Đề cương Ôn tập môn triết học mác lênin tập hợp các bài soạn rút gọn đầy đủ và dễ học có các ví dụ minh họa từng bài
Trang 1ĐỀ CƯƠNG ÔN TẬP MÔN TRIẾT HỌC MÁC - LÊNIN
CÂU 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa
phương pháp luận? Liên hệ bản thân?
Trả lời:
* Khái niệm:
- Vật chất là một phạm trụ triết học dùng để chỉ thực tại khách quan được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chụp lại, chép lại phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác
- Ý thức là là một một phạm trù quyết định bởi vật chất là sự phản ánh thế giới khách quan vào bộ não con người và có sự khải biến và sáng tạo
* Mối quan hệ:
- Vật chất quyết định ý thức
Vai trò quyết định của vật chất đối với ý thức được thể hiện trên mấy khía cạnh như sau :
+ Thứ nhất, vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: Vật chất tồn tại khách quan, độc lập với ý thức và là nguồn gốc sinh ra ý thức Bộ óc người là một dạng vật chất có
tổ chức cao nhất, là cơ quan phản ánh để hình thành ý thức Ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình hiện thực khách quan
+ Thứ hai, vật chất quyết định nội dung của ý thức: Dưới bất kì hình thức nào , ý thức đều phản ánh hiện thực khách quan Nội dung của nó là sự thực tiễn có tính xã hội - lịch sử của loài người là yếu tố quyết định nội dung mà ý thức phản ánh Ý thức chỉ là hình ảnh của hiện thực khách quan
+ Thứ ba, vật chất quyết định bản chất của ý thức: Phản ánh và sáng tạo là hai thuộc tính không tách rời trong bản chất của ý thức Khác với loài vật, phản ánh của con người là phản ánh tích cực, tự giác, sáng tạo thông qua thực tiễn Chính thực tiễn là hoạt động vật chất có tính cải biến thế giới của con người- là cơ sở để hình thành và phát triển ý thức, trong đó ý thức của con người vừa phản ánh vừa sáng tạo
+ Thứ tư,vật chất quyết định sự vận động, phát triển của ý thức: Sự vận động, phát triển của ý thức đều gắn liền với quá trình biến đổi của vật chất Ý thức là một hình thức phản ánh của óc người cũng phát triển cả về nội dung và hình thức của nó Cùng với mỗi bước phát triển của sản xuất, tư duy, ý thức của con người cũng ngày càng
mở rộng Con người ý thức được hiện tại, quá khứ cả trong tương lai, trên cơ sở khái quát sâu sắc bản chất, quy luật vận động, phát triển của tự nhiên, xã hội và tư duy của
họ Sự vận động, biến đổi của thế giới vật chất, của thực tiễn là yếu tố quyết định sự vận động, biến đổi của ý thức
- Ý thức có tính độc lập tương đối và tác động trở lại vật chất
Điều này được thể hiện trên những khía cạnh sau:
+ Thứ nhất, ý thức là sự phản ánh thế giới vật chất vào trong đầu óc con người Ý thức một khi đã ra đời thì có tính độc lậ tương đối, tác động trở lại thế giới vật chất + Thứ hai, sự tác động ý thức đối với vật chất phải thông qua hoạt động thực tiễn của con người Nhờ đó, ý thức có thể làm biến đổi những điều kiện, hoàn cảnh vật chất, thậm chí còn tạo ra “ thiên nhiên thứ hai” phục vụ cho cuộc sống con người
+ Thứ ba, xã hội càng phát triển thì vai trò của ý thức ngày càng to lớn, nhất là trong thời đại ngày này, thời đại thông tin, kinh tế tri thức, thời đại của cách mạng khoa học
và công nghệ hiện đại, khi mà tri thức khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất
* Ý nghĩa phương pháp luận:
Là tôn trọng tính khách quan kết hợp tính phát huy tính năng động chủ quan Mọi chủ trương, đường lối,kế hoạch, mục tiêu phải xuất phát từ thực tiễn khách quan, phải tôn trọng và hành động theo quy luật khách quan
Trang 2*Liên hệ bản thân:
Khi chúng ta muốn nhận thức về cái cây thì ý thức của chúng ta được quyết định bởi các đặc tính như là chiều cao, hình dáng,màu sắc của các cây đó Nhưng ý thức tác động trở lại bằng cách đưa ra các quan điểm, suy nghĩ và những hành động tác động trực tiếp đến cái cây
CÂU 2: Phân tích về mối liên hệ phổ biến? Ý nghĩa phương pháp luận? Liên hệ bản thân?
