóa có phù hợp và đòi hỏi những yếu tố ra sao? Với điều kiện liên quan đến môi trường nuôi dưỡng cho loại hình nghệ thuật hát Chèo tàu đã và đang thay đổi mạnh mẽ, bản thân di sản phải biến đổi để thích nghi với môi trường mới hay cần được bảo tồn nguyên trạng và giữ nguyên?
Trang 14Đề tài nghiên cứu trả lời cho những câu hỏi trên sẽ đánh giá một cách khoa học dựa trên thực tiễn nghiên cứu để cho ra cái nhìn thực tế về di sản hát Chèo Tàu, dựa trên
đó tiếp tục có các nghiên cứu, phát triển đề tài thành những dự án giúp phát triển kinh
tế địa phương, hơn thế nữa, qua nghiên cứu này, các nhà quản lý, cơ quan chức năng
sẽ nhìn nhận, đánh giá đưa ra cách thức quản lý sự phát triển đô thị của xã Tân Hội Đan Phượng Hà Nội đi đúng hướng, giúp phát triển cho một vùng địa lý
Nội dung đề tài nghiên cứu cần xem xét và làm rõ trong nghiên cứu là:
Nguyên nhân nào dẫn đến sự biến đổi của di sản hát Chèo Tàu hiện nay (có thể theo
chiều hướng gia tăng hoặc suy giảm hoặc nguy cơ mai một)
Với quá trình hình đô thị hóa hiện nay, thì liệu quá trình phát triển đô thị có gắn với lưu giữ di sản chèo tàu có hợp lý hay không?
Với điều kiện liên quan đến môi trường nuôi dưỡng cho loại hình nghệ thuật hát Chèo tàu đã và đang thay đổi mạnh mẽ, bản thân di sản phải biến đổi để thích nghi với môi trường mới hay cần được bảo tồn nguyên trạng và giữ nguyên?
Đề tài nghiên cứu trả lời cho những câu hỏi trên sẽ đánh giá một cách khoa học dựa trên thực tiễn nghiên cứu để cho ra cái nhìn thực tế về di sản hát Chèo Tàu, dựa trên
đó tiếp tục có các nghiên cứu, phát triển đề tài thành những dự án giúp phát triển kinh
tế địa phương, hơn thế nữa, qua nghiên cứu này, các nhà quản lý, cơ quan chức năng
sẽ nhìn nhận, đánh giá đưa ra cách thức quản lý sự phát triển đô thị của xã Tân Hội Đan Phượng Hà Nội đi đúng hướng, giúp phát triển cho một vùng địa lý
Nghiên cứu giả thuyết có thể bảo tồn và phát huy di sản hát Chèo Tàu trong bối cảnh phát triển đô thị mạnh mẽ hiện nay, tuy nhiên, cần một số điều kiện liên quan và tư duy về bảo tồn cần được thay đổi
Trang 15Di sản hát Chèo Tàu hiện nay đang chịu nhiều tác động của đô thị hóa Với nhận định
đó, có nhiều tác động từ các yếu tố đô thị đã trực tiếp ảnh hưởng mạnh mẽ đến việc bản tồn và phát huy di sản hát Chèo Tàu Việc phát triển đô thị gắn với bảo tồn và phát huy di sản hát Chèo Tàu đặt ra nhiều điều kiện, trong đó các điều kiện về không gian biểu diễn, điều kiện về hình thức biểu diễn, điều kiện về cơ sở vật chất lưu giữ và các chính sách về phát triển đô thị đi kèm với bảo tồn và phát huy cần được phát triển đồng bộ Đồng thời nghiên cứu các chương trình hành động để tích hợp giữa việc phát triển đô thị với bảo tồn và phát huy di sản
Việc gắn bảo tồn và phát huy di sản với tích hợp phát triển đô thị đòi hỏi những yếu tố nào từ phía đô thị, với những yêu cầu đòi hỏi như thế, người quản lý cần đưa ra những chính sách ra sao để quản lý việc phát triển đô thị cân bằng với việc bảo tồn và phát huy di sản ? đánh giá các tiềm năng của di sản và giá trị di sản để đưa ra các gợi ý giải pháp cho địa phương xã Tân Hội - Đan Phượng và chính quyền các cấp, mục tiêu để
có được những nghiên cứu khoa học, dựa vào đó có những đánh giá khách quan, chính xác cho các chính sách phát triển sau này
Nghiên cứu giả thuyết lưu giữ chèo tàu và phát huy nó với nhiều đề xuất giải pháp, trong đó làm sáng tổ những yếu tố cần thiết cho từng giải pháp căn cứ trên việc đánh giá tình hình thực tế của địa phương, của di sản, của các thể chế chính sách hiện hành Nếu có, thì nó đặt ra và đòi hỏi điều kiện gì, việc gắn sự lưu giữ và phát huy di sản hát
Chèo Tàu trong phát triển du lịch văn hóa có phù hợp và đòi hỏi những yếu tố ra sao
1.3 Phương pháp nghiên cứu
1.3.1 Cơ sở lý luận
Từ cơ sở nghiên cứu loại hình diễn xướng Hát chèo tàu, nghiên cứu di sản văn hóa hát Chèo Tàu tại địa phương, lịch sử hình thành gắn với quá trình phát triển của địa phương, văn hóa vùng miền và phong tục tập quán, nét văn hóa riêng Đánh giá thực trạng của di sản hát chèo tàu, thực nghiệm di sản và những người làm công tác giữ gìn, thực hành di sản tại địa phương Nghiên cứu đánh giá các bản đồ quy hoạch vùng, các
Trang 16đồ án quy hoạch có ảnh hưởng đến Tân Hội Nghiên cứu sự phát triển kinh tế, tốc độ phát triển kinh tế xã hội, chuyển dịch nghề nghiệp và thu nhập bình quân của người dân nơi đây, nghiên cứu các xu hướng cơ cấu chuyển dịch từ sản xuất nông nghiệp sang thương mại và tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ.Quađó đánh giá bước đầu các yếu tố
có ảnh hưởng đến vấn đề bảo tồn và phát huy di sản chèo tàu Từ những nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến bảo tồn và phát huy di sản hát Chèo Tàu đi đến những khó khăn và thuận lợi trong việc tích hợp phát triển đô thị với bảo tồn và phát huy di sản gắn với du lịch văn hóa tại địa phương
Phương pháp luận: tìm hiểu về di sản và đô thị hóa, mối liên hệ giữa đô thị hóa và di sản bảo tồn và phát triển gắn với du lịch văn hóa thông qua nghiên cứu các tài liệu lý thuyết về đô thị hóa, di sản và bảo tồn phát huy di sản và du lịch văn hóa thông qua các nghiên cứu, bài báo khoa học, luận văn, luận án, sách chuyên khảo Tìm hiểu các tài liệu thông qua khảo cứu, sử dụng các công cụ phỏng vấn, tra cứu, tra cứu, quan sát thực địa (phục vụ các mục đích nghiên cứu khác nhau)
Sử dụng phương pháp nghiên cứu tiếp cận liên ngành, từ lịch sử, dư địa chí, văn hóa Các phương pháp nghiên cứu sử dụng trong luận văn:
Phương pháp khảo sát / điều tra: để khảo sát hiện trạng và tình trạng của khu vực
nghiên cứu theo đối tượng để thu thập những dữ liệu thông tin tối đa liên quan đến đề tài nghiên cứu bằng nhiều các phương thức khác nhau gồm quan sát, chụp ảnh, vẽ ghi, tra cứu các tài liệu Nhằm có các số liệu chính xác giúp cho việc đánh giá hiện trạng
di sản hát Chèo Tàu được chính xác và cụ thể hơn bằng các số liệu
Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn những người dân tại địa phương, người đang trực
tiếp làm công tác gìn giữ di sản văn hóa hát Chèo Tàu và một số nghệ nhân, phỏng vấn các cán bộ qua các thời kỳ, những người đang làm công tác văn hóa tại địa phương: mục đích tìm hiểu và làm rõ một số thuận lợi và khó khăn hiện nay trong công tác gìn giữ và phát huy, nhằm đánh giá một cách chính xác nhất tình trạng di sản hát Chèo
Trang 17Tàu hiện nay Và phỏng vấn người dân trong khu vực nghiên cứu để xem xét nhận định về tình hình thực tế trong nhiều khía cạnh của di sản như cách thức sử dụng, các hoạt động, sinh hoạt đời sống, lĩnh vực quản lý và bảo tồn