Trả lời:
* Khái niệm:
- Mối liên hệ là một phạm trù triết học dùng để chỉ các mối ràng buộc tương hỗ, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu tố, bộ phận trong một đối tượng hoặc giữa các đối tượng với nhau Ngược lại, cô lập (tách rời) là trạng thái của các đối tượng, khi sự thay đổi của đối tượng này không ảnh hưởng gì đến các đối tượng khác, không làm chúng thay đổi Mọi đối tượng đều trong trạng thái vừa cô lập vừa liên hệ với nhau và chúng có cả những biến đổi khiến các đối tượng khác thay đổi, lẫn những biến đổi không làm các đối tượng khác thay đổi Khi quan niệm về ự liên hệ được mở rộng sang cho cả giữa các đối tượng tinh thần và giữa chúng vốn thuộc chủ thể với các đối tượng khách quan thì sẽ quan niệm về mối liên hệ phổ biến
- Nội dung của nguyên lý mối liên hệ phổ biến: Quan điểm biện chứng duy vât cho rằng, các sự vật, hiện tượng của thế giới tông tại trong mối liên hệ qua lại với nhau
Cơ sở tồn tại đa dạng các mối liên hệ đó là tính thống nhất vật chất của thế giới
- Các mối liên hệ, tác động đó đều là sự quy định, tác động giữa các sự vật, hiện tượng Tính phổ biến của các mối liên hệ thể hiện ở chỗ bất kì nơi đâu, trong tự nhiê, trong xã hội và trong tư duy đều có vô vàn các mối liên hệ đa dạng, chúng giữ vai trò,
vị trí khác nhau trong sự vận động, chuyển hóa của các sự vật, hiện tượng
- Mối liên hệ phổ biến có tính đa dạng, phong phú Có mối liên hệ về mặt không gian
và về mặt thời gian Có mối liên hệ chung tác động lên toàn bộ hay trong những lĩnh vực rộng lớn của thế giới
Để liên hệ các mối liên hệ phải tùy thuộc vào tính chất và vai trò của từng mối liên hệ Mỗi sự vật, hiện tượng tông tại trong nhiều mối liên hệ, tác động qua lại với nhau Từ nội dung của mối liên hệ phổ biến, phép biện chứng khái quát thành nguyên tắc toàn diện Thứ nhất, cần đặt nó trong chỉnh thể thống nhất của tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố, các thuộc tính, các mối liên hệ của chỉnh thể đó Thứ hai, chủ thể phải rút
ra được các mặt, các mối liện hệ tất yếu của đối tượng đó và nhận thức chúng trong sự thống nhất hữu cơ nội tại Thứ ba, cần xem xét đối tượng này trong mối liên hệ với đối tượng khác và với môi trường xung quanh Thứ tư, quan điểm toàn diện đối lập với quan điểm phản diện, một chiều hoặc chú úy đến nhiều mặt nhưng lại xem xét dàn trải, không thấy mặt bản chất của đối tượng
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quan điểm toàn diện:
+ Trong nhận thức học tập:
Một là, xem xét các mối quan hệ bên trong của sự vật, hiện tượng: Xem xét những mối quan hệ qua lại của các bộ phấn, yếu tố, thuộc tính
Hai là, xem xét các mối quan hệ bên ngoài của sự vật, hiện tượng: Xem xét mối quan hệ qua lại của sự vật, hiện tượng này với sự vật, hiện tượng khác
Ba là, xem xét sự vật, hiện tượng trong mối quan hệ với nhu cầu thực tiễn: Tri thức của con người về sự vật, hiện tượng không trọn vẹn, đầy đủ
Trang 3Bốn là, tránh quan điểm phiến diện khi xem xét sự vật, hiện tượng: Phải đi từ tri thức về nhiều mặt, nhiều mối liên hệ đến chỗ khái quát để rút ra bản chất
+ Trong hoạt động thực tiễn:
Ta phải dùng hoạt động thực tiễn để biến những mối liên hệ trong sự vật, hiện tượng
và các mối liện hệ giữa sự vật, hiện tượng đó với các sự vật, hiện tượng khác
- Quan điểm lịch sử - cụ thể:
Phải chú ý hoàn cảnh lịch sử - cụ thể đã phát sinh vấn đề đó tới bối cảnh khách quan, chủ quan của hiện thực của sự ra đời và phát triển của các vấn đề đó
* Liên hệ bản thân:
Khi ta muốn nhận thức về một sự vật, hiện tượng nào đó thì ta phải luôn đặt nó trong mối liên hệ với các sự vật hiện khác
CÂU 3: Phân tích quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Ý nghĩa phương pháp luận? Liên hệ bản thân?
Trả lời:
* Khái niệm:
- Mặt đối lập là một phạm trù dùng để chỉ những mặt, những thuộc tính có đặc điểm hoặc có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau trong một chỉnh thể
-Thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, ràng buộc nhau, quy định nhau mặt này lấy mặt kia làm tiền đề cho sự tồn tại và phát triển của nhau
- Đấu tranh của các mặt đối lập là sự tác động qua lại tạo khuynh hướng phủ định lân nhau, bài trừ lẫn nhau
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Vì mẫu thuẫn là nguồn gốc, động lực của sự vận động, phát triển của sự vật và là khách quan trong bản thân sự vật nên cần phải phát hiện ra mâu thuẫn của sự vật bằng cách phân tích sự vật tìm ra những mặt, những khuynh hướng trái ngược nhau và mối liên hệ, tác động lẫn nhau giữ chúng
- Phải biết phân tích cụ thể một mâu thuẫn cụ thể, biết phân loại mâu thuẫn và tìm cách giải quyết cụ thể đối với từng mâu thuẫn
- Phải nắm vững nguyên tắc giải quyết mâu thuẫn - phù hợp với từng loại mâu thuẫn, trình độ phát triển của mâu thuẫn Không được điều hòa mâu thuẫn Phải tìm ra phương thức, phương tiện và lực lượng để gaiir quyết mâu thuẫn khi điều kiện đã chín muồi
*Liên hệ bản thân:
Mỗi chúng ta đều tồn tại trong nhận thức bản thân cái đã biết và cái chưa biết, ta luôn phải tiềm tòi, học hỏi để biến cái chưa biết thành cái biết, và phát triển cái biết để nâng cao trình độ của bản thân
CÂU 4: Phân tích vai trò của thực tiễn đối với nhận thức? Ý nghĩa phương pháp luận? Liên hệ bản thân?
Trả lời:
* Khái niệm:
- Nhận thức là một quá trình biện chứng có vận động và phát riển, là quá trình đi từ chưa biết đến biết, từ biết ít tới biết nhiều, từ biết chưa đầy đủ đến đầy đủ hơn
- Thực tiễn là toàn bộ những hoạt động vật chất-cảm tính, có tính lịch sử-xã hội của con người nhằm cải tạo tự nhiên và xã hội phục vụ nhân loại tiến bộ
* Vai trò của thực tiễn đối với nhận thức:
- Thực tiễn là cơ sở, động lực của nhận thức
Trang 4Bằng và thông qua hoạt động thực tiễn, con người tác động vào thế giới khách quan, chính thức tiễn cung cấp những tài liệu, vật liệu cho nhận thức của con người Không
có thực tiễn thì không có nhận thức
Thực tiễn luôn đề ra nhu cầ, nhiệm vụ và phương hướng phát triển của nhận thức, hoạt động thực tiễn còn là cơ sở chế tạo ra các công cụ, phương tiện, máy móc mới hỗ trợ con người trong quá trình nhận thức Như vậy, thực tiễn chính là nền tảng, cơ sở
để nhận thức của con người nảy sinh, tồn tại, phát triển Không những vậy, thực tiễn còn là động lực thúc đẩy nhận thức phát triển
- Thực tiễn là mục đích của nhận thức
Nhận thức của con người là nhằm phục vụ thực tiễn, soi đường, dẫn dắt, chỉ đạo thực tiễn Nếu không vì thực tiễn, nhận thức sẽ mất phương hướng, bế tắc Mọi tri thức khoa học - kết quả của nhận thức chỉ có ý nghĩa khi nó được áp dụng vào đời sống thực tiễn
- Thực tiễn là tiêu chuẩn để kiểm tra chân lý
Thực tiễn mới có thể vật chất hóa được tri thức, hiện thực hóa được tư tưởng, qua
đó mới khẳng định được chân lý hoặc phủ định một sai lầm nào đó Thực tiễn vừa có tính chất tuyệt đối vừa có tính chất tương đối Tính tuyệt đối của thực tiễn với tư cách tiêu chuẩn chân lý thể hiện ở chỗ, thực tiễn là tiêu chuẩn khách quan duy nhất để kiểm tra, khẳng định chân lý Tính tương đối của thực tiễn với tư cách tiêu chuẩn chân lý thể hiện ở chỗ, thực tiễn có quá trình vận động, biến đổi, phát triển Vì vậy, nếu xem xét thực tiễn trong không gian càng rộng, trong thời gian càng dài, trong chỉnh thể thì càng rõ đâu là chân lý, đâu là sai lầm.
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Nhận thức phải xuất phát từ thực tiễn
- Lý luận phải đi đôi với thực tiễn
- Không được tuyệt đối hóa vai trò thực tiễn
* Liên hệ bản thân:
Khi ta muốn xem xét bản chất của một sự vật, hiện tượng nào đó ta không thể chỉ đọc, nhìn nó qua sách vở, qua lý thuyết mà ta phải đặt chúng trong thực tại khách quan để xem chúng có phù hợp hay không.
CÂU 5: Phân tích vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử? Ý nghĩa
phương pháp luận? Liên hệ bản thân?