Phương pháp thống kê / sưu tầm: Tra cứu các tài liệu, số liệu của chính quyền địa
phương cung cấp thông qua các tài liệu, báo cáo, sách lịch sử địa phương để nghiên cứu quá trình kinh tế xã hội qua từng thời kỳ Qua đó đánh giá được ảnh hưởng của kinh tế xã hội địa phương đến đời sống vật chất và tinh thần của người dân địa phương, từ đó đánh giá được yếu tố ảnh hưởng đến di sản hát Chèo Tàu theo từng thời
kỳ
Phương pháp phân tích: để phân tích các tài liệu, thông tin và dữ liệu thu được để
chọn lọc nội dung chính áp dụng trong quá trình nghiên cứu của đề tài luận án Đồng thời cũng dùng để phân tích Tra cứu các bản đồ địa chính qua từng thời kỳ mà tác giả
có thể tiếp cận nhằm nghiên cứu sự thay đổi về địa hình, địa lý, giao thông hạ tầng: Thông qua đó nhận biết được sự thay đổi về không gian sống, không gian sinh hoạt văn hóa lễ hội hát chèo Tàu qua từng thời kỳ khác nhau, có những yếu tố giao thông thay đổi làm thay một số đặc tính riêng của di sản hát Chèo Tàu
Tra cứu các bản đồ, quy hoạch vùng, quy hoạch giao thông của huyện, thủ đô, các dự
án có thể triển khai trong thời gian tới trên địa bàn nghiên cứu, mục đích: đánh giá các yếu tố có thể ảnh hưởng đến vấn đề gìn giữ, bảo tồn và phát huy di sản hát Chèo Tàu trong tương lai, đặc biệt là khi gắn với du lịch văn hóa Thông qua việc sưu tầm, thu thập từ những bản đồ quy hoạch vùng liên quan đến xã
Ưu điểm của các phương pháp: nghiên cứu trên địa bàn một xã với quy mô khoảng 2,2 vạn dân, và có một vùng diện tích không quá lớn, số liệu tập trung, trong quá trình thu thập, có thể tiếp cận được các báo cáo chuyên môn cũng như các báo cáo hàng năm của chính quyền địa phương, ngoài ra, có một số nghiên cứu qua các thời kỳ về di sản Chèo Tàu mà tác giả đã sưu tập từ nhiều nguồn khác nhau cũng được hệ thống hóa và sắp xếp một cách khoa học
Trang 18Với phương pháp nghiên cứu áp dụng các công cụ nghiên cứu trên có một số hạn chế gặp phải là:
Các tài liệu nghiên cứu nằm rải rác và đa phần nằm chuyên sâu về ngành âm nhạc dân gian của di sản hát chèo tàu
Một số tài liệu đã có bản dịch từ chữ Hán Nôm, tuy nhiên việc xác thực của bản dịch chữ hán nôm là do cá nhân người dịch chứ không thông qua viện nghiên cứu ngôn ngữ nên tính xác thực chưa được tuyệt đối với các bản dịch có thể còn có những thông tin
bỏ xót hoặc chưa chính xác
Các nghệ nhân đều đã có tuổi, các tầng lớp nghệ sĩ biểu diễn được một số đã không còn cư trú tại địa phương, việc sưu tập tài liệu qua phỏng vấn cũng gặp khó khăn về khoảng cách địa lý
1.4 Giới hạn nghiên cứu
Nghiên cứu được tiến hành trên đối tượng: sự phát triển đô thị của xã Tân Hội – Đan Phượng – Hà Nội tích hợp với bảo tồn và phát huy di sản hát chèo tàu
Phạm vị nghiên cứu: Nghiên cứu trên địa bàn xã Tân Hội – Đan Phượng – Hà Nội Về thời gian, nghiên cứu từ năm 1922 là năm gần đây mà còn lưu giữ được các tài liệu về
tổ chức hội hát truyền thống quy mô toàn xã Nghiên cứu do cá nhân tác giả thực hiện trong thời gian 06 tháng nên không đánh giá được sâu hết các nội hàm của di sản, mà chỉ thực hiện nghiên cứu dưới góc nhìn khoa học nghiên cứu về quản lý phát triển đô
thị
Tân Hội – Đan Phượng – Hà Nội là xã ngoại thành phía Tây thủ đô Hà Nội có bề dày văn hóa, lịch sử Trước đây Tân Hội là tổng Gối, thuộc phủ Hoài Đức tỉnh Hà Đông
cũ, đây là một vùng đất cổ thuộc đất Phong Châu xưa, cư dân đông đúc, phong phú trù mật cả về đời sống vật chất, văn hóa và tinh thần Cùng với nhiều miền quê thuộc tỉnh
Hà Đông cũ, Tân Hội là một vùng có nghề dệt vải lâu đời và nổi tiếng Ngoài nghề dệt
Trang 19thì nghề rèn cũng là chủ đạo Người dân Tân Hội đi kiếm ăn bằng nghề rèn hầu hết các tỉnh ở miền Bắc Ruộng đất Tân Hội rất ít, dân cư lại đông đúc nên làm ruộng cũng chỉ được coi như một trong những nguồn kinh tế, người dân địa phương cũng ít trực tiếp canh tác mà thuê các người nơi khác về làm là chủ yếu Do vị trí địa lý gần đất Thăng Long, lại có tính chất phong phú và phức tạp về nghề nghiệp nên tính chất của nền văn hóa dân gian và sự giao lưu văn hóa ở đây cũng diễn ra hết sức đa dạng và phong phú
Về ranh giới hành chính:
+ Phía Bắc giáp xã Liên Hà và xã Hạ Mỗ
+ Phía Đông giáp xã Tân Lập và xã Liên Trung
+ Phía Tây giáp xã Thượng Mỗ và xã Đan phượng
+ Phía Nam giáp xã Đức Thượng huyện Hoài Đức
Về vị trí địa lý: Xã Tân Hội nằm ở phía Đông Nam huyện Đan phượng, có đường vành đai 4 đi qua, đường Tây Thăng Long, cách trung tâm thành phố Hà Nội 14km Vùng quy hoạch là đô thị lõi của huyện Đan Phượng Sự thuận lợi về giao thông là tiền đề cho sự phát triển mọi mặt về kinh tế, xã hội của xã
Tổng diện tích đất tự nhiên: 554,60 ha, đất sản xuất nông nghiệp là 312,70 ha, đất phi nông nghiệp 241,80 ha, đất chưa sử dụng 0,07 ha Có 4 thôn, 13 cụm dân cư, 5.911 hộ, 21.455 nhân khẩu tính đến hết tháng 8.2022 Số người trong độ tuổi lao động của xã
là 14.699 người(báo cáo kinh tế xã hội của UBND xã Tân Hội, 2022)
Trang 20Hình 1.1: Bản đồ địa lý xã Tân Hội – Đan Phượng – Hà Nội Nguồn: Google map
Hình 1.2: Bản đồ địa lý xã Tân Hội trên tổng mặt bằng chung tp Hà Nội Nguồn: tác giả tổng hợp từ google map
Trang 21CHƯƠNG 1 ĐÔ THỊ HÓA VÀ CÁC VẤN ĐỀ DI SẢN TỪ THỰC TIỄN
THẾ GIỚI ĐẾN VIỆT NAM 1.1 Lý thuyết về đô thị hóa – phát triển đô thị
Định nghĩa: Có nhiều định nghĩa khác nhau về đô thị và mỗi quốc gia có tiêu chuẩn khác nhau về đô thị Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển KT – XH của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn (Nghị định 42 của Chính phủ,
2009)
Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn (Điều 3 Luật Quy hoạch đô thị, 2009)
Lãnh thổ đô thị: đô thị gồm nội thành phố, ngoại thành phố, nội thị xã, ngoại thị xã, thị trấn được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập” Trong đó, “nội thị”
bao gồm cả nội thành phố, nội thị xã và thị trấn(Nghị định 42 của Chính phủ, 2009)
Cấu trúc của đô thị: Không thể có một mô hình cấu trúc đô thị chuẩn cho tất cả đô thị: phần “cấu trúc cứng” đi với mạng lưới hạ tầng kỹ thuật cứng chủ đạo và các bộ phận thiên nhiên phải bảo tồn; phần “cấu trúc mềm” đi với mạng lưới hạ tầng xã hội cơ động, có khả năng chuyển thể theo mức sống, nếp sống của xã hội và tâm lý con người cùng với các bộ phận của thiên nhiên được phép tác động tôn tạo và phần “cấu trúc điều hoà” đi với các dạng tổ chức hoạt động phát triển của cộng đồng gắn kết hai phần
“cấu trúc cứng” và “cấu trúc mềm” trong từng thời gian và không gian cụ thể
Đặc điểm cơ bản của đô thị là: Đô thị như là một cơ thể sống; đô thị luôn vận động và phát triển; sự vận động và phát triển của đô thị có thể điều khiển được