Trả lời:
*Khái niệm:
Quần chúng nhân dân là thuật ngữ chỉ tập hợp đông đảo những con người hoạt động trong một không gian và thời gian xác định, bao gồm nhiều thành phần, tầng lớp xã hội và giai cấp đang hoạt động trong một xã hội xác định
Nội hàm của quần chúng nhân dân bao gồm: Những người lao động sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần là lực lượng cơ bản, chủ chốt; Toàn thể dân cư đang chống lại
kẻ áp bức, bóc lột thống trị và đối kháng với nhân dân; Những người đang có các hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau
*Vai trò của quần chúng nhân dân trong lịch sử:
- Quần chúng nhân dân là chủ thể tạo ra mọi của cải vật chất bảo đảm cho sự tồn tại
xã hội
Để tồn tại con người trước hết phải có ăn, mặc, ở do đó người ta phải sản xuất ra của cải vật chất đây là nhân tố quyết định sự phát triển của xã hội là hoạt động của quần chúng nhân dân những người lao động chủ yếu trong mọi xã hội
Trang 5Mọi sự biến đổi phát triển trên tất cả các mặt của đời sống xã hội xét đến cùng là do
sự vận động của lực lượng sản xuất quy định trong đó quần chúng nhân dân lao động
là lực lượng sản xuất hàng đầu và cơ bản nhất của xã hội
Khoa học kĩ thuật ngày càng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của xã hội tuy nhiên nó chỉ phát huy được vai trò thông qua hoạt động thực tiễn sản xuất của quần chúng nhân dân
- Quần chúng nhân dân là lực lượng cơ bản của mọi cuộc cách mạng xã hôi
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, đấu tranh giai cấp tất yếu xảy ra mà đỉnh cao của nó là cách mạng xã hội, muốn chuyển từ xã hội có cũ sang xã hội mới phải có một lực lượng vật chất và tinh thần để thực hiện, trong đó vai trò quyết định là quần chúng nhân dân
Cách mạng xã hội là sự nghiệp của quần chúng nhân dân chứ không phải của riêng sự nghiệp của cá nhân Thực tiễn cách mạng chứng minh rằng không có sự thay đổi chế độ xã hội nào trong lịch sử mà không có sự tham gia đông đảo của quần chúng nhân dân
Suy đến cùng nguyên nhân của mọi cuộc cách mạng bắt đầu từ sự phát triển cuat lực lượng sản xuất dẫn đến mau thuẫn quan hệ sản xuất lỗi thời, có nghĩa là bắt đầu từ hoạt động sản xuất vật chất của quần chúng nhân dân Như vậy, quần chúng nhân dân vừa là dộng lực vừa là chủ thể của mọi cuộc cách mạng xã hội
- Quần chúng nhân dân là lực lượng sáng tạo ra những giá trị văn hóa tinh thần Cùng với việc tạo ra của cải vật chất cho xã hội, quần chúng nhân dân còn là lực lượng đóng vai trò to lớn trong việc sáng tạo ra giá trị tinh thần kể cả trong xã hội có
sự phân chia thành lao động trí óc và lao động chân tay, có sự tách rời giữa sản xuất vật chất và sản xuất tinh thần
Bên cạnh đó đời sống của quần chúng nhân dân là nguồn tư liệu vô tận để các tác giả tác phẩm nghệ thuật khai thác phản ánh họ trở thành nguồn cảm hứng cho mọi sáng tạo tinh thần trong đời sống xã hôi
Mặt khác các giá trị văn hóa tinh thần chỉ có thể nuôi dưỡng vfa tồn tại kh được quần chúng nhân dân chấp nhận truyền bá sâu rộng trở thành phổ biến trong cuộc sống
* Ý nghĩa phương pháp luận:
- Quán triệt quan điểm của Đảng cộng sản VN lấy dân làm gốc, dân là gốc của nước
- Xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa VN của dân vì dân
- Chống việc xa rời quần chúng nhân dân, quan liêu, hách dịch với dân
*Liên hệ ở Việt Nam:
Lịch sử dân tộc đã chứng minh vai trò của QCND đối với công cuộc dựng nước và giữ nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Gốc có vững cây mới bền, xây lầu thắng lợi trên nền Nhân Dân” Đảng khẳng định: cách mạng là sự nghiệp của quần chúng, và quan điểm “lấy dân làm gốc” trở thành tư tưởng thường trực nói lên vai trò sáng tạo ra lịch sử của nhân dân Việt Nam
CÂU 6 : Phân tích tính độc lập tương đối của ý thức xã hội? Ý nghĩa phương pháp luận? Liên hệ ở VN?
Trả lời:
*Khái niệm:
Ý thức xã hội là phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử được vận dụng để giải quyết vấn đề cơ bản của triết học trong lĩnh vữ xã hội Ý thức xã hội chĩnh là xã hội tự nhận thức về về mình, về sự tồn tại xã hội của mình và về hiện thực xung quanh mình Nói
Trang 6cách khác, ý thức xã hội là mặt tinh thần của đời sống xã hội, là bộ phận hợp thành của văn hóa tinh thần của xã hội
* Tính độc lập tương đối của ý thức xã hội:
Mỗi hình thái ý thức xã hội đều có sự tác động ngược trở lại tồn tại xã hội và tính độc lập tương đối của ý thức xã hội thể hiện ở những điểm sau:
- Ý thức xã hội thường lạc hậu hơn tồn tại xã hội
Nhiều khi xã hội cũ đã mất đi rất lâu rồi, song ý thức xã hội do xã hội đó sản sinh ra vẫn tiếp tục tồn tại Biểu hiện rõ nhất ở các khía cạnh khác nhau của tâm lý xã hội như truyền thống, thói quen và nhất là tập quán Nguyên nhân do tác động mạnh mẽ và nhiều mặt, trong hoạt động thực tiễn của con người, do sức mạnh của thói quen, tập quán, truyền thốn Hơn nữa, những điều kiện tồn tại xã hội mời chưa đủ để làm cho những thói quen, tập quán và truyền thống cũ hoàn toàn mất đi.Ý thức xã hội gắn liền với lợi ích của những tập đoàn người Các tập đoàn hay giai cấp lạc hậu thường níu kéo, bám chặt vào những tư tưởng lạc hậu để bảo vệ và duy trì quyền lợi ích kỉ của họ
Vì vậy, muốn xây dựng xã hội mới thì nhất định phải từng bước xóa bỏ được những tàn dư, những tư tưởng và ý thức xã hội cũ song phải bồi đắp, xây dựng và phát triển
ý thức xã hội mới
- Ý thức xã hội có thể vượt trước tồn tại xã hội
Nhều tư tưởng khoa học và triết học trong những điều kiện nhất định có thể vượt trước tồn tại xã hội do ý thức xã hội phản ánh đúng được những mối liên hệ logic, khách quan, tất yếu, bản chất của tồn tại xã hội
- Ý thức xã hội có tính kế thừa
Các tư tưởng của thời đại sau bao giờ cũng dựa vào những tiền đề đã có từ những giai đoạn lịch sử trước đó.Ý thức xã hội có tính kế thừa nên không thể giải một tư tưởng nào đó nếu chỉ dựa vào trình độ, hiện trạng phát triển kinh tế và các quan hệ kinh tế- xã hội Sự phát triển của ý thức xã hội không phải bao giờ cũng song hành với sự phát triển kinh tế và các quan hệ kinh tế Tuy nhiên, trong các xã hội có giai cấp thì các giai cấp khác nhau sẽ kế thừa những di sản khác nhau của những giai đoạn trước Giai cấp tiến bộ sẽ chọn kế thừa những tư tưởng tiến bộ của thời đại trước và giai cấp lỗi thời, đi xuống thì bao giờ cũng chọn tiếp thu những tư tưởng và lý thuyết bảo thủ, phản tiến bộ
- Sự tác động qua lại giữa các hình thái ý thức xã hội
Các hình thái ý thức xã hội phảm ánh tồn tại xã hội theo những các khác nhau, có vai trò khác nhau trong xã hội và trong đời sống của con người Tuy nhiên, ở các thời đại lịch sử khác nhau, trong những hoàn cảnh khác nhau dù vai trò của các hình thái ý thức xã hội không giống nhau nhưng chúng vẫn có sự tác động qua lại với nhau
- Ý thức xã hội tác động trở lại tồn tại xã hội
Sự tác động trở lại đối với tồn tại xã hội của các hình thái ý thức xã hội mạnh hay yếu còn phụ thuộc vào những điều kiện lịch sử cụ thể, vào các quan hệ kinh tế vốn là
cơ sở hình thành các hình thái ý thức xã hội; vào trình độ phản ánh và sức lan tỏa của
ý thức đối với các nhu cầu khác nhau của sự phát triển xã hội
*Ý nghĩa phương pháp luận:
- Để nhận thức đúng các hiện tượng thuộc đời sống ý thức xã hội thì một mặt, cần phải căn cứ vào tồn tại xã hội đã làm nảy sinh ra nó, mặt khác cũng cần phải giải thích các hiện tượng đó từ những phương diện khác nhau thuộc nội dung tính độc lập tương đối của chúng
- Trong thực tiễn cải tạo xã hội cũ, xây dựng xã hội mới cần phải được tiến hành đồng thời trên cả hai mặt tồn tại xã hội và ý thức xã hội, trong đó việc thay đổi tồn tại xã hội cũ là điều kiện cơ bản nhất để thay đổi ý thức xã hội cũ Đồng thời, cũng cần thấy
Trang 7rằng không chỉ những biến đổi trong tồn tại xã hội mới tất yếu dẫn đến những thay đổi
to lớn trong đời sống tinh thần của xã hội mà ngược lại, những tác động của đời sống tinh thần xã hội, với những điều kiện xác định cũng có thể tạo ra những biến đổi mạnh
mẽ, sâu sắc trong tồn tại xã hội
* Liên hệ ở VN:
Đảng ta trong công cuộc đổi mới, nhờ nhận thức đúng đắn và vận dụng sáng tạo tính độc lập tương đối mà đã đạt được những thành tựu vô cùng to lớn và quan trọng Phải đánh giá đúng quá khứ, tương lai, các nguồn lực về kinh tế và văn hoá Nhưng hiện, trong nội bộ Đảng vẫn còn nhiều khuyết điểm như bảo thủ, trì trệ, chủ quan duy ý chí cần sớm khắc phục để đưa Đất Nước đi lên CNXH trong tương lai không xa
CÂU 7: Phân tích qui luật từ những thay đổi về lượng dẫn đến sự thay đổi về chất
và ngược lại? Ý nghĩa phương pháp luận? Liên hệ bản thân?
Trả lời:
Quy luật này chỉ ra cách thức chung nhất của sự vận động và phát triển Chất là khái niệm dùng để chỉ tính quy định khách quan vốn có của sự vật, hiện tượng; là sự thống nhất hữu cơ của các thuộc tính, yếu tố tạo nên sự vật, hiện tượng làm cho sự vật, hiện tượng là nó mà không phải là sự vật, hiện tượng khác Đặc điểm cơ bản của chất là mỗi sự vật, hiện tượng đều có quá trình tồn tại và phát triển qua nhiều giai đoạn, trong mỗi giai đoạn ấy nó lại có chất riêng Như vậy, mỗi sự vật, hiện tượng không phải chỉ có một chất mà có nhiều chất
Trong hiện thực khách quan không thể tồn tại sự vật không có chất và không thể có chất nằm ngoài sự vật Chất của sự vật được biểu hiện qua những thuộc tính của nó
Sự vật có thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản, những thuộc tính cơ bản được tổng hợp lại tạo thành chất của sự vật Chính chũng quy định sự tồn tại, sự vận động
và sự phát triển của sự vật Sự phân chia thuộc tính thành thuộc tính cơ bản và thuộc tính không cơ bản cũng chỉ mang tính tương đối Chất của sự vật không những được quy định bởi chất của những yếu tố tạo thành mà còn bởi phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành Trong hiện thực các sự vật được tạo thành bởi các yếu tố như nha, song chất của chúng lại khác
Lượng là khái niệm dùng để chỉ tính quy định vốn có của sự vật, hiện tượng về mặt quy mô, trình độ phát triển, các yếu tố biểu hiện ở số lượng các thuộc tính, ở tổng số các bộ phận, ở đại lượng, ở tốc độ và nhịp điệu vận động và phát triển của sự vật, hiện tượng Đặc điểm cơ bản của lượng là một dạng biểu hiện của vật chất, chiếm một vị trí nhât định trong không gian và tồn tại trong thời gian nhất định Trong tự nhiên và phần nhiều trong xã hội, lượng có thể do, đếm được một số trường hợp của xã hội và nhất là trong tư duy
Mỗi sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất giữa hai mặt chất và lượng, thống nhất với nhau ở mật độ; chỉ khi nào lượng thay đổi đến giới hạn nhất định mới dẫn đến sự thay đổi về chất Như vậy, sự thay đổi về lượng tạo điều kiện cho chất đổi và kết quả
là sự vật, hiện tượng cũ mất đi, sự vật, hiện tượng mới ra đời
Các khái niệm độ, điểm nút, bước nhảy xuất hiện trong quá trình tác động lẫn nhau giữ lượng và chất Độ là giới hạn tồn tại của sự vật, hiện tượng mà trong đó sự thay đổi về lượng chưa dẫn đến sự thay đổi về chất, chưa chuyển hóa thành sự vật, hiện tượng khác Điểm giới hạn mà tại đó, sự thay đổi về lượng đạt tới chỗ phá vỡ độ cũ, làm cho chất của sự vật, hiện tượng thay đổi gọi là điểm nút Bước nhảy là khái niệm
để chỉ giai đoạn chuyển hóa cơ bản về chất của sự vật, hiện tượng do những thay đổi
về lượng trước đó gây ra, là bước ngoặt cơ bản trong sự biến đổi về lượng Sự vật, hiện tượng mới xuất hiện là do bước nhảy được thực hiện
Trang 8Những thay đổi về lượng chuyển thành những thay đổi về chất và ngược lại; chất là mặt tương đối ổn định, lượng là mặt dễ biến đổi hơn Qúa trình tác động qua lại lẫn nhau giữa lượng và chất tạo nên sự vận động liên tục
Căn cứ vào quy mô và nhịp độ của bước nhảy, có bước nhảy toàn bộ và bước nhảy cục bộ Bước nhảy toàn bộ làm cho tất cả các mặt, các bộ phận, các yếu tố của sự vật, hiện tượng thay đổi Bước nhảy cục bộ chỉ làm thay đổi một số mặt, một số yếu
tố, một số bộ phận của chúng
Căn cứ vào thời gian của sự thay đổi về chất và dựa trên cơ sở chế của sự thay đổi
đó, có bước nhảy tức thời và bước nhảy dần dần Bước nhảy tức thời làm chất của sự vật, hiện tượng biến đổi mau chóng ở tất cả các bộ phận của nó Bước nhảy dần dần là quá trình thay đổi về chất diễn ra bằng cách tích lũy dần những yếu tố của chất mới và loại bỏ dần các yếu tố của chất cũ
=> Mọi đối tượng đều là sự thống nhất của hai mặt đối lập chất và lượng, những sự thay đổi dần dần về lương vượt quá giới hạn của độ sẽ dẫn đến sự thay đổi căn bản về chất của nó thông qua bước nhảy, chất mới ra đời tiếp tục tác động trở lại duy trì sự thay đổi của lượng
* Ý nghĩa phương pháp luận:
Thứ nhất, trong hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn phải biết tích lũy về lượng để có biến đổi về chất; không được nôn nóng cũng như không được bảo thủ Sự thay đổi về chất do thực hiện bước nhảy gây nên chỉ xảy ra khi lượng đã thay đổi đến giới hạn
Thứ hai, khi lượng đã đạt đến điểm nút thì thực hiện bước nhảy là yêu cầu khách quan của sự vận động của sự vật, hiện tượng; tư tưởng nôn nóng thường biểu hiện ở chỗ không chú ý thỏa đáng đến sự tích lũy về lượng mà cho rằng, sự phát triển của sự vật, hiện tượng chỉ là những bước nhảy liên tục; ngược lại, tư tưởng biểu hiện ở chỗ không dám thực hiện bước nhảy, coi sự phát triển chỉ là những thay đổi về lượng Thứ ba, phải có thái độ khách quan, khoa học và quyết tâm thực hiện bước nhảy; khi thực hiện bước nhảy trong lĩnh vực xã hội, tuy vẫn phải tuân theo điều kiện khách quan nhưng cũng phải chú ý đến điều kiện chủ quan Phải có quyết tâm và nghị lực để thực hiện bước nhảy khi điều kiện đã chín muồi, chủ động nắm bắt thời cơ thực hiện kịp thời bước nhảy khi điều kiện cho phép
Thứ tư, phải nhận thức được sự thay đổi về chất còn phụ thuộc vào phương thức liên kết giữa các yếu tố tạo thành sự vật, hiện tượng
*Liên hệ bản thân:
Là sinh viên ta có nhiệm vụ phải tích luỹ đủ về lượng, ở đây lượng là kiến thức tích luỹ được trong quá trình học tập, đến một giới hạn nhất định ta phải thông qua bước nhảy là các kỳ thi để trở thành chất mới là cử nhân
CÂU 8: Phân tích nội dung qui luật quan hệ sản xuất phù hợp trình độ của lực lượng sản xuất? Ý nghĩa phương pháp luận? Liên hệ ở VN?