Trang 22Phân loại đô thị: Trên thế giới có nhiều cách phân loại đô thị khác nhau Nghị quyết số 26/2022/UBTVQH15 của ủy ban thường vụ quốc hội sửa đổi bổ sung một số điều của nghị quyết số 1210/2016/UBTVQH13 uỷ ban thường vụ quốc hội về phân loại đô thị: loại đặc biệt, loại I, loại II, loại III, loại IV và loại V
1.1.2 Đô thị hóa – phát triển đô thị
Định nghĩa: Có nhiều định nghĩa khác nhau về ĐTH tùy theo các bối cảnh lịch sử, KT
–XH và các góc độ nghiên cứu Đô thị hóa theo định nghĩa của UN Habitat -
“Multilingual Glossary of Human Settlements Terms” – 1992: là quá trình dân số tập trung ở thành thị hoặc tăng tỷ lệ dân cư sống ở thành thị do dịch cư từ nông thôn ra thành thị hoặc do diện tích đất ở đô thị tăng lên (U.52 - UN Habitat, 1992)
Đặc điểm cơ bản của đô thị hóa: ĐTH là một quá trình mang tính xã hội và lịch sử; làmột quá trình chuyển hóa, vận động phức tạp có qui luật về mặt KT-XH, không gian; gắn liền với quá trình CNH và HĐH; ĐTH ngày nay là tất yếu và mang tính toàn cầu
Những ảnh hưởng chủ yếu của ĐTH đến sự phát triển kinh tế - xã hội mang tính hai mặt Một mặt nó là động lực thúc đẩy sự tiến bộ của nền KT - XH và mặt khác làm gay gắt thêm nhiều vấn đề KT- XH chưa được giải quyết triệt để ở các quốc gia và lãnh thổ Mặt tích cực và tiêu cực đã trở thành quy luật khá phổ biến đối với hầu hết các quốc gia, khu vực lãnh thổ trên thế giới, cho dù ở mức độ rất khác nhau
Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến đô thị hóa
Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến quá trình ĐTH dưới những khía cạnh: lựa chọn vị trí xây dựng đô thị, quy mô, chức năng đô thị, hình thái đô thị và tổ chức đất đai xây dựng đô thị, nghệ thuật bố cục không gian kiến trúc và thiết kế v.v Các nhân tố kinh tế - xã hội vừa là điều kiện cần vừa là điều kiện đủ cho sự phát triển
đô thị, trong đó gồm việc điều chỉnh địa giới, các quá trình sinh, tử, chuyển cư; phát triển kinh tế và quá trình CNH; đường lối và hệ thống chính sách phát triển KT – XH thời kỳ đổi mới; bối cảnh khu vực và quốc tế v.v
Trang 23Các chỉ tiêu chủ yếu để phân tích quá trình đô thị hóa Trên cơ sở lý luận về ĐTH và kinh nghiệm thực tiễn đánh giá ĐTH ở trong nước, một số quốc gia trên thế giới và thực tế địa phương để lựa chọn một hệ thống tiêu chí Theo đó, việc phân tích quá trình ĐTH được tiến hành chủ yếu ở 38 chỉ tiêu thuộc 05 nhóm: chức năng đô thị; KT – XH đô thị; hệ thống cơ sở hạ tầng đô thị; kiến trúc, cảnh quan và quản lý đô thị; cấu trúc không gian đô thị
1.2 Lý thuyết về di sản – di sản văn hóa phi vật thể
1.2.1 Di sản – di sản văn hóa phi vật thể
Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể hiện, biểu đạt, tri thức, kỹ năng và kèm theo đó là những công cụ, đồ vật, để tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần đi sản văn hóa của họ Được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản văn hóa phi vật thể được các cộng đồng và các nhóm người không ngừng tái tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ một ý thức về bản sắc và sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với sự đa dạng văn hóa và tính sáng tạo của con người (Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên Hợp Quốc UNESCO, 2003)
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.(Khoản
1 Điều 4 Luật Di sản văn hóa 2001 được sửa đổi bởi khoản 1 Điều 1 Luật di sản văn hóa sửa đổi 2009)
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề,
Trang 24trình diễn và các hình thức khác Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học, Thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác.Di sản văn hoá phi vật thể bao gồm:Tiếng nói, chữ viết;Ngữ văn dân gian;Nghệ thuật trình diễn dân gian;Tập quán xã hội và tín ngưỡng;Lễ hội truyền thống;Nghề thủ công truyền thống; Tri thức dân gian( Khoản 1 Điều 4 Luật Di sản văn hoá 2001,sửa đổi 2009).Tri thức dân gian bao gồm tri thức về thiên nhiên, đời sống con người, lao động sản xuất, y, dược học cổ truyền, ẩm thực, trang phục và các tri thức dân gian khác Di sản văn hóa phi vật thể tồn tại trong thể khác, là những truyền thống văn hóa đang sống động, nó chứa đựng phong tục tập quán, những trải nghiệm cuộc sống được truyền tử thế hệ này qua thế hệ khác của một nhóm người, tộc người và những điều kiện tự nhiên, xã hội ở nơi sản sinh ra di sản đó
Nó được thể hiện bằng hình thức truyền miệng, truyền nghề và các dụng bí quyết nghề nghiệp khác Do đó nó thay đổi theo thời gian, nó phản ánh một khát vọng, một tâm tư
và mang tính truyền cảm
Di sản không phải là hiện tượng tĩnh; mà là tất cả những khía cạnh của nó, từ việc pháp lý hóa di sản cho đến khi di sản tới được với công chúng là một quá trình, gồm nhiều công đoạn, nhiều thao thác được tiến hành tuỳ theo kinh nghiệm của từng quốc gia Quá trình đó bao gồm phát hiện hoặc hình thành, kiểm kê, chỉ định xếp hạng, bảo
vệ, phục hồi, chuyển đổi hoặc đôi khi là loại bỏ Các nhà quản lý di sản chịu trách nhiệm lớn đối với việc kiểm soát sự vận động này
Cần nhấn mạnh, những thứ trở thành di sản luôn luôn và trải qua một quá trình, để dẫn đến một sự thay đổi là vật đó đi vào kho tàng di sản và cả thị trường di sản nữa Quá trình đó bắt đầu bằng việc lựa chọn Tiêu chí để lựa chọn di sản tùy thuộc vào mục đích của người lựa chọn Một di sản được lựa chọn là những nguồn phản ảnh các khía cạnh của đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa - xã hội và khoa học - kỹ thuật của đất
Trang 25nước trong những giai đoạn lịch sử nhất định Đó là những tài liệu có giá trị đặc biệt
về lịch sử, văn hóa, khoa học, xã hội Đó cũng là những tài liệu quý, hiếm mà nhiều người ao ước nhưng khó tim, là những tài liệu có niên đại cổ hay số lượng còn lại ít hoặc do tính kỷ niệm, lưu niệm đặc biệt của danh nhân hay cộng đồng "Hiểm" cũng luôn được nhắc đến khi nói tới cái gì đó có ít, ít gặp, ít thấy.Có ít nhất là hai quan điểm
về chức năng của di sản Quan điểm thứ nhất cho rằng: Di sản có hai chức năng là bảo tồn di sản và phát huy giá trị di sản Bảo tồn di sản là việc gìn giữ các di sản bằng pháp lý và kỹ thuật nhằm làm hạn chế tối đa các tác hại đến di sản để di sản tồn tại dài lâu Phát huy giá trị di sản là việc đưa các di sản vào cuộc sống đương đại Mục đích bảo tồn không phải chỉ giữ mà phải đưa di sản vào dụng ích Bảo tồn và phát huy có mối quan hệ tương hỗ, thúc đẩy lẫn nhau Chỉ bảo tồn được tốt khi tiến hành phát huy tốt Ngược lại muốn làm tốt công việc phát huy thì phải làm tốt công tác bảo tồn