Trả lời:
*Khái niệm:
QHSX là tổng hợp các quan hệ kinh tế- vật chất giữa người với người trong quá trình sản xuất vật chất
LLSX là sự kết hợp giữa người lao động với tư liệu sản xuất, tạo ra sức sản xuất vá năng lực thực tiễn làm biến đổi các đối tượng vật chất của giới tự nhiên theo nhu cầu nhu cầu nhất định của con người và xã hội
*Nội dung qui luật QHSX phù hợp với trình độ của LLSX:
Nếu QHSX phù hợp với trình độ phát triển của LLSX thì thúc đẩy LLSX phát triển, ngược lại, nếu không phù hợp sẽ kìm hãm sự phát triển của LLSX
Trang 9- Vai trò quyết định của LLSX đối với QHSX.
LLSX thường xuyên vận động và phát triển, QHSX có tính ổn định tương đối Sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất LLSX vận động, phát triển không ngừng sẽ mâu thuẫn với tính “đứng im” tương đối của QHSX LLSX quyết định sự ra đời của một kiểu QHSX mới trong lịch
sử, quyết định đến nội dung và tính chất của QHSX
- Sự tác động trở lại của QHSX đối với LLSX
Sự phù hợp của QHSX với trình độ phát triển của LLSX là đòi hỏi khách quan của nền sản xuất QHSX là “hình thức phát triển” của LLSX và “ tạo địa bàn đầy đủ” cho LLSX phát triển Nếu QHSX “đi sau” hay “vượt trước” trình độ phát triển của LLSX đều là không phù hợp Sự phù hợp của QHSX với LLSX quy định mục đích, xu hướng phát triển của nền sản xuất xã hội
Sự tác động của QHSX đối với LLSX diễn ra theo hai chiều hướng, thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển Khi quan hệ sản xuất phù hợp với LLSX thì nền sản xuất phát triển đúng hướng Nếu QHSX không phù hợp thì sẽ kìm hãm, thậm chí phá hoại LLSX Tuy nhiên, sự kìm hãm đó chỉ diễn ra trong những giới hạn, với những điều kiện nhất định
Sự tác động biện chứng giữa LLSX với QHSX làm cho lịch sử xã hội loài người là lịch sử kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất, từ phương thức sản xuất cộng sản nguyên thủy qua phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ, phương thức sản xuất phong kiến, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa và đang phát triển đến phương thức sản xuất cống sản chủ nghĩa
Sự phù hợp giữa QHSX với trình độ phát triển của LLSX đòi hỏi tất yếu thiết lập chế độ công hữu về tư liếu sản xuất chủ yếu Phương thức sản xuất XHCN dần dần loại trừ đối kháng xã hội
- Ý nghĩa trong đời sống xã hội
Trong thực tiễn, muốn phát triển kinh tế phải bắt đầu từ phát triển LLSX, trước hết
là phát triển LLSX lao động và công cụ lao động Muốn xóa bỏ một QHSX cũ, thiết lập một QHSX mới phải căn cứ từ trình độ phát triển của LLSX
*Ý nghĩa phương pháp luận:
- Để xác lập, hoàn thiện hệ thống quan hệ sản xuất của xã hội, cần phải căn cứ vào thực trạng phát triển của lực lượng sản xuất hiện có để xác lập nó cho phù hợp chứ không phải căn cứ vào ý muốn chủ quan
- Sử dụng, tái tạo và phát triển lực lượng sản xuất của xã hội
- Khi đã xuất hiện mâu thuẫn giữa nhu cầu phát triển của lực lượng sản xuất với quan
hệ sản xuất đang kìm hãm sự phát triển đó thì cần phải có những cuộc cải biến mà cao hơn là một cuộc cách mạng chính trị để có thể giải quyết được mâu thuẫn này
*Liên hệ ở VN:
Đảng và Nhà nước luôn đặt biệt quan tâm phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và đi tắt đón đầu, chú trọng các ngành nhiều thế mạnh trở thành ngành công nghiệp mũi nhọn, phù hợp với sự phát triển nền khoa học công nghệ nước nhà Việc phát triển công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và phát triển nền kinh tế thị trường phải được thực hiện đồng thời, thúc đẩy hỗ trợ nhau cùng phát triển Bởi lẽ nếu công nghiệp hóa – hiện đại hóa tạo nên lực lượng sản xuất cần thiết cho sự phát triển xã hội thì việc phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần có sự điều tiết của nhà nước và theo định hướng xã hội chủ nghĩa chính là để xây dựng hệ thống quan hệ sản xuất phù hợp
CÂU 9: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng
tầng? Ý nghĩa phương pháp luận? Liên hệ ở Việt Nam?