1.3 Vấn đề bảo tồn và phát huy di sản trong đô thị
Bảo tồn và phát huy giá trị DSVH là một nội dung trọng tâm có ý nghĩa đặc biệt của quản lý nhà nước về văn hóa nói chung và quản lý nhà nước về di sản văn hóa nói riêng được thể hiện rõ tại Điều 54, Luật Di sản văn hóa Trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, mọi hoạt động của mỗi con người, của mỗi tổ chức, mỗi địa phương, mỗi quốc gia, thậm chí của cộng đồng các quốc gia đều phải thực hiện trong khuôn khổ một sự quản lý nào đó.Các Mác cho rằng: “Quản lý là một chức năng đặc biệt nảy
sinh từbản chất xã hội của quá trình lao động” (Các Mác (1960) Tư bản, quyển I, tập 2); giải thích cho nội dung này, Các Mác viết: Tất cả mọi hoạt động trực tiếp hay mọi động cơ chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn thì ít nhiều đều cần đến sự chỉđạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiện những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với những khí quan độc lập của nó Một người độc tấu vĩ cầm tự mình điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần có nhạc trưởng (Các Mác và Angghen (1993) Toàn tập, tập 23).Theo Ăngghen cho rằng: “Quản lý là một động thái tất yếu phải có khi nhiều người cùng
Trang 26hoạt động chung với nhau khi có sự hiệp tác của một số đông người, khi có hoạt động phối hợp của nhiều người” (Các Mác và Angghen (1993) Toàn tập, tập 23)
Có thể thấy “Quản lý” là hoạt động khách quan nảy sinh từ yêu cầu cần có nỗ lực tập thể để thực hiện mục tiêu chung Hoạt động quản lý diễn ra ở mọi hình thức tổ chức xã hội từ phạm vi nhỏ đến lớn, từ đơn giản đến phức tạp Trình độ phát triển xã hội càng cao, yêu cầu quản lý sẽ càng lớn và vai trò của quản lý càng tăng
Cho dù còn những cách hiểu khác nhau, tuy nhiên nghiên cứu sinh thấy rằng đa số đều thống nhất: Quản lý là hoạt động nhằm tác động một cách có tổ chức và định hưởng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo những mục tiêu đã định
Tại Công ước 2003 của UNESCO về bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể, khái niệm về
“Bảo vệ” được đề cập, theo đó “Bảo vệ là các biện pháp có mục tiêu đảm bảo khả năng tồn tại của di sản văn hóa phi vật thể, bao gồm việc nhận diện, tư liệu hóa, nghiên cứu, bảo tồn, bảo vệ, phát huy, củng cố, chuyển giao, đặc biệt là thông qua hình thức giáo dục chính thức hoặc phi chính thức cũng như việc phục hồi các phương diện khác nhau của loại hình di sản này” (Mục 3, Điều 2)
Như vậy, bảo tồn di sản văn hóa là tất cả những nỗ lực nhằm có được những hiểu biết
về lịch sử hình thành, ý nghĩa của di sản phục vụ cho việc giới thiệu, trưng bày, khôi phục và tôn tạo để khai thác cho sự phát triển kinh tế - xã hội, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay khi một số giá trị di sản đã hoặc đang có nguy cơ bị mai một trong quá trình hội nhập Đặc biệt trong quá trình đô thị hóa hiện nay, sự thay đổi về không gian sinh hoạt và lao động sản xuất đã tác động lên không gian thực hành di sản từng ngày từng giờ, nó có giá trị tác động qua lại với di sản, làm ảnh hưởng và cũng là động lực để tự thân di sản biến đổi và thích nghi với môi trường mới
Mặt khác, chúng ta cũng nhìn nhận được răng, bản thân các đô thị cũng được nhìn nhận như các cơ thể sống, luôn tự điều chỉnh để tồn tài và phát triển, hướng tới sự cân bằng của đô thị, trong đó có những yếu tố tác động của các nhà quản lý trong công tác cải tạo và phát triển đô thị Nhìn lại lịch sử phát triển đô thị trên thế giới, có một số
Trang 27thời điểm các đô thị không còn khả năng tự điều chỉnh để tồn tại và phát triển vì những thách thức của quá trình công nghiệp hóa kéo theo quá trình đô thị hóa dẫn tới nhiều vấn nạn thiếu nhà ở, các công trình phúc lợi xã hội, giao thông đô thị, các khu công nghiệp ô nhiễm, đầu cơ đất đai…Chính các yếu tố không kiểm soát được này dẫn đến sự mai một của các di sản văn hóa của đô thị đó, điều này dẫn đến sự biến mất hoàn toàn của thậm chí cả các công trình văn hóa, di sản văn hóa vật thể lẫn phi vật thể Cuối thế kỷ 19, đầu thế kỷ 20, hàng loạt các lý thuyết mới về cải tạo và phát triển
đô thị đã lần lượt được nghiên cứu đề xuất như: Thành phố vườn – Thành phố vệ tinh của Ebeneze Howard (Anh), Thành phố chuỗi của Auturo Soria Y Mata (Tây Ba Nha), Thành phố công nghiệp của Tony Garnie (Pháp), Những lý luận về Quy hoạch đô thị hiện đại của Le Corbusier (Pháp)… Bên cạnh đó là những lý luận về phát triển thành phố theo đơn vị mà nổi bật là Đơn vị ở láng giềng của Clarance Perry (Mỹ), Các xu hướng phát triển đô thị theo hệ thống quy hoạch đơn vị đô thị của E Gloeden…Đứng trước những lý thuyết mới này, trải qua khá nhiều tranh luận và thử nghiệm, các lý thuyết mới này đã được Chính quyền tại các đô thị nghiên cứu vận dụng vào thực tiễn một cách khoa học để quản lý phát triển đô thị đem lại những thành công to
lớn(Nguyễn Trọng Hòa – tạp chí kiến trúc Việt Nam, 2015)
Như đã phân tích ở trên, muốn các đô thị Việt Nam phát triển bền vững trong tương lai, thì bằng mọi cách chúng ta phải quản lý phát triển đô thị một cách khoa học trong
đó công tác bảo tồn và phát huy di sản nói riêng và công tác bảo tồn phát huy các giá trị văn hóa nói chung cần được thực hiện một cách bài bản, tỉ mỉ và chi tiết
Bảo tồn và phát huy di sản, đặc biệt là trong bối cảnh đô thị hóa diễn ra mạnh mẽ luôn
là những công việc song song với nhau trong công tác xây dựng và phát triển văn hóa, đặc biệt là di sản phi vật thể Văn hóa là sức mạnh mềm, là linh hồn của một dân tộc,
nó thể hiện sức sống của cả một dân tộc, được lưu truyền và giữ gìn từ thế hệ này sang thế hệ khác trong suốt chiều dài của dân tộc đó, do vậy việc bảo tồn phải đi đôi với sử dụng và phát huy để góp phần lan tỏa, tạo ra sức ảnh hưởng, đúc kết các giá trị trong mỗi con người, mặt khác việc phát huy di sản bằng các hình thức thực hành, sử dụng, thực hiện thường xuyên sẽ tạo ra hướng tiếp nhận, ảnh hưởng mới làm cho các giá trị
Trang 28văn hóa không bị lãng quên mà còn lan rộng và giữ vững được bản sắc của mình Bảo tồn là căn bản, làm cơ sở cho sáng tạo, phục vụ phát huy và ngược lại phát huy giúp cho bảo tồn DSVH được tốt hơn, tỏa sáng hơn
Theo Throsby trong bài viết “Kinh tế di sản: Một khung khái niệm.”, Kinh tế học về tính độc đáo: Các thành phố lịch sử và tài sản di sản văn hóa là hàng hóa công, Ngân hàng Thế giới, Washington, D.C, 75-106 (2012).Nhóm giá trị di sản văn hóa có thể được phân tách thành các yếu tố cấu thành như sau:
- Giá trị thẩm mỹ: các điểm di sản văn hóa có thể sở hữu và hiển thị vẻ đẹp theo những chuẩn mực cơ bản, và mức độ sẽ tùy thuộc vào đánh giá của người xem Giá trị thẩm
mỹ của điểm di sản có thể là về bố cục không gian, về đặc điểm môi trường xung quanh
- Giá trị biểu tượng: một điểm di sản có thể truyền đạt ý nghĩa và thông tin về tính độc đáo văn hóa của cộng đồng dân cư xung quanh Điểm di sản đó có thể tượng trưng cho các sự kiện hoặc trải nghiệm quan trọng về lịch sử hoặc văn hóa của cộng đồng địa phương Giá trị biểu tượng có ý nghĩa quan trọng với hoạt động giáo dục và truyền bá tri thức về cộng đồng dân cư địa phương
- Giá trị tâm linh: Giá trị tâm linh được truyền đạt bởi một di sản văn hóa có thể có vai trò quan trọng trong quan niệm ý thức tâm linh của cộng đồng dân cư xung quanh và của du khách Giá trị này phản ánh đặc điểm văn hóa của địa phương, đồng thời tạo sự kết nối giữa địa phương và các khu vực khác Giá trị tâm linh cũng có thể được trải nghiệm như một cảm giác sợ hãi, thích thú, kỳ diệu, nhận thức tôn giáo, hoặc kết nối với thế giới tâm linh Ngoài ra, việc chia sẻ các giá trị tâm linh tương tự có thể thúc đẩy đối thoại và hiểu biết liên văn hóa - Giá trị xã hội Các giá trị và phẩm chất làm cho một địa điểm trở thành điểm tập trung về mặt tinh thần, chính trị, quốc gia hoặc các xúc cảm, thăng hoa của giá trị văn hoá truyền thống đối với một dân tộc hoặc một cộng đồng, nhóm cụ thể Với các giá trị chung và niềm tin gắn kết, giá trị xã hội của di
Trang 29sản có thể được phản ánh theo cách nó góp phần vào sự ổn định xã hội và sự gắn kết trong cộng đồng
- Giá trị lịch sử Tầm quan trọng về mặt lịch sử, gắn liền với hoặc có quan hệ của địa điểm với lịch sử của dân tộc, tỉnh, thị trấn hoặc thành phố Một địa điểm có thể có những ảnh hưởng hoặc đã chịu ảnh hưởng của một nhân vật trong lịch sử, một sự kiện hay một hoạt động làm cho địa điểm có tầm quan trọng về mặt lịch sử Giá trị này hỗ trợ trong việc xác định danh tính, và các điểm di sản cung cấp một sự kết nối với quá khứ và tiết lộ nguồn gốc của hiện tại
- Giá trị độc đáo: một địa danh di sản có thể được đánh giá vì giá trị riêng của nó, vì
nó là có thật, và vì nó là duy nhất Yêu cầu quan trọng đối với giá trị này là đặc điểm độc đáo của di sản phải được xác định, có thể khác nhau trong các trường hợp cụ thể khác nhau, và phải được bảo vệ Tuy nhiên, việc bảo vệ sự toàn vẹn nguyên trạng của
di sản có thể là một hạn chế đáng kể đối với việc ra quyết định thực hiện dự án về di sản khi tính đến giá trị văn hóa
- Giá trị khoa học: di sản có thể quan trọng đối với nội dung khoa học của nó hoặc là nguồn hoặc đối tượng cho nghiên cứu học thuật Một địa điểm hoặc vật thể thể hiện sự sáng tạo khoa học hoặc kỹ thuật (như thời kỳ rực rỡ nhất của thời đại đồ đồng ở Đông Nam Á mở rộng) hoặc thành tựu hoặc có tiềm năng để giáo dục, minh họa và cung cấp cho các điều tra nghiên cứu khoa học chuyên sâu hơn Ví dụ, điều này có thể thể hiện qua kỹ thuật xây dựng hoặc sử dụng một số các vật liệu xây dựng nhất định, sử dụng các phương thức sản xuất mới và khác nhau trong một ngành nghề hoặc giá trị khoa học của hệ sinh thực vật hoặc một địa điểm định cư tự nhiên
Dựa trên nền tảng lý thuyết kinh tế, giá trị kinh tế của di sản là lợi ích (như cải thiện điều kiện sống) hay sự hài lòng mà con người cảm nhận về di sản văn hóa Giá trị kinh
tế của di sản văn hóa có thể được hiểu là tổng giá trị tiền tệ của các yếu tố giá trị (thẩm
mỹ, biểu tượng, lịch sử…) cấu thành giá trị di sản nêu trên Để hướng tới việc ước lượng giá trị tiền tệ, giá trị kinh tế của di sản được chia thành 2 nhóm: giá trị sử dụng
và giá trị phi sử dụng
Trang 30Bảng 1.1: Khung phân tích tổng giá trị kinh tế của di sản văn hóa
Giá trị sử dụng giá trị sử dụng giá trị giá trị để lại giá trị tồn tại Trực tiếp gián tiếp lựa chọn
Nguồn: TS Nguyễn Công Thành – ĐH Kinh tế quốc dân
Giá trị sử dụng là lợi ích (độ thỏa dụng) thu được từ hành động hưởng thụ các giá trị
di sản (thẩm mỹ, biểu tượng, lịch sử…) Giá trị sử dụng có thể là giá trị sử dụng trực tiếp (ví dụ như: đi du lịch, giải trí tại di sản văn hóa; học tập và nghiên cứu tại di sản; lựa chọn sinh sống gần di sản), hoặc giá trị sử dụng gián tiếp (như kinh doanh phục vụ khách du lịch đến khu vực di sản; sản xuất các sản phẩm mang hình ảnh đặc trưng của
di sản) Giá trị lựa chọn cũng được xem là giá trị sử dụng, phản ánh nhu cầu của những người mong muốn bảo tồn di sản nhằm phục vụ hành động hưởng thụ các giá trị sử dụng trực tiếp và gián tiếp của những người đó trong tương lai Giá trị phi sử dụng phản ánh nhu cầu của những người mặc dù không hề có hành động hưởng thụ các giá trị của di sản ở hiện tại cũng như trong tương lai, nhưng vẫn mong muốn bảo tồn di sản văn hóa Giá trị phi sử dụng bao gồm giá trị để lại và giá trị tồn tại Giá trị
để lại (lưu truyền) phản ánh sự hài lòng khi biết rằng các thế hệ tương lai có thể hưởng thụ các giá trị của di sản văn hóa Giá trị tồn tại liên quan đến sự hài lòng khi biết rằng
di sản tiếp tục tồn tại nhằm đảm bảo giá trị của toàn bộ hệ thống lịch sử và văn hóa
Về mặt lý thuyết, giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng sẽ phản ánh mức độ thỏa dụng (hài lòng) của một cá nhân đối với tất cả các giá trị cấu thành giá trị di sản văn hóa (thẩm mỹ, biểu tượng, lịch sử…) Nhưng cũng nên lưu ý rằng cá nhân có thể có sở
Trang 31thích thiên hướng nhiều hơn về một khía cạnh nào đó của di sản, nên mỗi dạng giá trị kinh tế có thể có xu hướng phản ánh nhiều hơn về dạng giá trị di sản Ví dụ như giá trị
sử dụng có thể phản ánh nhiều hơn giá trị thẩm mỹ của di sản, trong khi đó giá trị lựa chọn có thể thiên về giá trị biểu tượng của di sản và giá trị phi sử dụng có thể phụ thuộc nhiều hơn vào giá trị lịch sử của di sản
Quá trình ra quyết định đầu tư bảo tồn di sản đã và đang đòi hỏi các thông tin về giá trị kinh tế của di sản Khi nguồn vốn đầu tư có hạn, việc đầu tư bảo tồn di sản buộc phải được cân nhắc so sánh với các nhu cầu đầu tư phát triển kinh tế - xã hội khác (như y
tế, giáo dục…) Việc so sánh lợi ích/giá trị kinh tế giữa bảo tồn di sản văn hóa với các lựa chọn chính sách phát triển khác cũng giúp hỗ trợ lựa chọn chính sách phát triển hiệu quả nhất cho xã hội Ngoài ra, xu hướng bảo tồn di sản trở thành động lực kinh tế, tạo ra việc làm cũng ngày càng được quan tâm, và đòi hỏi các thông tin kinh tế về di sản Thông tin về giá trị kinh tế của di sản văn hóa có thể sử dụng để so sánh với chi phí bảo tồn, hồi sinh di sản, qua đó đảm bảo hiệu quả kinh tế của việc đầu tư bảo tồn