Trang 10Trả lời:
* Khái niệm:
- Cơ sở hạ tầng là toàn bộ những quan hệ sản xuất của một xã hội trong sự vận động hiện thực của chúng hợp thành cơ cấu kinh tế của xã hội đó Là toàn bộ các quan hệ sản xuất tồn tại trên thực tế mà trong quá trình vận động của nó hợp thành một cơ cấu kinh tế hiện thực Các quan hệ sản xuất là các quan hệ cơ bản, đầu tiên, chủ yếu, quyết định mọi quan hệ xã hội khác Cấu trúc của quan hệ sản xuất bao gồm: thống trị, tàn dư, mầm mống Trong đó quan hệ sản xuất thống trị là đặc trưng
- Kiến trúc thượng tầng là toàn bộ những quan điểm, tư tưởng xã hội với những thiết chế xã hội tương ứng cùng những quan hệ nội tại của thượng tầng hình thành trên một
cơ sở hạ tầng nhất định Bao gồm toàn bộ những quan điểm tư tưởng về chính trị cùng những thiết chế xã hội tương ứng như nhà nước, đảng phái, giáo hội, các đoàn thể và
tổ chức xã hội khác Các yếu tố về quan điểm tư tưởng và thiết chế xã hội có quan hệ với nhau, cùng với những quan hệ nội tại trong các yếu tố đó tạo nên kiến trúc thượng tầng
Mỗi yếu tố của KTTT có đặc điểm và quy luật phát triển riêng Các yếu tố của KTTT tồn tại trong mối liên hệ qua lại lẫn nhau và đều nảy sinh trên CSHT, phản ánh những CSHT nhất định
Trong xã hội có đối kháng giai cấp, KTTT cũng mang tính chất đối kháng, đó cũng phản ánh tính đối kháng của CSHT và được biểu hiện ở sự xung đột, đấu tranh về tư tưởng của các giai cấp đối kháng
Bộ phận có quyền lực mạnh nhất trong KTTT là Nhà nước-công cụ quyền lực chính trị đặc biệt của giai cấp thống trị Giai cấp nào thống trị về mặt kinh tế và nắm giữ chính quyền thì hệ tư tưởng cùng những thể chế của giai cấp ấy cũng giữ địa vị thống trị
* Qui luật mối biện chứng giữa CSHT với KTTT
CSHT và KTTT là hai mặt cơ bản của xã hội gắn bó hữu cơ, CSHT quyết định KTTT
và KTTT tác động trở lại mạnh mẽ đối với CSHT Sự hình thành, vận động và phát triển các tư tưởng, quan điểm và những thể chế chính trị xã hội đều phụ thuộc vào quá trình sản xuất và tái sản xuất các quan hệ kinh tế
- Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT
Tất cả những hiện tượng của KTTT đều có nguyên nhân sâu xa là những điều kiện kinh tế vật chất của xã hội Vai trò quyết định của CSHT đối với KTTT được thể hiện trước hết ở chỗ CSHT với tính cách là cơ cấu kinh tế hiện thực của xã hội sẽ quyết định kiểu KTTT của xã hội ấy Nếu CSHT có đối kháng hay không đối kháng thì KTTT cũng có tính chất như vậy
Những biến đổi căn bản của CSHT sớm muộn cũng dẫn đến biến đổi căn bản trong KTTT Như khi chuyển từ một hình thái kinh tế xã hội này sang một hình thái kinh tế xã hội khác Nguyên nhân của những biến đổi đó xét cho cùng là do sự phát triển của lực lượng sản xuất Sự biến đổi diễn ra rất phức tạp trong quá trình chuyển
từ một hình thái kinh tế xã hội lỗi thời sang một hình thái kinh tế xã hội tiến bộ hơn Trong xã hội có đối kháng giai cấp, sự biến đổi tất yếu phải thông qua đấu tranh giai cấp và cách mạng xã hội
- Sự tác động trở lại của KTTT đối với CSHT
KTTT là sự phản ánh CSHT nhưng có sự tác động to lớn đối với CSHT KTTT có tính độc lập tương đối đối với CSHT
KTTT củng cố, hoàn thiện, bảo vệ CSHT sinh ra nó; ngăn chặn CSHT mới, đấu tranh xóa bỏ tàn dư CSHT cũ; định hướng, xây dựng, tổ chức chế độ kinh tế của KTTT Nếu giai cấp thống trị không xác lập được sự thống trị về chính trị và tư tưởng, cơ sở kinh tế của nó cũng không đứng vững được