di sản(Nguyễn Công Thành, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường 2020) Lượng hóa giá trị kinh tế sẽ cung cấp thông tin về giá trị tiền tệ của di sản để thực hiện phân tích kinh
tế, nhằm hỗ trợ quyết định chính sách về di sản như bảo tồn, hồi sinh di sản văn hóa
Di sản văn hóa thường không có thị trường mua bán trao đổi, các phương pháp định lượng giá trị theo giá thị trường không thể áp dụng với di sản văn hóa Di sản văn hóa cũng không phải là hàng hóa có thể sản xuất được, nên việc sử dụng chi phí sản xuất
để ước lượng giá trị kinh tế của di sản cũng không phải là lựa chọn phù hợp Nhưng điều phải khẳng định là di sản văn hóa có giá trị kinh tế, có thể đem lại lợi ích kinh tế cho xã hội
Xu hướng lồng ghép bảo tồn di sản vào các chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và sử dụng bảo tồn di sản như là 1 động lực phát triển kinh tế đang ngày càng được quan tâm Điều này đòi hỏi hoạt động phân tích kinh tế các dự án bảo tồn di sản, và theo đó cần có các thông tin về giá trị kinh tế của di sản văn hóa Giá trị kinh tế của di sản được hiểu là giá trị tiền tệ phản ánh các dạng giá trị của di sản văn hóa, bao gồm: giá
Trang 32trị thẩm mỹ, giá trị biểu tượng, giá trị tâm linh, giá trị xã hội, giá trị lịch sử, giá trị độc đáo, giá trị khoa học Nhằm hướng tới việc ước lượng giá trị tiền tệ, giá trị kinh tế của
di sản được chia thành 2 nhóm giá trị sử dụng và giá trị phi sử dụng Giá trị sử dụng của di sản có thể bao gồm giá trị sử dụng trực tiếp, giá trị sử dụng gián tiếp và giá trị lựa chọn Giá trị phi sử dụng có 2 dạng giá trị chính là giá trị để lại và giá trị tồn tại Các nghiên cứu ước lượng giá trị kinh tế của di sản đã được thực hiện từ năm 1994 Phương pháp đánh giá giá trị di sản dựa trên mức tiêu tiền tại nơi sử dụng di sản là phương pháp đầu tiên được áp dụng và cũng là phương pháp được áp dụng phổ biến nhất trong các nghiên cứu lượng giá di sản Kết quả tổng hợp gần đây của Wright và Florian (2016) đã cho thấy 87 kết quả giá trị di sản văn hóa được báo cáo trong 48 nghiên cứu, thực hiện ở 24 quốc gia trên thế giới Tổng kết về giá trị kinh tế di sản thì Wright and Eppink (2016) chỉ ra giá trị kinh tế bình quân 1 điểm di sản văn hóa là 29,7 triệu USD/ 1 năm Noonan (2003) tổng hợp 129 kết quả về giá trị kinh tế của các công trình - di tích văn hóa; và mức sẵn lòng chi trả (WTP) bình quân 1 người là 42.78 USD Tại Việt Nam, Tuan and Navrud (2008) ước lượng giá trị kinh tế của Di sản Thánh địa Mỹ Sơn là 5 triệu USD, và mức WTP bình quân 1 người cao nhất là 8,78 USD của du khách quốc tế và thấp nhất là 2,17 USD của người dân địa phương(Nguyễn Công Thành, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường 2020) Các nghiên cứu lượng giá di sản tại Việt Nam còn rất hạn chế, nên cần được mở rộng nghiên cứu nhằm hỗ trợ các quyết định bảo tồn di sản, đặc biệt là với các di sản văn hóa phi vật
thể
1.4 Đô thị hóa và các di sản phi vật thể trên thế giới
Một ví dụ về tầm nhìn toàn diện về di sản văn hóa có thể được nhìn thấy thông qua các
lễ hội văn hóa như những ví dụ về di sản phi vật thể gắn kết với không gian đô thị nhằm thúc đẩy du lịch, tạo dựng hình ảnh thành phố và đạt được sự phát triển đô thị bền vững Khu Ả Rập ở thành phố Port Said
Trang 33Port Said là một ví dụ độc đáo về một thành phố Ai Cập với kiến trúc thuộc địa và di sản đô thị và lễ hội Được xây dựng vào giữa thế kỷ 19 trong quá trình xây dựng Kênh đào Suez, thành phố quốc tế này là một di sản vật thể và phi vật thể đặc biệt
Hình 1.3 Minh hoạ những điểm thu hút của 3 quận (Ả rập, afrang và Port Fouad) Nguồn:DoaaAbouelmagd
Lịch sử Ai Cập rất sôi động với các lễ hội truyền thống gắn liền với cộng đồng, địa điểm và địa điểm đô thị Với lịch sử phong phú và độc đáo như vậy, chỉ có bảy địa điểm và sáu di sản được UNESCO công nhận là di sản phi vật thể của Ai Cập, không
di sản nào trong số đó liên quan đến lễ kỷ niệm hoặc lễ hội truyền thống Di sản phi vật thể ở Port Said gắn liền với các nghi lễ và tập quán xã hội, nghề nghiệp và cácbiểu hiện văn hóa khác của thành phố, bao gồm truyền thống truyền miệng và nghệ thuật
Trang 34biểu diễn Nó là sản phẩm của mối quan hệ giữa cư dân địa phương, quốc gia và toàn cầu Các tác giả đã chia di sản phi vật thể ở Port Said thành: Các nghề truyền thống đã phát triển trong hơn 150 năm qua, nhưng một số đã biến mất (ví dụ, người lái thuyền
“Bambuti” có liên quan đến hoạt động buôn bán trên biển của Port Said) Các cộng đồng khác làm việc trong lĩnh vực dịch vụ tàu thủy, bao gồm cả giáo phái phế liệu tàu chuyên mua bán phế liệu từ tàu Giáo phái nghệ nhân bao gồm thợ cắt tóc, thợ mộc, thợ rèn và thợ ủi cung cấp dịch vụ Hầu hết các giáo phái này cư trú ở quận Ả Rập Buôn bán như một nguồn sinh kế: Cảng và huyện Afrang ban đầu hoạt động như một trung tâm thương mại, đặc biệt là ở thời kỳ đỉnh cao của thương mại đường biển Tuy nhiên, sau khi chuyển sang buôn bán trên đất liền theo tuyên bố Port Said là khu vực
tự do vào năm 1976, trung tâm thương mại của nó đã chuyển đến quận Ả Rập, dẫn đến
sự chuyển đổi không gian của thành phố Giao dịch đã chuyển đổi từ một phương tiện giao tiếp với thế giới thành một công việc địa phương
Các nghề truyền thống đã phát triển trong hơn 150 năm qua, nhưng một số đã biến mất (ví dụ, người lái thuyền “Bambuti” có liên quan đến hoạt động buôn bán trên biển của Port Said) Các cộng đồng khác làm việc trong lĩnh vực dịch vụ tàu thủy, bao gồm cả nhóm nghề chuyên mua bán phế liệu từ tàu Nhóm nghề nghệ nhân bao gồm thợ cắt tóc, thợ mộc, thợ rèn và thợ ủi cung cấp dịch vụ Hầu hết các nhóm nghề này cư trú ở quận Ả Rập Truyền thống truyền miệng và nghệ thuật biểu diễn của thành phố, chẳng hạn như văn hóa dân gian Simsimiyya, là một hình thức ca hát địa phương bắt đầu ở Port Said vào những năm 1930 Các nhạc sĩ và ca sĩ Simsimiyya biểu diễn các bài hát
về cuộc kháng chiến của dân chúng trong thời kỳ chiến tranh và chủ nghĩa thực dân
Lễ hội Allenby cũng bắt đầu như một biểu hiện văn hóa phản kháng trước khi trở thành một lễ kỷ niệm phổ biến bao gồm các biểu tượng và vấn đề rộng lớn hơn Quận
Ả Rập đã trải qua nhiều giai đoạn: thành lập, chủ nghĩa thực dân, chiến tranh và phục hồi kinh tế, bao gồm cả việc phá bỏ các tòa nhà di sản Một thành phố phương Đông khá dày đặc sử dụng gỗ một cách rất phức tạp nhưng chuẩn mực Các ban công thường được đóng lại bằng nhiều vách ngăn bằng gỗ khác nhau gắn liền với
Trang 35Mashrabiyas truyền thống của Hồi giáo, và các đường phố chính được bao quanh bởi các mái vòm bằng gỗ.Port Said tuyên bố thành lập khu thương mại tự do vào năm
1976 như một phần thưởng và sự xoa dịu đối với người dân Port Said, những người phải chịu cảnh di dời trong suốt cuộc chiến trong giai đoạn phục hồi kinh tế Quận Ả Rập trở thành trung tâm thương mại trọng điểm và nguồn sinh kế chính Các đường phố có lưới điện chủ yếu trở thành đường phố thương mại, với rất ít phương tiện được phép đi lại Chính quyền đã tiếp tục cải thiện cơ sở hạ tầng bằng khí đốt tự nhiên có sẵn cho hầu hết các quận nội thành Từ thời điểm này, Lễ hội Allenby có thể tiếp tục nhưng không cần sử dụng lửa Kiến trúc và di sản đô thị bị ảnh hưởng nặng nề sau sự xuất hiện của các nhà đầu tư bất động sản nhằm tìm kiếm lợi nhuận tối đa mà không quan tâm đến giá trị di sản
Sự kết hợp giữa mái vòm và ban công bằng gỗ với Mashrabiyas được sử dụng làm lớp veneer bên ngoài, Tuy nhiên, nhiều tòa nhà gần đây đã bị loại khỏi Tổ chức Đô thị Quốc gia tạo ra một mặt tiền phương Đông Khu vực này được coi là khu phát triển có mục đích sử dụng hỗn hợp, kết hợp mục đích sử dụng thương mại trên mặt đất với mục đích sử dụng dân cư ở trên
Năm 2011, Nội các Ai Cập chính thức liệt kê 106 tòa nhà là di sản ở quận Ả Rập (quyết định số 1096; NOUH, 2011) Số liệu thống kê hiện tại không có sẵn do danh sách đang được cập nhật lớp veneer bên ngoài này mang lại cho thành phố nét đặc trưng và quyến rũ, giúp giữ cho các bức tường và nội thất Lô đất và khối nhà tương đối nhỏ Đường phố được đặt theo tên thống đốc Ai Cập và theo tên những người Ai Cập anh hùng trong thời kỳ thuộc địa hoặc chiến tranh (Baller, 2017, trang 42,43; ElKerdany, 2017, trang 18)
Singapore
Singapore là một xã hội đa dạng về văn hóa và là một trong những quốc gia đa dạng
về tôn giáo nhất trên thế giới, và sự hiểu biết về các thực hành văn hóa hỗ trợ thúc đẩy đối thoại và gắn kết xã hội trong bối cảnh xã hội như vậy.Trong suốt phần lớn lịch sử
Trang 36của nhân loại, dân số thế giới chủ yếu sống ở các vùng nông thôn.Tuy nhiên, tỷ lệ dân
số đô thị đã tăng nhiều trong 100 đến 150 năm qua, tính đến năm 2018( World Urbanisation Prospects 2018) , 55% dân số thế giới sống ở khu vực thành thị Tỷ lệ này được dự đoán sẽ tăng lên 68% vào năm 2050 Những xu hướng đô thị hóa gia tăng, cùng với sự di chuyển của người dân từ nông thôn trong nước đến các khu vực thành thị hoặc sự di chuyển quốc tế của người dân trên khắp các quốc gia và châu lục, làm nổi bật tầm quan trọng và vai trò ngày càng tăng của DSVHPVT trong bối cảnh
đô thị Xét về tác động của quá trình toàn cầu hóa trên toàn thế giới, DSVHPVT là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự đa dạng văn hóa và sự gắn kết giữa các xã hội Nó đặc biệt quan trọng ở các trung tâm đô thị, nơi các nhóm người đa dạng sống với mật độ cao và gần nhau Trong thời đại mà tin tức thường xuyên có các báo cáo về phân biệt đối xử, phân biệt và căng thẳng xã hội, tầm quan trọng về văn hóa xã hội của DSVHPVT không thể bị cường điệu hóa Theo UNESCO, 'Sự hiểu biết và đánh giá cao di sản văn hóa phi vật thể của các cộng đồng khác nhau giúp đối thoại liên văn hóa
và khuyến khích sự tôn trọng lẫn nhau đối với các lối sống khác' Hơn nữa, DSVHPVT là một phần quan trọng trong bản sắc của cộng đồng và cá nhân DSVHPVT là một yếu tố quan trọng trong việc duy trì sự đa dạng văn hóa và sự gắn kết giữa các xã hội Nó đặc biệt quan trọng ở các trung tâm đô thị, nơi các nhóm người
đa dạng sống với mật độ cao và gần nhau Trong thời đại mà tin tức thường xuyên có các báo cáo về phân biệt đối xử, phân biệt và căng thẳng xã hội, tầm quan trọng về văn hóa xã hội của DSVHPVT không thể bị cường điệu hóa Theo UNESCO, 'Sự hiểu biết
và đánh giá cao di sản văn hóa phi vật thể của các cộng đồng khác nhau giúp đối thoại liên văn hóa và khuyến khích sự tôn trọng lẫn nhau đối với các lối sống khác' Hơn nữa, DSVHPVT là một phầnquan trọng trong bản sắc của cộng đồng và cá nhân Trích dẫn di sản là một phần của vốn văn hóa giúp một người xác định mình thuộc một nhóm hoặc tầng lớp xã hội cụ thể Singapore là một thành phố-nhà nước với diện tích
720 km2 và dân số 5,7 triệu người Với mật độ đô thị xấp xỉ 7.800 người trên một km2 đất, đây là một trong những thành phố có mật độ dân số cao nhất trên thế giới(Pew research Centre, 2014) Singapore có lịch sử là một trung tâm thương mại trong nhiều
Trang 37thế kỷ ngay cả trước thời kỳ thuộc địa của lịch sử và vẫn là một trung tâm thương mại, buôn bán, vận chuyển, du lịch và trao đổi văn hóa lớn trong khu vực và trên trường quốc tế Di sản của nó thường bị ảnh hưởng bởi các nền văn hóa bắt nguồn từ các quốc gia và khu vực khác nhau, chẳng hạn như Trung Quốc, Ấn Độ hoặc Quần đảo Mã Lai, nơi mà sự di chuyển của con người đã dẫn đến sự du nhập và phát triển của các yếu tố DSVHPVT khác nhau.Những liên kết như vậy với khu vực và thế giới đã mang lại sự
đa dạng và sống động cho di sản văn hóa của Singapore, khiến quốc gia này trở thành quốc gia đa dạng về tôn giáo nhất trên thế giới Giống như các trung tâm đô thị khác, Singapore phải đối mặt với nhiều thách thức xã hội Sự đa dạng về văn hóa, tín ngưỡng và tập quán được công nhận là đã góp phần tạo nên bản sắc Singapore (MCCY, 2019)
Nhiều yếu tố DSVHPVT được tìm thấy ở Singapore đã thích ứng với bối cảnh đô thị hoá, khi quốc gia này phát triển và đô thị hóa theo thời gian Một ví dụ là Văn hóa Hawker ở Singapore, một yếu tố là một phần không thể thiếu trong cuộc sống hàng ngày ở Singapore, văn hóa Hawker đã phát triển từ văn hóa ẩm thực đường phố nó được tồn tại song song với các quầy hàng thực phẩm ở các trung tâm Nó được liên kết với những người bán hàng rong chuẩn bị thức ăn cho người bán hàng rong và những người dùng bữa và trộn thức ăn cho người bán hàng rong trong không gian ăn uống cộng đồng được gọi là trung tâm bán hàng rong Nhiều lễ hội ở Singapore cũng đã thích nghi với bối cảnh đô thị hoá theo thời gian, những đám rước được tổ chức ở khu vực nội thị, đô thị lõi mang tính lịch sử như lễ hội Thaisusam, khi lễ hội diễn ra, đám rước đi qua giữa hai ngôi đền Sri Srinivasa Perumal và đền Sri Thendayuthapani, xuyên qua các khu phố của khu Tiểu Ấn lịch sử, đây cũng là sự thể hiện cách kết nối giữa di sản văn hoá vật thể và phi vật thể, di sản và bối cảnh phát triển
Trong những năm qua, Ủy ban Di sản Quốc gia đã thực hiện nhiều nỗ lực hơn để bảo
vệ DSVHPVT Việc bảo vệ DSVHPVT trong bối cảnh đô thị hoá gắn liền với di sản vật thể, các toà nhà và không gian Singapore đã thực hiện tại nhiều quận tuân theo hướng này, những quận có DSVHPVT phong phú, dưới các hình thức là các nghề thủ công hoặc các lễ hội Chỉ bảo tồn công trình kiến trúc là không đủ để giữ lại các
Trang 38DSVHPVT gắn liền với các quận lịch sử như vậy, một nghiên cứu về tăng giá trị bất động sản (Tan&Ti, 2020) cho thấy việc bảo tồn các toà nhà có thể làm tăng giá trị bất động sản, nhưng ngoài việc bảo tồn kiến trúc các toà nhà còn phải tìm cách duy trì và phát huy các DSVHPVT gắn liền với các quận sở hữu nó,
Việc bảo vệ DSVHPVT trong bối cảnh đô thị phải đối mặt với nhiều thách thức Những thay đổi và tác động do quá trình đô thị hóa và tác động của toàn cầu hóa gây
ra ảnh hưởng đến khả năng tồn tại của DSVHPVT, đặc biệt là ở các khu vực đô thị DSVHPVT đang được đánh giá cao hơn ở Singapore trong những năm gần đây
Ở cấp độ địa phương, DSVHPVT xác định bản sắc văn hóa của các cộng đồng và cá nhân Trong gần đây Năm 2018 là một năm quan trọng đối với bối cảnh di sản ở Singapore Vào tháng 2, Singapore đã phê chuẩn Công ước 2003 của UNESCO về Bảo vệ DSVHPVT, và vào tháng 4 cùng năm, Kế hoạch Di sản Singapre đã được khởi động Đây là kế hoạch tổng thể đầu tiên cho lĩnh vực di sản của Singapore và phác thảo các chiến lược và sáng kiến rộng lớn cho lĩnh vực này từ năm 2018 đến năm
2022 Kế hoạch này được phát triển nhằm đáp ứng mối quan tâm ngày càng tăng đối với di sản của người dân Singapore và số lượng người muốn chơi ngày càng tăng Vai trò tích cực trong việc bảo vệ di sản.Tốc độ thay đổi của công nghệ đã tăng lên đáng
kể trong những thập kỷ gần đây, thay thế các ngành nghề truyền thống và dẫn đến nhu cầu cộng đồng và những người hành nghề xem xét cách thức có thể tận dụng công nghệ một cách tích cực trong các nỗ lực bảo vệ và để DSVHPVT thích ứng và phát triển nhanh hơn trước Ủy ban Di sản Quốc gia Singapore (NHB) đã đưa ra nhiều sáng kiến khác nhau, bao gồm xây dựng danh mục DSVHPVT, nỗ lực thu hút và tiếp cận cộng đồng cũng như trao quyền cho cộng đồng
1.5 Đô thị hóa và các di sản phi vật thể tại Việt Nam
Việt Nam có 36,7 triệu dân đô thị (Tổng cục thống kê, 2020), trong đó mật độ dân số
đô thị tập trung cao ở hai thành phố lớn là Hà Nội và TP.HCM
Di sản văn hóa là tài sản vô giá, gắn kết cộng đồng dân tộc, là cốt lõi của bản sắc dân tộc, cơ sở để sáng tạo những giá trị mới và giao lưu văn hóa Hết sức coi trọng bảo
Trang 39tồn, kế thừa, phát huy những giá trị văn hóa truyền thống (bác học và dân gian) văn hóa cách mạng, bao gồm cả văn hóa vật thể và phi vật thể Luật Di sản văn hóa đã dành trọn vẹn chương II, từ điều 17 đến điều 21 để đề cập vấn đề di sản văn hóa phi vật thể từ trách nhiệm của nhà nước, các cơ quan nhà nước đến các nguyên tắc bảo vệ
và phát huy Chẳng hạn, Điều 20: “Cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết để bảo vệ di sản văn hóa phi vật thể ngăn chặn nguy cơ làm sai lệch, bị mai một hoặc thất truyền” Hoặc Điều 26: “Nhà nước tôn vinh và có chính sách đãi ngộ đối với nghệ nhân, nghệ sĩ nắm giữ và có công phổ biến nghệ thuật truyền thống, bí quyết nghề nghiệp có giá trị đặc biệt” Để thực hiện những điều luật này, có nhiều việc phải làm, nhưng phải xuất phát từ thực tiễn của những công việc liên quan đến di sản văn hóa phi vật thể Có hai hệ thống công việc liên quan mật thiết đến nhau: sưu tầm và nghiên cứu; bảo tồn và phát huy
Bối cảnh thực hiện, những khó khăn và thách thức:
- Bối cảnh thực hiện: Việc bảo tồn văn hóa nói chung và văn hoá phi vật thể nói riêng gặp những khó khăn, thách thức do một loạt các vấn đề khách quan và chủ quan mang tính thời đại, tính toàn câù tác động tới kinh tế, xã hội và văn hoá các nước trên thế giới tập trung ở một số lĩnh vực sau:
- Vấn đề toàn cầu hóa: Quá trình toàn cầu hóa và chuyển đổi cơ cấu xã hội, cùng với những điều kiện khác đã tạo ra nhiều cơ hội đối thoại mới giữa các cộng đồng, đồng thời cũng làm nảy sinh những mối đe dọa về sự suy thoái, biến mất và hủy hoại các di sản văn hóa phi vật thể
- Vấn đề thương mại hóa: Bản chất của những di sản văn hóa phi vật thể là tập quán xã hội - phương thức sinh hoạt của cộng đồng Một khi phương thức sinh hoạt này bị coi
là một thương phẩm để mưu cầu lợi nhuận, thì tính chất của nó sẽ hoàn toàn biến đổi
- Vấn đề đô thị hoá làm biến đổi môi trường văn hóa: Di sản văn hóa phi vật thể được hình thành và phát triển gắn liền với các không gian văn hóa làng xã Trong lịch sử, ta
đã từng nhiều lần mất nước nhưng không mất làng, nên cuối cùng đã giành lại được
Trang 40nước Về văn hóa cũng đã không bị đồng hóa trước những thế lực văn hóa lớn Trái lại, chính cái lõi này lại có sức đồng hóa ngược đối với các văn hóa ngoại lai, thanh lọc chúng cho mình, làm giàu, làm mạnh mình lên Cũng từ cái lõi gốc này mà sinh sôi này nở, đa dạng hóa, có thể đến vô cùng Đây là nét đặc trưng quan trọng nhất của văn hóa Việt Nam Làng chính là nơi giữ cái “gen” của văn hóa Việt, để cho nó có thể biến hóa muôn vẻ mà ta vẫn là ta, là ta đặc sắc hơn, phong phú hơn, mạnh hơn Hiện nay ở một số nơi, đặc biệt là ngoại thành các thành phố lớn, nông thôn tiếp tục quá trình công nghiệp hóa, đô thị hóa mạnh mẽ, một số làng nay đã thành phố, thành phường Không gian văn hoá làng xã truyền thống đang bị thu hẹp dần Chính cái không gian làng Việt được bảo tồn, được sống lại sẽ tự nó tìm được cách tiếp biến và miễn dịch với tất cả những thứ hiện đại đang đến, dù có xa lạ, mới mẻ, thậm chí có vẻ kỳ cục đến đâu Vì vậy, bảo vệ các không gian tự nhiên và những địa điểm gắn với ký ức cần thiết cho việc thể hiện di sản văn hóa phi vật thể
- Vấn đề du lịch văn hóa: Di sản văn hóa luôn là nội dung thu hút và hấp dẫn khách du lịch Du lịch tìm hiểu di sản văn hoá có thể phát huy, biến tiềm năng văn hóa thành động lực phát triển Tuy nhiên không gian vùng di sản văn hóa phi vật thể có thể không thể đáp ứng được số lượng quá lớn khách du lịch Du lịch đại trà và việc bảo tồn các di sản văn hóa phi vật thể thật khó có thể song hành với nhau Du lịch khiến cho các hình thức biểu hiện tính chất, chức năng, v.v vốn có của văn hóa phi vật thể
cơ bản bị biến đổi
Quan niệm bảo tồn di sản văn hoá trên thế giới ngày nay mang tính khoa học và thực
tế hơn Vì vậy trong vài thập niên gần đây, bảo tồn di sản văn hoá đã trở thành một ngành nghiên cứu và thực hành mang tính chuyên môn cao, tuân thủ các nguyên tắc nghiêm ngặt theo thông lệ được cộng đồng quốc tế chấp nhận Bảo tồn mà giữ nguyên trạng cứng nhắc chỉ có tác dụng làm đóng băng di sản và về lâu dài sẽ đưa đến sự xuống cấp, hủy hoại chúng Hiện nay, thông lệ quốc tế khuyến khích giữ gìn nguyên trạng di sản nhưng cũng uyển chuyển áp dụng các qui định mới, nhằm biến di sản văn hoá sinh động hơn và không “đóng băng” chúng trong thời kinh tế thị trường Thực tế